Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 9 - Vì Con Gái Chết Mà Chứng Quả

2026-03-03 00:55:41
Kinh Nikāya Giảng Giải

Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 9

Vì Con Gái Chết Mà Chứng Quả

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu chuyện Trưởng Lão Ni Dhammadinnà PAGEREF _Toc188289024 \h 1

II. Câu chuyện Trưởng Lão Ni 2 PAGEREF _Toc188289025 \h 4

III. Câu chuyện Trưởng Lão Ni 3 PAGEREF _Toc188289026 \h 8

IV. Câu chuyện Trưởng Lão Ni 4 PAGEREF _Toc188289027 \h 13

V. Trình pháp PAGEREF _Toc188289028 \h 17

I. Câu chuyện Trưởng Lão Ni Dhammadinnà

Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chư Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật.

"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Ràjagaha (Vương Xá) và trở thành vợ của Visàkha, một người có địa vị trong xã hội. Một ngày kia, chồng nàng đi nghe đức Phật thuyết pháp, chứng được quả Bất lai" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (XII). Dhammadinnà (Therì. 124))

Chứng quả Bất Lai là phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ và sạch hết dục tham, sân. Người chồng này không còn tham dục, tham ái nữa, sau khi nghe pháp của Đức Phật là chứng quả Bất Lai, đoạn năm thượng phần kiết sử.

"Khi Visàkha về, Dhammadinnà đưa tay ra đỡ chồng lên gác, nhưng người chồng không nắm tay và không nói với nàng trong bữa ăn chiều. Nàng hỏi chồng duyên cớ, người chồng nói không phải vì lỗi gì của nàng, nhưng nay vì đã hiểu được Chánh pháp nên không còn những cử chỉ như trước nữa. Người chồng trả quyền tự do cho nàng, một là ở lại gia đình người chồng, hai là lấy tiền bạc rồi về lại gia đình cha mẹ, nhưng nàng không chịu, và xin được xuất gia" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (XII). Dhammadinnà (Therì. 124))

Vợ nắm tay đỡ chồng là chuyện rất bình thường nhưng do người chồng này đã đoạn sạch hết dục tham, phá thân kiến, diệt hoài nghi và sạch hết tất cả sân hận nên khi người vợ đưa tay ra đỡ thì người chồng không có nắm. Người chồng nói vợ không có lỗi gì cả nhưng do nay đã hiểu được chánh pháp, người chồng không nói là đã chứng quả Bất Lai mà chỉ nói là do hiểu được chánh pháp nên không còn cử chỉ thân mật, thân ái như lúc trước. Người chồng nói vợ một là ở lại gia đình chồng, đương nhiên là sẽ không còn có sinh hoạt chồng vợ nữa tại vì chồng đã chứng Bất Lai rồi, hai là lấy tiền bạc rồi về lại gia đình cha mẹ nhưng nàng không chịu.

Người chồng đưa ra hai con đường, một là cô ở lại nhà chồng bình thường như lúc trước, có điều là không có sinh hoạt vợ chồng, chỉ như một người bạn cùng tu thôi, hai là người chồng sẽ cho cô tài sản để trở về gia đình cha mẹ rồi muốn bước thêm bước nữa thì chuyện đó là tùy vào sự quyết định của cô thì cô này không chịu lãnh tài sản để trở về gia đình cha mẹ mà nàng xin đi xuất gia luôn. Điều này cũng đặc biệt, chắc là cô này cũng hiểu Phật pháp vì chuyện này cũng đâu có đơn giản, ở đây nói vắn tắt mà chúng ta phải hiểu rằng cả một trận chiến trong nội tâm.

Thường thì kinh chỉ thuật lại những điều trọng yếu nhất thôi, mình phải hiểu ra câu chuyện dài lắm, cả một sự chiến đấu, cả một sự buồn đau, đau khổ của cô này tại vì cái tâm chưa phải là những bậc ly dục thì tự nhiên về đưa tay không nắm, ăn cơm không muốn nói chuyện nữa rồi tự nhiên bây giờ một là nàng ở lại đây nhưng mà không có chăn gối gì nữa, hai là ta cho nàng tài sản đi về bước thêm bước nữa cũng được. Chúng ta thấy có cú sốc không nếu là một người phụ nữ bình thường? Nhưng mà nhân duyên cũng chín muồi đối với cô, sau đó cô cũng suy nghĩ sâu sắc, suy nghĩ cặn kẽ quyết định xuất gia đi tu, chồng cô mới đưa cô đến chỗ các vị Tỳ-kheo Ni bằng một chiếc kiệu vàng.

"Visàkha đưa nàng đến các Tỳ-kheo-ni trong một chiếc kiệu vàng. Ðược cho phép xuất gia, nàng xin sống nhập thất, không muốn sống chung đụng ồn ào và đi đến một tinh xá ở làng" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (XII). Dhammadinnà (Therì. 124))

Do người chồng là quan quyền có địa vị lớn trong xã hội, đưa cô đi đến chư Ni bằng một chiếc kiệu bằng vàng và sau đó nó nàng được phép xuất gia. Khi nàng xuất gia hiểu pháp rồi xin sống nhập thất, xin sống độc cư, xin sống tách biệt với mọi người, không muốn sống chung đụng ồn ào và đi đến một tịnh xá ở trong làng, tức là sống độc cư, nhập thất ở viễn ly sứ ở nơi xa vắng, yên lặng, yên tịnh. Sau khi cô đã hiểu pháp thì cô không muốn đi lại những cái tịnh xá ở trong làng giống như những chùa ở phố, ở chợ, cô ở một mình và đem hết tâm lực, sức lực của mình để thực hành pháp, không có muốn sống chung đụng ồn ào, xin sống nhập thất. Chúng ta cần phải có thời gian ở yên một mình, đừng đợi tới lúc nhập thất ngay ở trong chúng mà phải tìm không gian một mình.

"Tại đấy, nhờ những thiện nghiệp quá khứ, nàng chế ngự thân, miệng, ý, chứng được quả A-la-hán, với Tứ vô ngại giải: Nghĩa vô ngại giải, pháp vô ngại giải, từ vô ngại giải, biện tài vô ngại giải. (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (XII). Dhammadinnà (Therì. 124))

Cô tân Tỳ-kheo Ni này ngày đêm tu tập, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, do đã có một phương pháp thần diệu của bậc Chánh Đẳng Giác rồi, đã được các bậc thánh Tỳ-kheo Ni hướng dẫn chứ đâu phải là người phàm, nắm được thánh trí ngũ uẩn, nhận diện được ngũ uẩn, nhận diện được rác bẩn, nhận diện được lậu hoặc, biết cách như lý tác ý, biết cách thiền quán bộ xương, thiền quán bọt nước, thiền quán chín giai đoạn tử thi, biết thiền quán vô thường, khổ, biết thiền quán bất tịnh thì ngài khai triển. Một mặt là nhiếp phục thân, miệng, ý, một mặt triển khai thiền quán thâm sâu đánh phá các lậu hoặc, dục ái, vô minh bên trong. Vị Tỳ-kheo Ni này chứng A-la-hán, thành tựu tứ vô ngại giải, thuyết pháp vô ngại, ngôn từ vô ngại, diễn đạt nghĩa lý của chánh pháp vô ngại, tài hùng biện không ai địch nổi, vô ngại biện tài.

"Trong các vị... thuyết pháp, tối thắng là Dhammadinnà" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIV. Phẩm Người Tối Thắng, Nữ Ðệ Tử Tỷ Kheo Ni)

Đây là lời ấn chứng của Đức Phật về Dhammadinnà, trở thành một bậc Thánh Ni thuyết pháp đệ nhất trong hàng thánh chúng. Từ ngữ khi nàng giảng pháp là tự tại vô ngại, nói không có bập bẹ, nói không có cà lăm, nói không có cạn từ ngữ, gọi là từ vô ngại. Giải Vô Ngại là sự thông giải về giáo pháp không có còn một cái gì chướng ngại đối với ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đối với thánh trí về năm uẩn. Pháp Vô Ngại những giáo pháp của Đức Phật, tất cả các pháp thân tâm thế giới không còn gì chướng ngại, sáng tỏ, tự tại, thấu suốt viên mãn. Biện tài vô ngại là không có bất cứ một ai trên đời này có thể bẻ gãy được nghị luận của ngài, trở thành thánh Tỳ-kheo Ni thuyết pháp đệ nhất trong hàng thánh chúng.

"Trong các vị nữ đệ tử Tỳ-kheo-ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Màhàpàjapati Gotamì.

Trong các vị nữ đệ tử... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sonà" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIV. Phẩm Người Tối Thắng, Nữ Ðệ Tử Tỷ Kheo Ni)

"Visàkha chồng cũ của nàng đến hỏi pháp, nàng như đã được diễn tả trong kinh Tiểu Vedalla (M.i. 299), nàng trả lời rất rõ ràng đúng đắn các câu hỏi của Visàkha và được Đức Phật tán thán. Nàng trở thành thuyết pháp đệ nhất trong hàng các Tỳ-kheo-ni. Chính trong khi nàng ở lại một tinh xá ở làng và nàng nói lên bài kệ này:

Trong ai, lòng ước muốn,

Ðạt được quả vô sanh,

Ðược sanh khởi tỏa rộng,

Ðầy tràn cả tâm ý,

Tâm không bị trói buộc,

Trong các dục chi phối,

Vị ấy được tên gọi

Là bậc vào dòng trên" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (XII). Dhammadinnà (Therì. 124))

Trong người nào mà lòng luôn luôn khao khát, ước muốn đạt đến chỗ chấm dứt vòng sống chết này, thoát ra sự quay cuồng của luân hồi này, nếu cái tâm ước muốn đó mạnh mẽ, nó sanh khỏi một cách mạnh mẽ, nó tỏa rộng và nó đầy tràn cả tâm ý, người đó nỗ lực thực hành thánh pháp, tâm người này không còn bị trói buộc nữa, các dục không chi phối người này được nữa thì vị này có tên gọi là bậc vào dòng trên. Tức là dự vào hàng thượng nhân, vào dòng thánh tuệ, thánh trí.

II. Câu chuyện Trưởng Lão Ni 2

"Trong đời Đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi trong gia đình vị giáo sĩ nhà vua. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng trở thành tín nữ ở Jetavana (Kỳ Viên) và về sau xuất gia, dưới sự chỉ đạo của Mahàpajàpati. Một thời khi đang ở Ràjagaha (Vương Xá), nàng leo lên núi Linh Thứu; và sau buổi ăn, khi đang còn ngồi nghỉ, nàng thấy một người nài điều khiển một con voi; và nhờ vậy nàng chứng quả A-la-hán; với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm III. Tập Ba Kệ, (XXXII). Dantikà)

Tín nữ tức là Phật tử nữ tại gia, cô đến kỳ viên tinh xá nơi có Đức phật được quy y tam bảo, được nghe pháp, được hiểu pháp. Về sau nhân duyên chín muồi cô phát tâm xuất gia với sự chỉ đạo của Thánh Mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề, đại ái đạo Tỳ-kheo Ni. Khi đạo tràng Nikāya chúng ta đi qua Ấn Độ có lên núi Linh Thứu, chúng ta thấy được cái hang của tôn giả Ca-diếp và ngài A-nan, trên đường đi lên núi Linh Thứu ở trên đỉnh núi có cục đá hình giống như con chim.

Sau khi buổi thọ trai cô đang ngồi nghỉ thì cô thấy một người điều khiển một con voi, huấn luyện một con voi. Chúng ta thấy huấn luyện và điều khiển một con voi dễ hay khó? Kêu cúi đầu xuống là cúi đầu, thậm chí kêu quỳ là nó quỳ xuống, cô nhìn thấy cảnh tượng đó thì cô chứng quả A-la-hán, pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Cô thành tựu thánh quả A-la-hán vì cảm nhận được sự điều phục, huấn luyện con voi, tức là sự điều phục huấn luyện tâm của mình, ngay tại chỗ đó thành tựu thánh vị tối cao, diệt tận tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Cô nhìn thấy cảnh điều khiển huấn luyện một con voi mà sạch hết tất cả dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Bậc Thánh điều khiển tâm của mình cách thuần thục, điêu luyện, thành tựu một cái tâm nhu nhuyến, mềm mại, ngoan hiền còn hơn bao nhiêu lần con voi được huấn luyện, nhìn cảnh huấn luyện rồi chứng đắc thánh quả A-la-hán.

Sanh tử đã cùng tận, đức hạnh cao thượng nay đã viên thành, việc cần làm đã làm xong, từ nay về sau không bao giờ lùi lại trạng thái tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não nữa. Thành tựu pháp tín thọ, nghĩa tín thọ, trở thành bậc nhân thiên ứng cúng, ruộng phước vô thượng ở trên đời.

"Về sau, vô cùng hân hoan với quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ như sau:

Ra khỏi ngôi tinh xá,

Ðể nghỉ trưa ban ngày,

Trên đỉnh núi Linh Thứu,

Ta thấy một con voi,

Dầm nước xong đi lên,

Trên bờ một con sông.

Một người cầm cái móc,

Yêu cầu đưa chân lên,

Con voi duỗi chân ra,

Và người leo lên voi.

Thấy kẻ chưa nhiếp phục,

Ði đến được nhiếp phục,

Ta thấy nó vâng chịu,

Theo quyền lực của người.

Như vậy, ta định tâm,

Ði vào trong rừng ấy" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm III. Tập Ba Kệ, (XXXII). Dantikà)

Nàng ra khỏi ngôi tinh xá để leo lên núi Linh Thứu và nhìn vô tình thấy một con voi đang tắm dưới dòng sông, một người cầm cái móc yêu cầu đưa chân lên thì con voi liền đưa chân lên, duỗi chân ra và người này leo lên cưỡi trên con voi. Ngài liền quán chiếu thấy những kẻ chưa nhiếp phục và đi đến được sự nhiếp phục, tức là con voi này là súc sanh, là thú vật với một cái tâm hoang dại của thú rừng mà nó còn có thể nghe lời và được điều phục như vậy, nhiếp phục như vậy, là con thú vật, súc sanh với cái tâm hoang dại, hoang vu của thú rừng nhưng vẫn được sự nhiếp phục, vẫn biết nghe lời, vẫn chịu sự huấn luyện của người nài voi thì hà cớ gì mình-một con người tại sao không thể thành tựu được sự nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận.

Ngài lấy hình ảnh đó, lấy cái sự kiện đó và bắt đầu đi sâu vào bên trong thiền quán, nó chỉ là một cái cảnh ở bên ngoài, không phải nhìn cái đó mà chứng đắc đạo quả mà nhìn thấy cái đó là cái duyên, một cái câu chuyện, một sự kiện, một sự việc rồi quay ngược trở lại và bắt đầu nhiếp phục, chế ngự tâm mình, huấn luyện tâm. Và trong sự nỗ lực quyết tâm, thú vật còn biết nghe lời, còn có thể nhiếp phục, chế ngự, điều khiển nó, ra mệnh lệnh nó nghe theo, huống chi mình là một con người, huống chi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, tâm này là của mình, không phải ở ngoài, quay ngược trở lại và dùng hình ảnh đó làm một cái động lực, làm một cái công án, làm một cái đề mục, làm một cái đề tài thiền quán, vận dụng đưa vào bên trong, định tâm, đi vào trong rừng ngồi thiền để tu.

Nhiều người không hiểu đọc vào kinh tưởng là nhìn thấy con voi rồi đắc đạo, không phải như vậy, thấy cái đó rồi bắt nắm bắt hình ảnh đó, sự kiện đó, cái duyên cớ đó và quay ngược trở về, thực hiện cho mình, đi vào trong rừng nỗ lực, tinh tấn, nhiếp phục, chế ngự, thu nhiếp thọ, tưởng, hành, thức của mình và thành tựu quả vị tối thượng. Thành ra nhiều người chưa hiểu đọc vào nghĩ rằng thái tử Tất-đạt-đa ngồi thiền bốn mươi chín ngày thấy sao mai rồi đắc đạo, trong chùa thường đọc:

Nhất đổ minh tinh,

Đạo thành giáng pháp lâm.

Nghĩa là khi vừa thấy sao mai là đắc đạo, như vậy làm người ta hiểu lầm, với một cái tâm hướng ngoại sẽ nghĩ nhìn sao đắc đạo nên suốt ngày ngồi kiếm sao là không có đúng, phải là nhìn tâm, nhiếp phục tâm, tẩy sạch tâm mà đắc đạo chứ không phải nhìn sao. Cho nên cần nhớ kỹ điều này, nhìn voi cũng vậy, nhìn thấy con voi nó nghe lời thì bây giờ mình cũng phải quay trở lại huấn luyện cái tâm mình cho nó mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, nó nghe lời thì nỗ lực bằng trí tuệ, bằng một thiền định, bằng một sự viễn ly, độc cư, tinh cần, tinh tấn, thành tựu đạo quả tối thượng. Con rất cầu mong ở đây có được vài vị A-la-hán cho chánh pháp này được trường tồn vĩnh cửu ở thế gian này.

III. Câu chuyện Trưởng Lão Ni 3

"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình khá giả quyền quí. Nàng rất đẹp và sanh được người con gái rất đẹp, đặt tên là Jivà. Vua thấy đứa con gái rất lấy làm hài lòng và đưa nàng lên làm hoàng hậu. Nhưng rồi đứa con gái Jivà bị chết, và bà mẹ ngày nào cũng đi đến nghĩa địa để than khóc. Một hôm nàng đi đến yết kiến bậc Ðạo Sư, nhưng rồi nàng đi ra bên sông Aciravàti và đứng than khóc" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm III. Tập Ba Kệ, (XXXIII). Ubirì)

Ngày xưa các vị thánh Tỳ-kheo Ni có rất nhiều vị ở trong hoàng thất, rất nhiều vị có phước đức trong kiếp cuối cùng cho nên những người có phước đức đã không phát tâm thì thôi, khi đã phát tâm thì mạnh lắm. Mình ở đây thì Phật tử đông nhưng ở bên Mỹ người Việt đâu có nhiều, người nào tu thì họ tu rất tinh tấn vì người ta đã bước qua hết rồi, những gì ở đây chưa có thì bên đó họ đã có hết rồi, người ta đi trước mình rất nhiều mà người ta dám từ bỏ để người ta tu. Vừa rồi ở trên xe đi từ chùa Hoằng Pháp về đây, con có mở cho các thầy, các chú trên xe câu chuyện một Ni sư ở Luân Đôn, cô này mới có mười tám tuổi thôi, rất là đẹp, gia đình giàu có nhưng từ bỏ ra đi xuất gia, sau khi học pháp hành vững rồi đi lên Tuyết Sơn Himalaya ở trên đó ẩn tu một mình trong hang động mười hai năm.

Cô đi một mình vào năm hai mươi mấy tuổi, cô lên đó ở mười hai năm một mình trên Himalaya cao năm ngàn mét cách mặt đất biển, có những lúc bão tuyết đổ xuống lấp hang động luôn nhưng cô vẫn có ý chí phi thường, nghị lực. Đó là một sự chấn động của phương Tây, cuốn sách mà cô viết ra là chấn động, sau khi ra thất thì sư bà về phục vụ, làm các việc thiện lành trên thế giới. Cuộc đời của Ni sư mười hai năm ở trên tuyết sơn, trong hang động ở một mình, ngủ ngồi không, đó là người phương Tây họ không tu thì thôi, mà họ tu là như vậy đó, họ nghiên cứu Phật giáo là họ nghiên cứu tới Phật giáo nguyên chất luôn chứ không có giống như mình. Mình dễ lắm, mình cũng không chịu khó học hỏi, nghiên cứu, làm biếng học hỏi, không chịu nghiên cứu sâu sắc, còn người phương tây không làm thôi, còn đã làm là tới nơi tới chốn, người ta nghiên cứu tới nơi tới chốn.

Thành ra những vị có phước đức chịu đi tu là dễ thành tựu lắm, không tu thôi, đã tu là sẽ vượt hơn mọi người. Tại vì cái phước của họ đã vượt hơn người bình thường rồi, người ta đã sinh ra một cái thân tướng như vậy, một gia đình như vậy, một cái địa vị như vậy là người ta đã vượt hơn người bình thường. Bây giờ có đạo pháp, trí tuệ vượt lên nữa thì đương nhiên là phải cao rồi, tuy nhiên nói vậy không phải mấy người nghèo tu không đắc đạo, bất cứ một ai tu bằng tất cả tấm lòng đều thành tựu được hết, có điều những người như vậy thì cái thuận duyên của người ta nhiều hơn, ngược lại cũng là nghịch duyên, nếu không biết tu thì đam mê hưởng phước. Mọi người có thấy có vấn đề không? Do sung sướng quá, đầy đủ quá, ấm áp quá, an ổn quá, được lo cho quá, hồi xưa mà hoàng thân quốc thích được sanh ở trong vương thất thì sướng cỡ nào.

Người con gái được đưa lên làm hoàng hậu thì trước đó cũng là thứ phi nhưng rồi do các hành đều vô thường, đều hoại diệt, tan biến nên người con gái ấy đột ngột qua đời cho nên ngày nào người mẹ cũng đến nghĩa địa than khóc, buồn đau, thương nhớ. Một hôm cô đến thăm viếng Đức Phật rồi đi đến bờ sông, đứng một mình ngoài đó khóc vì thương nhớ con vì con gái vừa đẹp, vừa ngoan, được phong làm hoàng hậu mà bây giờ đột ngột qua đời, làm sao không thương, làm sao không nhớ, làm sao không buồn đau, khổ sầu nên ngày nào cũng khóc sướt mướt, đẫm lệ, những hình bóng của con trong tâm, những cảm giác yêu thương vẫn còn ấm trong trái tim này, những suy nghĩ trước đây mình đã từng làm gì cho con, con đã từng làm gì cho mình, những tình nghĩa, tình thân, tình mẫu tử mà giờ này tất cả chỉ còn lại nấm mồ, còn lại một cái mả.

Như vậy đã gặp được Phật rồi nhưng lòng đau khổ đó, lòng ái luyến, lòng tiếc thương, sầu, bi, ưu, não vẫn chưa vơi nên cô ấy ra bờ sông khóc một mình "con gái của ta nay ở đâu? Hoàng hậu nay ở đâu? Đứa con thân yêu, thương nhất của ta bây giờ ở đâu". Sáng nay cô Diệu An dẫn con gái lên nói rằng muốn cho con nghỉ học ngoài đời để ở đây học thuần túy pháp Nikāya để tu, hai mẹ con xuất gia thì con rất xúc động nhưng cứ để từ từ vì còn nhỏ, nên suy nghĩ thêm cho chín chắn, nếu được thì rất tốt. Trong kinh là hình ảnh hai mẹ con sanh ly tử biệt, đây là chánh cung hoàng hậu, cái chết đâu có chừa ra hoàng hậu, cũng đâu có chừa ra nhà vua, thái tử, đại gia, cái chết không chừa bất kì ai. Tất cả mọi việc trên đời này đều không chắc chắn, mà cái chắc chắn tuyệt đối là mình sẽ chết.

Trên đời này không có bất cứ một cái gì chắc chắn nhưng có một điều chắc chắn là mình sẽ chết, vậy mà không ai nhớ hết. Mấy người lo cho cái chết của mình? Đó là những câu chuyện thiền quán cho chúng ta nghiền ngẫm, một tình yêu thương, mẹ thì đẹp tuyệt vời, giàu sang, quyền quý, con thì chánh cung mẫu nghi thiên hạ, vạn nhân chi thượng, vạn phụng chi vương rồi bất thình lình một cơn gió vô thường thổi qua tan nát, tan biến, tan hoại, tan vỡ, tan hoang, tan tành. Có cái gì đâu, không có gì chắc chắn trên cuộc đời này, chỉ có cái chết là chắc chắn nhất, mình phải thấm thía những đạo lý này, phải khắc ghi, phải thấm vào da rồi thấm vô thịt, ngấm vô xương và đi vào trong tủy não của mình. Một sự thật này không bao giờ mình quên để rồi đối với mọi sự, mọi việc trên thế gian này mình nhìn nó chẳng có là cái gì hết, vô nghĩa, vô ngã, vô thường.

Bây giờ ngôi vị của hoàng hậu tắt một cái hơi rồi thì còn cái gì? Mình có làm chức cao nhất, lớn nhất, có làm vua đi nữa rồi trong tích tắc cái ngai vàng đó ai ngồi? Ngai vàng của ai? Người ra đánh trống thổi kèn cho vài bữa, làm rình rang được mấy ngày, tụng niệm, nhang khói rồi xong, rồi cũng đi vào trong dĩ vãng, cũng đi vào trong lãng quên, một năm nhắc lại một lần, hai ba chục năm, năm chục năm không còn ai biết gì nữa, người nào muốn biết thì đọc trong lịch sử, không ai còn biết ai là ai nữa.

"Bậc Ðạo Sư thấy vậy liền đến với nàng và hỏi:

- Tại sao nàng khóc?

Nàng đáp:

- Bạch Thế Tôn, con khóc đứa con gái của con.

Thế Tôn nói:

- Tại nghĩa địa này có đến tám vạn bốn ngàn con gái của nàng bị thiêu. Vậy nàng khóc than cho ai! (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm III. Tập Ba Kệ, (XXXIII). Ubirì)

Bờ sông đó kế bên một nghĩa địa, Thế Tôn nói trong nghĩa địa này có tám mươi bốn ngàn đứa con gái bị thiêu tại đây, vậy bây giờ nàng khóc cho đứa con gái nào của nàng.

"Rồi chỉ cho nàng thấy chỗ đất các người bị chết, Thế Tôn nói lên bài kệ:

Hỡi nàng Ubirì,

Nàng khóc trong rừng sâu,

Khóc than ôi Jivà,

Con gái thân của tôi,

Hãy tự mình hồi tỉnh,

Hỡi này Ubirì!

Trong bãi đốt thân này

Tất cả tám vạn tư,

Người đồng tên Jivà

Nàng khóc Jivà nào?" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm III. Tập Ba Kệ, (XXXIII). Ubirì)

Do Ấn Độ không có chôn mồ mả giống như mình, chỗ đó chỉ là chỗ thiêu xác người thôi, Thế Tôn chỉ nơi có vô số những đứa con gái của con đã được thiếu ngay trên mảnh đất đó. Thế Tôn nói nàng ở trong rừng sâu khóc lóc, ở bên bờ sông này khổ đau, kêu khóc vì đứa con gái thân yêu nhưng hãy tỉnh lại đi. Trong mảnh đất để hỏa táng này có tám mươi bốn ngàn những tấm thân được thiêu đốt là những người từng là con gái của nàng cũng có tên là Jivà, vậy thì nàng khóc cho Jivà nào đây. Bằng một giọng trầm ấm, bằng một tâm đại từ, bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tấm lòng thương tưởng, Đức Thế Tôn nói lên những lời nói tận trái tim của ngài và chạm vào trái tim của Ubirì làm nàng chấn động, chấn cảm, trái tim rung động, chấn động.

"Nàng suy tư với trí tuệ, trên pháp bậc Ðạo Sư dạy. Nhờ thiền quán tác động, nhưng lời dạy tốt đẹp của bậc Ðạo Sư, và với tự mình đạt được những điều kiện cần thiết nàng chứng được quả cao nhất, cho đến quả A-la-hán, và trình bày quả vị tối thượng nàng đạt được, nàng nói lên nửa bài kệ sau:

Mũi tên khó nhìn thấy,

Ðâm dính nơi tâm ta,

Chắc chắn đã được Ngài,

Nhổ lên khỏi tâm ta,

Sầu muộn vì con gái,

Ðã được chấm dứt hẳn.

Nay mũi tên được nhổ,

Mọi ham muốn lắng dịu,

Ta đi đến quy y

Bậc Mâu-ni ẩn sĩ,

Quy y Ba ngôi báu

Phật, Pháp và chúng Tăng" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm III. Tập Ba Kệ, (XXXIII). Ubirì)

Nàng chiêm nghiệm, nàng nghiền ngẫm, suy tư, thiền quán tác động tâm tư của mình về những lời dạy tốt đẹp của đức Như Lai nên nàng đạt được quả vị A-la-hán. Nàng dứt sạch tất cả mọi luyến ái không chỉ với con gái mà nàng còn chấm dứt hoàn toàn khát ái, phá vỡ sạch khối vô minh uẩn to lớn, đạt được quả vị tối thượng.

Mũi tên thật là khó nhìn thấy này tức là sự đau khổ vì mất con gái, sự đau khổ này được chấm dứt hoàn toàn, chẳng những chấm dứt hoàn toàn sự đau khổ về mất con mà còn lắng dịu trọn vẹn mọi ham muốn trên đời này. Nàng đi đến nương tựa bậc Mâu-ni ẩn sĩ, đức đại Thích-ca Cồ-đàm Mâu-ni Thế Tôn, ba ngôi cao quý tối thượng của tam thiên đại thiên thế giới, Phật – Pháp – Tăng. Đó là nửa bài kệ sau về sự chứng ngộ của nàng, từ sự việc mất con gái thành tựu thánh quả, từ sự việc tình cảm vợ chồng mà người chồng đắc đạo và người vợ đi theo tu cũng thành tựu thánh quả, từ sự việc nhìn thấy người nài voi huấn luyện con voi mà lấy đó làm động lực thành tựu cứu cánh phạm hạnh.

Mình không có tu, không có nhìn đời bằng thánh trí, nhìn ở đâu cũng thấy vô minh, tham, sân, si thôi, không có nhìn bằng thiền quán thành ra nhiều khi người ta đối xử tốt với mình mà mình nhìn thành ra xấu. Khổ vậy đó, người ta đối xử xấu mà lại nhìn thành tốt cho nên mới bị gạt, hôm trước chúng ta đã nghe một vị Tỳ-kheo Ni thuyết pháp hay đến nỗi thần cây rủ mọi người đến nghe pháp cùng, sau đây là một vị Tỳ-kheo Ni say mê trong lợi dưỡng cúng dường.

IV. Câu chuyện Trưởng Lão Ni 4

"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình Bà-la-môn, ở xứ dân chúng Kuru, tại thành Kammàsadamma. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng được nghe giảng về Bốn niệm xứ và xuất gia làm Tỳ-kheo-ni. Trong bảy năm nàng ưa thích được cúng dường, được trọng vọng và thường hay gây lộn cãi vã về sau nàng biết như lý tác ý, triển khai thiền quán và chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIII) Mittakali)

Xứ dân chúng Kuru, tại thành Kammàsadamma chính là nơi Đức Thế Tôn nói bài kinh Tứ Niệm Xứ, đây cũng là quê hương của nàng Mittakali. Khi lớn lên nàng được nghe giảng về Tứ Niệm Xứ, nàng thấy tuyệt vời quá, vi diệu quá, chạm vào trái tim và thấy sự thật bừng sáng trong tâm nên nàng xin xuất gia làm Tỳ-kheo Ni. Nhưng sau khi xuất gia 7 năm thì nàng ưa thích được trọng vọng, cúng dường và thường hay cãi vã, đây cũng chính là hình ảnh của mình. Mình có thích cúng dường không? Bên Tỳ-kheo Tăng cũng vậy, có một vị thầy đi tới đâu là gây lộn tới đó, chửi người này người kia trong thời Đức Phật còn tại thế cho nên tập khí từ xưa đến nay đều giống nhau, không khác bao nhiêu nhưng bây giờ nặng hơn ngày xưa nhiều.

Sau này nàng mới biết như lý tác ý la rầy, chửi mắng cái tâm ham cung kính, cúng dường, ham lợi dưỡng, tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét chính mình, tự mình đi đến mình, tự mình mắng chửi mình. Con không gặp bậc đạo sư thì con cũng không biết như lý tác ý, hồi sáng thấy mấy vị đắp y là không được rồi, đã vậy còn đi trễ nữa, đừng để cho mình thối lui. Nhiều khi những cái nhỏ đó mình không để ý từ từ nó sẽ trở thành quen, bắt đầu sanh ra các pháp thối đọa, thành ra sau 7 năm nàng biết như lý tác ý, triển khai thiền quán và chứng được quả A-la-hán, pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.

"Nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng nói lên sự phấn khởi của nàng.

Vì lòng tin, xuất gia,

Bỏ nhà, sống không nhà,

Ta sống tâm hướng mạnh,

Theo lợi dưỡng cung kính.

Từ bỏ đích tối thượng,

Phục vụ đích hạ liệt,

Bị phiền não ngự trị,

Bỏ đích Sa-môn hạnh.

Ngồi trong phòng tinh xá,

Ta cảm bị dao động

Ta đi vào tà đạo,

Khát ái ngự trị ta.

Ngắn ngủi sinh mạng ta,

Già, bệnh đang đè nặng,

Trước khi thân hủy diệt,

Giờ phóng dật không còn.

Như thật ta quán sát,

Sinh diệt của các uẩn,

Tâm giải thoát, ta chứng,

Lời Phật dạy làm xong" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIII) Mittakali)

Nàng vì lòng tin đi xuất gia, bỏ gia đình đi tu, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ anh chị em, bà con, cô bác nhưng cái tâm lại hướng vào trong danh lợi, trong những tiếng tăm, danh tiếng, trong lợi dưỡng, trong cúng dường, trong sự cung kính. Hướng Tâm mạnh vào cái đó, như vậy là ta đã từ bỏ cái mục đích tối thượng để phục vụ cho cái mục đích hạ liệt, thấp hèn, phàm phu thấp kém. Ta bị phiền não ngự trị, ta bỏ cái đích đến của đức hạnh Sa-môn, ta ngồi một mình trong tinh xá suy tư lại, nhìn lại mình, nội tỉnh, nội soi, nội quán, nội chiếu, nhìn lại bảy năm qua, những năm tháng vừa qua ta đã sống như thế nào, ta đã sống trong sự cầu danh, ham lợi, trong sự ưa thích cung kính, đảnh lễ, cúng dường.

Ta thấy rằng ta thật sự là nhục nhã, ta đã bỏ đi cái đích đến tối thượng, cao đẹp, thánh thiện, ta lại phục vụ cho một cái mục đích thấp hèn, hạ liệt, phàm phu tục tử. Như vậy là ta đã bị phiền não ngự trị rồi, ta đã bị lòng ham muốn này thống trị rồi, cai trị rồi, ta đã bỏ đi đích đến cao thượng, cao đẹp, thanh cao, thánh thiện của một người xuất gia rồi. Ta ngồi trong tinh xá một mình nhìn lại, xét lại, tịnh tu, tĩnh lặng để suy tư, tư duy, thiền tư về đời sống xuất gia tu tập 7 năm qua của mình. Ta bị dao động, cảm xúc trào dâng, tâm tư xấu hổ, tàm quý, nhục nhã, xót xa cho chính mình, thương cho chính mình, tội nghiệp cho chính mình, buồn đau cho chính mình. Ta như vậy là đã đi vào tà đạo rồi, ta đi vào đường tà rồi, ta đi sai đường rồi, ta đi lạc đường rồi, ta đi lầm đường rồi, ta đi lộn đường rồi, như vậy khát ái đã ngự trị ta.

Ta khao khát và tham ái đối những lợi dưỡng thấp hèn, tầm thường của thế gian, ta bị khát ái ngự trị cuộc đời ta. Cuộc đời xuất gia của ta, cuộc đời tu hành của ta, cuộc đời từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ta lại nuôi dưỡng, ta lại dung túng, ta lại ôm ấp những cái tham ái thấp hèn, đê tiện, hèn hạ. Ta thật là xót xa cho đời tu của ta, ta thật là xấu hổ và nhục nhã khi nhìn cha mẹ, khi nhìn lên Đức Thế Tôn, khi nhớ về các bậc thánh Tăng. Như vậy là ngồi một mình trong tinh xá, trong lòng day dứt, buồn đau, xấu hổ, tàm quý. Chẳng lẽ ta đi xuất gia để trở thành như vậy hay sao? Chẳng lẽ ta đi tu bỏ cha mẹ để ta sống một đời sống như vậy hay sao? Ẩn dương nương Phật, ăn bám xã hội, mượn đạo tạo đời, vì danh vì lợi.

Thật là buồn đau! Thật là xót xa! Ta đi vào tà đạo, khát ái ngự trị ta rồi, huống hồ chi sinh mạng này thật là ngắn ngủi, đời sống này thật là tạm bợ, mong manh, vô thường. Cái già đã xâm chiếm trên đầu ta, mái tóc ta đã pha sương rồi, trán đã có những nếp nhăn rồi, mắt mờ, lưng còng gối mỏi. Tất cả đang đè nặng lên trên đôi vai của ta, trước khi tấm thân này phân hủy, hủy diệt, hoại diệt, nhất định ta phải diệt tận những sự buông lung phóng dật này, ta phải đánh vỡ cái tâm khát ái này, ngu si này, nhất định ta phải diệt tận chúng nó, nhất định ta phải diệt tận chúng mày, nhất định ta phải hoàn toàn chấm dứt tất cả những thứ thấp hèn, bẩn thỉu, phàm phu, nhục nhã này.

Như vậy ta đúng như sự thật mà quan sát về sanh diệt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, quan sát đúng với sự thật sự sanh khởi của tấm thân này và sự diệt tận của thân xác này, sự sanh khởi của các cảm giác này, sự tan biến của nó, sự sanh khởi những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, sự chấm dứt của nó cũng như những nhận thức này. Phải quán chiếu thâm sâu nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ về sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, phải thấy chúng là một mớ duyên sanh, duyên diệt và sự tạm bợ, vay mượn, lắp ráp, kết hợp, nương dựa. Ta chứng ngộ được tâm thoát ra hoàn toàn sự khát ái đối với năm thủ uẩn, lời Phật dạy ta đã làm xong. Ta đã tốt nghiệp, hoàn thành sự nghiệp của người xuất gia, thành tựu cứu cánh Sa-môn hạnh.

Những cảm thọ này rất là quý báu, rất là hiền thiện, thánh thiện, những cảm thọ này sẽ đẩy mình đi vào dòng thánh trí đó cho nên phát triển những cảm thọ này lên và trong lúc mình trình pháp cũng là lúc triển khai thiền quán.

V. Trình pháp

Sư cô Hiền Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính đảnh lễ trên bậc ân sư tôn kính, con xin cung kính đảnh lễ trên chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni cùng các quý sư cô và toàn thể đại chúng hiền thiện. Trong suốt bài thiền quán mà trên bậc ân sư chia sẻ về những gương hạnh của các bậc thánh Ni, con có một cảm thọ rất là chấn động, toàn thân con cũng bắn lên một cảm xúc dạt dào, nước mắt con cứ tuôn chảy theo những tấm gương, những đức hạnh, những sự cố gắng của các bậc thánh Ni thời Đức Thế Tôn. Con cảm thấy mình thật là xấu hổ trước những gương hạnh của các ngài, những lời dạy của Đức Thế Tôn các ngài đã thực hành và xong trách nhiệm để nhiếp phục được những lậu hoặc trong tâm của mình, các ngài đã làm được.

Con vừa ngưỡng mộ các ngài cũng vừa khâm phục các ngài, càng như thế thì trong con cảm thấy tàm quý. Hình ảnh vị thánh Ni nhìn thấy vị huấn luyện voi sai bảo điều gì con voi cũng làm theo, chỉ là một con vật đã làm được điều như vậy, tại sao những lời dạy của Đức Thế Tôn rõ ràng, chỉ cần mình thực hành theo, làm đúng theo lời dạy của Đức Thế Tôn đối với cái tâm vô minh này mà tại sao mình không cố gắng, mình không nỗ lực hết khả năng có thể của mình. Ngay giây phút đó nước mắt của con đã trào dâng, nhưng con cũng nhận được sức mạnh từ những hình ảnh đó, những gương hạnh đó để không càng phải răn nhắc bản thân mình nhiều hơn nữa.

Đến vị thánh Ni mất đi đứa con gái yêu thương thì lời dạy của Đức Thế Tôn lại làm cho tâm của con càng chấn động hơn nữa. Ngài nói tám mươi bốn ngàn thi thể chết trong cái nghĩa địa đó thì mình khóc cho những đứa con nào, nó làm tâm con liên tưởng đến dòng sinh tử luân hồi này nó sâu dày như vậy, làm cho con sợ hãi và khiếp đảm với sự luân hồi sinh tử. Con cảm thấy ngao ngán và chán ngán đến tột cùng, chỉ mong cố gắng như lời Đức Thế Tôn chỉ dạy hãy bình tĩnh, hãy tỉnh ngộ, hãy cố gắng hết sức mình, chỉ vì mình chưa nỗ lực hết khả năng của chính mình, mình vẫn còn để cho những cái vô minh, tăm tối che mất cái tâm của mình. Đó là những cảm thọ mà con trải qua trong suốt bài thiền quán ân sư đã chỉ dạy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính đảnh lễ trên sư phụ, kính bạch chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí. Con kính bạch trên sư phụ, chiều nay con được nghe sư phụ thuyết giảng về những tấm gương của các thánh Tỳ-kheo Ni, cảm thọ con hiện giờ rất là chấn động và dâng trào. Khi được nghe thuyết giảng về các gương của các vị thánh Tỳ-kheo Ni thì điều thứ nhất làm cho con cảm nhận được trong con có động lực, có một sự tinh tấn nhiều hơn trong công phu hành trì của mình.

Khi con được nghe tất cả các gương của các thánh Tỳ-kheo Ni con có cảm nhận được một điểm chung là tất cả các vị đó điều thấu suốt được cái khổ, nhờ thấy được cái khổ mà lòng tin họ mới tin sâu. Chính điều đó mà khi họ nhận thức được cuộc đời này là khổ và lòng tin sâu như vậy thì khi các vị bước vào con đường tu học, như lý tác ý cũng như tất cả những sự tư duy, thiền quán, quán chiếu từ Đức Thế Tôn thì bằng tất cả tâm huyết của các ngài, các ngài nỗ lực tinh tấn bằng sự nhiệt huyết và không có thối chuyển, không có lui sụt đối với việc làm sao để cho các ngài chấm dứt, đoạn tận hết tất cả các nỗi khổ niềm đau trên thế gian này. Đó là động lực của các ngài để đi nhanh vào các tầng thánh quả nhất, đó là điều con cảm nhận trong tất cả các buổi mà sư phụ giảng trong thời gian vừa qua.

Vấn đề thứ ba là khi con nghe sư phụ giảng nhắc đến về vô thường tưởng, những sự tang thương, chết chóc, sanh ly tử biệt thì riêng con nhìn lại những di ảnh của những người thân con, ông bà trên bàn thờ, nhìn lại cô, dì, chú, bác cũng đang bị bệnh, cha mẹ con thì ngày một trở nên già yếu, tóc bạc, đau lưng, gối mỏi. Cái tưởng con nhìn ra bên ngoài hàng ngày bao nhiêu là cảnh tai nạn giao thông, chết chóc, đi qua cái những cái hình ảnh đó con thấy được rằng sống trên thế gian này, dù là cho mình có tính toán, có dự định, sắp đặt tất cả các công việc gì đi nữa khi mà một mai giặc chết đến là nó sẽ đánh sạch hết tất cả những sự khác nhau, mong muốn, đòi hỏi của tất cả chúng sanh. Cho nên sư phụ nói một câu con rất là chấn động và tâm đắc, "không có cái gì là chắc chắn cả, chỉ có chết là chắc chắn sẽ chết".

Con sẽ đặt câu hỏi rằng làm sao sao để mình chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến, khi cái chết nó đến cận kề đây. Con rất là lo sợ vô thường nó ập đến, không phải là con lo mình sợ chết nhưng mà lo vì ở trong tâm con còn nhiều những cái ác bất thiện pháp. Con sợ rằng khi còn những cái đó, một mai vô thường có ập đến thì đó là một cái sự ra đi không có tốt lành cho mình. Chính vì vậy qua những lời sách tấn, chỉ dạy trên sư phụ càng làm động lực để con có sự tinh tấn, dũng mãnh, giữ lửa nhiều hơn nữa trong sự tu học của mình. Tại vì con cảm nhận được trong vòng luân hồi này, cái chết này thật sự nó không có xa lạ gì với mình cả, mình đã rất là quen thuộc với nó trong tử tử sanh sanh, sống sống chết chết, trong vòng luân hồi này. Đức Thế Tôn nói mộ phần của các chúng sanh ngày một nhiều hơn, thấy được những điều đó để thấy được sự nhàm chán để thoát ra đối với cái đống đại khổ uẩn này. Đó là những cảm nhận của con trong thời gian vừa qua nghe sư phụ thuyết giảng về các vị thánh Ni Tỳ-kheo thời Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Mô Phật, con kính bạch sư phụ, qua thời chia sẻ của sư phụ về những tấm gương của các bậc thánh Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật thì một lần nữa đã làm cho niềm tin trong con tăng trưởng và con thêm sức mạnh để nỗ lực tinh tấn nhiều hơn nữa trong sự tu tập trong chánh pháp này. Khi con nghe sư phụ kể về vị Tỳ-kheo Ni đi lên núi Linh Thứu, nhìn thấy con voi và người huấn luyện voi, ngài như ý tác ý, lấy đó làm đề mục thiền quán, nhờ đó mà ngài đã thành tựu cũng như vị Tỳ-kheo Ni rơi vào trong tâm tham lợi dưỡng, cung kính, rơi vào tà đạo, nhưng mà nhờ biết như lý tác ý đã chứng đạt mục đích cuối cùng.

Qua đó con thấy được lợi ích thù thắng, công năng vi diệu của như lý tác ý và con thấy mình thật là xấu hổ bởi vì con chưa thực tập được bao nhiêu hết nhưng mà có lúc ý hành của con nó khởi lên sự chống đối, nói là "tại sao làm cái việc nhỏ chút chút mà cũng phải tác ý, phải nặng đầu suy nghĩ rồi tác ý liên tục như vậy, rất là mệt". Con rất là xấu hổ bởi vì trong sự tu tập hay quên như lý tác ý, những việc nhỏ là con không tác ý gì hết và con nhắc nhở bản thân là từ nay phải cố gắng tác ý nhiều hơn nữa, phải thường trực an trú trong pháp. Trong thời giảng của sư phụ có một điều mà con cũng rất là tâm đắc, rất là ấn tượng đó là câu nói "không có gì là chắc chắn cả, chỉ có cái chết là điều chắc chắn", vậy mà mấy ai lo cho cái chết của mình và con thấy đúng thật là như vậy.

Trong con khởi lên hình ảnh hôm bữa đi chùa Hoằng Pháp, con ngồi ở trên cho nên con nhìn tận mắt, con nhìn trực tiếp hình ảnh người chết đắp chiếu trên đường, máu loang ra trên đường. Hình ảnh đó thật sự làm cho con rất là kinh hãi và cái lúc đó trên xe có rất là sợ, bác tài vượt xe khác hay là đi nhanh một chút là tim con muốn thoát ra ngoài, con rất là sợ mình cũng nằm xuống y như vậy. Con nói với bản thân rằng mày đã sẵn sàng để chết hay chưa, con thấy con tu tập quá là yếu kém, có rất là sợ, phải làm sao phải tác ý như thế nào để mình nhả ra, mình thoát ra sự chấp thủ vào cái sắc thân này. Con ngồi trên xe mà con quán chiếu, con cái thân này quả thật là nó mong manh giống như đồ gốm, dễ tan, dễ vỡ, mong manh như giọt sương trên đầu ngọn cỏ, có rồi mất, chỉ cần một tác động nhẹ là cái thân này đã trầy xước, chảy máu, bong gân, tác động mạnh một chút là gãy chân, gãy tay, gãy cổ, máu me thành một đống bầy nhầy.

Con thấy cái thân này nó không có gì chắc thật hết, nó còn mong manh, nó còn không bằng một cái ghế, cái bàn. Cái ghế, cái bàn mình ném xuống đất thì nó vẫn còn nhưng mà con người mình bị ném một cái như vậy là coi như không còn cái gì nữa, là sắc đã bị thay đổi. Con thấy thật là bất hạnh, thật là tai nạn, tai ương khi phải mang vác một cái thân vô thường, đầy bất trắc, đầy rủi ro như vậy, có thể chết bất cứ lúc nào. Con thấy mình những lúc mà quán chiếu thì con nhàm chán được nhưng mà con không duy trì nó được lâu, con vẫn còn tham chấp vào cái thân này, còn thân kiến rất là nặng. Ví dụ khi mà con nhìn vào những tấm hình trong khóa tu chùa Hoằng Pháp, sư phụ, quý thầy đăng lên hay gửi cho con là con nhìn vào hình ảnh chính mình, con khởi lên một cảm giác vui thích, con còn thích thú, còn dính mắc.

Con thấy đây là cái vô minh, là sự chấp thủ vào sắc thân, con còn chấp cái hình ảnh đó là mình, con còn vui thích trong cái hình ảnh của ngã như vậy. Vậy thì biết bao giờ con mới có thể nhả ra cái sự chấp thủ vào cái thân? Con rất là lo lắng và con rất là sợ hãi cho bản thân, cho cái tâm mê, tâm vô minh này. Con sẽ cố gắng thật là nhiều, sẽ như lý tác ý và quán chiếu để diệt trừ những cái thấy của vô minh, của chấp thủ như vậy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Ni sư:

"Hãy đứng dậy, lên đường,

Hãy dấn thân Phật giáo,

Hãy đánh bại Ma quân,

Như voi phá chòi lá.

Ai trong pháp luật này,

An trú không phóng dật,

Ðoạn tận vòng sống chết,

Sẽ chấm dứt khổ đau". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, II. Phẩm Thứ Hai, IV. Arunavàti)

./.