Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trình Pháp Nikāya - Cố Gắng - Tinh Cần - Tinh Tấn - Sách Tâm - Trì Tâm

2026-03-03 00:55:42
Trình Pháp Nikāya

Cố Gắng – Tinh Cần – Tinh Tấn

Sách Tâm – Trì Tâm

Thích Minh Thành

Ngày 14 tháng 10 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình Pháp PAGEREF _Toc119684467 \h 1

II. Khuyến tu PAGEREF _Toc119684468 \h 10

III. Tinh thuần PAGEREF _Toc119684469 \h 16

IV. Thiện xảo trong tu học PAGEREF _Toc119684470 \h 19

V. Khuyến tu 2 PAGEREF _Toc119684471 \h 24

I. Trình Pháp

Kính bạch chư tôn hiền đức, các Phật tử hiền trí. Chúng ta nhận diện ngũ uẩn trong khi thiền quán “Thân trống rỗng” sáng nay. Thọ, tưởng, hành của mình sanh khởi như thế nào khi thiền quán.

Phật tử 1:

“Con Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý sư trưởng, con kính bạch trên các quý thầy, sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Trước khi vào nhận diện ngũ uẩn thời thiền, con cũng được xin sám hối. Con xin sám hối là trong giờ tụng Pháp Bảo hôm nay, thật ra đến bây giờ con vẫn còn run và rất là xấu hổ. Con chỉ vì một chút chủ quan, phóng dật, không chú tâm cảnh giác, cứ nghĩ là: “Không đến lượt mình đọc Pháp Bảo”, nên con không có chú tâm vào đó. Khi một hiền thiện cùng đoàn Nha Trang để micro vào tay con, thì thật sự là lúc đó con chưa có tâm chuẩn bị Pháp Bảo nào. Con chỉ nghĩ đến tụng bài niệm hộ trì các căn. Nhưng con lại bỏ sót không nêu tên của bài kinh, chính là bài kinh “Không Thể Rơi Xuống”, Tăng Chi Bộ kinh, tập 1, trang 623.

Con không nêu tên bài kinh, cũng như con cũng đọc thiếu, đọc sai một từ là “hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Thì con lại đọc là “thực hành sự hộ trì các căn”. Do mất điềm tĩnh, cho nên là khi con tụng bài kinh con đã không tụng đầy đủ, tụng sai và còn thiếu phần nêu tên bài kinh. Thế là con của giữ bình tĩnh, cố đọc hết bài kinh. Nhưng sau đấy cái thọ trong con có một cái cảm giác rất là xấu hổ, rất là nhục nhã. Mà cái tưởng của con lúc ấy nhìn thấy hiện lên tất cả các đồng phận, các bạn đồng tu, chắc là cũng đang chỉ trích con về cái sự chủ quan phóng dật. Cái hành của con nó nhắc nhở, nó bảo: “Thấy chưa? Chỉ một chút nhãn ý, không cảnh giác, không chú tâm cảnh giác là đưa đến lỗi sai như vậy. Đã là Phật tử con của Phật rồi, mà cũng không hành trì đúng”. Và ngay lúc đấy, con cũng có tác ý rằng: “Bản thân đã nhận được ra lỗi lầm thì phải cố gắng hơn, phải chú ý hơn, phải chú tâm tỉnh giác, phải chú tâm cảnh giác trong tất cả các việc. Đấy là về phần tụng Pháp Bảo, con xin sư phụ cho con xin được đảnh lễ sám hối ạ.”

Cô bước lên đây lạy đại chúng. (Lạy và nguyện) “Nguyện cho con luôn sống với tâm cẩn trọng đối với Chánh pháp. Nguyện cho con luôn sống Chánh niệm tỉnh giác mọi lúc, mọi nơi. Nguyện cho con luôn an trú trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu”.

Thôi được rồi, cô về đi. Con mời sư cô ở phía sau, sáng nay thiền quán “Thân trống rỗng”, thọ, tưởng, hành sanh khởi như thế nào? 

Phật tử 2:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Còn kính bạch sư thầy, con kính thưa quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Trong thời thiền trong sáng hôm nay, thì con có một cái lỗi là giống như cô hồi nãy, con cũng có hơi tán tâm. Là khi con nghe khúc đầu thầy dạy hay quá, thì con hơi tán tâm, suy nghĩ về huynh đệ của con, cũng có một vài huynh đệ cũng thậm chí hướng như con. Thì con cứ nghĩ là: “Chắc là phải cho huynh đệ lên đây một lần, để mà nghe, để mà thấy”. Thầy giảng nói thì rất là hay, tuy rằng thầy giảng nói rất là hay, con cũng nghe, con cũng nhận được. Nhưng mà cái sự phải quán như thế nào, thì con cũng chưa có được nắm lắm. Nên chỉ là con nghe, con giữ được, chứ con chỉ nghĩ là con sẽ cố gắng. Nhờ trên thầy chỉ dạy, hướng dẫn để cho con biết cách để con thực hành cho nó tốt. Thưa thầy cho con chỉ có bao nhiêu lời đó, con xin thầy chứng minh cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

Con có những bài chia sẻ hướng dẫn chỉ cách thiền quán, cô về xem lại.

Phật tử 3:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng toàn thể tất cả các hiền giả. Còn Sa-di pháp danh Đoan Thuận, xin trình bày nhận diện ngũ uẩn, trình về cảm thọ buổi thiền quán sáng nay. Bước vào buổi sáng nay thiền quán, sắc thân con an tịnh trên bồ đoàn. Sau khi thực hành 3 pháp, con hướng tâm về trải tâm từ với lòng biết ơn. Bởi vì cái thân đang thở dần rất nhiều, nhưng cũng bị đau khổ. Vì con đang bị giãn tĩnh mạch chi dưới, mấy tháng nay con ngồi thiền rất là khó khăn. Sau khi nhẹ nhàng an tịnh một lát, giọng thầy đưa chúng con quán chiếu về thân trống rỗng. Trong tưởng con chợt thoáng qua liền, các ngày qua quán chiếu, ngày đầu tiên thầy cho con cái cảm thọ như vỡ tung ra từng lớp, từng hồi.

Cái thọ được nhận cảm xúc tràn đầy, khi được thầy cho phép xuất gia. Cả cái thọ khi thầy quán tiếp bài thiền quán buổi sáng hôm sau là vô thường, con cũng ráng nhận diện đầy đủ. Và cái thọ rất xúc động khi nhận diện ra khổ của buổi thiền tối, được xem những hình ảnh. Tiếp đến thầy cho thiền về trống rỗng, là không. Cái thọ con đang hướng tâm về từng lời của thầy. Lúc đầu chỉ nhẹ nhàng chưa có suy nghĩ, chỉ tác ý: “Thân này trống rỗng, không có gì trong đó”. Con tác ý tiếp theo lời của thầy, con nghĩ đến bài kinh con có nghe nhưng mà cô không có thuộc. Bài kinh “Tứ Niệm Xứ” đó, “quán thân trên thân, được xẻ ra từng mảnh, xẻ ra máu mủ chảy dài xuống hôi tanh”. Con nhận ra trong này chỉ là lắp ráp thịt da, da thịt, gân, xương, phổi, phèo, gan, lá lách là lắp ráp, là nhơ nhớp, là hôi thối.

Nhưng cái quán đó nó cũng chỉ ở mức nhè nhẹ, thì thầy cho tiếp những liều thuốc công phá. Còn cái thân này giống như được tiêm thuốc, mà bứng cái rễ, cái góc vô minh. Cái cảm thọ con dâng, trái tim như muốn vỡ ra, còn thân rung động theo những lời thầy nhắc. Xưa nay con chỉ thầm quán trong ý nghĩ, hành nghĩ, nên nó chưa đủ mạnh, sức công phá nó chưa có mạnh, chưa nhìn thấu. Lời thầy lặp đi lặp lại như thuốc bộc phá, rung chuyển toàn thân con. Cái hành con đang nghĩ, ý hành nghĩ: “Thân và cảm giác như là nhão nhão, nhúng nhùn ra. Như chỉ bám vào trong xương, tất cả bộ phận trong cơ thể như là chỉ bám vào xương tạm thời”. Cái tưởng con đang nhìn thấy các thầy đang xách lên, rủ xuống một cái là tan tành, nhão nhoẹt, một đống bày nhầy. Trống rỗng, đó có gì đâu bám chắp, dính mắc từ đời này sang đời khác, từ vô lượng kiếp.

Thầy đã dùng thuốc bộc phá mạnh, con nhìn thấy rõ sự đó. Con quyết không chắp vào thân nữa “ngu gì đi chui vào tâm này ngũ uẩn ơi”. Ngu gì chắp vào thân này, sự lòe loẹt để trá hình, để hơn mặt, hơn thua. Nhưng mà thân con và tâm con, bị thuốc mạnh chịu không nổi, nên con cố gắng lắng dịu một chút, cố gắng hít thở. Thầy vẫn tiếp tục dùng thuốc, cho chúng con lắng nghe và quán sâu, nhìn sâu vào cái thân ngũ uẩn này là trống không, không có gì trong đó. Được thầy nhắc nhở hoài nhưng chưa đủ mạnh, sáng nay con xin tri ân trên thầy, nếu không có sự hướng dẫn, sự dạy dỗ, sự cần mẫn, sự thương mến của thầy đến với chúng con, thì chúng con không biết nói ra, không có ngày hôm nay. Con xin tri ân trên thầy, con kính tri ân đội ơn, đời đời, kiếp kiếp, con xin quy y Phật, con xin quy y Chánh pháp ly tham, con kính quy y chư hiền Thánh tăng đệ tử, xứng đáng là bốn đôi tám chúng của Ngài. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

Phật tử 4:

“Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý Ni sư, con kính bạch trên quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể các hiền thiện nơi đây. Còn Sa-di Hiền Thanh, con xin phép được trình pháp thời thiền sáng nay, về những gì con nhận biết được. Con nhận biết được khi con bước sang dòng Chánh pháp này, nếu sai và chưa đúng thì con cũng xin sư phụ, quý Ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng sửa cho con, chỉ dẫn cho con để con trên bước đường tu hành được tốt ạ. Sáng nay sau khi ngồi thực hành 3 pháp, sắc uẩn con ngồi thật là an tịnh. Và khi trên tai con nghe được âm thanh của sư phụ đọc lời dẫn thiền “thân trống rỗng không ai trong đó, chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương. Phủ ngoài một lớp da trơn láng, che hết vô vàng thứ nhớp nhơ”, con quay vào trong thân, con rạch một đường từ trên cổ xuống bụng dưới, mở phanh ra, nhìn vào đó, lấy ra toàn bộ phận.

Nào là tim, gan, phổi, lá lách, ruột, thận, tất cả các bộ phận trong cơ thể con loi hết ra và con nhìn thấy nó. Cái cảm giác thực sự là một cái khổ, và cái tưởng là những hình bóng của những bộ phận được lôi ra như vậy. Thành con nói rằng: “Nhìn đi, nhìn thật kỹ đi, nhìn sâu vào đi, có gì không? Có gì là Hiền Thanh không? Con thấy không có”. Thức con rõ biết là cảm giác lúc đấy, khi con rạch là cái cảm giác rất là đau, và tưởng hành đang vận hành như vậy. Khi sư phụ dẫn đến “thân trống rỗng không ai trong đó”, con không nhớ rõ nhưng dẫn đến đâu thì con hướng theo cái lời thiền đó, thì con thấy đúng thật. Cái thân này, cái tâm này giống như một bao rác. Và cái tưởng của con tưởng rằng: “Con chính là cái người đang vác một cái bao tải rác”. Trong đó là chai, lọ, lon bia, ni lông, tất cả những rác bẩn, mà chính cái bao này rất là to, cái bao này cũng đang buột, đang khâu vá từng miếng, từng miếng một, rách rưới như vậy.

Nhưng có người nói rằng: “Bỏ xuống đi”, khi người có mắt người ta nhìn thấy cái bao này là bao rác bẩn, nhưng đối với con, con nhìn thấy đây là quý, bảo con bỏ, nhất định con không bỏ, đó là cái tưởng của con vận hành như vậy. Thấy ý hành nói là: “Con không bỏ”, con tác ý rằng: “Ôi đúng thật thì mình quá si mê, cho nên cái bao rác này mình tưởng là tốt đẹp. Mà người có mắt chỉ đó là bao rác thôi, tại sao mình lại không bỏ xuống?” Con thấy con thương thật cho con, chính bản thân mình đã ôm giữ cái bao này vô lượng kiếp rồi. Nhìn vào đó thấy toàn rác rưởi, mà mình tưởng là đồ tốt. Khi sư phụ dẫn thiền đến đoạn là “thân trống rỗng, tâm ơi đừng mê nữa, cứ lang thang hoài, gá hết thân này đến thân kia”, thì con thấy thật sự đúng thật.

Con đã thấy con chính là đang chui vào cái thân người này, đang đội lốt thân người này. Và khi đội lốt thân người này rồi, lại nhìn thấy rằng: “Ôi tất cả các chúng sanh kia! Từ chó, mèo, lợn, gà, đều là mình đội lốt hết”. Chính vì vậy mà cứ đội hết thân này đến thân kia là như vậy, cứ lang thang như vậy. Và đến cuối cùng khi sư phụ khi đọc: “Hãy xả bỏ hết đi, ngoài cái kia đất trời thênh thang lắm. Dại gì chui vào chỗ tối tăm”, tưởng con nhớ lại hồi đầu năm con cũng ốm do covid, và những ngày con bệnh là con đọc kinh tạng, và được vài hôm con khỏe khỏe. Con tưởng con khỏe rồi, con ra làm, và cuối cùng nó quật lại còn ốm hơn lúc mình đang bị covid. Cho nên cuối cùng chỉ còn hơi thở, con nghĩ rằng: “Chắc có lẽ khi hơi thở này tắt là mình ra đi”.

Con quay lại quán thân mình, quán mắt không phải? Mắt không phải là ta, mắt không phải là của ta, thân này là tứ đại”, tất cả sáu căn này con quán lần lượt như vậy, con xả bỏ hết. Quay lại con nhìn, con nói rằng: “Chỉ còn hơi thở này, nếu tắt là mình ra đi không có dính líu gì trên thế gian này”. Lúc đó con thoát ra khỏi cái thân này, lúc con vừa nói câu đó, đồng thời con thấy con thoát ra. Con nhìn phía bên trái con là vùng đen, lúc đó cái tưởng con tưởng giống như là cái máy công nông mà người ta bắt đầu khởi động, cái khói đen cũng giống như thế. Con nhìn sang bên tay phải con thì con thấy trời hoang mây tạnh. Và trong cái cái biết rõ đấy con nói rằng: “Ôi nếu mình chui vào cái chỗ đen kia, thì nó hút mình là mình không biết đường nào mình ra. Còn đằng này sáng, mình đi về đường sáng quang đãng này”.

Trong đó còn khởi lên rằng: “Ôi nếu như mình chỉ cần dính mắc một chút thôi, chắc chắn mình sẽ bị dính vào chỗ khói đen kia”. Cái tưởng con thấy rằng là nếu nó hút mình vào đấy, là mình không còn biết đường ra nữa rồi. Đó là những cái thọ, tưởng, hành của con vận hành khi trong thời thiền “Thân trống rỗng” như vậy. Thực sự con thấy rất rõ rằng thân con không có gì trong đó cả, không có cái gì ta và cái của ta trong đấy cả, con thấy nó trống rỗng, trống không. Đó là những cái gì con nhận biết được, con mong trên sư phụ cũng như quý sư thầy, sư cô, cùng đại chúng chỉ dẫn thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phật tử 5:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính lễ trên sư phụ, kính lễ trên chư Tăng, chư Ni cùng tất cả các hiền trí. Dạ con xin trình pháp sáng nay, con xin nhận diện ngũ uẩn sáng nay khi con ngồi thiền cùng với đại chúng. Thân con an tịnh, lắng dịu, đầu giờ thiền khi bắt đầu vô ngồi, tập trung hơi thở, thì do duyên của tai, con nghe tiếng mèo nó kêu một lúc, nó kêu hai ba lần tất cả. Con mới nhớ lại lời thầy dạy “tất cả các pháp đều lấy tác ý làm sanh khởi”, cô mới tác ý: “Tiếng mèo đó là do nghiệp của nhiều đời nhiều kiếp quá nặng, cho nên mới tái sanh thành làm mèo, thân mèo, không có biết tu”. Con mới sanh một cảm thọ rất là đau khổ, rồi con mới quán: “Mình được thân người, được hạnh phúc thân người, và hơn thế nữa con lại được xuất gia. Mặc dù thời gian không có nhiều, nhưng mà con cảm nhận được hạnh phúc”. Con nghĩ rằng con cố gắng, mặc dù con học pháp không được nhiều, nhưng con sẽ cố gắng bằng hết cả trái tim trong lúc con ở đây. Sau đó con lại nghe tiếng của thầy vang lên, con nghe xong con lại tác ý, con quán: “Thân này thuộc 32 thể trượt, nó rất là tanh hôi, rất là đau khổ”. Con nghe nữa thì lại tác ý nữa: “Thân này là trống rỗng, trống không”, con lại quán là: “Đừng có chắp vào nó nữa, bây giờ năm uẩn đó là do duyên sanh”

“Thân là do duyên sanh,

Thọ, tưởng, hành, thức này cũng là duyên sanh.

Thân là vô thường,

Thọ, tưởng, hành, thức này cũng là vô thường.

Thân là phiền não,

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não.

Thân không phải là mình,

Thọ, tưởng, hành, thức này cũng không phải là mình.

Thân bỏ, tâm bỏ,

Thọ, tưởng, hành, thức này cũng xin từ bỏ.

Thân xả, tâm xả,

Buông xả, buông xả, dễ chịu, dễ chịu”

Sau đó con lại nghe tiếng chuông của thầy và con lại nghe thầy tác ý. Những lời thầy tác ý rất là nhiều, rất là rõ từng tiếng trong tâm con, con lắng nghe. Con lắng nghe một hồi xong con lại tác ý: “Do mình ngu si nhiều đời, do mình vô minh cho nên mình chấp thủ cái ngũ uẩn này là mình. Mình cứ nắm giữ nó, mình nắm giữ nó bao nhiêu đời kiếp. Mình sanh lên không biết bao nhiêu đời kiếp, vô lượng kiếp. Bây giờ thầy đã dạy mình buông xả ngũ uẩn, xả bỏ cái ngũ uẩn này”. Con ngồi con quán, con suy nghĩ: “Ngũ uẩn này sanh khởi do vô minh, phiền não. Khi mà diệt tận vô minh và ngũ uẩn, thì khổ đau sẽ hết”, con quán như vậy. Do con quán nhiều quá hay sao, mà cái thân con nó bị mệt mỏi, cho nên con có hôn trầm một chút xíu, con hơi gật gật một chút xíu. Xong con nghe tiếng chuông của thầy con tỉnh lại, con thoát ra.

Con không có nhắm mắt, nhưng mà khi đó con mệt quá con có ngủ gật, có gật chút xíu, sau đó con tỉnh lại. Sau đó con nghe thầy quán tiếp nữa “thân này trống rỗng, bên ngoài sáng sủa không ở bên ngoài”. 

- Thầy: Cái lúc mà nó chuẩn bị buồn ngủ cô có biết không?

- Dạ có. Con biết là buồn ngủ, nhưng mà nó mệt quá rồi.

- Thầy: Nên cho nó ngủ luôn hả?

- Dạ không phải, con thấy nó gật thì con mở mắt ra, con tỉnh lại, con cố gắng mở mắt ra thiệt to.

- Thầy: Khoan, chậm chậm nghe hỏi. Cái lúc mà cảm thọ si nó sanh khởi, cô có biết không?

- Dạ thưa biết.

- Thầy: Vậy lúc đó là như thế nào?

- Dạ lúc đó con nói rằng: “Do cái thân con nó mệt, con nghĩ do con quán nên nó mệt. Nên con gật một cái là con biết nó bắt đầu nó buồn ngủ rồi, là con bắt đầu mở mắt to lên. Và nhờ tiếng chuông của thầy cảnh tỉnh con.

- Thầy: Nghe con hỏi nè, an tịnh, lắng dịu lại. Khi cảm giác si sanh khởi, lúc đó làm sao cô có biết không?

- Dạ thưa có, con thấy như nó hơi mệt chút xíu, rồi nó đi dịu dịu xuống, rồi nó mới tính gật. Lúc đó còn có cảm nhận là con buồn ngủ.

- Thầy: Thôi được rồi, nói tới đó thôi”

Khi mà mình đang ngồi thiền, mà si nó sanh khởi lên thì mình biết chứ sao không biết, nhưng lúc đó mình phải chiến đấu với nó. Con mời cô Huệ Lý. 

Sư cô Huệ Lý:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con bạch trên sư phụ, con bạch trên quý thầy, quý Ni sư, cùng toàn thể đại chúng. Bạch sư phụ, từ hôm qua đến giờ cảm xúc con dâng trào, rồi con khóc nhiều thì hai con mắt con nặng. Thời thiền tối hôm qua với thời thì sáng nay con rất khó chịu, tại vì con nhìn xuống thì mắt nặng, thì nó đi đến nhắm mắt. Mà con nhìn xuống thì có cảm giác mình ngồi không đúng tư thế của thiền, nên con cảm thấy là con không được tĩnh tâm. Cả thời thì sáng là con nhìn lên, con không nhìn xuống được. 

- Thầy: Mình buồn ngủ thì mình có quyền mở hết con mắt ra, không sao hết. Thấy hình Đạt-ma trợn con mắt không?

- Dạ mô Phật, sáng nay con cũng cứ nhìn lên trên con không nhìn xuống được, con nhìn xuống là hai con mắt con nhắm lại. Thì con ngồi trong tư thế thiền được, đến khi sư phụ dẫn thiền thì cảm giác con nhận thiền nó cũng không có. Nó có cảm giác mệt mỏi, nên con cũng không cảm nhận được nhiều trong thời thiền sáng nay. Con cảm thấy thân con nó mệt mỏi, nó không hoan hỷ, nên con xin phụ hướng dẫn cho con để con thoát ra khỏi cái tâm con không muốn khóc nhiều, mà tự nhiên nó cứ chảy nước mắt. Nhìn ai chảy nước mắt là con chảy nước mắt à, nhiều khi cũng có cảm thọ, mà nhiều khi không có cảm thọ.

- Thầy: Nhìn thầy Nghĩa ổng nghe ổng có cảm thọ đồng cảm kìa. Thầy cười kìa “ai chảy nước mắt là con chảy nước mắt”. Thôi cô lên ngồi đi.”

II. Khuyến tu

Nếu mà mệt quá thì nghỉ không sao hết, đừng có ráng. Nếu mình thấy quá sức mình, thì mình cứ ở dưới phòng mình nghỉ, mình khỏe thì mình tự tu tại chỗ đừng cố ráng quá. Khi mà mình đang ngồi thiền mà cái cảm thọ hôm trầm nó sanh khởi, nếu mình đang ngồi, tức là mình có an trú cảm giác toàn thân. Thì hôn trầm nó sanh khởi là sanh khởi ngay con mắt. Chúng ta đã học rồi, đã biết rồi, thì lúc đó mình phải ngay chỗ đó mình tác ý, đánh tan cái cảm thọ si mà nó xâm chiếm ngay con mắt. Nếu mà đánh không được nữa, thì mình đứng dậy đi ra, mình lạy Phật, mình đi kinh hành, chứ mình không có nhắm mắt lại để mình ngủ luôn. Hồi nãy cô lên trình pháp đó, là cô cũng biết cảm thọ hôm trầm tới, mà cô suy nghĩ: “Thôi mệt quá, thôi nhắm luôn đi”.

Có khi không có rõ, nhưng mà cái ý hành là: “Mình mệt quá rồi, thôi mình cho phép mình một chút”, phải không? Thành ra khi mình có nhận diện ngũ uẩn là để mình chiến đấu, chứ không phải mình nhận diện ngũ uẩn là để mình xuôi dòng. Xuôi theo cái vòng Thánh trí huệ thì được, còn đừng xuôi theo dòng vô minh. Mình phải chiến đấu, thì cái chiến đấu đó tùy theo sức của mình, mình tự biết. Có khi nó cũng chưa phải là mệt lắm, nhưng tại cái suy nghĩ vậy đó, nó tưởng như vậy đó. Mà có lúc mình mệt thiệt là nhiều, thì mình phải biết cơ thể của mình. Tại vì mình có cảm nhận toàn thân thì mình sẽ biết rất là rõ là còn chịu đựng được hay là không? Nếu mình thấy thật sự mà không chịu đựng được, thì mình cho nó nghỉ ngơi một chút không sao hết, rồi sau đó mình tu.

Rồi có những trường hợp mình vượt qua được cái đó, thì nó sẽ khỏe lại. Giống như ngày hôm qua, Ni sư nói: “Không biết phải đập trúng cái gai hay là cái cục đá gì đó, mà giờ nghĩ chắc là đau dữ lắm. Nhưng mà thôi, bây giờ phải tiến lên chứ không có lùi”, thì cái đó là mình đang thực hành tinh cần, tinh tấn. Đức Thế Tôn nói trong bài kinh “Mười lực”, ai thuộc đọc lên đi. “Cô Tuệ Quý thuộc không? Mình đọc đi”. Mình nắm bắt được cái chỗ đó nó khởi như vậy, mình lấy ngay con mắt khổ đó mình quán luôn. Mình lấy ngay con mắt đau, con mắc bệnh đó, mình làm chủ đề thiền quán, mình quán luôn, xả con mắt này luôn. Mình không có nắm vô cái cảm thọ đau đó, “mình không cho cái cảm thọ đau đó đây là tôi đau, là con mắt của tôi đau”, mà mình nắm ngay cái chỗ con mắt đau đó mình quán xả luôn.

“Mắt này là khổ, mắt này là đau, con từ bỏ con mắt này. Con mắt này không phải con, không phải của con, không phải tự ngã của con”. Ngay chỗ đó mình quán từ bỏ con mắt, không chú tâm trong cái cảm thọ đau của con mắt nữa, mà mình xả luôn cái ý nghĩ, cái tâm niệm, cái cảm thọ “cái đau này là tôi đau”, mình xả luôn. Thì cái đó là cấp độ sâu sắc, còn hồi nãy là con nói cái cấp độ tương đối, còn bây giờ nói cấp độ sâu. Khi mình có những cái ý niệm “từ bỏ, xả bỏ, chết bỏ”, thì lúc đó mình sẽ vượt qua được những đẳng cấp, những cấp bậc tu hành. Nếu có thể làm được, thì mỗi một lần như vậy là mình sẽ nâng cái cấp bậc tu của mình lên, giống như mình bước lên cái bậc thang vậy đó.

Bài kinh 10 Lực

“1)... Trú Tại Sàvatthi.

2) -- Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy... (như trên)... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

3-4)...

5) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn.

6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho Thiện nam tử do lòng tin xuất gia có thể bắt đầu tinh tấn (hành trì và nguyện). Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, hiển lộ các buộc ràng được cắt đoạn. Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.

7) Khổ thay, này các Tỷ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An lạc thay, này các Tỷ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!

8) Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỷ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

9) Có vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho những thứ này là khiêm tốn (vokàrà), đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.

10) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập. Này các Tỷ-kheo, thấy được tự lợi là vừa đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, khi thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật.”

(Tương Ưng Bộ kinh – kinh Mười Lực)

Chúng ta phải thi triển Tứ Chánh cần trong khóa tu, khai triển sức mạnh của mình, sức mạnh nội tại bằng sự tác ý hùng dũng, mãnh hổ lực, tinh tấn lực, uy dũng lực. Không vì một chút chướng ngại, không vì một chút đau bệnh mà chúng ta chùn chân dừng lại. Chúng ta vẫn điều dưỡng để cho đầy đủ sức khỏe, nhưng tâm chúng ta không dừng lại. Chúng phải thi triển, khai triển, dốc hết tất cả sức mạnh bên trong, nội lực của chúng ta. Một khi chúng ta đã làm rồi chết bỏ, phải có suy nghĩ như vậy. Mình tu như vầy cũng chưa có là gì đâu, với những ngày tháng công phu, miên mật của các bậc chân tu. Ở bên Myanmar trong các thiền đường là một ngày ngủ có 3,4 tiếng à. Một tiếng ngồi, một tiếng đi suốt như vậy đó, một ngày mười mấy tiếng như vậy.

Cho nên thời khóa chúng ta ngày có 8,9 tiếng. Mình phải suy nghĩ như vậy đó, nhiều khi cái tâm của mình nó dễ tin theo lắm, nó “phan duyên” tức là nó tin theo. Khi nghe có người nói như vậy rồi là bắt đầu trong bụng mình: “Giờ mình phải nghĩ, mình cũng bệnh nữa”. Cho nên con chặn đứng liền cái tác ý này, để cho tất cả chúng ta tập trung sức mạnh, tiến mãi không lùi, nhất trí không? Như thầy mới vừa đọc đó “Dầu cho thân này còn da, gân, xương, dầu cho máu có khô kiệt. Nhưng tinh tấn lực, thần dũng lực, trượng phu lực phải được phát huy, được thực hiện”, mạnh lên, mạnh mẽ lên. Sức mạnh bên trong chúng ta và vô tận, là không có giới hạn, là vô lượng. Nhưng vì mình không biết tác ý, cho nên mình sẽ phi lý tác ý, thì làm cho mình yếu đuối.

Hôm trước không biết là có khóa tu này chưa, có một số thầy, huynh đệ ở chùa làm một công chuyện hết sức đơn giản mà con nói thì nói làm không được. Con kêu làm đi, thì cuối cùng được. Con mới đặt cái tựa bài “Thánh trí ngũ uẩn là đột phá giới hạn – siêu phàm nhập Thánh”. Nó chỉ là một cái ý nghĩ, một cảm giác thôi. Chuyển cái suy nghĩ đó ngược lại, không nghe theo cái suy nghĩ đó, thì lúc đó là mình đột phá giới hạn, mình không còn là con người cũ nữa. Hiện tại chúng ta người mới hết rồi phải không ạ? Chúng ta mở ra một thế giới mới, một chân trời mới, một kỷ nguyên mới. Chúng ta phải mạnh mẽ, uy dũng, đại hùng, đại lực, chúng ta phải chuyển hết tất cả tâm lực, trí lực, nguyện lực, hạnh lực. Vô lượng, vô biên kiếp vừa qua chúng ta đã gục ngã, chúng ta đã bệnh hoạn, đã nhu nhược rồi.

Chúng ta đã làm đày tớ, nô lệ, tay sai cho cái thân xác này, cho cái dục, tham, ái rồi. Thì chúng ta quật cường đứng lên, chiến đấu và chiến thắng. Phải tác ý như vậy đó “mình phải là người chiến thắng, phải chiến thắng”. Mình đã làm tay sai, nô lệ, đầy tớ cho cái thân xác này. Mình đã làm súc sanh, súc vật vô lượng, vô biên kiếp rồi. Vì những sự buông lung phóng dật, tham dục, bản ngã, ngu si này nè. Mình đã ở trong những vạt dầu sôi, cột đồng cháy, biển lửa, núi dao, rừng kiếm. Mình đã bị hành hạ, chà đạp, đè đầu, đè cổ mình. Mình bị dục, tham, sân si nó đè đầu, đè cổ mình, nó chà đạp, đai nghiến, hành hạ mình, mình đã quá đau khổ rồi. Giờ này mình không thể nào mà khoanh tay, đầu hành, gục ngã được. Phải đạp đổ tất cả tiến lên, đạp phá hết tất cả chướng ngại vật ở phía trước.

Mình đứng hiên ngang giữa đất trời, ngẩng mặt nhìn đời bằng sự tinh cần, tinh tấn Thánh trí tuệ. Đối với cái bản ngã ngu si, vô minh thì mình đạp tan nó, cho nó gục ngã gãy đổ. Nhưng đối với một cái bản ngã tu hành, mình cho mình có cái bản ngã này. Cho mình có một cái bản ngã mình phải là người chiến thắng, phải là người tiến lên, phải là người không bao giờ chịu gục ngã trước kẻ thù. Cho phép mình có một cái bản ngã mạnh mẽ, tinh tấn, đại hùng, đại lực này. Phát huy tất cả sự dũng mãnh, tất cả thần lực, nội lực, công lực, pháp lực của mình. Triển khai, thi triển tất cả những gì mình đã tu, đã học được. Một khi mình đã làm cho cảm thọ của mình mạnh lên rồi, mình có thể đạp đổ hết tất cả các pháp, đạp đổ tất cả ngũ uẩn, nó chỉ là bọt bèo, bong bóng thôi, không có gì làm chướng ngại cho sự tu hành của mình được hết.

“Tại Sàvatthi. Tại đấy, Thế Tôn nói như sau:

-Này các Tỷ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.

Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.

Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.

Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất (asammosàya), làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.”

(Tương Ưng Bộ kinh – trích Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết)

Ý muốn của mình, mình phải khởi lên một cái ý muốn đó là “dục như ý túc”. Khởi lên một ý muốn mạnh mẽ. Ý muốn để làm cái gì? Không cho các ác bất thiện pháp sanh khởi. Sự thoái lui, sự giải đãi, sự buông tay, sự dừng lại, sự lùi bước, không cho nó sanh khởi. Bằng cách gì? Cố gắng tinh cần, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Chữ “cố gắng” là mình hiểu rồi ha, “tinh cần” là khó hiểu nè. “Tinh” là ròng rặt, không có bất cứ một cái gì chen vô đó hết gọi là tinh, “cần” là chuyên cần, ròng rặt không có bất cứ cái gì xen lộn xộn vô đó hết trơn. Cho nên hồi nãy Ni sư sám hối là một đức hạnh rất là cao thượng, trong giờ thiền quán nhìn thấy tâm mình phóng ra ngoài, mà mình không có thu nhiếp, mình để cho nó phóng đi, đó là không có tinh cần.

Là một bài học cho tất cả các đại chúng, Ni sư lên mà lễ lạy như vậy là một tấm gương cho chúng ta học. “Ni sư không nói ra thì ai biết?” Chúng ta thấy không? Cho nên “tinh” là gì? Trong bài thiền quán đó thì tâm mình chỉ riêng theo cái bài đó, không phóng đi chỗ khác, từng câu từng chữ phải “tùy văn nhập quán”. “Tùy văn” là theo cái chữ đó, “nhập quán” là đi vào trong, theo chữ “quán” ở đây là thọ, tưởng, hành của mình sanh khởi theo. Thí dụ như nói là: “Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương”, thì nói tới tim là có hình ảnh trái tim, nói tới gan là có hình ảnh lá gan, nói tới máu là có hình ảnh máu đỏ hoét, nói tới xương là có hình ảnh bộ xương hiện ra. Mà tâm mình tùy văn nhập quán, một người dẫn thiền nói tới đâu là tâm mình đi theo tới đó, không để cho những thứ khác nó chen vô, cái đó gọi là tinh cần trong khi thiền quán.

Khi thầy thầy hướng dẫn mình ba pháp: “Rõ biết trước mặt”, khi nói tới chữ đó là lập tức mình sáng tỏ ngay trước mặt liền. Kêu mình cảm giác đỉnh đầu, cảm giác đôi vai, nói tới đâu là mình làm theo. Cái tâm mình nó nhu nhuyến, nó mềm mại, nó dễ sử dụng, nói tới đâu là răm rắp theo thì gọi là cái tâm nghe lời, tâm dễ dạy, dễ bảo, là cái tâm đó. Mà đó là một sự rất là tinh cần, tinh tấn mới làm được như vậy. Chúng ta thấy hồi nãy, như có một Sa-di ra trình pháp đó, con kêu dừng tại chỗ đó. Chúng ta lúc đó nó không có Chánh niệm, tâm mình không có sáng, cho nên mình không có nhận được cái pháp nó đang hiện tại. Chúng ta bị cái giọng nói là chúng ta muốn nói, muốn nói theo mình, bị năm triền cái. Đó là nói ngay tại chỗ đây, để chúng ta chỉ thấy thực tế đó. Là “muốn nói”, thì bị cái muốn đó làm cho tâm mình không sáng tỏ, chúng ta thấy rõ không ạ? “Sư cô thấy rõ không?”

III. Tinh thuần

Đó là con chỉ cho chúng ta thấy, năm triền cái đâu có xa đâu, là ngay chỗ đó đó. Là lúc đó mình bị cái muốn nói nó chi phối, cho nên tâm mình không sáng, nó bị che mờ, như vậy gọi là “cái”, tức là che mờ. Trở lại đây là chữ “tinh tấn” không phải dễ hiểu à. Trong giờ ngồi thiền, chỉ là thiền, không có cái gì khác hết, thì cái đó gọi là tinh. Trong khi mình lời Phật, thì chỉ có từng cái lời Phật đó thấm đẫm hết trong thân tâm của mình, không có cái khác mà nó chen vô được, thì cái đó mới gọi là tinh. Chúng ta thấy chữ Nghĩa Đức Phật dùng không? Ở ngoài đời người ta kêu là cố gắng chứ người ta đâu có kêu là tinh tấn, nhưng Đức Phật dùng từ tinh tấn. Thì tinh tấn như vậy mới đạt được giới, định, tuệ, Thánh trí, Thánh giải thoát.

Khi mình làm những cái mà mình đang tu, pháp hành đó, thì chỉ có cái đó không. Mình phải dẹp hết mấy cái khác, rồi từ từ mình sẽ quen. Rồi từ tâm mình an trú vào một pháp nào, thì pháp đó vững chắc, nó thành cổ xe, thành căn cứ địa. Chứ không phải cái miệng mình nói tâm từ, mà trong bụng mình khó chịu. Khi mình trải tâm từ là nó ngọt ngào hết từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Nó đầy ắp, sung mãn một cái tâm từ, nó không có chen một cái ý niệm giận trong đó, thì như vậy mới gọi là tinh. Hễ chen cái ý niệm khó chịu trong đó, cái miệng nói tâm từ, nhưng mà trong này nói cái khác, thì đó không phải tinh à. Chúng ta thấy chữ tinh tấn của Đức Phật không ạ? Nó tinh anh, tinh túy, tinh ba, ròng rặt, không có cái gì pha vô trong đó hết.

Cũng như là một ly nước, mình bưng lên ly nước suối, mà trong đó có một cọng rác, thì như vậy có gọi là ly nước sạch không? Thì cũng vậy, chữ “tinh” là một ly nước suối hoàn toàn trong sạch, không có pha trộn rác dơ ở trỏng. Rồi bây giờ chữ “tinh tấn”, ở đây chẳng những nó ròng rặt, mà nó phải tiến lên nữa. Đó, hai chữ này thôi là chúng ta thấy chúng ta làm được hai chữ này, thì đời tu chúng ta nó tiến từng giờ, chứ không phải tu 7 năm rồi mà nó y chang một chỗ, thì đó là mình đâu có tinh tấn đâu. Mình có chuyên lòng trong giới đức không? Mình có ước muốn sắc bén rằng mình sẽ đi đến một chỗ, mà giới đức hoàn toàn trong sạch không? Tâm tâm, niệm niệm từng giây, từng phút, luôn để tâm vào cái đó. Là làm cho cái đó nó tiến lên, tăng thượng lên, phát triển lớn mạnh, thì chỗ này là tinh tấn trong giới học.

Như vậy mới gọi là tinh tấn, tinh cần trong giới học. Chỉ vì chúng ta đâu có tinh cần, tinh tấn đâu, cho nên mình tu bao nhiêu năm rồi mà mình khổ đau hoài, mình không có thành tựu, dù cư sĩ hay là tại gia, xuất gia. Chữ tinh cần, tinh tấn đó mang cả một ý nghĩa. Rồi bây giờ mình nói “tinh cần, tinh tấn trong thiền định”, tức là chuyên chú vô làm cái gì, là mình tập trung tâm ý vô cái đấy. Khi mình nghe một lời nói, là mình phải tập trung tâm ý vô cái nghe đó. Mình nghe ba chớp ba nháng, nghe bộp chộp làm tầm bậy tầm bạ, rồi mình phiền não, làm cho người ta phiền não. Cái nghe đó có tinh ròng trong cái nghe, có thuần là cái nghe trong sáng không? Là phải do cái tập trung tâm ý. Chúng ta thấy có 2 chữ tinh tấn này thôi mà mình học 3 tháng à.

Mình tập cái gì cho nó tinh thuần, phải tập mới được. Tại vì cái tâm mình nó lộn xộn trong đó hết trơn, một đống xà bần, hỗn tạp. Tại vì nó không có sáng, không có thành tựu Chánh kiến, nó thấy không có đúng. Nó lăn xăn, lộn xộn đủ thứ ở trỏng hết trơn. Đức Phật ví dụ cái bát nước mà nó có màu trong đó phải không? Mấy màu để mà nhuộm đó, nhiều màu ở trong bát nước đó. Thấy có màu xanh, màu đỏ, màu tím gì trong đó tùm lum, đục ngầu hết, năm triền cái đó. Rồi bây giờ là “tinh tấn tuệ học”, thì trở lại cái định học trước đi. Như mình ngồi mà có một ý niệm sanh khởi lên mình phải biết, một hình bóng gì? Một cảm giác gì? Mà cái ý niệm này là thiện hay bất thiện. Không phải biết rồi là xong, mà sau khi biết rồi, nếu ý niệm này là bất thiện thì mình phải sách tâm, trì tâm.

Hai chữ này khó hiểu à! Chữ “sách” là cầm cái roi quất mạnh, “cảnh sách” đó, đánh hết cái đó gọi là sách. “Sách tâm” là đánh cái tâm mình, thúc cái tâm mình, đẩy cái tâm mình lên, đó là như lý tác ý mạnh mẽ. Quất cái tâm giống như con ngựa kêu nó đi mà nó không đi, quất thật là mạnh, nó nhảy dựng lên, rồi nó dọt, cái đó gọi là sách tâm. Chúng ta hay học “Quy Sơn Cảnh Sách”, mình nghĩ đọc cái đó mới là cảnh sách. Là mình biết cảnh sách tâm mình, quất cái tâm mình cho nó chạy “mày khổ như vầy đủ chưa? Người sân như vầy có đủ hay chưa? Ngươi có nhục không? Ngươi có thấy tồi bại không? Cái dục tham như vậy ngươi có thấy bẩn thiểu, xấu hổ, nhục nhã không? Ngươi có xứng đáng là một người tu không?” Như vậy gọi là sách tâm. Mà quất một ngày không biết bao nhiêu roi nữa, hễ nó sanh khởi lên là quất.

IV. Thiện xảo trong tu học

Thì Đức Phật ví dụ trong bài kinh “Đàn Tỳ Bà” đó, là Đức Phật nói con bò nó ăn lúa cỏ, thì người mục đồng quất cho nó một trận nên thân. Trong Tương Ưng Sáu Xứ, Đức Phật dung từ “quất cho nó một trận nên thân”. Mà cứ quánh như vậy đó, quánh riết nó gặp lúa mạ nó sợ, nó không có dám dậm vô ăn nữa. Tại vì nó nhớ tận đòn khủng khiếp kia, cảm thọ đau đớn, bị quất, bị đánh đó vẫn còn những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ nó còn, nó sợ, nó không dám nhào vô. Thì như vậy Đức Phật ví dụ chăn trâu của Đức Phật trong kinh Nikāya mà sau này người ta lấy ra người ta diễn trong Thiền tông sau này đó, chứ không phải bên thiền sáng chế ra đâu. Là Đức Phật dạy pháp chăn bò, chăn trâu trong Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Sáu Xứ.

Là mình đánh nó coi bằng quất nó tới tấp, tơi tả, bầm dập hết. Sau này hễ nó nhào vô là đánh, nhào vô là đập, nhào vô là quất. Riết sau này nó thấy bị quất riết rồi bây giờ nó thuần rồi, cho nó mới ăn, chỉ chỗ nào nó mới ăn, không được ăn bậy, không được ăn bạ. Cho nên khi nó nhìn thấy, nó muốn ăn, nhưng nó sợ quá “quánh đau lắm, không dám ăn đâu. Thôi đi, yên phận đi, đừng có nhào vô của người ta”. Thì như vậy đó, Đức Phật dạy cái pháp hành như vậy, đó gọi là sách tâm, trì tâm. Mình có dạy tâm của mình như vậy không ạ? Chữ sách tâm, trì tâm, tinh cần, tinh tấn ở trong bài “Tinh Cần Tăng Chi” có ý nghĩa như vậy đó. Hay là mình vuốt ve thôi? Mình thường phục tùng nó lắm, nó kêu là: “Chị ơi giờ em muốn uống sữa, em muốn ngủ, cho ngủ chút nữa đi. Thức khuya bệnh lắm, lạnh lắm”, thì nghe không? Nghe là chết đó, đừng có nghe nha không? Nhất trí không? Không nghe.

“Con để cho bà tu đi con, bà bây giờ cũng gần chết rồi con biết không. Con làm ơn con để cho bà tu, bà gần chết rồi, bà gần đất xa trời rồi. Năm nay là 60, 70 rồi, bà năm mươi mấy rồi, còn thời gian bao nhiêu nữa mà con xúi bà buông lung phóng dật, ngủ nghê, thả lỏng hoài”. Mình có nhiều cách lắm, một là mình vuốt ve, mình nói ngọt, hai là mình đập tơi tả, tơi bời hết. Cho nên Đức Phật dạy như: Có ông này là ông điều phục ngựa, huấn luyện ngựa. Ổng tới hỏi Sa-môn cồ đàm huấn luyện đệ tử như thế nào? Ta thấy Đức Phật rất là tuyệt vời (ai nhớ bài kinh đó là bài kinh gì không ạ?) Thì Đức Phật hỏi: “Ông huấn luyện ngựa của ông làm sao?” Ông đó trả lời: “Tôi vừa mềm vừa cứng, tôi chăm sóc, tôi lo cho ăn này nọ kia như vậy, mà nếu không được là tôi đánh. Thậm chí là có những cái móc sắt nữa, nếu như vậy còn không được nữa là tôi giết bỏ. Chứ không thôi tôi gọi là nhục lắm, vì tôi huấn luyện ngựa mà. Tôi huấn luyện không được thì tôi giết nó thôi”.

Thì Đức Phật nói: “Ta cũng vậy. Có những đệ tử, có những trường hợp ta sẽ nói nhẹ nhàng, nói những lời từ ái, ngọt ngào, khích lệ. Và có những trường hợp ta sẽ nói những lời mạnh mẽ, những lời như là những nhát dao vậy đó”. Đức Phật có những lúc chúng ta đọc Nikāya chúng ta sẽ thấy, không phải lúc nào Đức Phật cũng ngồi im ru, lúc nào cũng từ bi hết. Ngày 500 vị Tỳ-kheo mới xuất gia đệ tử của Ngài, ngài Mục Kiền Liên, Ngài Xá Lợi Phất các vị đi về chung đó. Các vị đi về lấy bồ đoàn, tọa cụ bán với nhau, làm rùm beng tịnh xá hết. Đức Phật nói: “Ananda ơi, Ananda”, “Dạ bạch Thế Tôn”, “ai vậy? ai giống như ngoài chợ cá, chợ mắm vậy? Ra đuổi đi, nhân danh của ta đuổi đi”. Ngài Ananda thưa: “Bạch Thế Tôn, các vị tân Tỳ-kheo mới học về chia bồ đoàn, tọa cụ đem bán ạ”, “ra đuổi 500 vị Tỳ-kheo đó đi”. Đức Thế Tôn đuổi đi thiệt chứ không phải không, đuổi đi hết.

Rồi một nhóm các đại gia, thí chủ Bà-la-môn trí thức thì đón chờ, hay tin Đức Phật về cái vùng đất đó. Thì họ một số hiếu kỳ đi lại cho biết, thì họ xách đồ này kia, lại cúng dường, rồi họ làm rùm beng ồn ào. Thế Tôn hỏi Ngài Ananda: “Ai mà giống như là họp chợ bán cá vậy, đuổi hết. Ta không có vì danh, vì lợi, ta không có lợi dưỡng, ta không có vì tầm cầu những sự cúng dường duyên sanh, đuổi hết đi”. Thì chúng ta thấy Đức Phật là nghiêm từ, chứ không phải mình học mà mình tưởng tượng Đức Phật lúc nào cũng ngồi im ru như vậy. Rồi các Tỳ-kheo là Ngài mắng, Ngài rầy, quở trách mạnh: “Ông là đồ ngu si, ông muốn suy nghĩ vượt qua mặt bậc đạo sư”, và nhiều trường hợp lắm. Thành ra có những lúc mà mạnh rồi không được nữa, thì ta giết. Ông huấn luyện ngựa nói: “Ủa sao kỳ vậy, Ngài là Thế Tôn mà, Ngài không có từ bi hả, sao Ngài giết?”

Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Trong pháp của ta, không thèm nói tới nữa tức là giết”. Mặc tẩn đuổi đi, bằng cách yên lặng không nói tới nữa. Cho nên người nào ở trong chúng, mà thấy con không còn thèm nói tới nữa, đó là giết đó. Là không dòm ngó gì tới nữa, muốn làm gì thì làm. Thành ra có 3 cách: Một cái là nhẹ nhàng, một cái là mạnh mẽ, một là nói không nghe lời thì bỏ luôn. Như vậy chúng ta trở lại vấn đề là chữ sách tâm, trì tâm là quan trọng. Mình mà không cây gậy thúc ngựa, mình không có cái sự sách tấn chính mình, mình không có quở tâm, không có la rầy tâm, không có quở mắng tâm mình, thì mình tu không có tiến đâu. “Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ thích mình”, đó là trong kinh Pháp Cú đó. “Tự mình đi đến tự mình”, chứ không phải đi đến người ta, là hãy quay trở về để nhìn tự thân, nội tâm mình.

Con thật sự là vì bổn phận, trách nhiệm, các vị bỏ cha bỏ mẹ đi theo con, con phải có bổn phận. Cho nên con mới nhắc, chứ con nhiều khi cũng không có muốn nhắc. Tại vì bây giờ người nào người nấy bản ngã quá trời, không lớn thì cũng vừa vừa. Nhiều khi mình nhắc, mình vì từ tâm, vì tình thương muốn tốt cho họ. Nhưng mà họ lại nghĩ ngược lại: “Thầy khó khăn quá”, rồi họ né hết trơn à, họ không muốn ở gần nữa. Thành ra bây giờ mình thấy “mạn pháp” là khó học đạo lắm, tại vì cái bản ngã rất là lớn. Mà cái tâm quanh co, cái tâm không có chân thành, không có chân thật, không có hiền từ, không có dễ thương, không có nghe lời, không có khiêm cung, thành ra rất là khó học thành tựu các pháp thâm sâu.

Học thì sẽ được, tu thì sẽ được, cũng xuất gia được, nhưng mà được vòng ngoài thôi, không có thể nhập được Thánh trí. Dập được những cái đó, diệt được những cái đó thì mới được. Cho nên là “tự mình phải đi đến mình, tự mình phải dò xét mình, tự mình chỉ trích mình”, đó là Đức Phật chỉ trong kinh Nikāya, cũng như kinh Pháp Cú. “Tự mình đi đến mình”, hồi đó giờ mình ra, đi xa, đi đâu không à, bây giờ mình đi trở về gần với mình, gọi là tự mình đi đến mình. Nhận diện ngũ uẩn, tức là tự mình đi đến mình. Cho nên nếu mà chúng ta không biết nhận diện ngũ uẩn, thì làm sao quay về hiểu được mình, không thể nào. Mình hiểu được mình, là mình hiểu trên suy tưởng, trên ảo tưởng: “Tôi cho là tôi thấy rằng, tôi tưởng như vậy”, chứ không thể hiểu được chính xác về mình.

Cho nên mình tu làm sao có kết quả được, đúng như ý mình muốn được, mà mình khổ đau hoài. Chúng ta thấy không? Trước khi nhận diện ngũ uẫn mình có biết mình một cách chính xác không? Cho nên tự mình đi đến mình là nhận diện ngũ uẩn, chúng ta thấy không? Tại sao con hay hỏi nhận diện ngũ uẩn, kêu trình pháp nhận diện ngũ uẩn? Là cho chúng ta, tập cho chúng ta tự mình đi đến mình thấy được mình. Chúng ta nhận diện ngũ uẩn lộn xộn, lung tung, kêu: “Nhận diện ngũ uẩn, hay là kêu thọ, tưởng, hành như thế nào?” Chúng ta nói một hồi, là chúng ta kể tiểu sử cuộc đời của chúng ta. Lúc nào kể tiểu sử thì lúc đó khác, lúc nào kêu nhận diện ngũ uẩn là nhận diện ngũ uẩn ngay lúc đó như thế nào là nói như vậy thôi. Thì như vậy “tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình”, dò xét là canh chừng, là theo dõi.

Mình đừng có đi theo dõi người ta, theo dõi người ta mình thêm thêm sân si, thêm khổ, thêm phiền não, cứ để ý người này, người kia. Để ý mình, gọi là tự mình dò xét mình. Mà để ý mình một cách tinh tường à, chứ không phải để ý bình thường. Để ý này là chuyên môn để ý mình, ròng rặt, lúc nào cũng để ý mình. Để ý mình, để đưa mình lên, thì gọi là tinh tấn. Để ý mình để cho mình được thăng tiến, tăng thượng, phát triển. Mà thăng tiến, tăng thượng, phát triển là mình đừng có tưởng mình bước lên chỗ nào đặng mình cao bạn ngã, không phải. Thăng tiến của mình tức là mình dọn càng ngày càng hết, càng sạch rác, gọi là thăng tiến. Rác trong này nó còn nhiều quá phải không? Rác nó quá nhiều, nó đầy ứ, đầy ắp, bây giờ mình quay trở về mình dò xét, để mình lụm rác, hốt rác, quét rác, như tiếng xạc xạc đang quét rác ở ngoài đó.

Mà lạ nha, cái nhà mình sạch bóng vậy đó, mà sao cái tâm mình nó dơ dữ vậy ta? Sao kỳ vậy, tại sao vậy? Mà nó dơ, khổ một cái là không biết dơ, mà ai nói dơ là giận à, là sân si lên, tại sao kỳ vậy? Mình hỏi mình, mình quay về mình hỏi: “Tâm ơi sao tâm này kỳ vậy tâm? Sao mày kỳ cục vậy? Tại sao dại khờ, ngu si, vô minh quá vậy?” Mình cứ rầy, mình nhắc riết như vậy, rồi vô minh, ngu nó bớt từ từ, chịu không? Mình đâu có nhắc, đâu có để ý, đâu có dòm, đâu có kêu nó đâu, thì nó một cục chần dần, một đống chình ình như vậy nè, nó đâu có giảm đâu. Phải dò xét mình, dò xét xong, mình chỉ trích mình. “Tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình”, chỉ trích đó là như lúc nãy mình nói đó: “Nhà ngươi có nhục không? Ngươi có thấy người xấu hổ, hèn hạ, tồi bại không? Ngươi có thấy ngươi trẻ con, con nít không? Tối ngày cứ sân si, hơn thua, đúng sai, thị phi”.

“Tâm ơi mày bao nhiêu tuổi rồi tâm? Mày mới có 2 tuổi, 3 tuổi hay sao tâm? Mày muốn làm trẻ con, muốn làm con nít hoài hay sao? Mày cứ hơn thua, cứ thị phi, cứ phải quấy những chuyện bồn chậu, dấm muối, nhỏ nhặt, nhỏ bé, nhỏ nhọn, nhỏ nhất này tới chừng nào mà mày chấm dứt khổ đau đây tâm?” Tác ý như vậy đó, la riết như vậy, rầy riết như vậy. Từ lúc con chưa học Nikāya, từ lúc con còn nhỏ, chưa có biết tác ý đã tu như vậy rồi. Còn thưa thật với các Ngài, con ở trong chùa 30 năm, nhiều khi người kế bên nói xấu thậm tệ con hết trơn, mấy người kia hỏi: “Ông có biết gì chưa?” Con hỏi biết cái gì? “Người ta nói ông như vậy đó”, “dạ con bận lắm, con không có thời gian, kệ người ta nói gì ta nói”.

Con vô chùa con tu là tối ngày con cứ luyện kinh sách, con thích giảng sư là con đầu tư vô hết kinh, luyện tối ngày, lo học pháp, con không quan trọng ai. Bên Phật tử con cũng không biết tên ai hết trơn. Mà do mình ngu, tại vì mình ngu, mình khờ, mình không cần muốn biết ai hết trơn, mình chỉ muốn biết được mình thôi. Mình chấp nhận mình là kẻ ngu nhất cuộc đời này mà, mình không có khôn khéo với ai, mình không có hơn thua với ai, mình không có so sánh với ai. Từ cái ngày đi xuất gia là đã có một tâm niệm như vậy, không có ý niệm tranh đua với ai hết. Mình thấy làm chuyện đó là vô lý, nó lãng phí, nó dại khờ, nó ngu si. “Làm cái đó để làm cái gì?” Tự nhiên mình đi tu, mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết tất cả mọi thứ. Mình đi vô, mình hơn thua từng chút.

Cũng như mấy món ăn, rồi xong mình vô hơn thua chỗ quét nhà “chị quét hay tôi quét? Tôi quét rồi sao chị bắt tôi quét nữa?” Thấy nó ngu làm sao đó, có ngu không? Sao mà cứ vậy hà. Rồi tự nhiên vô bếp, “người này làm món này, tôi làm món kia, tôi không muốn làm món này”, rồi xong cái giận. Ngu hay khôn? Mình đi tu để vì mấy cái đó đó hả? Cho nên khi mình đã nhìn thấy được đại dương rồi, mình không còn quan trọng với những con rạch, với những vũng nước chân trâu nữa. Một người đã nhìn thấy biển cả rồi, thì không còn quan tâm đến những vũng nước đọng lại trong dấu chân trâu, chân bò nữa. Mình phải thấy được cái lý tưởng của mình là khổ và diệt khổ. “Tâm ơi là tâm, mày làm ơn mày nhớ mày khổ không tâm? Mày khổ, cha mẹ mày khổ, ông bà mày khổ, dòng họ mày đang khổ đau, anh chị em mày khổ, mày vô đây để mày gây thêm khổ hay sao? Mày tồi tệ, bẩn thỉu, ngu si vừa vừa thôi”.

Mình làm riết như vậy, mai mốt mình không còn hơn thua với ai hết. Suốt ngày mình chỉ quay vô lại cái tâm mình, để mình diệt cái khổ, mình diệt cái mầm móng của khổ, như vậy gọi là tinh cần, tinh tấn. Như vậy gọi là thương mình, phải tập cái tâm rộng lớn, phải thường xuyên tác ý, mở cái tâm rộng lớn. Tại sao con hay đưa đại chúng đi ra ngoài trời, cho đại chúng tập cái tâm rộng lớn. Các bậc Thánh ngày xưa là “định”, ở trong một cái định gọi là gì? Ngài Ca-diếp thường an trú trong cái định gì? “Vô lượng tâm định”. Ngài an trú trong một cái tâm rộng lớn không có bờ, thường định trong một cái tâm đó. Thoát ra khỏi cái thân này, tập cái tâm rộng lớn, thường tác ý một cái tâm rộng lớn. Cho nên cố gắng tinh cần, tinh tấn, sách tâm, trì tâm.

V. Khuyến tu 2

Đó là chúng ta giải thích chữ “cố gắng”, “sách tâm”, “tinh cần”, “tinh tấn”. Còn chữ “trì tâm” là sao? “Trì” là giữ, nắm giữ, giữ chắc, giữ cái tâm đạo của mình không có mất, cái này quan trọng. Giữ chặt, giữ vững cái tâm để mà cầu giác ngộ, để mà hướng đến sự đoạn tận tất cả khổ. Giữ cái tâm không bao giờ mất, dù tu bao nhiêu năm cũng không bao giờ mất, càng ngày nó càng lớn lên chứ không có mất, cái đó gọi là “tinh cần hộ trì”. Chúng ta chưa có đi vào, chúng ta mới có giải thích cái chữ của đoạn đầu tiên chứ còn chưa có giải thích “tinh tấn đoạn tận”, “tinh cần tu tập”, “tinh cần hộ trì” là chưa. Trì tậm này là giữ cái tâm mình trong giờ thiền. Thì có bài kệ:

“Muốn thoát trần lao nhiều phi thường

Nắm chặt đầu dây, giữ lập trường

Nếu chẳng một phen xương lạnh buốt

Hoa mai đâu ngửi được mùi hương”

Câu đó là hợp với ý nghĩa là trì tâm “nắm chặt đầu dây, giữ lập trường”. “Muốn thoát trần lao” là cái chuyện phi thường, chứ đâu phải chuyện bình thường đâu. Muốn cắt đứt dòng sanh tử này, muốn phá vỡ thân tứ đại nay, mình muốn thoát ra khỏi cái thân ngũ uẩn này đâu phải là chuyện bình thường. Mà nếu như mình không có “nắm chặt đầu dây, giữ lập trường”, thì vài bữa mình nghe: “Ờ cái pháp môn kia tu thấy khỏe quá, nó nhẹ quá, nó êm quá. Còn tu cái này sao khổ vậy, cứ bị rầy bị la, đã bị rầy ở ngoài rồi, mà ở trong còn bắt mình rầy cái tâm của mình nữa, rồi tắt đi như vậy nữa”. Thì như vậy mình nghĩ rằng, mình nói mình đi tu cầu giải thoát, nhưng mà mình tìm cái ái.

Mà mình vô minh, mình không có biết, “phải là cái gì êm êm, ái ái, dễ dễ, dàng dàng, đừng có tu cái gì cực hết trơn á. Tu cái gì một chút thôi, mà giải thoát phải cao thì cái đó được”. Tìm cái tâm tham và cái tâm ái để tu, thì kết quả nó là tham ái. “Tu cái gì đừng có làm nhiều, từ dễ, mà tu mau, kết quả lớn”, như vậy đó. Rồi mình đi vô những pháp tà kiến, sai lạc. Chúng ta thấy không? Đức Phật dạy biết bao nhiêu cái pháp mà nói, đạo tràng Nikāya chúng ta thực hành bao nhiêu pháp, mà ý là thực hành như vậy đó, tu ngày đêm như vậy, sáng đánh một trận 4, 5 tiếng đồng hồ, rã rời hết. Mà buông ra là cứ tham, sân, si, “thấy chưa?” Chứ ở đó mà mình tu kiểu mà cưỡi ngựa xem hoa, kiểu gieo duyên hay cái kiểu gì đó. Thì làm sao? Bị gạt, bị dụ thôi à. Chứ làm sao mà mình thành công được, cho nên trì tâm là phải giữ cái tâm.

Con thật sự là con tu tới đây 30 năm ở trong chùa, là lúc nào con cũng lo lắng hết. Tới bây giờ cái tâm lo lắng đó vẫn còn rất là nhiều, mà chưa có xong cái công chuyện. Con lo sợ mình mất cái ý chí, sợ mình mất cái tâm ban đầu, sợ mình phai nhòa, nhạt nhòa cái ý chí xuất ly, sợ mình quên đi cái mục đích cao thượng mà mình từ bỏ mẹ cha. Ngày nào cũng nhắc, lúc nào cũng nhắc, giờ nào cũng coi lại hết, lúc nào cũng lo lắng hết. Mà con nhìn người ta rồi là con quay lại mình liền: “Mình có như vậy không? Mình cũng giống như vậy đó, mình là như vậy mà còn tệ hơn nữa đó. Ở đó lo dòm người ta để mà thị phi đi”, thành ra là phải lo lắng, phải biết lo sợ. Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp trong Tương Ưng Kassapa, Ngài nói là: Tỳ-kheo mà không có lo lắng, không có lo sợ, không thể đạt đến Niết-bàn.

Phải lo lắng, lo sợ, cho nên con chứng kiến không biết bao nhiêu huynh đệ, người đi trước, đi sau. Mới tu dễ thương, thì về tu một thời gian là thật sự chính bản thân con không dám lại gần, không dám tiếp xúc. Đổi thành một con người khác, mà cái tính hiền thiện khi ở dưới quê mới lên không còn nữa. Thật sự là con thấy đau lòng, thấy xót xa cho những người tu. Chính vì vậy mà biết bao nhiêu năm mà con đi từ đây về Sài Gòn, 500 cây số, mà con vẫn đi về với Tăng Ni suốt mười mấy hai chục chục năm. Là con thương Tăng Ni lắm, con thương người xuất gia, bằng tất cả trái tim, tấm lòng của mình lắm. Chính vì thương, cho nên mình mới nhắc. Nhưng mà con sợ con ở trong trường nhiều có ngày con sẽ không có ổn. Cho nên là con đã bỏ bớt, và trong tương lai, như mọi thứ con đã nói hôm qua.

Con chuẩn bị là đến một lúc là không còn đi nữa, chỉ có chuyện quan trọng lắm mới đi thôi. Và các vị nào muốn học thì về núi học, thấy vậy có thể mình sẽ an toàn hơn. Tại vì cái tâm cả tấm lòng, sự nhiệt huyết chân thành, tình thương của mình chưa chắc gì người ta nghĩ như vậy. Con thưa các thầy các cô, “Sử Truyện Cao Tăng Trung Hoa”, các tổ sư, con đọc sìn hết rồi, đọc bảng chữ Hán đó. Sư phụ của Ngài Thiên Thai Trí Khải đại sư, thì cũng như Ngài là quốc sư, danh tiếng lừng lẫy, vang dội khắp kinh thành, biết bao nhiêu người tôn kính. Rồi những người quy tụ nhiều quá, có người ta đầu độc bằng thuốc độc, trong những người tu với nhau đó. Thì Ngài ấy mới suy nghĩ: “Sư phụ mình ngày xưa mình cũng từng bị như vậy”. Cho nên Ngài mới đi về Thiên Thai sơn, Ngài ẩn dật luôn. Thì mới lập ra cái Tông Thiên Thai, trở thành tôn tổ.

Thì ở đây mình chỉ lấy một cái ý là nơi núi rừng mới là chỗ của người tu, thật sự là chỗ của người tu. “Núi hoang rừng quạnh là nơi dật sĩ tiêu giao, chiền vắng am thanh ấy thật chỗ đạo nhân du hí”. Mấy cái này thuộc hết chưa mà sau này không có xài nữa bữa nay có khác vị Tôn Đức về thì con đọc lại. “Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao”, dật sĩ là người ở Phật đó. “Chiền vắng am thanh, chỉn thật cảnh đạo nhân du hí”, là các Ngài dạo ở nơi đó, nơi vắng vẻ. Thành ra thật sự là khó đối với người xuất gia, khi mình nói: “Xuất gia, xuất gia” như vậy, mà mình dám từ bỏ cái chùa mình không? Mình đã thấy Chánh pháp rồi đó, mình dám bỏ chùa không? Ở đây có sư cô Huệ Lý, mình bỏ mấy cái chùa phải không? Ni sư bỏ cái bằng tiến sĩ Đài Loan phải không? Thật là khó.

Nguyên Tú bỏ cái bằng đại học cử nhân ở Thái Lan phải không? Thì thật sự là phải có một cái tâm ý thức sâu sắc mình đi tu là vì cái gì? Còn nếu không, đời tu của mình nó sẽ bị chôn vùi trong một ngôi chùa, là mình chết từ khi mình được cái bảng hiệu trụ trì, cũng là lúc người xuất gia chết mất cái huệ mạng. Nếu mình không có thành tựu Chánh kiến, mình sẽ mất cái tâm ban đầu, mình không còn trì tâm nữa. Người cư sĩ cũng vậy, lúc đầu tha thiết, chân thành, trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính lắm, mà đi ở chùa một thời gian riết rồi là buông lung phóng dật. Ở trong chùa giống như ở nhà mình vậy đó, ăn to nói lớn, thả lỏng các căn. Mà con chứng kiến rất là nhiều, con nhìn thấy là con sợ, chứ không phải mình dam nói người ta. Mình sợ mình sẽ đi theo vết đổ đó.

Nếu mình không lo sợ, không nơm nớp lo sợ, không ưu tư, không khắc khoải, không nhắc nhở mình, không sách tâm mình, không quất tâm mình bằng những cái roi đau đớn, đau nhức, chảy máu, rướm máu. Mình quất vào tim mình, đánh vô cái đầu não của mình bằng những cây roi, và luôn luôn lúc nào cũng lấy cha mẹ mình ra để nhắc nhở mình mới được. Thì mình tự hào với ngôi chùa của mình lắm, đó cũng là lý do tại sao ở đây con không có vội vã để làm cái bảng gì hết, chừng nào cho được thì cho. Đệ tử xem thường: “Thầy dở, thầy không biết làm gì hết trơn”, con nói: “Dạ, con chỉ cần thấy pháp, hành pháp và chứng đạo pháp, con đâu có ở đây đâu”. Chúng ta ở ngoài đời, chúng ta chết với căn nhà của chúng ta.

Như ngày hôm qua chúng ta thiền quán đó, chúng ta vô chùa, chúng ta chết với ngôi chùa của chúng ta. Thì có khác gì như Tổ Lâm Tế gọi là bỏ nhà này vào ngôi nhà kia, “xuất nhất gia, nhập nhất gia” bỏ một nhà, vào một nhà. Bỏ cái nhà nhỏ vào cái nhà lớn hơn, bỏ cái nhà xấu vào cái nhà đẹp hơn. Đó là lý do tại sao ở đây con kiến thiết như vậy đó, có khả năng làm chứ không phải không có, nhưng mà để đó làm kinh sách. Ở như vậy đó, ai chịu về ở thì ở, được không? Vậy mà cũng có người về ở. Hồi đó con nghĩ chừng 10 người thôi à, đâu có nghĩ đông như vậy đâu. Nằm nệm, nhà lầu, xe hơi, không chịu. Đi lên ăn chay, nằm đất, lạnh lẽo như vậy đó. Rồi đầu trần, chân đất, đá đâm chảy máu như vậy đó, mà thích thú, hoan hỉ, hạnh phúc, sung sướng. Có ai mà tuyệt vời như mình không? Mình hạnh phúc trong sự bỏ xuống, hạnh phúc trong sự buông xuống, hạnh phúc trong sự quăng xuống, vứt đi.

Đó là hạnh phúc của con Phật, con cưng của Ngài. Ngài nhìn Ngài nói: “Đúng rồi đó, con nói đúng”, nhất trí không? Ngài ngồi kế một bên đây nè, Ngài nói: “Con ráng đi, con cứ việc tới đi, ta yểm trợ cho con, đừng lo. Các con cứ việc tới đi, các con đừng lo”. Còn hạnh phúc nào bằng hạnh phúc mình tinh tấn để chạy ra khỏi cái nhà lửa? Còn hạnh phúc nào bằng hạnh phúc chúng ta nỗ lực để thoát ra khỏi cái đầm lầy của tham dục? Còn hạnh phúc nào bằng hạnh phúc chúng ta thoát ra khỏi cái bóng đêm, bóng đêm xâm chiếm, chúng ta đi ra ánh sáng? Còn hạnh phúc nào bằng chúng ta trút được gánh nặng, mà nó đè trên đôi vai chúng ta? Con nhiều lúc nó mệt không nói ra hơi nữa, mà con tác ý: “Cho mày chết luôn, mày chết khi pháp toạ đi, mày đừng có nằm dưới đây mày chết, mày lên đây mày chết”, rồi lên giảng xong xuống khỏe re, hết bệnh luôn.

Nhưng mà có những lúc nha, chứ không phải lúc nào cũng vậy à (cười). Thì cái đó là pháp hỷ, pháp lạc đó. Nhiều lúc con ngồi đây nè, mà mấy ngày nay liên tục cái chỗ vai này, nó nặng giống như là cái cục đá nó đè xuống như vậy đó. Con tác ý, trải tâm từ vô chỗ đó suốt 3 ngày liên tục con đâu nói ra đâu. Thấy ngồi vậy đó, chứ chiến đấu ở trong, thì tất cả chúng ta tu là chiến đấu. Chúng ta thấy thầy Pháp Nghĩa âm thầm chiến đấu cho chúng ta nhiều không? Có đáng 3 tràng pháo tay không? Tối nay 12 giờ đêm thầy tiếp khách nè, ai biết giờ đó đoàn lên? Làm những chuyện mà gian khó, cực khổ, không cần ai hay ai biết hết. “Khóc luôn hả thưa thầy Pháp Nghĩa?”

Mỗi người một cánh tay, mỗi người một bàn tay, hãy nghĩ chung cho huynh đệ của mình, hãy nghĩ chung cho các bậc đồng Phạm hạnh. Đừng có vì một bản thân mình, mà ảnh hưởng đến sự tu học của người khác. Nhớ đừng có vì cái chuyện có chút xíu, mà mình làm cho đại chúng phiền lòng. Mình vừa thoái tu, mà đại chúng cũng thoái cái tâm, là mình tổn cái phước, tổn cái đức. Mình phải xây dựng một hội chúng tinh ba, chứ đừng có làm hội chúng cặn bã. “Con mời thầy Thiện Huệ đọc các bài “Hội Chúng”, thầy thuộc bao nhiêu thì đọc hết”. Hãy làm một hội chúng tinh ba, đừng có làm một hồi chúng cặn bã, hơn thua, sân si những cái chuyện không có đáng.

Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng. Dạ con xin đọc một số bài trong phẩm Hội Chúng, trong kinh Tăng Chi Bộ tập 1.

1. “Này các Tỷ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng cặn bã và hội chúng tinh ba. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng cặn bã? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo đi đến con đường dục, đi đến con đường sân, đi đến con đường si, đi đến con đường sợ hãi, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng cặn bã.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng tinh ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo không đi đến con đường dục, không đi đến con đường sân, không đi đến con đường si, không đi đến con đường sợ hãi, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng tinh ba.
Này các Tỷ-kheo, đây là hai hội chúng. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức là hội chúng tinh ba.”

2. “Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng không phải Thánh và hội chúng bậc Thánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng không phải Thánh. Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo không như thật rõ biết: “Đây là Khổ”; không như thật rõ biết: “Đây là Khổ tập”, không như thật rõ biết: “Đây là Khổ diệt”, không như thật rõ biết: “Đây là con Đường đưa đến Khổ diệt”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng không phải Thánh.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng bậc Thánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Đây là Khổ”, như thật rõ biết: “Đây là Khổ tập”, như thật rõ biết: “Đây là Khổ diệt”, như thật rõ biết: “Đây là con Đường đưa đến Khổ diệt”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng bậc Thánh.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức là hội chúng bậc Thánh.”

3. “Có hai loại hội chúng, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Hội chúng bất hòa và hội chúng hòa hợp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng bất hòa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng bất hòa.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng hòa hợp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo hòa hợp, hòa kính, không có đấu tranh, hòa hợp như sữa với nước, sống nhìn nhau với cặp mắt từ ái, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng hòa hợp.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng này. Hội chúng tối thượng giữa hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức là hội chúng hòa hợp.”

Con xin hết. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chúng con nguyện là một hội chúng và là một hội chúng hòa hợp

Chúng con nguyện là một hội chúng cung kính

Chúng con nguyện là một hội chúng ngọt ngào

Chúng con nguyện là một hội chúng dễ thương

Chúng con nguyện là một hội chúng hiền thiện

Chúng con nguyện là một hội chúng tinh ba

Chúng con nguyện là một hội chúng hiền trí

(Chú Trí Lực đằng sau xúc động)

Phật tử Trí Lực:

“Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính trên sư phụ, con kính trên quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Khi nghe sư phụ sách tấn thì cảm xúc trong con dạt dào. Vì thật ra con không muốn nhưng các ác bất thiện pháp sống trong đại chúng thì nó vẫn khởi lên. Và những lúc nó khởi lên và con cũng tác ý cho nó tan đi, nhưng một thời gian đụng chuyện gì nó vẫn khởi lên và nó vẫn còn ác bất thiện pháp. Dù nhỏ nhưng con vẫn không chấp nhận, nó vẫn khó chịu với người này người kia. Nên sẵn duyên sư phụ sách tấn thì con tác ý con chửi nó: “Mi không được như vậy nữa”. Con tác ý mạnh vôi, nên cảm xúc nó rất là thoải mái, đánh nó được một trận con thấy nó sướng, nó hạnh phúc nên con trào dâng cảm xúc. Con đánh không lại, nhưng mà được sư phụ cho con vũ khí, sẵn nên con chém nó luôn, con thái nó.”

Đánh cho nó một trận nên thân, mạnh tay lên. Phải mạnh tay, hạ độc thủ đối với những cái tên giặc bên trong. Phải dùng Thánh kiếm, thần đao. Tác ý, tác ý mãnh liệt, oai dũng, đại hùng đại lực như vậy. Cái đó là tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ, Thánh kiếm, thần đao Thánh trí huệ phải được khai triển. Mạnh chưa? Mạnh chưa? Con xin mời những vị nào mới lên đây lần đầu bước ra đây dùm con, để con sắp chương trình học cho nó tốt nhất ạ.