Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 12 - LÀM SAO BÁO ĐÁP TÌNH THÂN

2026-03-03 00:55:42
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 12

LÀM SAO BÁO ĐÁP TÌNH THÂN?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Hai thái cực cần tránh PAGEREF _Toc126075762 \h 1

I.Báo đáp tình thân đúng pháp PAGEREF _Toc126075763 \h 1

1.An trú vào lòng tin bất động PAGEREF _Toc126075764 \h 2

2.Người thật việc thật PAGEREF _Toc126075765 \h 5

3.Thực chứng tự thân PAGEREF _Toc126075766 \h 8

4.Cúng dường tối thượng PAGEREF _Toc126075767 \h 9

II.Bốn đức hạnh của người đệ tử Phật PAGEREF _Toc126075768 \h 10

Hai thái cực cần tránh

Rất nhiều người tu có quan niệm sai lầm, cách nhìn nhận không đúng về sự quán chiếu tình thân. Người xuất gia dễ rơi vào hai thái cực sau:

Thái cực đầu tiên: tu là “cắt ái ly gia”, không còn quan tâm gì đến người thân, gia đình, trở thành người vô tình vô nghĩa, không còn hiếu thảo, tình nghĩa. Nhiều vị tự cho rằng mình là người đã xuất gia, dù gia đình có chuyện xảy ra cũng không muốn nghe; cha mẹ, người thân có đau khổ hay phiền muộn cũng không quan tâm. Thậm chí, cha mẹ, người thân gọi điện thăm hỏi cũng không bắt máy, không muốn tiếp chuyện; ngược lại, dành rất nhiều thời giờ cho những Phật tử thân tín. Đối với cha mẹ, họ nói “tôi xuất gia rồi, đừng gọi cho tôi, đừng kể những chuyện gia đình với tôi”; còn đối với những cư sĩ thân tín thì chuyện gì cũng sẵn sàng tâm sự, chính điều này biến người tu chúng ta trở thành người vô tình, vô nghĩa, bất hiếu.

Thái cực thứ hai: “thân xuất gia nhưng tâm không xuất gia”, đi tu rồi nhưng vẫn như khi còn ở ngoài đời. Trong Nikāya, Đức Phật nói người ấy vui với cái vui của người tại gia, buồn với cái buồn của người tại gia, bận rộn với công việc của những người tại gia, đem đến hệ lụy cho người xuất gia. Khi có thể liền trở về thăm nhà, cứ chị chị, em em, mẹ mẹ, con con; cũng khóc, cũng buồn, cũng cười, cũng nói như thế gian, không có đức hạnh của một vị Tỳ-kheo, không có uy nghiêm, giới đức của một người tu, sống bình thường như lúc chưa đi tu, buông lung phóng dật, không oai nghi. Nghĩ rằng ở nhà thì không cần oai nghi, chỉ cần oai nghi cho những người bên ngoài thấy. Người như vậy là “thân xuất gia nhưng tâm không xuất gia”, không thực hành giới đức, giới hạnh, giới luật của một người xuất gia, chỉ khác với người đời ở chỗ đã cạo mái tóc, còn lại chẳng khác gì người thế tục.

Người xuất gia rơi vào hai thái cực trên rất nhiều và cả hai thái cực này đều không đúng.

Báo đáp tình thân đúng pháp

Vậy, người xuất gia đối với gia đình, đối với người cùng một huyết thống như thế nào mới đúng? Đức Phật dạy những điều này rất rõ trong kinh tạng Nikāya:

An trú vào lòng tin bất động

Này Ānanda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, với những người ấy, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm.

Thế nào là ba?

- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Đức Phật: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Mạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.

- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.

(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Ba Pháp, VIII. Phẩm Ànanda, bài kinh Cần phải khích lệ)

Đức Phật dạy, người xuất gia chúng ta cần khích lệ, hướng dẫn và đặt để cha mẹ, anh chị em, người thân có được lòng tin bất động, vững chắc, không dao động, không lay chuyển đối với Đức Phật, đối với Chánh Pháp, đối với chúng Tăng. An trú cha mẹ, người thân vào được niềm tin bất động này chính là chứng Thánh quả Dự lưu thứ nhất. Đây chính là cách đền ơn đáp nghĩa thật sự của một người xuất gia, chúng ta cần nắm vững được điểm quan trọng này.

Chúng ta đi tu không phải để trở thành người không cha không mẹ, vô tình vô nghĩa. Cũng không phải đi tu rồi nhưng vẫn dính mắc vào những tập khí phàm tục, buông lung phóng dật của ái luyến thường tình, dính vào những hệ lụy của phàm phu thế tục. Xuất gia là để học được những trí tuệ của Đức Phật, từ đó thực tập theo những giới đức, thiền định, trí tuệ đó và khích lệ, hướng dẫn, đặt để cha mẹ, người thân tu tập. Đây mới là đền ơn đáp nghĩa, báo hiếu mẹ cha.

Hơn nữa, không phải đợi đến khi tu thành chánh quả mới độ cha mẹ, mà những lần được gặp cha mẹ trực tiếp ở chùa, ở nhà; hoặc gián tiếp qua điện thoại, thư từ… chính là cơ hội để báo hiếu cha mẹ. Những lúc đó chúng ta không nên nói nhiều về chuyện đời, mà hãy tận dụng những thời điểm thích hợp để nói pháp với họ. Cố gắng khéo léo, tùy thuộc căn cơ, phước đức của người thân mà chia sẻ pháp với họ, giúp họ thấm pháp dần dần. Tâm từ, tâm hiếu, hạnh hiếu, đức hiếu của chúng ta nằm ngay chính chỗ này. Không phải cha mẹ lên chùa là lăng xăng làm món này, món kia để đãi cha mẹ; đây chỉ là những việc rất nhỏ, tuy cũng cần thiết nhưng không thật sự quan trọng, thay vào đó, hãy lấy hương vị bất tử của pháp để cúng dường cho cha mẹ!

“Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!”

(Kinh Pháp cú, phẩm Tham ái, kệ 354)

Vì vậy, mỗi lần có cơ hội gặp gia đình, người tu chỉ nên dành 20% thời gian để hỏi thăm gia đình, còn lại 80% dành để khéo léo khuyên người thân nghe pháp. Hãy hướng dẫn cho người thân cách nhận diện ngũ uẩn; thấy được bộ mặt của tham, sân, si, bản ngã đã gây ra những khổ đau cho tự thân và tất cả chúng sanh. Hãy chỉ cho cha mẹ thấy bản chất khổ đau của đời sống này; chỉ cho cha mẹ thấy nguyên nhân sanh ra đau khổ và phương pháp dập tắt, diệt tận những đau khổ đó. Như vậy mới là có tình, có nghĩa, có hiếu, có hạnh và đó chính là sự đền ơn tối thượng của người xuất gia, tức là giúp cha mẹ, người thân thành tựu chánh kiến.

Để làm được như vậy, chính bản thân chúng ta cũng phải thành tựu chánh kiến, vì mình thấy đúng mới có thể chỉ cho người khác thấy đúng. Trong kinh, Đức Phật nói có hai loại thấy đúng: thấy đúng hữu lậu và thấy đúng vô lậu. Trong đó, thấy đúng hữu lậu là thấy đúng nhân quả, nghiệp báu, thiện ác; thấy đúng vô lậu là sự thấy đúng của bậc Thánh, Thánh tri kiến, tức là thấy ngũ uẩn này là khổ. Khi thấy rằng bất cứ hình thức sống nào trong ngũ uẩn cũng đều là khổ đau thì cha mẹ nhàm chán tất cả mọi hình thái của cuộc sống, hướng đến sự thoát ly sanh tử, dập tắt tham, sân, si, diệt tận vô minh và tham ái, chấm dứt luân hồi, diệt trừ sống chết, thoát ra khỏi dòng luân hồi oan nghiệt, đó cũng chính là chánh kiến vô lậu xuất thế gian.

Tùy vào sự thành tựu chánh kiến của bản thân mà chúng ta hướng dẫn cho cha mẹ những gì mình đã thực chứng. Khi chưa thể thành tựu chánh kiến vô lậu thì hãy hướng dẫn về nhân quả, nghiệp báu và nỗi khổ của cuộc đời theo mức độ hiểu của mình. Chứ không phải cha mẹ đến chùa là dẫn cha mẹ đi ăn uống, tham quan là xong, như vậy chỉ là bước đầu tiên, là cách báo hiếu theo kiểu thế gian. Người tu chúng ta phải khích lệ, hướng dẫn, an trú cha mẹ vào niềm tin bất động đối với Phật, Pháp Tăng.

Thực tế, ngay hiện tại chúng ta vẫn chưa thật sự có được niềm tin bất động đối với Phật, nếu có là mình đã vào Thánh quả thứ nhất. Dễ thấy nhất là dù mình đã được học Tứ Thánh Đế nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng thấy được cái khổ thật sự trong Khổ Thánh Trí. Cũng vậy, lòng tin của chúng ta tuy có nhưng vẫn còn lung lay, lúc có lúc mất, lúc mờ lúc tỏ và lòng tin như vậy gọi là chưa có tịnh tín bất động. Đến khi nào, trong bất cứ cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết ở mọi lúc, mọi nơi, mọi khía cạnh của đời sống… đều thấy được vô thường, khổ, vô ngã trong đó thì mình Nhập lưu, thật sự tham gia vào dòng chảy trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác, có niềm tin bất động đối với tam bảo.

Bây giờ chúng ta đang học về khổ, nhưng khi học xong thì vẫn thấy vui với những thứ bên ngoài, do đó cứ buông lung phóng dật, tham muốn, yêu thích, say mê vào ngũ uẩn. Còn khi thật sự thấy sự khổ theo Thánh trí thì chúng ta sẽ không còn thích muốn thứ gì nữa. Bởi lẽ, nếu đang ngồi ở chỗ lửa bốc cháy thiêu rụi xung quanh thì dù có để hàng trăm món ăn ngon trước mặt cũng không ai có thể ngồi yên thưởng thức được. Người có chánh kiến là người thấy lửa đang bốc cháy mọi nơi nên họ dốc lòng đem chánh kiến để hướng dẫn cha mẹ, anh chị em tu học cùng mình.

Người thật việc thật

Minh Thành có một niềm may mắn rất lớn là đưa được cha và mẹ lên núi tu học. Ba của Minh Thành lúc đó đang bệnh ung thư cuống bao tử, bác sĩ nói rằng phải cắt bỏ cuống bao tử nhưng cũng sẽ không thể sống được lâu, sau khi suy nghĩ, đắn đo nhiều mặt, Minh Thành và ba đều quyết định không cắt bỏ. Cuối cùng, bằng tình thương, bằng từ tâm, Minh Thành khuyên ba lên núi tu học vào những năm cuối cùng của kiếp người. Khi lên núi, ông rất siêng tụng kinh, niệm Phật, lạy sám hối và uống lá cây để trị bệnh. Một thời gian sau, khi đi tái khám thì bệnh đã khỏi một cách không ngờ, bác sĩ cũng không hiểu là do uống thuốc gì. Hằng ngày ba Minh Thành chỉ tinh tấn lạy sám hối, an trú vào Pháp để khắc phục nỗi đau của cơ thể. Chuyện lễ lạy đối với người có sức khỏe bình thường như chúng ta thì rất dễ dàng, thế nhưng, đối với người đang bệnh nặng như vậy thì mỗi một lạy xuống là vấn đề rất lớn nhưng ông đã nhiếp phục được cảm thọ, quyết tâm phải lạy cho bằng được. Bên cạnh đó, ông vô cùng siêng năng nghe pháp, Minh Thành cũng luôn khuyến khích ông nghe pháp mọi lúc có thể vì muốn ba được thành tựu chánh kiến. Từ khi ông lên núi đến giờ đã là chín năm, nhờ khỏi bệnh, sống khỏe mà ông có thêm nhiều thời gian tu học. Sau khi theo dòng pháp Nikāya, Minh Thành vẫn khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn ba tu học, hiện tại, về mặt nhận diện ngũ uẩn, nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã thì ông thấy rất rõ. Có những buổi pháp đàm, chia sẻ đại chúng thì ông được mời lên chia sẻ để đại chúng học hỏi theo. Đến hiện tại, ông cũng có một phần tương đối trong sự thành tựu chánh kiến trong kinh tạng Nikāya.

Còn mẹ Minh Thành thì đã qua đời, bà lên núi được vài năm, Minh Thành cũng an trú, đặt để, khuyến khích mẹ tu học, đồng thời hướng dẫn bà biết phóng sanh, bố thí, cúng dường, nghe pháp, tu tập và nắm được phương pháp nhận diện ngũ uẩn. Đến ngày mẹ gần ra đi, khi hộ niệm cho mẹ, Minh Thành nói với bà hãy buông xả, từ bỏ ngũ uẩn thì bà gật đầu và ra đi.

Ngoài ra, Minh Thành cũng hướng dẫn cho bốn người cô, các cô đều không có gia đình và cũng ăn chay trường được hơn bốn mươi năm. Minh Thành báo ơn các cô, các chú trong gia đình bằng Thánh pháp Nikāya. Tuy nhiên, Minh Thành không bao giờ ép buộc các vị, mà Minh Thành sẽ quán chiếu nhân duyên của từng người. Có vài vị lên núi Minh Thành không nhắc nhở gì, mọi người tự thích, tự muốn nghe pháp thì tự lên tu tập. Còn những vị chưa thích thì cứ ở chùa bình thường để làm công quả, từ từ sau đó mới khích lệ họ. Minh Thành không ép buộc các vị vào thời khóa ngay lập tức, vì không khéo họ sẽ đi về, không chịu ở chùa nữa. Cho nên, chúng ta cần quán xét căn cơ, nhân duyên, độ tiếp nhận pháp của mỗi người là như thế nào, sau đó mình mới hướng dẫn, khích lệ, đặt để họ. Minh Thành có một người anh rể đạo Thiên Chúa nhưng ở chùa đã hơn sáu năm, một phần là lo cho ba, một phần là vì thích không gian, cảnh trí, cách sinh hoạt ở chùa.

Như vậy, điều quan trọng đầu tiên là chúng ta nắm được pháp; kế đó là để tâm vào sự báo hiếu, báo ân, báo đáp lại tấm lòng của những người thân thương, những người cùng một huyết thống bằng Thánh pháp. Nếu người thân không đủ duyên với pháp, chúng ta hãy thông qua những cuộc điện thoại, những chuyến về thăm nhà khéo léo tặng họ những bài giảng, những quyển sách, những thứ thích hợp để dần dần hướng dẫn họ vào pháp. Chúng ta phải biết quan sát tình trạng, trường hợp của mỗi người để dùng cách phù hợp. Nếu không biết cách, chúng ta có thể hỏi những bậc tôn đức, những bậc có trí tuệ, những bậc đã thành tựu trong phương diện đó để hướng dẫn cho mình.

Minh Thành đã gieo duyên cho ba Minh Thành xuất gia, thọ mười giới, dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Luật Sư – Thượng Minh Hạ Thông, chính Hòa Thượng đã cạo tóc cho ba của Minh Thành, lấy pháp danh cho ba là Pháp An, với tâm nguyện cầu cho ba được bình an trong Chánh Pháp.

Ngày mai này, người cô của Minh Thành sẽ lên thành phố khám bệnh về mắt do bị ảnh hưởng từ bệnh tiểu đường. Ở nhà, cô gánh vác cuộc sống của hết tất cả mọi người, những chuyện lớn của gia đình đều do cô gánh vác. Cô cúng dường một lần là cho hàng trăm ngôi chùa. Đặc biệt ở chỗ, một chùa có hai chục cô thì cô của Minh Thành cúng sẵn hai mươi cái hòm. Cô làm phước nhiều đến mức cả khu chợ đó ai cũng biết và còn nhờ cô chỉ đi chùa nào, tu ra sao mà giàu như vậy. Khi cô xin quy y, Minh Thành đặt cho cô tên là Nhân Từ để cô luôn nhớ mà giúp đỡ mọi người. Cả kiến họ gia đình Minh Thành có gần 50 người và Minh Thành là người chịu trách nhiệm về mặt tinh thần cho tất cả các vị. Minh Thành chưa bao giờ thấy đau khổ, phiền não về điều này, bởi lẽ, Minh Thành dùng Chánh Pháp để báo ân, báo nghĩa, báo tình cho những người thân của mình.

Chú bảy của Minh Thành cũng bị bệnh nặng, nhưng cứ dây dưa, nằm hoài không mất. Khi bệnh trở nặng, cũng ngay đêm đó, Minh Thành và quý thầy ở chùa trở về để trải tâm từ cho chú, đồng thời trải tâm đến oan gia trái chủ của chú. Nếu còn thọ mạng, khuyến khích gia đình làm phước, để nương phước lành đó hồi hướng cho chú có sức khỏe. Còn hết thọ mạng, trả xong nghiệp thì xin cho chú ra đi nhẹ nhàng. Khi trải tâm từ xong thì tối đến chú ra đi. Chú cũng từng xuất gia gieo duyên, có tên là Pháp Hộ.

Vừa rồi, cô sáu của Minh Thành chuẩn bị rút máy thở, bác sĩ trả về, ở nhà đã chuẩn bị hòm sẵn sàng. Khoảng một giờ đêm hôm đó, Minh Thành và quý thầy ở chùa về đến nơi để trải tâm từ trong đêm cho cô. Sau khi trải tâm từ, mở máy thở ra thì cô dần tỉnh lại, hiện tại sức khỏe đã ổn định. Nhờ vậy, trong gia đình càng tăng trưởng thêm lòng tin đối với Phật pháp, tại vì mọi người đều được chứng kiến người thật việc thật. Những hiệu quả, lợi ích thiết thực mà Chánh Pháp mang lại là mắt thấy, tai nghe nên mới có thể cảm hóa mọi người; còn chỉ nói suông, không làm được thì người khác sẽ không tin.

Phần lớn mọi thứ ở Linh Quy Pháp Ấn là do các cô của Minh Thành cúng dường, chiếc xe Minh Thành đi dạy học cũng từ mồ hôi nước mắt của các cô. Ngày xưa các cô không dám ăn ngoài, có khi chỉ chế mỳ gói mà ăn, nhưng khi cúng dường có khi bằng tiền tỷ. Ngoài ra, Minh Thành còn khuyến khích các cô đem tiền cúng dường in kinh sách để bố thí.

Thực chứng tự thân

Người xuất gia chúng ta phải cố gắng giúp được người thân của chính mình. Để làm được điều này, đòi hỏi tự thân ta phải hết sức để tâm, quan trọng hơn là có năng lực thật sự, tức là có sự thấy biết trí tuệ và có tình thương rộng lớn. Bên cạnh đó, chúng ta phải có những phương pháp thiện xảo và dùng tất cả tấm lòng trợ giúp gia đình an trú vào pháp.

Một người nghèo đói không thể giúp đỡ, bố thí thức ăn cho người khác, dù họ rất muốn giúp nhưng lực bất tòng tâm, vì ngay chính mình còn đói thì sao giúp người khác no được. Cho nên, người này phải có tiền, có địa vị, có phương tiện thì mới giúp những người nghèo khổ xung quanh được. Cũng vậy, người tu phải có trí tuệ, có sự thấy đúng về pháp, có lòng từ, có sự để tâm, có tấm lòng hiếu thảo, nghĩa tình thì mới có thể giúp người thân được. Dù không thể viên mãn như Đức Phật và các bậc Thánh, nhưng ít nhất chúng ta cũng giúp cha mẹ, người thân một cách tương đối bằng tất cả sự hiếu thảo, nghĩa tình, nhân hậu. Đây là một nghĩa vụ rất thiêng liêng, quan trọng của người xuất gia chúng ta.

Những lời dạy trong bài kinh “Cần phải khích lệ” là Đức Phật đang dạy chúng ta về nghĩa tình, hiếu thảo của một người xuất gia. Những lời này nếu chỉ đọc phớt qua thì chúng ta sẽ không hiểu được một cách sâu sắc, vì vậy, phải để tâm vào từng câu chữ trong kinh để hiểu được cách Đức Phật dạy chúng ta báo hiếu.

Đối với cha mẹ, anh chị em, người thân và ngay cả những cư sĩ hộ pháp chúng ta không được sống với những thứ thường tình, vì như vậy là hại chính mình và hại cả người đó. Chúng ta không nên nói những chuyện của thế gian như “ăn gì chưa”, “ở nhà thế nào”, “khỏe không”, “có buồn gì không”…; mà mình phải đem Chánh Pháp để giúp những người thân thương một cách khéo léo. Không phải khi nói pháp mới là hướng dẫn pháp, mà từ trong cách sinh hoạt, lời nói, hành xử của mình phải làm sao cho họ cảm nhận được pháp, đó mới chính là tâm từ bi của người xuất gia, cũng là từ bi cho chính bản thân mình.

Nếu ta không có từ bi cho chính mình thì mình sẽ mãi sống trong những tập khí, thói quen cũ. Cứ buông thả, buông trôi, buông lung các căn, thả lỏng ngũ uẩn, thả lỏng các cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng; muốn nói gì nói, muốn nghĩ gì nghĩ, muốn làm gì làm, không thu nhiếp, không chế phục, không chế ngự, không hộ trì căn. Sống như vậy là chúng ta đang tự tay hủy hoại cuộc đời tu của mình. Ngày mới vào tu thì hiền lành, dễ thương vô cùng; nhưng ở chùa lâu bao nhiêu thì lại sống buông thả, bất kính với bậc trưởng thượng, xem thường các bậc đồng Phạm hạnh, lòng tin đối với tam bảo ngày càng suy giảm và cuối cùng là thối đọa. Đây là hiện trạng đau lòng của người tu do không đi đúng đạo lộ của Đức Phật nên các vị đi sai đường, lạc đường, đặt tâm sai hướng. Vì vậy, người tu chúng ta phải đặt tâm đúng hướng trong sự tu học theo đúng Thánh đạo của Đức Thế Tôn.

Cúng dường tối thượng

Ngoài ra, chúng ta cũng phải đền ơn đối với thầy của mình. Báo ân cho thầy tổ không có nghĩa chỉ là bưng cơm, rót nước, giặt đồ, mà phải đúng theo lời Đức Thế Tôn dạy trong kinh tạng như sau:

Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp, hành trì đúng Chánh Pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.

Do vậy, này Ānanda, hãy thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp và hành trì đúng Chánh Pháp. Này Ānanda, các Người phải học tập như vậy.

(Trường Bộ Kinh, bài 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn)

Đức Phật nói rằng, người xuất gia hay tại gia nào thành tựu Chánh Pháp, bất cứ lúc nào cũng thuận theo pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp, hành trì đúng Chánh Pháp thì đó là người kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.

Người tôn kính Đức Phật bậc nhất, cúng dường Đức Phật bậc nhất là người thực hành đúng Pháp, đạt được Pháp; chứ không phải người chưng bông chưng hoa, làm đẹp nơi thời cúng, đây chỉ là những chuyện nhỏ. Thực hành được những lời Phật dạy, chứng ngộ được những lời Phật dạy thì đó mới là người kính trọng bậc nhất, tôn sùng bậc nhất, đảnh lễ bậc nhất và cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.

Bốn đức hạnh của người đệ tử Phật

Trong kinh “Cần phải khích lệ”, Đức Phật định nghĩa về chư Tăng như sau:

“Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.

Đệ tử thật sự của Thế Tôn có bốn đức hạnh sau: Diệu hạnh, Trực hạnh, Ứng lý hạnh, Chơn chánh hạnh. Đây là điệu kiện tiên quyết của một người đệ tử Phật, bất kể là người tại gia hay xuất gia cũng cần phải có. Nếu không có đủ bốn đức hạnh này thì người đó không phải là đệ tử Phật chân chánh, dù có mang hình thức là người tu.

Diệu hạnh: đức hạnh vi diệu, nghĩa đơn giản nhất là đức hạnh dịu hiền. Một người muốn làm đệ tử của Đức Phật thì trước tiên người đó phải có thân tâm hiền lành. Một người dữ không thể làm đệ tử của Phật. Một người hiền thiện, tâm nhu nhuyến, thật sự để tâm thì mới có thể học pháp được, vì pháp này không phải dễ, từ phàm chuyển thành Thánh không phải chuyện đơn giản, không nuông chiều cho những tâm ý buông lung phóng dật, tham ái, chấp thủ của chúng sanh. Cho nên, đức hạnh đầu tiên của một người tu phải là người hiền thiện, hiền lành, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền từ, hiền trí. Phải thành tựu được đức hạnh này thì người đó mới thật sự là đệ tử của Đức Phật, dù cho đó là người xuất gia hay tại gia. Còn người hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung ác thì không thể tu được, không thể là con Phật được. Người khác nói một câu, trả lời lại ba câu thì cái gì! Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, các vị Tỳ-kheo gọi nhau là “chư hiền” “hiền giả”, tức là những người hết sức hiền lành, sẵn sàng nhận lỗi ngay lập tức khi Thế Tôn hỏi đến, từ đó Thế Tôn mới chế ra các giới. Còn chúng ta, khi hỏi có phạm lỗi không thì lập tức phủ nhận, có khi còn đổ lỗi cho người khác với tâm quanh co, ngụy biện, giấu lỗi lầm. Khi làm gì sai, có ai chỉ lỗi là mình trườn uốn như con lươn, con rắn, tìm mọi lí do để ngụy biện, bao biện cho lỗi sai, tâm như vậy là tâm không hiền, là chướng ngại đầu tiên trong sự tu học. Ngoài đời ai bặm trợn, hung hăng là được người khác e dè, sợ sệt; còn trong đạo người như vậy bị xem là kẻ ngu, vì đó là nguyên nhân đưa họ đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chứ không có gì tài giỏi. Người tu là người có tâm vô cùng hiền lành, hiền thiện, dù có bị vu oan thì vẫn từ tốn, nhẹ nhàng. Đó mới đúng là tâm của người tu, là đức hạnh đầu tiên của người con Phật, nếu không thành tựu điều này thì không phải đệ tử Phật, dù cho có cạo đầu đắp y.

Trực hạnh: tâm chánh trực, ngay thẳng, không cong veo. Ví dụ lỡ lấy nhầm đồ của người khác, họ chỉ mình thì xin lỗi họ, chứ không đổ lỗi vì cái này, tại cái kia nên mình mới lấy nhầm. Hoặc có người nói sao mình sân si quá thì mình thấy xấu hổ, xin lỗi họ, cố gắng tu tâm từ, người như vậy mới là đệ tử Phật. Còn ngay cả những điều kiện căn bản này còn chưa tu được, mà còn đòi lên Thánh, lên Bồ tát là chuyện không thể nào. Chúng ta cứ tu trong bản ngã, tu trong tham dục, tu trong ảo tưởng trong khi nền mống không có thì sao thành tựu. Cũng như người bò chưa vững, đi không được mà đòi lái máy bay; nền mống chưa dựng xong mà đòi xây mười lăm tòa nhà. Cho nên, tâm của người tu phải ngay thẳng, chính trực, đừng chuyện lớn bảy phần, xé to thành mười phần,

Ứng lý hạnh: “ứng” là ứng hợp, “lý” là chân lý, “ứng lý” nghĩa là những hành động, suy nghĩ, lời nói của chúng ta phải ứng hợp với chân lý theo lời Phật dạy. Đây là người có tâm rất nghe lời, rất dễ dạy, tuyệt đối tuân theo trăm phần trăm những lời Đức Phật, nếu chưa thực hành được hoàn toàn thì biết mình chưa làm được, cần tinh tấn thêm. Ngược lại, người không có đức hạnh là sẽ là người có tâm ương ngạnh, cứng cỏi, chống đối với những lời dạy của Thế Tôn; học một đàng làm một ngã; đọc kinh xong thì trả lại kinh; sống theo tập khí thường ngày, không khế hợp với chân lý lời Phật dạy.

Chơn chánh hạnh: người có nội tâm chân chánh, đời sống chân chánh của một người tu với đầy đủ giới luật, thiền định, trí tuệ; cùng một nội tâm thật sự mong cầu giải thoát, thật sự muốn nhiếp phục tham, sân, si thì mới có thể tiếp nhận được dòng Thánh Pháp tối thượng của Đức Phật truyền trao, Chánh Pháp mới có thể thẩm thấu trọn vẹn trong toàn bộ thân tâm. Chỉ có một lý tưởng tu học chân chánh, đúng pháp, một sự đặt tâm đúng hướng mới thì người tu mới có khả năng thể nhập vào Chánh Pháp thâm sâu, thần diệu của Đức Thế Tôn.

Người tu chúng ta cần chiêm nghiệm, nghiền ngẫm thật kỹ về bốn đức hạnh này. Cố gắng thực tập, hành trì, đừng quên những lời Phật dạy.

./.