Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Giới Đức Người Tu 1 - Nhân quả 5 giới Làm sao giữ được giới

2026-03-03 00:55:42
Kinh Nikāya Giảng Giải

GIỚI ĐỨC NGƯỜI TU 1

NHÂN QUẢ NĂM GIỚI - LÀM SAO GIỮ ĐƯỢC GIỚI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Giới đức người tu PAGEREF _Toc112929597 \h 1

II.Năm sợ hãi hận thù PAGEREF _Toc112929598 \h 2

III.Nhân quả của năm giới PAGEREF _Toc112929599 \h 5

1.Sát sanh PAGEREF _Toc112929600 \h 6

2.Lấy của không cho PAGEREF _Toc112929601 \h 6

3.Tà hạnh trong các dục PAGEREF _Toc112929602 \h 8

4.Các giới từ khẩu nghiệp PAGEREF _Toc112929603 \h 8

5.Uống rượu PAGEREF _Toc112929604 \h 10

IV.Làm sao giữ giới PAGEREF _Toc112929605 \h 11

Giới đức người tu

Chúng ta học kinh pháp đã hiểu sâu sắc, nói thông thạo nhưng nhìn lại hành vi, cuộc sống thực tế vẫn chưa ổn vì đã có Pháp nhưng chưa có luật cho nên giáo pháp của Đức Phật phải có hai chân là Pháp và luật. Nhờ giới luật mới giúp cho chúng ta có đời sống trong sạch, hiền thiện và chính nhờ điều này cộng với tâm mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng nên học Pháp, nghe Pháp, quán chiếu Pháp sẽ dễ dàng thâm nhập, chứng nhập. Còn thông hiểu cao siêu, am tường Pháp nhưng đời sống lại không có giới luật đầy đủ sẽ làm chướng ngại khi thực tập Pháp, tức là Pháp và luật không tương ứng, không song hành với nhau nên không hỗ trợ cho mình. Cho nên nói hay, hiểu được nhưng đều phạm giới, vì vậy chúng ta sẽ rất khó để đi vào được dòng trí huệ của Đức Phật vì thế phải hiểu Pháp và luật như đôi chân có hai chân sẽ đứng vững, đây là cơ hội để chúng ta học tập, thực hành để tăng thượng đức hạnh, đạo hạnh của một người tu.

 Này các Tỳ-kheo, có bốn ô uế hội chúng này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo ác giới, theo ác pháp, làm ô uế hội chúng; này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo-ni ác giới, theo ác pháp, làm ô uế hội chúng; này các Tỳ-kheo, có nam cư sĩ ác giới, theo ác pháp, làm ô uế hội chúng; này các Tỳ-kheo, có nữ cư sĩ ác giới, theo ác pháp, làm ô uế hội chúng!

Này các Tỳ-kheo, có bốn ô uế hội chúng này.

Này các Tỳ-kheo, có bốn thanh tịnh hội chúng này. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo có giới, theo thiện pháp, làm thanh tịnh hội chúng; này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo-ni có giới, theo thiện pháp, làm thanh tịnh hội chúng; này các Tỳ-kheo, có nam cư sĩ có giới, theo thiện pháp, làm thanh tịnh hội chúng; này các Tỳ-kheo, có nữ cư sĩ có giới, theo thiện pháp, làm thanh tịnh hội chúng.

Này các Tỳ-kheo, có bốn thanh tịnh hội chúng này. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XXII. Phẩm Ô Uế, (I) Chúng)

Có những chỗ đến tu rất thanh tịnh, an lạc và có những nơi chúng ta đến tâm không an định, bị phiền não cho nên phần giới Pháp, giới luật là nền tảng, gốc rễ của sự tu học. Mình mong muốn xây dựng một hội chúng, đạo tràng Nikāya thanh tịnh, trang nghiêm, an lạc thì tất cả mọi thành viên đều phải biết giữ gìn cách đi, cách ăn, cách đứng, cách hành trì trong những khóa tu học, trong những thời nghe pháp, ngồi thiền thậm chí trong giờ giải lao cũng phải giữ chánh niệm, điều này chẳng những làm lợi mình mà còn lợi người, lợi cho đại chúng trong hiện tại và lợi cho những người sẽ đến tu học trong tương lai. Phải nhớ và thực hành cho được chứ không phải chỉ nói lý thuyết suông cao siêu nhưng những điều căn bản như đi đứng, nằm ngồi, nói chuyện, ăn uống, đại tiểu tiện lại không giữ oai nghi, tế hạnh và phải học thuộc lòng phần niệm thân trong Tứ Niệm Xứ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm. (Tăng Chi Bộ, 10. Kinh Niệm xứ, (Quán Thân))

Phải thực tập được như vậy mới thể hiện được hội chúng Nikāya, đạo tràng Nikāya chứ không phải chỉ có bề ngoài mà bên trong lại trống rỗng, phải có danh có thực, có hình thức lẫn nội dung, những điều căn bản phải nhớ giữ gìn và các vị phải có trách nhiệm nhắc nhở, hướng dẫn, chia sẻ cho những người mới đến, nếu không chúng ta sẽ trở thành hội chúng ô uế.

Năm sợ hãi hận thù

Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

- Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV) Sợ Hãi Hận Thù)

Tà hạnh trong các dục là ngoại tình, đắm say rượu men, rượu nấu mở rộng ra là những chất làm cho mình say sưa, nghiện ngập. Đức Phật gọi sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu là năm điều sợ hãi và hận thù. Tại sao Đức Phật không nói đây là năm giới mà lại gọi là năm điều sợ hãi và hận thù? Chúng ta phải nhớ khi Đức Phật nói điều gì cũng có ý nghĩa thâm sâu, mỗi lời bậc Chánh Đẳng Giác nói ra là một trí tuệ chứa đựng chân lý muôn đời không thay đổi. Tại vì năm cái này đưa tới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, như vậy có phải là sợ hãi không? Giết người có đưa đến thù hận không? Quan hệ bất chánh với vợ/chồng người khác có gây hận thù không? Nghiện ngập, say sưa rồi đánh nhau, cướp giật, làm ra những chuyện trái đạo đức thì có đưa đến thù hận không? Cho nên năm thứ này là năm thứ sợ hãi và thù hận của người cư sĩ.

Này Gia chủ, ai đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là có giới và sanh lên cõi Trời, không còn mang thân máu mủ, phân và nước tiểu, không còn mang thân phèo phổi, bệnh hoạn này nữa, sau 40 tuổi là bắt đầu đổ bệnh và bản thân con đang chuẩn bị như vậy rồi chứ không phải đợi khi đến 60-70 tuổi mới đổ bệnh, thân này là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, còn năm thứ này thì còn bệnh tật, chấm dứt năm thứ này thì sanh lên cõi trời.

Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)

Nếu thành tựu chánh kiến trong đạo lộ Nikāya này thì trờ thành thánh đệ tử thiên, từ đây đi lên Niết-bàn chứ không trở lại thân người nữa. Có rất nhiều bài kinh Đức Phật nói về sự khác biệt giữa người tu và người không tu, sự đặc thù giữa bậc đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu. Đó là nếu bậc đa văn thánh đệ tử ngay trong đời này đoạn tận các lậu hoặc thành bậc A-la-hán thì đó là tối thượng, nếu như chưa thì sau khi sanh lên thiên giới hoặc qua lại cõi trời cõi người, từ chỗ tịnh cư thiên là bất thối chuyển tức là tiến hoài lên đến lậu tận, không còn trở lại thế gian đầy dịch bệnh, lo toan, sầu, bi, ưu, não này nữa. Nếu chán ngán thì phải chán luôn cái tham sân si, vô minh, bản ngã, chán luôn sự sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập vì nó đưa đến khổ đau.

 Này Gia chủ, do duyên sát sanh, người sát sanh hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ sát sanh, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV) Sợ Hãi Hận Thù)

Do sát sanh, giết con này con kia hoặc tước đoạt sinh mạng người khác nên hiện tại sanh khởi lên sự sợ hãi, lo lắng, thù hận, trong đời sau lại tiếp tục có cảm giác sợ hãi, thù hận đó, tâm mình cảm nhận sự lo âu và đau khổ trong hiện tại và tương lai. Cho nên điều này đúng muôn đời, một người phạm tội giết người, có trốn tránh hàng chục năm thì tâm người đó vẫn lo lắng, bất an. Người bị giết hại và người thân, gia đình của người bị giết hại đó vẫn hận thù kẻ sát nhân cho nên Đức Phật nói tâm cảm thọ khổ ưu. Tịnh chỉ là dừng lại, đình chỉ và tâm không sợ hãi, hận thù rất bình an, an ổn.

Này Gia chủ, người lấy của không cho...Này Gia chủ, người có tà hạnh trong các dục...Này Gia chủ, người nói láo...Này Gia chủ, người đắm say rượu men, rượu nấu, do duyên đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ.

Ai sát hại sanh linh,

Và nói láo ở đời,

Lấy của cải không cho,

Ði đến vợ người khác,

Và người mãi đắm say,

Uống rượu men, rượu nấu,

Không đoạn năm hận thù,

Được gọi là ác giới, (ác giới tức là không giữ giới)

Mạng chung, sanh ác tuệ,

Bị rơi vào địa ngục.

Ai không hại sanh linh,

Không nói láo ở đời,

Không lấy của không cho,

Không đi đến vợ người,

Người nào không đắm say,

Rượu men và rượu nấu,

Đoạn tận năm hận thù,

Được gọi là có giới,

Mạng chung, sanh trí tuệ,

Được sanh lên cõi lành.

(Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV) Sợ Hãi Hận Thù)

Nhân quả của năm giới

Trên đây là Đức Phật giảng dạy về năm sự sợ hãi và thù hận, sau đây là nhân và quả của năm giới.

Sát sanh

Này các Tỳ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Chữ "tu tập" là làm tới làm lui, tức là việc sát sanh được thực hiện nhiều lần và sung mãn thì đưa đến địa ngục. Hình phạt cao nhất của giết người là chung thân hoặc tử hình, còn ở đây thực hiện nhiều lần và sung mãn thì đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ, đời sau rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Quả dị thục nhẹ nhất của người sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn. Có những người 5-7 tuổi chết, 20 tuổi chết… dường như không có tuổi nào không phải là tuổi không thể chết, như vậy những cái chết đó không phải ngẫu nhiên mà đó là quả dị thục của nghiệp, từ những hành động sát sanh của đời trước, nó biến đổi và chín muồi đến đời này thì biểu hiện ra quả là tuổi thọ ngắn. Có những trường hợp rất lạ, em bé 4-5 tuổi nằm ngủ trong mùng mà con rắn hổ mang bò vào đó cắn chết em bé. Hoặc là đang ngủ trong nhà mà xe tải lao vào đâm chết ngay trên gường, nếu đi ngoài đường bị xe tông còn hiểu được đằng này nằm trong nhà ngủ cũng bị xe đụng chết. Tất cả những điều đó là quả dị thục của nghiệp là được làm người nhưng tuổi thọ rất ngắn, cho nên những người trưởng lão đang ngồi đây đã nhiều đời tu tập giới không sát sanh. Quả dị thục của nghiệp khi nó biến đổi và chín muồi thì không ai biết, chỉ có các bậc Chánh Đẳng Giác, các bậc thành tựu thần thông mới biết được đời quá khứ còn mình thì không thể nào biết được cho nên không thể nói rằng đến tuổi đó tôi chết, vì đây là sự bất khả tư nghị của quả dị thục của nghiệp, chính vì vậy chúng ta phải tu tập giữ giới không sát sanh, tránh sát sanh càng nhiều càng tốt những con rắn, kiến, ruồi, muỗi… vì chúng nó cũng có sinh mạng. Có nhiều người nghĩ giết nó để nó thoát khỏi cái thân khổ đó, những suy nghĩ đó là tà kiến, chúng ta phải học mới biết được và cần cẩn thận với nghiệp quả.

Lấy của không cho

Này các Tỳ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Quả báo hết sức nhẹ của việc trộm cắp trong quá khứ là hiện tại bị mất đồ, bị người ta cướp giật. Có những tình cảnh rất xót xa không biết nói thế nào nhưng khi quán chiếu nghiệp quả thì rất lo cho chính mình, cha mẹ của cô bệnh rất nặng chuẩn bị lên bàn mổ, tiền bạc cô gói kĩ càng, cẩn thận trong túi móc bằng kim tây (kim băng). Bọn ăn cắp giả vờ đổ nước mắm lên áo cô để cô phải vào toilet tắm rửa, vào đó bọn chúng lấy mất mấy chục triệu tiền mổ trong khi mẹ cô chuẩn bị lên bàn mổ. Con nghĩ đến ác tham của con người quá khủng khiếp, thời trước cũng có ăn cắp, ăm trộm nhưng không có những thủ đoạn mưu mô, quỷ quyệt đến vậy, chính con đưa bà Năm đi mổ cách đây 20 năm mà cũng bị rọc cái đãi nhưng may mắn bọn chúng không rọc trúng chỗ để tiền chứ nếu không cũng thê thảm không kém, đến người tu bọn chúng cũng không tha, đến cả Linh Quy trên núi mà bọn chúng cũng lên cạy cửa, câu trộm đồ. Đất chùa cũng bị lấn mất từ trong rừng ra ngoài đường lộ, do mình tu tâm hiền không nổi sân nhưng cảm thấy xót xa, nhàm chán ác tham, đau khổ lâu dài cho những người này không biết đến khi nào chấm dứt, thật sự sợ hãi với ác nghiệp. Thầy trụ trì, các sư cô bị sát hại vì bọn trộm vào ăn cắp tiền, thấy có bóng dáng người nên bọn chúng ra tay bất kể ai, quả báo ác nghiệp của những người này đến đâu? Có nói đến chết cũng chưa hết ác nghiệp, cho nên phải lo lắng và sợ hãi với tự thân, quán chiếu để tránh duyên, ở nhà hoặc vào chùa lên núi tu hành, những ánh mắt, cử chỉ, hành động cũng làm mình sợ hãi, không dám nhìn họ. Trong ánh mắt rực lửa vì sự sân hận cho nên hơn bao giờ hết bây giờ cần tu giữ giới và nhiếp phục tham sân si là cực kì quan trọng. Một cô gái đang nghe điện thoại bị trộm giật điện thoại kéo lê 500m dưới đường, cho nên phải cẩn thận. Càng nhìn đạo đức con người càng đi xuống, những sự hung tợn, ác tham càng tăng trưởng, phát triển, chỉ có tu tập Pháp và luật của Đức Phật mới cứu mình, cứu người. Lúc con còn nhỏ không có chứng kiến những cảnh tượng như bây giờ, chỉ mới 10 năm trở lại đây thôi mà quá đáng sợ, rồi càng về sau này thì thế giới này sẽ ra sao đây thưa mọi người? Phải nhanh chóng xuất ly, thoát ra khỏi đây thôi. Ở trong đây làm gì? Có gì vui trong này ngoại trừ tham sân si, bản ngã, hành xác nhau. Quán chiếu nghiệp quả để thấy sợ hãi, nhàm chán, thoát ly, ít nhất cũng phải thành tựu chánh tri kiến lên thánh đệ tử thiên, phải cố gắng thực tập để làm cho được.

Tà hạnh trong các dục

Này các Tỳ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Quả báo nhẹ nhất của tà hạnh trong các dục, của sự ngoại tình là mình trở thành sự oán thù của kẻ địch. Cho nên mới có những trường hợp vừa gặp nhau chưa làm gì đã ghét nhau, xảy ra vài chuyện lại trở thành thù hận vì những chuyện không đáng. Có những điều mình không biết được nghiệp quả của người đó còn hiện tại thì khỏi nói, có những cảnh tượng tạt A-xít, lột quần áo giữa chốn đông người, quay clip chửi bới, lăng mạ, đánh đập… thật khủng khiếp. Nghiệp quả này làm sao diễn tả nổi? Những người bị rơi vào hoàn cảnh như vậy thì đau khổ là điều tất yếu. Bị oán thù nên sống trong bất an, lo âu, sợ hãi, bao nhiêu cảnh khổ vì sự ghen tuông này.

Các giới từ khẩu nghiệp

Này các Tỳ-kheo, nói láo được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Có những tình cảnh nhìn thấy không cầm được nước mắt, bị án oan 30 năm. Mình bị xử oan 3 tháng hoặc 3 năm thôi thì khổ đến nhường nào mà ở đây phải ở tù oan đến 30 năm. Học những điều này để giữ chính mình, lỡ mình bị vu cáo thì mình cũng biết thủ phạm là ai, mình không làm gì mà cứ bị vu khống, vu cáo thì mình biết được nguyên nhân, lý do của nó. Mình học thì thành tựu trí tuệ về nghiệp và quả báo, về nhân và quả của nghiệp, còn không học thì không biết cho nên cứ trách móc tại sao cứ vu khống rồi mình sân hận, như vậy nợ cũ chưa trả lại vay thêm nợ mới, nếu mình phản ứng mãnh liệt, hung hăng thì đó là vay nóng. Mình bị vay nóng rất nhiều, có người đến nói mình nói như vậy là mình cãi lại ngay, sân hận lên ngay, vô lượng vô biên kiếp mình nói láo không biết bao nhiêu lần, chỉ riêng kiếp này từ nhỏ đến lớn nói láo có khi ghi đầy cuốn sổ tay, có khi cố tình hoặc cũng có khi vô tình nói láo hoặc có khi nói chơi, nói giỡn cũng nói láo. Tùy theo mức độ nói láo mà có quả báo khác nhau, nói chơi thì quả báo khác, nói láo vừa thì quả báo khác, nói láo có hại cho người khác thì quả báo nặng. Có những tình cảnh bị vu khống rất tức tưởi và đau khổ. Mình có bị vu khống không? Nếu có thì lúc đó mình suy nghĩ thế nào? Mình có nghĩ "đây là thành tích của mi đó, kết quả của tự thân ngươi đó, hoa trái mà ngươi đã gieo trồng của những đời trước bây giờ trổ ra đó", nghĩ được như vậy rất nhẹ nhàng cho nên học cái này để mình sống được nhẹ cái tâm. Vì thế bây giờ có ai vu khống, vu cáo thì mình cứ nghĩ "Đúng rồi đó, phải trả nghiệp quả mình đã gây ra thôi", nghĩ vậy cho khỏe. Có ai đến kiếm chuyện gây sự với mình thì mình biết đó là chủ nợ. Trong quyển Sư Nghiệp Phước Đức, Tâm Từ Vi Diệu – Hóa Giải Oan Gia Trái Chủ, Cẩm Nang Pháp Hành Nikāya giải thích những món nợ, chủ nợ, vay nợ cũ, nợ mới và cách trả nợ.

Này các Tỳ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Có ai trong đây từ nhỏ đến lớn không nói lời hai lưỡi không? Hầu như ai cũng bị hết, không ai là không nói lời hai lưỡi. Quả báo của nói hai lưỡi là bạn bè bị đổ vỡ, quen bạn một thời gian là đổ vỡ. Nói hai lưỡi là có thì nói không có, không có lại nói có, thấy thì nói không thấy, không thấy lại nói thấy, trước mặt thì khen còn sau lưng lại chê. Có nhiều người chơi bạn từ lúc trẻ đến trung niên, lão niên, trở thành tri kỉ của nhau, trước sau không thay đổi nhưng cũng có trường hợp trước là bạn bè sau thành thù hận, không nhìn mặt nhau, đó là quả báo của nói hai lưỡi, trong sách sau này còn dùng từ khác của việc nói hai lưỡi là "đâm bị thóc, thọc bị gạo", "thiêu gấm thêm hoa", "thêm mắm dặm muối", người đó xấu bảy phần mà do mình ghét họ nên nói họ xấu chẳng mười phần, chơi với ai cũng không kéo dài được lâu.

Này các Tỳ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói ác khẩu là được làm người và được nghe những tiếng không khả ý. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Ác khẩu là nói lời thô ác, ác độc, hung dữ, hung hăng, nếu nặng là vào ba đường ác, còn nhẹ thì được làm người nhưng phải nghe những lời không vừa ý, mình phải nghe những lời không muốn nghe vì do nghiệp quả trong quá khứ. Trong kinh Đức Phật nói có những người thuần thiện nghiệp nên họ toàn thấy cái đẹp, nghe lời nhẹ nhàng, người này cảm thọ cảm giác sung sướng. Người thuần ác nghiệp thì ở trong địa ngục, thấy hoặc nghe toàn là âm thanh kêu gào thảm thiết, trầm mình trong phân, đống lửa, cột đồng sôi. Cảnh giới chư Thiên là thuần thiện, cảnh giới loài người là pha lẫn thiện và ác, vì thế nếu phải nghe những lời nói đau lòng thường xuyên thì phải biết nghiệp ác khẩu trong quá khứ và hiện tại trổ ra như vậy.

Này các Tỳ-kheo, nói lời phù phiếm được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói lời phù phiếm là được làm người và được nghe những lời khó chấp nhận. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Phù phiếm là nói lời vô nghĩa, không có giá trị, không có lợi ích thì quả báo của nó là nghe những lời khó chấp nhận. Chỉ riêng cái miệng đã có đến 4 giới cho nên trong ngày tu tịnh khẩu được rất tuyệt vời, chư Tổ thời xưa ví cái miệng phải như cây quạt mùa đông, nó móc meo hết vì trời lạnh thì làm sao quạt được, nghĩa là bớt nói lại, cái gì cần thiết thì nói, xong thì yên lặng để nhìn thọ; tưởng; hành, kiểm soát thân – khẩu – ý, hộ trì căn, nếu nói thì chỉ nói pháp.

Uống rượu

 Này các Tỳ-kheo, uống men rượu, rượu nấu, được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của uống rượu mem, rượu nấu là được làm người với tâm điên loạn. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (X) Rất Là Nhẹ)

Những hình ảnh nhớ đến là đau lòng, một ông cụ có ba đứa con đều bị bệnh thần kinh. Ông phải nhốt ba đứa trong ba căn phòng khác nhau, những căn phòng này tồi tệ như ngục tù. Mỗi ngày ông phải trộn thuốc ngủ với cơm để đưa vào cho chúng ăn, cả ba người con bị thần kinh điên loạn. Có cậu thanh niên còn rất trẻ phải bị xích chân 18 năm, đưa đồ cho mặc đều bị cậu xé nát, vừa trần truồng như nhộng vừa bị xích chân và gào thét trong điên loạn. Thật là đau khổ cho một kiếp người! Đó là quả báo rất nhẹ của sự say sưa, nghiện ngập. Một người trong lúc say không nhận thức giống như cơn điên ngắn, họ chửi mắng, lột đồ trần truồng đi nghêu ngao ngoài phố, thậm chí rượu bia làm nhũn nhão con người không còn nhận thức được thế giới quan xung quanh mình nữa. Những cái này chỉ mới là trong hiện tại, ngay lúc người đó uống rượu bia say sưa đã như vậy rồi huống hồ gì quả dị thục đời sau còn khủng khiếp hơn nữa. Có một cô gái bị ngáo đá, cởi quần áo chui vào ống cống nước vừa đen vừa hôi để lăn lộn trong đó. Một cậu bồng đứa con mới hơn 10 tháng rồi leo lên nóc nhà thả đứa con xuống vì ngáo đá. Con và các chú thường ra bờ hồ đi thiền hành nhưng hôm đó có cảnh tượng làm con ám ảnh mãi, một người thanh niên cầm dao cứa vào da thịt làm máu chảy hàng dài vì ngáo đá. Ác nghiệp của chúng sanh thật kinh hãi, khủng khiếp! Lần thứ hai con dẫn mọi người đi thiền hành trải tâm từ thì gặp một người đang nằm giữa đường, con nói chú Trí Hòa bước lại xem có giúp được gì không, chú mới bước đến thì người này rút dao ra… Ôi cha ơi! Những chất say sưa, nghiện ngập này làm tâm thức chúng sanh bị đảo điên, rối loạn. Mình còn tỉnh táo vậy mà vẫn vô minh, tham ái vậy mà giờ còn dùng rượu bia, sử dụng những chất gây nghiện thì đảo điên chồng lên đảo điên, si mê chất lên si mê, bóng tối chồng chất bóng tối thì làm sao thoát ra nổi?

Làm sao giữ giới

Thật là phước đức cho chúng ta khi chúng ta tu tập chánh niệm và tỉnh giác, chúng ta nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là phước lành quý báu của chúng ta. Hãy trân trọng thánh trí huệ này, đội nó lên đầu, sanh ra cảm giác hy hữu hiếm có khó tìm, trân quý tha thiết, chân thành, cung kính đảnh lễ tôn trọng thánh trí năm uẩn này, nó giúp cho mình soi rọi được tự thân tự tâm chính mình. Minh Thành đã kể cho mọi người bao nhiêu đau khổ của cuộc đời, bao nhiêu nghiệp quả của chúng sanh, nhiều người phải chui xuống gầm cầu, lặn hụp trong đó móc cống để kiếm tiền sinh sống nuôi gia đình mà đây là làm người còn vậy chứ chưa nói đến cô hồn, súc vật phải vất vơ vất vưởng trong khổ cảnh, quằn quại trong trăm ngàn vạn kiếp trong bóng tối, có những đọa xứ vô lượng vô biên kiếp không có ánh sáng, sống trong bóng đêm không thấy một ai. Vì thế mọi người phải cố gắng lên, thời gian không còn nhiều, cố gắng nắm vững và thực hành pháp. Đừng giải đãi, buông lung mà hãy tinh tấn, nỗ lực,

Hãy tu như hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời!

Hãy nghe pháp như thời pháp này là thời pháp tối hậu!

Hãy thực tập như đây là lần thực tập sau cùng của đời chúng ta!

Hãy bố thí cúng dường, sám hối, nghe nhiều, quán chiếu tăng trưởng trí huệ như đây là lần cuối cùng được tu hành trong thiện pháp!

Không còn nhiều thời gian nữa mọi người ơi, vừa rồi nghệ sĩ Chú Tài ra đi rất đột ngột, tất cả đồng nghiệp, khán giả đều bàng hoàng. Có một vị khán giả bình luận rất sâu sắc "nồi cơm điện còn có ngày tháng bảo hành, con người chúng ta mong manh bất chợt ra đi không ai biết trước được điều gì". Như vậy mới gọi là vô thường, như vậy mới gọi là bất trắc, như vậy mới gọi là sự biến diệt của sắc uẩn này, không có gì kiên cố trong ngũ uẩn này, thấy đó rồi mất đó, chỉ là mong manh, hoại diệt, tan nát, tích tắc là trở thành người thiên cổ. Chúng ta không biết được ngày mai là ngày mai, hay ngày mai là kiếp sau của chúng ta.

Chánh tư duy như thế nào để giữ gìn giới nơi thân và miệng? Sau đây là cách Đức Phật dạy mình cách giữ giới:

 Ở đây, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Ta muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh (kotiparisuddham). (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, VII. Những Người Ở Veludvàra)

Tức là mình muốn sống không muốn chết, mình muốn vui không muốn khổ, việc mình đoạt mạng sống của chúng sanh khác là làm khổ cho chúng sanh đó, chúng sanh khác cũng không muốn chết, họ cũng muốn được vui, cũng muốn sống mà mình cũng muốn sống, mình sợ chết thì đừng đoạt mạng sống của chúng sanh. Mình không muốn chết, không muốn giết hại thì tại sao mình lại đem sự giết hại đó đến với chúng sanh khác. Suy nghĩ, tác ý như vậy để giữ giới, mỗi khi cắt cổ gà, vịt hoặc giết gián, kiến, ruồi, muỗi… thì phải suy nghĩ "mình muốn sống không muốn chết, các con vật cũng muốn sống không muốn chết thì tại sao mình lại giết nó". Đây là Đức Phật dạy mình Như lý tác ý để giữ giới, do suy nghĩ như vậy nên vị đó vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh

Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh. (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, VII. Những Người Ở Veludvàra)

Nếu có ai lấy của không cho của ta gọi là ăn trộm thì ta đau buồn, nếu có ai ăn cắp đồ của ta thì ta không vui, tiếc nuối. Như vậy ta đi lấy của không cho của người khác thì người khác cũng khổ sở, tiếc nuối như ta. Một việc làm cho người ta khổ sở, đau lòng, tiếc nuối như vậy mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Người ra không muốn bị ăn cắp cũng như mình không muốn bị ăn cắp thì tại sao mình lại ăn cắp? Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh. Đây là cách Đức Phật dạy mình tác động tâm ý, nếu mình không muốn như vậy thì đừng làm vậy với người khác, tác ý thường xuyên để nuôi lớn nhận định, thấy biết đó còn tác ý chỉ có vài lần sẽ không đủ sức.

Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh. (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, VII. Những Người Ở Veludvàra)

Nếu có ai ngoại tình với vợ/chồng ta thì ta sẽ rất đau khổ cho nên ta không thể làm điều này với người khác được. Ta không thể làm một việc gây đau khổ cho người khác giống như người khác làm cho ta đau khổ như vậy. Tác ý, suy nghĩ và quán sát như vậy thì vị ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Ba điều này làm cho thân được trong sạch là từ bỏ sát sanh, tà dâm và trộm cắp, chính là nhờ sự tác ý, suy nghĩ như vậy.

Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Nếu có ai làm tổn hại lợi ích ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích người khác với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh. (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, VII. Những Người Ở Veludvàra)

Nếu có ai làm tổn hại lợi ích của ta với lời nói láo thì ta không hài lòng, ta sẽ bực bội, khó chịu. Nếu ta cũng tổn hại người khác bằng việc nói láo thì người khác cũng không hài lòng. Cho nên ta không thể làm việc đau lòng như vậy cho người khác, ta không thể nói láo để người khác đau khổ giống như ta không chấp nhận để người khác nói láo để lừa gạt ta cho nên ta không nói láo để lừa gạt người khác. Do duy tư, tác ý như vậy nên vị ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo.

Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói lời hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai đối xử với ta với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, tán thán từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh. (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, VII. Những Người Ở Veludvàra)

Những lời chia rẽ bạn bè bằng nói hai lưỡi, những lời thô ác, phù phiếm và ta không muốn người khác nói ta như vậy cho nên ta sẽ không nói như vậy với người tác. Tác ý, suy tư, nhắc nhở bản thân như vậy thì miệng sẽ thanh tịnh, đó là hai pháp mà Đức Phật dạy cho thân và miệng được trong sạch. Khi bản thân không muốn ai khác làm điều đó với mình thì mình cũng đừng làm lại như vậy với họ vì chính họ cũng không muốn như thế. Khi tác ý thì đem quả báo của năm giới để nhắc nhở, khuyên răn bản thân. Khi muốn cắt cổ gà, vịt thì phải nhớ "Quả báo nhẹ nhất là chết yểu, muốn sống lâu, khỏe mạnh hay muốn bệnh hoạn, chết sớm", "con vật muốn sống sợ chết, mình cũng muốn sống sợ chết thì tại sao mình cắt cổ, nhổ lông nó. Ăn chỉ để thỏa mãn cái miệng một chút thôi nhưng chúng nó phải đau khổ quằn quại". Tu tập tác ý nhiều lần, sâu sắc, đầy đủ như vậy thì từ từ mình sẽ rời bỏ sát sanh, trộm cắp, say sưa, nghiện ngập, nói láo, tà dâm cũng tác ý như vậy, lấy đó làm phương pháp tác ý. Quả báo nhẹ nhất của việc trộm cắp là bị người ta trộm cắp lại, quả báo của tà dâm là bị người ta căm thù, quả báo của nói láo sẽ bị vu khống, nói lời khó chấp nhận. Mình quán chiếu về quả báo xấu và sự nguy hại của nó thì mình xuất ly khỏi nó và đây là phương pháp của Đức Phật truyền dạy, quán về tính chất nguy hiểm và tác hại của nó để đi ra khỏi nó. Phải quán nhiều lần, nhắc nhở, suy tư đầy đủ những phương diện, góc độ, khía cạnh của những tác hại của nó thì sẽ thành tựu trí huệ, lúc đầu thành tựu nhỏ, từ từ lớn dần cho đến khi viên mãn thì trọn vẹn xuất ly khỏi ác nghiệp, cho nên học mỗi một điều như vậy là thành tựu về trí huệ của điều đó. Quả báo nhẹ nhất của việc say sưa, nghiện ngập là tâm điên loạn, nhậu vào tàn phá cơ thể như bệnh gan, nhũn não, tay chân run rẩy nhưng ở đây Đức Phật chỉ nói phần trọng yếu và quan trọng nhất, chuẩn bị nhậu thì nhắc nhở bản thân "nhậu vào là điên đó".

Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc A-la-hán... Phật, Thế Tôn".

... đối với Pháp...

... đối với chúng Tăng...

Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

Này các Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử thành tựu bảy pháp này và bốn lời nguyện xứ này, nếu vị ấy muốn, vị ấy có thể tuyên bố về mình: "Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không có bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, VII. Những Người Ở Veludvàra)

Hôm nay chúng ta tìm hiểu về giới pháp của cư sĩ, giới đức của một người tu, những giới căn bản. Mọi người phải nhớ hơn bao giờ hết trong thời đại này, ác tham, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã đang hoành hành mãnh liệt và khủng khiếp. Cho nên sự tu tập về giới để bảo hộ cho chúng ta, chúng ta phải nhớ năm giới là rào chắn bình an, là ngôi nhà che chở cho chúng ta trong thế gian vô thường, bất an, đầy biến động này. Năm giới này có thêm một tên là "Năm sự sợ hãi và hận thù", khi chúng ta nhớ đến năm nghiệp ác: Sát sanh, tà dâm, trộm cắp, nói dối, sử dụng những chất say sưa nghiện ngập thì chúng ta phải biết rằng đây là năm thứ gây ra sợ hãi và năm thứ gây ra thù hận. Chúng ta cố gắng giữ gìn để chúng ta có được bình an trong đời sống, mình đã thấy rõ nhân quả của năm giới và biết chánh tư duy như thế nào để giữ gìn giới ở thân và miệng. Phải học thuộc và ghi chép những phần quan trọng nhân quả, sự tai hại của năm giới để tự tu cho bản thân, khuyến khích người thân, hướng dẫn họ quy y Tam bảo, thọ trì năm giới và tự thân mình mỗi ngày sau khi đã tụng kinh thì phải đọc lên năm giới để nhắc nhở bản thân để sống trong ánh sáng của Đức Phật, của giáo Pháp, của chư Tăng và của thánh giới. Sự bình an sẽ an lạc trong hiện tại và tương lai.

./.