Pháp Hành Trong Tạng Kinh Nikāya 5 – Cốt Lõi Tu Tập
Kinh Nikāya Giảng Giải
Pháp Hành Trong Tạng Kinh Nikāya 5
CỐT LÕI TU TẬP
Thích Minh Thành
Cần để ý những chỗ quan trọng để chúng ta thực tập trong sự tu học. Mỗi khi nghe tiếng bên ngoài mình thường bị tiếng đó dẫn đi. Giờ này là mình ngồi thiền mà có tiếng niệm phật bên ngoài tác động là mình đi theo, đó gọi là tâm hướng ngoại. Tức là mình không làm chủ được tâm của mình, ở ngoài có tác động là mình bị dẫn theo liền. Tuy câu đó là niệm Phật mà cũng là sự hướng ngoại của mình, nếu mà câu niệm Phật mình bị dẫn đi như vậy là câu mắng chửi mình bị chết ngay thôi. Chỗ này là để mình chiêm nghiệm một cách sâu sắc, vì mình nghe âm thanh bên ngoài là mình bị dẫn liền, mình không có cảm giác toàn thân và định tâm trên thân ngay lúc đó. Định tâm trên thân tức là an trú cảm giác toàn thân của mình, cho nên mình phải thực tập, thực tập đối với tất cả âm thanh. Mình phải có sự quay về và an trú cảm giác toàn thân dù cho nghe bất cứ một tiếng gì.
Ví dụ: mình đang ngồi mà có ai ho một tiếng mạnh hoặc làm ngã ghế thật mạnh thì người không có cảm giác toàn thân, không có thực tập, không có an trú thì người đó quay lại nhìn luôn thì cái đó là hoàn toàn mình không có trú niệm, không có chánh niệm. Tức là mình không có pháp hành thì có bất cứ tác động nào thì mình đi theo liền. Tức là căn nhà của mình không có chủ, nội tâm của mình không có chủ, khi nội tâm không có pháp hành, không có sự thực tập thì bất cứ khi nào mình thấy mình nghe, ngửi nếm tiếp xúc với cái gì thì mình đều bị dẫn đi, đều bị dao động hết.
Mình chỉ cần vẻ mặt của một người nào đó thì mình sẽ đổi sắc, sầu bi, khổ, ưu, não sẽ sanh mà chuyện đó không có liên quan gì đến mình hết, người ta mệt, người ta tức giận thì kệ người ta. Nhìn thấy mặt người ta tức giận là mình bị lây, bị nhiễm, bị nhiễm, bị tác động đó là sự thiệt thòi, lỗ lả của một người không có tu tập, không có thực tập, không có thiền tập, không có hành trì. Thì bất cứ cái gì cũng làm cho mình đảo điên, làm cho mình bấn loạn, mình hoàn toàn không có sức làm chủ thân tâm của mình. Thành ra chỗ này phải nhớ thật kĩ ba pháp mà Minh Thành luôn nhắc đại chúng là chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Cái này hết sức trọng yếu trong cuộc sống, không chỉ lúc thiền mà trong lúc đi đừng ngồi nằm, lúc nào cũng phải thực hiện. Trở về an trú, định tâm trên thân để cảm nhận cảm giác toàn thân, tất cả toàn bộ cơ thể, mình phải an trú cảm giác toàn thân và khi trong cảm giác sanh khởi lên cái gì mình phải biết.
Hôm nay chúng ta sẽ nói, mình làm tiếp xúc trong vô minh tại vì mình không biết, thọ đang có gì, cảm thọ gì mình không biết, tưởng gì trong nội tâm mình không biết, hành như thế nào trong nội tâm mình không biết, rồi cái sắc cũng không biết như vậy là vô minh. Vô mình là sự hoàn toàn không thấy không biết về chính mình, năm quẩn, mình hoàn toàn không thấy không biết trong khi nó đang hiện hữu, nó đang vận hành. Hoàn toàn không biết và mình nhận đó là mình.
Ví dụ: một cảm thọ bực bội, sanh khởi lên thì mình có cảm thọ nóng khó chịu thì mình phải biết cảm thọ đó là cảm thọ của thân. Phải phân biệt được hai loại cảm thọ: khổ thọ và ưu thọ.
Khổ thọ là cảm thọ khó chịu của thân.
Ưu thọ là cảm thọ khó chịu của tâm.
Mình phải phân biệt được, cho nên có khi cái thân khó chịu mà cái thân vui dễ chịu. Có khi cái thân khó chịu và vui như những buổi chùa có lễ, có giỗ tổ hay là mình có pháp hội gì đó. Tuy là mình phải thức khuya dậy sớm mà mình thấy đại chúng về tu, mình thấy các huynh đệ đông đủ về có mặt hết với sư phụ hay và với sư cụ, sư bà thì mình thấy vui, tâm mình vui mà cái thân mình mệt. Như vậy thì cảm thọ thân và cảm thọ tâm mình phải phân biệt được cái này.
Một trường hợp nữa là cảm thọ thân ảnh hưởng đến cảm thọ tâm.
Ví dụ như mình đi ở ngoài trời 39 độ C thì lúc đó thân mình đổ mồ hôi khó chịu thì nó ảnh hưởng vào tâm mình thấy hơi khó chịu. Là cảm thọ thân lấn qua ảnh hưởng qua cảm thọ tâm, lúc đó là dễ bực tức hơn bình thường.
Ví dụ: mình ở trong phòng điều hoà mát thì thân này dễ chịu thì tâm cũng dễ chịu.
Nhưng mình bước ra ngoài nhiệt độ 40 độ C là nhiều khi khó chịu, nói chuyện là cự. Là cảm chọ thân lấn qua cảm thọ tâm. Lúc này là ở ngoài xâm chiếm ở trong tâm, mình phải thấy được cái nào là cảm thọ của thâm, cái nào là cảm thọ của tâm phân biệt cho rõ.
Ngược lại cảm thọ tâm ảnh hưởng lên cảm thọ của thân.
Ví dụ: Mình đang ngồi khoẻ tự nhiên nghe một cuộc điện thoại là ba hay mẹ nhập viện rồi, bất ngờ nghe vậy thì lúc đó cảm thọ như thế nào. Hay là người thân thân nào có chuyện khi mình nghe một cuộc điện thoại giờ đang nhập viện nguy cấp thì lúc đó sao và sau khi nghe rồi thì mình lo lắng và sợ hãi. Thì đó là đó là thọ do nhĩ súc sanh, thọ từ bên ngoài đánh vô. Mình vừa nghe một cái là chấn động, lo lắng, sợ hãi. Mình giận ai, mình buồn ai tự nhiên mình muốn bỏ ăn, ngủ không được, ăn không được, bệnh thì đó là cảm thọ trong tâm ảnh hưởng đến cảm thọ của thân là tự nhiên mệt mỏi luôn. Ngoài đời có bệnh tương tư, không còn muốn ăn, muốn ngủ muốn làm gì hết có thể đi đến cái chết. Đó là ví dụ cho mình dễ hiểu đó, là từ bên trong đánh ra cái cảm thọ tâm, thì ra cảm thọ tâm quan trọng, quan trọng hơn rất nhiều đối với cảm thọ tâm. Thành ra sự luôn luôn thường trực để nhìn lại các cảm thọ sanh khỏi, an trú và nó chuyển biến và chấm dứt ở bên trong và hết sức quan trọng đó là công phu của sự tu hành của chúng ta. Đây không phải là trí huệ bình thường đâu, đây là thánh trí. Trí huệ năm quẩn là trí huệ của bậc thánh và mình đang thực tập là mình đang thực tập trí huệ của bậc thánh để mình thấu hiểu sự có mặt ở trong cảm thọ, mình thấu hiểu đặc tính của cảm thọ, mình thấu hiểu cái bản chất của các cảm thọ và mình phải có cách nhíp phục xử lí và thâm sâu nhất của bậc Alahan là diệt tận. Tuỳ theo khả năng của mình, mình nhíp phục được đôi phần là mình đỡ khổ đôi phần.
Ví dụ: ở chùa có khoá tu, có một vị này rất đặc biệt đi đến giảng pháp mà mình biết sắp xếp khéo léo mà làm trong bếp hay làm công việc của mình. Mình khéo léo sắp xếp thì giờ nghe pháp mình được sự còn nếu mình không khéo sắp xếp có khi mình không được dự, giờ đó mình mắc việc ở dưới nhà bếp ở đâu đó. Giờ đó người ta đang ngồi trên đó được an tịnh được trí huệ khai mở giờ mình dưới bếp cự với cô kia, người này ý này người kia ý kia rồi giận. Thì mình thấy mình lỗ nhiều không?
Lúc đó mình không nhìn thấy được cảm thọ sanh khởi, mình không thấy được khổ thọ lạc thọ khổ thọ bất lạc thọ, mình không thấy được ưu thọ xã thọ mình không thấy được. Cho nên trong bài kinh giới phân biệt Đức Phật dạy “tất cả cảm thọ là vô thường không đang hoan nhỉ” cảm thọ đó là những đối tượng không đáng để cho mình tham đắm, mình hãy ý niệm xả li đối với bất cứ một cảm thọ nào sanh khởi. Hãy có ý niệm xả li dù đó là lạc thọ, cảm giác khoang khoái thích thú. Hãy nhìn thấy bằng trí huệ, cảm giác này là cảm giác vô thường, dù nó vui như vậy, đang vui đang thích thì mình phải nhìn sâu vô, mình phải đọc được cái tên của nó và hiểu được bản chất của nó và nói rằng “cảm thọ này là một cảm thọ vô thường”. Không đáng để cho mình khoang khoái vui sướng thích thú và tham đắm hãy hướng tâm đến chỗ trí huệ là đó là người tu tập thực sự thâm sâu đó.
Tại sao vậy? Đức Thế Tôn nói trong Tương Ưng Bộ kinh. Nói rằng: “kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ, khổ thọ sanh khởi, thì người này tiếp nhận giống như là một người đang bị trói buộc” kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ vui sướng lạc thọ khởi lên thì người này giống như người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, không vui cũng không khổ thì kẻ phàm phu này có cảm giác không khổ không vui này giống như một người đang bị trói buộc. Tại sao vậy? Tại vì người này hoàn toàn không biết cảm thọ, không có trí huệ đối với cảm thọ.
Ở bên lớp trung cấp Minh Thành đang hướng dẫn giáo trình thánh trí năm quẩn. Giáo trình này đúng ra lớp cao đẳng tăng mới được học mà bây giờ hướng dẫn cho lớp trung cấp thì giáo trình này Minh Thành gọi là tiểu NIKAYA. Tức là người nào không có thời gian học hết năm bộ NIKAYA thì học cái này sẽ tóm thâu hết yếu nghĩa của NIKAYA. Mà đó là thánh trí của Năm Quẩn là tất cả trí huệ về năm quẩn của Đức Phật trong tạng kinh NIKAYA đều có hết ở trong này. Cho nên mình phải thành tự bảy loại trí huệ về cảm giác, nếu mình không biết là chết ngay, nó sanh khởi là mình chết ngay. Mình không biết thế nào là thọ, mình không biết từ đâu cảm giác nó sanh khởi, mình không biết từ đâu cảm giác này chấm dứt, mình càng không biết con đường đi đến chấm dứt là như thế nào. Mình không biết sự nguy hại, sự nguy hiểm của các cảm thọ và mình không biết được xuất li ra khỏi cảm thọ thì mình chết ngay thôi. Chỉ cần thọ khởi lên, cảm giác khởi lên là mình chết liền, nóng mình cũng chết, lạnh mình cũng chết, đều đều không nóng không lạnh tưởng đâu ngon mình cũng chết luôn.
Sướng cũng chết, khổ cũng chết, không sướng không khổ cũng chết vì mình vô minh đối với các cảm thọ. Mình không thấy không biết mà.
Đây nói đến tượng Phật sâu sắc hơn nữa. Khi mình lên chánh điện chắp tay niệm phật, có phải mình cho cái tượng đó là Phật không? trong tâm mình có cho đó là Phật không? Mình lạy xuống phải là mình cầu cho Phật gia hộ cho mình cái này cái kia không? Nếu như vậy là mình hoàn toàn không biết gì về Phật hết.
Cái này đa số mình bị rất là nhiều. Lúc trước Minh Thành cũng vậy. Khi mình nhìn lên bức hình, bức tượng, bức tranh mình tưởng đó là Phật và mình cầu bức tượng đó gia hộ cho mình. Đại đa số là vậy, lúc trước Minh Thành cũng vậy là mình không biết gì về Phật, mình đang trong sự mê tín đối với Phật, Mình không hiểu gì đối với Đức Phật. Đó là sắc pháp chỉ là một biểu tượng, chứ đó không phải là Phật. Khi mình nhìn thấy tượng như vậy, mình phải quay trở lại nội tâm nhìn lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mình nhìn lại nó như thế nào thì đó gọi là Phật thiệt, cho nên thấy năm quẩn là thấy Phật, phải học thuộc câu này. Tại vì sao? Vì ngài thành tựu thánh trí năm quẩn này mới thành tựu chánh đẳng chánh giác, mình thấy năm quẩn là thấy được chỗ mà Đức Phật giác ngộ. Mà tối ngày mình mình nhìn tượng bằng đồng, bằng vàng, bằng đá thì đó là tối ngày mình chạy theo sắc quẩn chứ đâu phải là Phật. Tối ngày cứ đi lựa tượng Phật hoài. Đi qua Butan thỉnh về, đi qua Ấn Độ thỉnh về rồi vô chất trong phòng bốn năm chục ông và chưa kể có bà trong đó nữa, nhiều khi vô chùa không biết là cái gì nữa. Thì cái đó là mình bị sắc quẩn lừa gặt rồi. Mình đang chạy theo sắc pháp, sắc quẩn, sắc tướng, mình không thấy được thực sự Đức Phật muốn dạy mình cái gì. Nếu mình chạy theo như vậy rồi ai vào rinh cái tượng mình quý nhất vậy có khổ không, sầu bi, khổ, ưu, não có không? Vì mình ái với sắc pháp đó rồi.
Đức Phật dạy: Này các tuỳ kheo ai quan hỷ, quan nghên và đấm trước đối với năm quẩn, đây là người tập khởi của tập khổ, tập khởi của sanh già bệnh chết sầu bi khổ ưu não. Ai không hoan hỉ, không hoan nghênh, không đấm trước với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì ta tuyên bố người này tận diệt toàn bộ khổ đau. Đó là tương ưng quẩn, tương ưng bộ kinh. Bài ngày thành kệ hô thiền của Linh Quy Pháp Ấn. Kệ hô thiền của Linh Quy Pháp Ấn không có ai soạn là toàn là của chánh đẳng chánh giác. Đó là thánh trí cùng tột của Đức Phật, tại sao mình không sử dụng mà mình đi tìm ai. Cho nên mình đừng trước Tượng Phật mình lạy thì mình phải biết rằng Đức Phật, bậc alahan đã tẩy sạch hết tất cả các cấu bẩn, huế trượt, diệt tận hết tham, sân, si và bản ngã. Mình đừng trước Phật lạy xuống là mình phải quay trở lại cảm giác của mình, để mình nhíp phục, đoạn tận các cáu bẩn trong nội tâm của mình, đó là lạy Phật, đó là tôn kính Phật. Chứ đâu phải hướng về cái tưởng cái hình đó gia hộ cho mình. Thành ra không kéo mình tu toàn trên sắc, thọ, tưởng, thành, thức không, tu ở trên suy nghĩ của ý hành chứ mình không có tu bằng trí tuệ.
Chỗ này rất thâm sâu nhiều khi suốt đời tu của mình cũng không thấy ra được. Hiện tại mình đang tu ở cái gì? Mình vướng mắc ở trên hình thức, ở trên lễ nghi quá nhiều, ở trên những màu sắc, cái tổ chức và mình không thấy được thức sự mục đích của sự tu tập là cái gì, mình đang làm cái gì. Cái tham dục của mình có giảm không, cái ái của mình có giảm không? cái sân hận của mình khi tiếp vương xuất cảnh khi trái ý nghịch lòng có giảm không, có lắng dịu không? sự si mê không nhìn thấy được các pháp, không thấy được năm quẩn nó vận hành. Mình có biết lúc đó mình đang bị si mê, vô mình hay không, thường là mình không biết. Rồi cảm xúc của bản ngã như thế nào mình có biết không, hay mình nhận cái đó là tâm mình. Mình không lo những cái cốt lõi trọng yếu đó mà mình cứ lo tối ngày, trồng cây cho đẹp, quét sân cho đẹp, sạch sẽ cho đẹp rồi mình chết ở trong cái đẹp đó.
Đó là như tầm kéo càng buộc càng bền, như bướm lao đèn tự thiêu tự đốt, hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh, náo loạn tâm thần, đều do ba độc. Tự mình nhã ra kén, tự mình buộc lên mình đó chứ, suốt ngày mình chau chuốt vô mình, tưởng, hình sắc mà không biết chính cái sắc quẩn này làm mình chết, nó làm cho mình ái, dục và tham. Chính cái thọ quẩn này cái cảm giác này giết mình nè, nó làm cho mình sầu bi khổ ưu não mà mình không thấy, nhận giặc làm con, nhận những cái này cho nó là mình, cho sắc là tôi, là tự ngã của tôi, cho cảm giác này là tôi, cho những nghĩ tưởng này là tôi, nhận thức này là tôi. Thâm sâu, thâm sâu, cực kì thâm sâu đây là thánh trí của chánh đẳng chánh giác phá tung hết tất cả các pháp không còn chổ y chứ cho ái cư trú được nữa. Mình tu nói bằng cái miệng, chỉ nói miệng thôi giỏi lắm suy nghĩ tưởng tưởng chút thôi chứ không phải bằng trí huệ. Làm sao để mình thấy? Phải nhận diện năm quẩn mình mới thấy được phải thường trực nhìn năm quẩn xem các cảm thọ hoạt động như thế nào. Các cái tưởng trong nội tâm vận hành như thế nào, suy nghĩ như làm sao phải thấy phải biết. Còn không tối ngày là mình nhìn ra ngoài không. Giờ mình ngồi trở lại, thật là ngao ngán, ngồi là nói toàn chuyện gì đâu không thôi, không nói về li tham, không nói đến chuyện từ bỏ, không nói đến chuyện viễn li, nói toàn là lòng vòng ở trong sắc pháp, sắc quẩn, cảm giác. Lòng vòng, lòng vòng trong suy nghĩ, tưởng tượng trong năm quẩn không thôi, nó không đưa ra pháp ly tham để từ bỏ nhàm chán. Mà mình nói không nhàm chán mà mình không thấy không biết sao nhàm chán, mà mình không nhàm chán thì mình tham thì mình chết. Hoan nhỉ hoan nghênh an trú và đấm trước, hoan hỉ sắc gì đẹp món đồ gì đẹp vui cười tươi rói hết, tặng gì là vui thích khoái là chết. Ở trong chương Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, Đức Thế ví dụ lợi ích lợi đắc cung kính cúng dường là mồi nhử của ác ma.
Hoan hỉ hoan nghênh an trú rồi đấm trước đối với năm quẩn là như vậy người đó là toàn bộ khổ quẩn này tập khởi. Cho nên hết sức là quan trọng các huynh đệ phải để ý thường trực đi đứng ngồi nằm bất cứ lúc nào cũng nhìn lại cảm giác toàn thân của mình. Kiểm soát cảm giác của mình. Chẳng hạn như khi Minh Thành chia sẽ cho lớp tăng bây giờ mình tập cái chuông nó reo kệ nó, mình phải tập cảm giác của mình an tịnh, đừng cho để một chút xíu mà nó làm cho tâm mình dao động. Mình phải tập, tập là được. Nó reo nó cứ reo mình tập cho tâm mình an tịnh, mình không để cho những âm thanh bên ngoài nó tác động, đó là mình bắt đầu thành tựu trí huệ. Còn nếu không cái nhỏ xíu mình không tạp được thì thôi những cái lớn đến là mình chết ngay, chết ngay không còn một giọt máu, xanh lè xanh lét hết không còn một gọt máu vì những cái nhỏ mình không tập. Tu rất nhỏ, vi tế mà nó hay mình tu được sẽ rất thích thú.
Ví dụ: Mình ở chùa đó mười lăm năm chỗ ngồi đó là chổ của mình, bữa nay có cô nào đến ngồi chỗ mình bây giờ có mình ngồi mãi ở dưới, ngồi chung với mấy chú tiểu ở dưới thì lúc đó mình đừng nhìn người đó, đừng có trách người đó, đừng đi theo những ý hành mà lúc đó phải quay lại cảm giác toàn thân như thế nào, cảm giác sanh khởi như thế nào, hoạt động như thế nào thì lúc đó hoạt động huấn luyện nó. Mình phải nói với chính mình đâu là chỗ của mình, lúc đầu lúc chưa đến thì đâu là chỗ của mình, tại sao cảm giác dính mắc luyến ái, chấp thủ này lại si ám như vậy. Phải huấn luyện cảm giác, huấn luyện ý hành, nhíp phục cảm giác sân hận, bản ngã mà cảm giác tôi của tôi phải quán chiếu nó. Mình phải nói với thân tâm đây không phải là chỗ của mình, chổ của mình là nghĩa địa, mai mốt mày dành ở chỗ đó, chỗ của mà phải là nhà cốt ở phía sau. Phải đánh tan cảm giác ta đây, gắn vô yêu thương ghế, yêu thương luôn cái mùi ở đó, mình phải triệt hạ nó, triệt hạ cảm giác đó, tưởng hành phải triệt hạ nó. Cảm giác nhiều lắm bất cứ lúc nào cũng có thể xâm nhập mìn hết. Đang bình thường bị sư phụ rầy một cái là cái mặt, hơn cái bánh bao chiều nữa, đó là rầy đúng chuyện mà rầy oan một cái là thôi, hết nói nổi luôn. Cảm giác vô thường sanh diệt, sự luyến ái chấp thủ về sắc, thọ, tưởng, hành thức khiếp không? chỉ cần chạm nhẹ một cái thôi là sắc mặt thay đổi. Trong khi đó mình bỏ cha mẹ của mình để thờ thầy của mình, dạy mình, mình vô đây để mình học mà dạy mình là mình bực mình. Đó là cảm giác khốn nạn nó làm cho mình khốn đốn, hoạn nạn, nó làm cho mình khốn khổ hoạn nạn hoài, mình phải chửi nó, chính mày làm cho tao không an tịnh, phiền não, phực bội hoài hết người này đến người kia. Chút chuyện gì cũng có chuyện, chạm tới là có chuyện. Mà vô văn phàm phu là đợi có chuyện thô rồi mới thấy, còn đa văn thánh đệ tử là mới mần nhỏ thôi là mình đã thấy rồi đó là mình đang thành tựu trí huệ về thọ quẩn, về tưởng, về hành, về thức. Mới động manh nha là mình thấy rồi mình tẩy sạch.
Ở trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật nói: Này các tuỳ kheo, vị tuỳ kheo nào mà khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm và vị đó khởi lên dục tầm, sân tầm, hại tầm mà vị tuỳ kheo đó không chịu nhiệt tâm tinh cần cố gắng tẩy sạch, diệt tận. Không chịu làm nó không còn trong nội tâm nữa thì tuỳ kheo đó là tuỳ kheo hạ liệt, hèn hạ, thấp hèn ở trong giáo pháp của Như Lai.
Dục tầm là những suy tầm về dục
Sân tầm là những suy tầm về bực bội
Hại tầm là những suy tầm muốn hại người ta.
Tức quá rồi suy nghĩ cách hại người ta đó là hại tầm, tà tư duy. Cho nên trước giờ mình ít nghe từ Hại Tầm hoặc là tư tưởng hại là tà tư duy. Cho nên chánh tu duy là li dục tư duy, li sân tư duy và bất hại tư duy ở trong bát chánh đạo.
Có thêm xã li tư duy là lúc nào tâm mình cũng hướng đến việc xả li, viễn li, xa lìa, xã li.
Ví dụ: Mình gặp chuyện hơn thua, người đó mới vô chùa mà muốn hơn mình, làm gì cũng muốn hơn. Mình xã li, mình nói với bản thân, hơn thua cái gì mình vô đây mình tu chứ mình đâu có vô đây để hơn thua, có gì đâu mà hơn thua.
Mình xã li, suy nghĩ đến sự xã li là chánh tư duy. Khi mình trú tầm được vào cái này là mình nhẹ nhàng lắm, an lạc lắm. Mình không trú được cái này là mệt, nặng nề, một ngày không biết bao nhiêu chuyện.
Vô lớp cũng có chuyện, ăn cơm cũng có chuyện, vô phòng cũng có chuyện. Người này mở lên người kia không chịu nghe, người kia mở quạt mạnh người kia không chịu. Cảm thọ nó có tuỳ thời điểm, vui là sao cũng được, buồn là nói chút là giận. Mình phải nhìn thấy được cảm xúc có cơn, lâu lâu hay bất thường, mình phải nhìn thấy khi nó bất thường, mình phải cẩn thận. Cái tưởng, hành suy nghĩ đang bất thường mình phải cẩn thận. Mình tu tập phải quản lí mắt, tai, thân, ý của mình. Quản lý lỗ tai, quản lí sự rõ biết của âm thanh, quản lí cái nhĩ xúc khi lỗ tai tiếp xúc âm thanh khi nhĩ thức tiếp xúc, quản lý nhĩ xúc, quản lý cảm giác khi lỗ tai nghe được tiếp xúc được, phải tỉnh giác, rõ biết. Sau khi thọ sanh ra tưởng, thành, sanh ra ái hay là sân hận, tham. Phải quản lí, kiểm soát, nó vận hành như thế nào. Nếu mình không có trí huệ sắc bén, sự tế nhị, không có trí huệ tinh vi thì không thấy được, làm sao mình thấy được. Mình chỉ thấy một đống này, bản ngã này, làm sao mình thấy được năm quẩn. Một đống thịt 60kg, người nào nặng thì 80kg, leo lên một cái cân là cân muốn nhổng luôn, nặng nề, tại vì mình không thấy được pháp thì thấy được bản ngã, cái tôi. Mình không thấy được, thì hoàn toàn kẻ vô văn phàm phu cho sắc là mình hết.
Đánh thương là khác, đánh giận là khác đủ thứ kiểu, muôn ngàn cảm thọ hết. Mình phải tập nhận diện các cảm thọ, các cảm giác. Đừng để cho tâm hướng ngoại, bên ngoài rất là mạnh, tà kiến là mình không thấy được năm quẩn. Lúc nào mình cũng một đống này, tôi của tôi, đi đâu chúng vác cái thân một đống, lúc nào mặt cũng hất lên, khen mình chê người, cống cao ngã mạng, dương dương tự đắc nó làm cho khổ sầu. Ở ngoài khổ rồi chạy vào chùa, vào chùa khổ rồi chạy lên thất vô thất khổ rồi không biết chạy đi đâu. Chạy hoài vì không biết nguyên nhân của khổ là từ chỗ không thấy được năm quẩn, từ chỗ dục, thâm, sân, bản ngã chứ không phải ai làm cho mình khổ. Giờ có ai làm mình như thế nào mà tâm mình hoàn toàn lắng dịu thì mình đâu có khổ, mình không có khổ. Mình chỉ thích đổ thừa, thích giác ngộ, thích trí huệ không chịu mà thích đổ thừa. Hở là tại chị kia, tại cô kia, tại với bị, thích đổ thừa, rồi tại thầy, tại sư phụ. Nó không quay trở lại nhìn thâm tâm mà lại mê tín hướng ngoại và tà kiến ba cái này xâm chiếm hết nội tâm. Mình không thành tựu trí huệ về năm quẩn là mình mê tín, mình hướng ngoại rồi mình tà kiến, rồi mình phải nhíp phục được tà tham trong tâm của mình, mình không nhíp phục được là khổ lắm. Cho nên ba chữ hay này: hoan hỷ, hoan nghênh và đấm trước. Mình phải quán chiếu, đừng an trú tâm mình ở trong sắc, an trú trong sắc mình gọi đó là của mình, tức là mình làm địa chỉ thường trú ngay trong sắc đó luôn. Mình cho chùa này là của mình, phòng này là phòng của mình, đồng hồ, áo quần, kiếng, chiếc xe, áo cặp tất cả những cái đó là mình an trú trong sắc. Mà sắc này vô thường, biến đổi thì sầu, bi, khổ, ưu, não nó sanh khởi. Bất cứ sự an trú nào mà an trú trong sắc thì an trú đó sanh cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình phải tập nhìn tất cả những thứ đó là tứ đại. Quán chiếu một đống thịt này, ngày nào mình cũng quán chiếu đống thịt năm sáu chục kí này, đây là một đống thịt, một bao thịt, một bao thịt chảy ra, chảy ra, nó lủng lổ chảy ra những thứ không thơm tho gì hết. Cứ ngồi thiền quán bao thịt này, bao thịt này, bọc thịt này làm cho mình khổ sở hoài, giờ đi tu vẫn còn khổ với bọc thịt này, bọc thịt tối ngày thúc dục mình đi tìm cái này, tìm cái kia. Bọc thịt mà tốt này đòi hỏi, muốn muốn, tìm tìm cho nó mệt rồi, nó già rồi, nó mệt mỏi rồi mà muốn đi tìm nữa đó là dục lậu đó.
Sai kiến mình đi tìm hoài, kiếm hoài, ngồi hoài không yên, ở một mình ở nhà không yên. Nó bày ra trò này, trò kia, hữu lậu giao động, mà tất cả cái đó là không thấy được năm quẩn, vô minh lậu, không thấy không biết tự thân của nó. Cho nên nó ngấm ngầm ba trạng thái: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, ba cái trạng thái này là một trạng thái tâm nhiễm, tâm mê. Nó mê, cái gì cũng mê, cái gì cũng mê, mà mình không nhìn ra được bản chất thực tín của năm quẩn là mình chết. Mình hãy nhìn đây là một đống xi măng, cốt xác không có gì hết, một đống đất, nước, gió, lửa thôi không có gì hết. Dù cho mình đến một ngôi chùa đẹp nhất thế giới thì thì đó là một đống đất thôi không có gì hết, tứ đại thôi không có gì hết, nó sẽ sụp đổ không sớm thì muộn. Mình nhìn như vậy thì nó đưa đến trạng thái li tham. Hảnh diện cái gì với cái bọc thịt này, ta đây cái gì với cái bao thịt này, ngã mạng cái gì tới cục thịt này, cục thịt mà bất cứ lúc nào nó cũng có thể bầy nhầy. Quán chiếu thâm sâu như vậy, phá tung sự bám chấp vào trong sắc quẩn, trong sắc pháp. Nó đưa mình đến trạng thái li tham đối với sắc pháp, đối với tất cả sắc chất tứ đại, sắc quẩn trên thế gian này. Đó là nó đưa mình dần dần đến thánh trí, trí huệ của bậc thánh. Mình tập nhìn bất cứ cái gì, một tờ năm trăm ngàn hay một tờ hai chục ngàn hay là tờ năm ngàn đây chỉ là tờ giấy thôi. Đây là sắc quẩn, sắc pháp tứ đại, đương nhiên nó khởi lên tham mà mình phải nhíp phục từ từ. Bây giờ một tờ năm trăm ngàn với tờ năm ngàn bỏ vào lửa nó cháy thành tro thì cũng giống nhau không? Cũng là tro thôi, rồi cái thân của một người bảy chục tuổi với người mười bảy tuổi đem vào lò thiêu thì cũng là tro thôi, là bao thịt đống thịt, cục thịt. Quán chiếu như vậy, quán chiếu như vậy thì người ta quỳ người ta lạy người ta cúng dường. Một đống chình ình đó người ta lạy là tổn phước. Tham đắm, hoan hỷ, hoan nghênh, đấm trước vào trong sắc pháp này nhìn thấy mấy món ngon ngồi đó chảy nước miếng. Lẹ lẹ để gắp nhai và nuốt, chết chưa, dục, tham, ái đó. Nhìn vào thâm sâu là đã lắm, tu cái này sướng lắm, nhìn nó lí thú lắm, vận hành trong đó, nó quậy mình trong đó. Tối này nó bắt mình phải đuổi tìm kiếm, truy tầm, tối ngày đòi chạy theo danh lợi tài sắc, nó đòi nghe, nó đòi ngửi, đòi nếm, đòi xúc chạm, nó đòi kiếm không dừng lại được đó là khổ thánh đế đó.
Đây là khổ đó, sự đòi hỏi thúc dục tìm kiếm đó là khổ đó. Ngày nào mà nó dừng lại, an tịnh lại thì lúc đó mình mới thấy được sự thức tỉnh của niết bàn. Tất cả dục, tham, ái, tất cả các cảm thọ nó yên tịnh lại hết mà nhìn thấu xuống bản chất trống rỗng, nhìn thấy một đống bọt, bong bóng nước, bong bóng da này. Quán chiếu bong bóng da này do nước, lửa bên trong phình ra, bữa nào xì bong bóng da thì nó nằm đó. Nhìn thâm sâu, thật là thâm sâu các cảm thọ đi, đứng, ngồi, nằm, lúc mình nói chuyện cũng coi cái cảm thọ. Coi cảm thọ khi nói có nói bằng bản ngã, khi nói có ta đây không? Mình khi nói chuyện mình phải nhìn, khi mình yên lặng mình phải nhìn luôn. Những suy nghĩ đó đang suy nghĩ cái gì, nó có suy nghĩ như lí tác ý chánh tư duy không? Nó có suy nghĩ xã li tư duy, nó có suy nghĩ bất hại tư duy không? Cho nên khi mình mắt thấy sắc, sự tiếp xúc, quay lại nhìn cảm giác liền, mũi mình ngửi mùi, lưỡi mình nếm vị phải quay lại trở lại nhìn cảm giác mình liền. Thân mình xúc chạm quay trở lại nhìn cảm giác lúc đó, quay trở lại liền, quay lại coi liền, coi cảm giác đó là gì có tham đắm không. Có tham ai trong đó không? có thì gỡ ra mở ra. Trú vô cái tâm xã, không chạy theo cái thích và không thích, chánh niệm tỉnh giác và trú xã. Chỗ mà an trú tâm xã là địa chỉ thường trú của người xuất gia chúng ta đó.
Trú vô tâm xã, không ưa thích cảm thọ dễ chịu, không có bực mình khó chịu với cảm thọ khó chịu, không có si mê lờ đờ với cảm giá trơ trơ không dễ chịu không khó chịu, lúc nào cũng phải có trí huệ để tháo gỡ. Cho nên nhiều khi mình không chết với cảm giác khổ thọ, không chết với cảm giác lạc thọ mà chết với cảm giác đều đều không khổ không vui mà mình chết. Tại cảm giác này đều đều hơn những cảm giác kia vì đâu phải lúc nào cũng vui, đâu phải lúc nào cũng buồn, cũng bực đâu mà cảm giác bất khổ, bất lạc thọ cảm giác này nhiều hơn. Rồi mình ở cảm giác này nhiều, rồi mình an trú trong cảm giác đó rồi mình cho rằng cảm giác đó là tâm mình, là tôi là mình chết. Cho nên kêu làm gì là mệt quá, bày ra công chuyện mà nói mệt quá, kêu đi chơi cũng không đi, không thích đi đâu, cứ ở nhà lù khù như vậy. Vì mình trú vào cảm giác không khổ, không lạc mình chưa thành tựu trí huệ nên không thấy được nên mình bị si, vô minh trong đó, trú trong đó. Khổ là chồng thêm cái bản ngã mình tu nhiều hơn người kia cái đó mới chết. Ai đi chơi thì đi tôi không đi, ai làm gì thì làm tôi không làm rồi tôi đóng cửa nuôi cái bản ngã.
,
Pháp Hành Trong Tạng Kinh Nikāya 5
CỐT LÕI TU TẬP
Thích Minh Thành
Cần để ý những chỗ quan trọng để chúng ta thực tập trong sự tu học. Mỗi khi nghe tiếng bên ngoài mình thường bị tiếng đó dẫn đi. Giờ này là mình ngồi thiền mà có tiếng niệm phật bên ngoài tác động là mình đi theo, đó gọi là tâm hướng ngoại. Tức là mình không làm chủ được tâm của mình, ở ngoài có tác động là mình bị dẫn theo liền. Tuy câu đó là niệm Phật mà cũng là sự hướng ngoại của mình, nếu mà câu niệm Phật mình bị dẫn đi như vậy là câu mắng chửi mình bị chết ngay thôi. Chỗ này là để mình chiêm nghiệm một cách sâu sắc, vì mình nghe âm thanh bên ngoài là mình bị dẫn liền, mình không có cảm giác toàn thân và định tâm trên thân ngay lúc đó. Định tâm trên thân tức là an trú cảm giác toàn thân của mình, cho nên mình phải thực tập, thực tập đối với tất cả âm thanh. Mình phải có sự quay về và an trú cảm giác toàn thân dù cho nghe bất cứ một tiếng gì.
Ví dụ: mình đang ngồi mà có ai ho một tiếng mạnh hoặc làm ngã ghế thật mạnh thì người không có cảm giác toàn thân, không có thực tập, không có an trú thì người đó quay lại nhìn luôn thì cái đó là hoàn toàn mình không có trú niệm, không có chánh niệm. Tức là mình không có pháp hành thì có bất cứ tác động nào thì mình đi theo liền. Tức là căn nhà của mình không có chủ, nội tâm của mình không có chủ, khi nội tâm không có pháp hành, không có sự thực tập thì bất cứ khi nào mình thấy mình nghe, ngửi nếm tiếp xúc với cái gì thì mình đều bị dẫn đi, đều bị dao động hết.
Mình chỉ cần vẻ mặt của một người nào đó thì mình sẽ đổi sắc, sầu bi, khổ, ưu, não sẽ sanh mà chuyện đó không có liên quan gì đến mình hết, người ta mệt, người ta tức giận thì kệ người ta. Nhìn thấy mặt người ta tức giận là mình bị lây, bị nhiễm, bị nhiễm, bị tác động đó là sự thiệt thòi, lỗ lả của một người không có tu tập, không có thực tập, không có thiền tập, không có hành trì. Thì bất cứ cái gì cũng làm cho mình đảo điên, làm cho mình bấn loạn, mình hoàn toàn không có sức làm chủ thân tâm của mình. Thành ra chỗ này phải nhớ thật kĩ ba pháp mà Minh Thành luôn nhắc đại chúng là chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Cái này hết sức trọng yếu trong cuộc sống, không chỉ lúc thiền mà trong lúc đi đừng ngồi nằm, lúc nào cũng phải thực hiện. Trở về an trú, định tâm trên thân để cảm nhận cảm giác toàn thân, tất cả toàn bộ cơ thể, mình phải an trú cảm giác toàn thân và khi trong cảm giác sanh khởi lên cái gì mình phải biết.
Hôm nay chúng ta sẽ nói, mình làm tiếp xúc trong vô minh tại vì mình không biết, thọ đang có gì, cảm thọ gì mình không biết, tưởng gì trong nội tâm mình không biết, hành như thế nào trong nội tâm mình không biết, rồi cái sắc cũng không biết như vậy là vô minh. Vô mình là sự hoàn toàn không thấy không biết về chính mình, năm quẩn, mình hoàn toàn không thấy không biết trong khi nó đang hiện hữu, nó đang vận hành. Hoàn toàn không biết và mình nhận đó là mình.
Ví dụ: một cảm thọ bực bội, sanh khởi lên thì mình có cảm thọ nóng khó chịu thì mình phải biết cảm thọ đó là cảm thọ của thân. Phải phân biệt được hai loại cảm thọ: khổ thọ và ưu thọ.
Khổ thọ là cảm thọ khó chịu của thân.
Ưu thọ là cảm thọ khó chịu của tâm.
Mình phải phân biệt được, cho nên có khi cái thân khó chịu mà cái thân vui dễ chịu. Có khi cái thân khó chịu và vui như những buổi chùa có lễ, có giỗ tổ hay là mình có pháp hội gì đó. Tuy là mình phải thức khuya dậy sớm mà mình thấy đại chúng về tu, mình thấy các huynh đệ đông đủ về có mặt hết với sư phụ hay và với sư cụ, sư bà thì mình thấy vui, tâm mình vui mà cái thân mình mệt. Như vậy thì cảm thọ thân và cảm thọ tâm mình phải phân biệt được cái này.
Một trường hợp nữa là cảm thọ thân ảnh hưởng đến cảm thọ tâm.
Ví dụ như mình đi ở ngoài trời 39 độ C thì lúc đó thân mình đổ mồ hôi khó chịu thì nó ảnh hưởng vào tâm mình thấy hơi khó chịu. Là cảm thọ thân lấn qua ảnh hưởng qua cảm thọ tâm, lúc đó là dễ bực tức hơn bình thường.
Ví dụ: mình ở trong phòng điều hoà mát thì thân này dễ chịu thì tâm cũng dễ chịu.
Nhưng mình bước ra ngoài nhiệt độ 40 độ C là nhiều khi khó chịu, nói chuyện là cự. Là cảm chọ thân lấn qua cảm thọ tâm. Lúc này là ở ngoài xâm chiếm ở trong tâm, mình phải thấy được cái nào là cảm thọ của thâm, cái nào là cảm thọ của tâm phân biệt cho rõ.
Ngược lại cảm thọ tâm ảnh hưởng lên cảm thọ của thân.
Ví dụ: Mình đang ngồi khoẻ tự nhiên nghe một cuộc điện thoại là ba hay mẹ nhập viện rồi, bất ngờ nghe vậy thì lúc đó cảm thọ như thế nào. Hay là người thân thân nào có chuyện khi mình nghe một cuộc điện thoại giờ đang nhập viện nguy cấp thì lúc đó sao và sau khi nghe rồi thì mình lo lắng và sợ hãi. Thì đó là đó là thọ do nhĩ súc sanh, thọ từ bên ngoài đánh vô. Mình vừa nghe một cái là chấn động, lo lắng, sợ hãi. Mình giận ai, mình buồn ai tự nhiên mình muốn bỏ ăn, ngủ không được, ăn không được, bệnh thì đó là cảm thọ trong tâm ảnh hưởng đến cảm thọ của thân là tự nhiên mệt mỏi luôn. Ngoài đời có bệnh tương tư, không còn muốn ăn, muốn ngủ muốn làm gì hết có thể đi đến cái chết. Đó là ví dụ cho mình dễ hiểu đó, là từ bên trong đánh ra cái cảm thọ tâm, thì ra cảm thọ tâm quan trọng, quan trọng hơn rất nhiều đối với cảm thọ tâm. Thành ra sự luôn luôn thường trực để nhìn lại các cảm thọ sanh khỏi, an trú và nó chuyển biến và chấm dứt ở bên trong và hết sức quan trọng đó là công phu của sự tu hành của chúng ta. Đây không phải là trí huệ bình thường đâu, đây là thánh trí. Trí huệ năm quẩn là trí huệ của bậc thánh và mình đang thực tập là mình đang thực tập trí huệ của bậc thánh để mình thấu hiểu sự có mặt ở trong cảm thọ, mình thấu hiểu đặc tính của cảm thọ, mình thấu hiểu cái bản chất của các cảm thọ và mình phải có cách nhíp phục xử lí và thâm sâu nhất của bậc Alahan là diệt tận. Tuỳ theo khả năng của mình, mình nhíp phục được đôi phần là mình đỡ khổ đôi phần.
Ví dụ: ở chùa có khoá tu, có một vị này rất đặc biệt đi đến giảng pháp mà mình biết sắp xếp khéo léo mà làm trong bếp hay làm công việc của mình. Mình khéo léo sắp xếp thì giờ nghe pháp mình được sự còn nếu mình không khéo sắp xếp có khi mình không được dự, giờ đó mình mắc việc ở dưới nhà bếp ở đâu đó. Giờ đó người ta đang ngồi trên đó được an tịnh được trí huệ khai mở giờ mình dưới bếp cự với cô kia, người này ý này người kia ý kia rồi giận. Thì mình thấy mình lỗ nhiều không?
Lúc đó mình không nhìn thấy được cảm thọ sanh khởi, mình không thấy được khổ thọ lạc thọ khổ thọ bất lạc thọ, mình không thấy được ưu thọ xã thọ mình không thấy được. Cho nên trong bài kinh giới phân biệt Đức Phật dạy “tất cả cảm thọ là vô thường không đang hoan nhỉ” cảm thọ đó là những đối tượng không đáng để cho mình tham đắm, mình hãy ý niệm xả li đối với bất cứ một cảm thọ nào sanh khởi. Hãy có ý niệm xả li dù đó là lạc thọ, cảm giác khoang khoái thích thú. Hãy nhìn thấy bằng trí huệ, cảm giác này là cảm giác vô thường, dù nó vui như vậy, đang vui đang thích thì mình phải nhìn sâu vô, mình phải đọc được cái tên của nó và hiểu được bản chất của nó và nói rằng “cảm thọ này là một cảm thọ vô thường”. Không đáng để cho mình khoang khoái vui sướng thích thú và tham đắm hãy hướng tâm đến chỗ trí huệ là đó là người tu tập thực sự thâm sâu đó.
Tại sao vậy? Đức Thế Tôn nói trong Tương Ưng Bộ kinh. Nói rằng: “kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ, khổ thọ sanh khởi, thì người này tiếp nhận giống như là một người đang bị trói buộc” kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ vui sướng lạc thọ khởi lên thì người này giống như người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, không vui cũng không khổ thì kẻ phàm phu này có cảm giác không khổ không vui này giống như một người đang bị trói buộc. Tại sao vậy? Tại vì người này hoàn toàn không biết cảm thọ, không có trí huệ đối với cảm thọ.
Ở bên lớp trung cấp Minh Thành đang hướng dẫn giáo trình thánh trí năm quẩn. Giáo trình này đúng ra lớp cao đẳng tăng mới được học mà bây giờ hướng dẫn cho lớp trung cấp thì giáo trình này Minh Thành gọi là tiểu NIKAYA. Tức là người nào không có thời gian học hết năm bộ NIKAYA thì học cái này sẽ tóm thâu hết yếu nghĩa của NIKAYA. Mà đó là thánh trí của Năm Quẩn là tất cả trí huệ về năm quẩn của Đức Phật trong tạng kinh NIKAYA đều có hết ở trong này. Cho nên mình phải thành tự bảy loại trí huệ về cảm giác, nếu mình không biết là chết ngay, nó sanh khởi là mình chết ngay. Mình không biết thế nào là thọ, mình không biết từ đâu cảm giác nó sanh khởi, mình không biết từ đâu cảm giác này chấm dứt, mình càng không biết con đường đi đến chấm dứt là như thế nào. Mình không biết sự nguy hại, sự nguy hiểm của các cảm thọ và mình không biết được xuất li ra khỏi cảm thọ thì mình chết ngay thôi. Chỉ cần thọ khởi lên, cảm giác khởi lên là mình chết liền, nóng mình cũng chết, lạnh mình cũng chết, đều đều không nóng không lạnh tưởng đâu ngon mình cũng chết luôn.
Sướng cũng chết, khổ cũng chết, không sướng không khổ cũng chết vì mình vô minh đối với các cảm thọ. Mình không thấy không biết mà.
Đây nói đến tượng Phật sâu sắc hơn nữa. Khi mình lên chánh điện chắp tay niệm phật, có phải mình cho cái tượng đó là Phật không? trong tâm mình có cho đó là Phật không? Mình lạy xuống phải là mình cầu cho Phật gia hộ cho mình cái này cái kia không? Nếu như vậy là mình hoàn toàn không biết gì về Phật hết.
Cái này đa số mình bị rất là nhiều. Lúc trước Minh Thành cũng vậy. Khi mình nhìn lên bức hình, bức tượng, bức tranh mình tưởng đó là Phật và mình cầu bức tượng đó gia hộ cho mình. Đại đa số là vậy, lúc trước Minh Thành cũng vậy là mình không biết gì về Phật, mình đang trong sự mê tín đối với Phật, Mình không hiểu gì đối với Đức Phật. Đó là sắc pháp chỉ là một biểu tượng, chứ đó không phải là Phật. Khi mình nhìn thấy tượng như vậy, mình phải quay trở lại nội tâm nhìn lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mình nhìn lại nó như thế nào thì đó gọi là Phật thiệt, cho nên thấy năm quẩn là thấy Phật, phải học thuộc câu này. Tại vì sao? Vì ngài thành tựu thánh trí năm quẩn này mới thành tựu chánh đẳng chánh giác, mình thấy năm quẩn là thấy được chỗ mà Đức Phật giác ngộ. Mà tối ngày mình mình nhìn tượng bằng đồng, bằng vàng, bằng đá thì đó là tối ngày mình chạy theo sắc quẩn chứ đâu phải là Phật. Tối ngày cứ đi lựa tượng Phật hoài. Đi qua Butan thỉnh về, đi qua Ấn Độ thỉnh về rồi vô chất trong phòng bốn năm chục ông và chưa kể có bà trong đó nữa, nhiều khi vô chùa không biết là cái gì nữa. Thì cái đó là mình bị sắc quẩn lừa gặt rồi. Mình đang chạy theo sắc pháp, sắc quẩn, sắc tướng, mình không thấy được thực sự Đức Phật muốn dạy mình cái gì. Nếu mình chạy theo như vậy rồi ai vào rinh cái tượng mình quý nhất vậy có khổ không, sầu bi, khổ, ưu, não có không? Vì mình ái với sắc pháp đó rồi.
Đức Phật dạy: Này các tuỳ kheo ai quan hỷ, quan nghên và đấm trước đối với năm quẩn, đây là người tập khởi của tập khổ, tập khởi của sanh già bệnh chết sầu bi khổ ưu não. Ai không hoan hỉ, không hoan nghênh, không đấm trước với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì ta tuyên bố người này tận diệt toàn bộ khổ đau. Đó là tương ưng quẩn, tương ưng bộ kinh. Bài ngày thành kệ hô thiền của Linh Quy Pháp Ấn. Kệ hô thiền của Linh Quy Pháp Ấn không có ai soạn là toàn là của chánh đẳng chánh giác. Đó là thánh trí cùng tột của Đức Phật, tại sao mình không sử dụng mà mình đi tìm ai. Cho nên mình đừng trước Tượng Phật mình lạy thì mình phải biết rằng Đức Phật, bậc alahan đã tẩy sạch hết tất cả các cấu bẩn, huế trượt, diệt tận hết tham, sân, si và bản ngã. Mình đừng trước Phật lạy xuống là mình phải quay trở lại cảm giác của mình, để mình nhíp phục, đoạn tận các cáu bẩn trong nội tâm của mình, đó là lạy Phật, đó là tôn kính Phật. Chứ đâu phải hướng về cái tưởng cái hình đó gia hộ cho mình. Thành ra không kéo mình tu toàn trên sắc, thọ, tưởng, thành, thức không, tu ở trên suy nghĩ của ý hành chứ mình không có tu bằng trí tuệ.
Chỗ này rất thâm sâu nhiều khi suốt đời tu của mình cũng không thấy ra được. Hiện tại mình đang tu ở cái gì? Mình vướng mắc ở trên hình thức, ở trên lễ nghi quá nhiều, ở trên những màu sắc, cái tổ chức và mình không thấy được thức sự mục đích của sự tu tập là cái gì, mình đang làm cái gì. Cái tham dục của mình có giảm không, cái ái của mình có giảm không? cái sân hận của mình khi tiếp vương xuất cảnh khi trái ý nghịch lòng có giảm không, có lắng dịu không? sự si mê không nhìn thấy được các pháp, không thấy được năm quẩn nó vận hành. Mình có biết lúc đó mình đang bị si mê, vô mình hay không, thường là mình không biết. Rồi cảm xúc của bản ngã như thế nào mình có biết không, hay mình nhận cái đó là tâm mình. Mình không lo những cái cốt lõi trọng yếu đó mà mình cứ lo tối ngày, trồng cây cho đẹp, quét sân cho đẹp, sạch sẽ cho đẹp rồi mình chết ở trong cái đẹp đó.
Đó là như tầm kéo càng buộc càng bền, như bướm lao đèn tự thiêu tự đốt, hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh, náo loạn tâm thần, đều do ba độc. Tự mình nhã ra kén, tự mình buộc lên mình đó chứ, suốt ngày mình chau chuốt vô mình, tưởng, hình sắc mà không biết chính cái sắc quẩn này làm mình chết, nó làm cho mình ái, dục và tham. Chính cái thọ quẩn này cái cảm giác này giết mình nè, nó làm cho mình sầu bi khổ ưu não mà mình không thấy, nhận giặc làm con, nhận những cái này cho nó là mình, cho sắc là tôi, là tự ngã của tôi, cho cảm giác này là tôi, cho những nghĩ tưởng này là tôi, nhận thức này là tôi. Thâm sâu, thâm sâu, cực kì thâm sâu đây là thánh trí của chánh đẳng chánh giác phá tung hết tất cả các pháp không còn chổ y chứ cho ái cư trú được nữa. Mình tu nói bằng cái miệng, chỉ nói miệng thôi giỏi lắm suy nghĩ tưởng tưởng chút thôi chứ không phải bằng trí huệ. Làm sao để mình thấy? Phải nhận diện năm quẩn mình mới thấy được phải thường trực nhìn năm quẩn xem các cảm thọ hoạt động như thế nào. Các cái tưởng trong nội tâm vận hành như thế nào, suy nghĩ như làm sao phải thấy phải biết. Còn không tối ngày là mình nhìn ra ngoài không. Giờ mình ngồi trở lại, thật là ngao ngán, ngồi là nói toàn chuyện gì đâu không thôi, không nói về li tham, không nói đến chuyện từ bỏ, không nói đến chuyện viễn li, nói toàn là lòng vòng ở trong sắc pháp, sắc quẩn, cảm giác. Lòng vòng, lòng vòng trong suy nghĩ, tưởng tượng trong năm quẩn không thôi, nó không đưa ra pháp ly tham để từ bỏ nhàm chán. Mà mình nói không nhàm chán mà mình không thấy không biết sao nhàm chán, mà mình không nhàm chán thì mình tham thì mình chết. Hoan nhỉ hoan nghênh an trú và đấm trước, hoan hỉ sắc gì đẹp món đồ gì đẹp vui cười tươi rói hết, tặng gì là vui thích khoái là chết. Ở trong chương Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, Đức Thế ví dụ lợi ích lợi đắc cung kính cúng dường là mồi nhử của ác ma.
Hoan hỉ hoan nghênh an trú rồi đấm trước đối với năm quẩn là như vậy người đó là toàn bộ khổ quẩn này tập khởi. Cho nên hết sức là quan trọng các huynh đệ phải để ý thường trực đi đứng ngồi nằm bất cứ lúc nào cũng nhìn lại cảm giác toàn thân của mình. Kiểm soát cảm giác của mình. Chẳng hạn như khi Minh Thành chia sẽ cho lớp tăng bây giờ mình tập cái chuông nó reo kệ nó, mình phải tập cảm giác của mình an tịnh, đừng cho để một chút xíu mà nó làm cho tâm mình dao động. Mình phải tập, tập là được. Nó reo nó cứ reo mình tập cho tâm mình an tịnh, mình không để cho những âm thanh bên ngoài nó tác động, đó là mình bắt đầu thành tựu trí huệ. Còn nếu không cái nhỏ xíu mình không tạp được thì thôi những cái lớn đến là mình chết ngay, chết ngay không còn một giọt máu, xanh lè xanh lét hết không còn một gọt máu vì những cái nhỏ mình không tập. Tu rất nhỏ, vi tế mà nó hay mình tu được sẽ rất thích thú.
Ví dụ: Mình ở chùa đó mười lăm năm chỗ ngồi đó là chổ của mình, bữa nay có cô nào đến ngồi chỗ mình bây giờ có mình ngồi mãi ở dưới, ngồi chung với mấy chú tiểu ở dưới thì lúc đó mình đừng nhìn người đó, đừng có trách người đó, đừng đi theo những ý hành mà lúc đó phải quay lại cảm giác toàn thân như thế nào, cảm giác sanh khởi như thế nào, hoạt động như thế nào thì lúc đó hoạt động huấn luyện nó. Mình phải nói với chính mình đâu là chỗ của mình, lúc đầu lúc chưa đến thì đâu là chỗ của mình, tại sao cảm giác dính mắc luyến ái, chấp thủ này lại si ám như vậy. Phải huấn luyện cảm giác, huấn luyện ý hành, nhíp phục cảm giác sân hận, bản ngã mà cảm giác tôi của tôi phải quán chiếu nó. Mình phải nói với thân tâm đây không phải là chỗ của mình, chổ của mình là nghĩa địa, mai mốt mày dành ở chỗ đó, chỗ của mà phải là nhà cốt ở phía sau. Phải đánh tan cảm giác ta đây, gắn vô yêu thương ghế, yêu thương luôn cái mùi ở đó, mình phải triệt hạ nó, triệt hạ cảm giác đó, tưởng hành phải triệt hạ nó. Cảm giác nhiều lắm bất cứ lúc nào cũng có thể xâm nhập mìn hết. Đang bình thường bị sư phụ rầy một cái là cái mặt, hơn cái bánh bao chiều nữa, đó là rầy đúng chuyện mà rầy oan một cái là thôi, hết nói nổi luôn. Cảm giác vô thường sanh diệt, sự luyến ái chấp thủ về sắc, thọ, tưởng, hành thức khiếp không? chỉ cần chạm nhẹ một cái thôi là sắc mặt thay đổi. Trong khi đó mình bỏ cha mẹ của mình để thờ thầy của mình, dạy mình, mình vô đây để mình học mà dạy mình là mình bực mình. Đó là cảm giác khốn nạn nó làm cho mình khốn đốn, hoạn nạn, nó làm cho mình khốn khổ hoạn nạn hoài, mình phải chửi nó, chính mày làm cho tao không an tịnh, phiền não, phực bội hoài hết người này đến người kia. Chút chuyện gì cũng có chuyện, chạm tới là có chuyện. Mà vô văn phàm phu là đợi có chuyện thô rồi mới thấy, còn đa văn thánh đệ tử là mới mần nhỏ thôi là mình đã thấy rồi đó là mình đang thành tựu trí huệ về thọ quẩn, về tưởng, về hành, về thức. Mới động manh nha là mình thấy rồi mình tẩy sạch.
Ở trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật nói: Này các tuỳ kheo, vị tuỳ kheo nào mà khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm và vị đó khởi lên dục tầm, sân tầm, hại tầm mà vị tuỳ kheo đó không chịu nhiệt tâm tinh cần cố gắng tẩy sạch, diệt tận. Không chịu làm nó không còn trong nội tâm nữa thì tuỳ kheo đó là tuỳ kheo hạ liệt, hèn hạ, thấp hèn ở trong giáo pháp của Như Lai.
Dục tầm là những suy tầm về dục
Sân tầm là những suy tầm về bực bội
Hại tầm là những suy tầm muốn hại người ta.
Tức quá rồi suy nghĩ cách hại người ta đó là hại tầm, tà tư duy. Cho nên trước giờ mình ít nghe từ Hại Tầm hoặc là tư tưởng hại là tà tư duy. Cho nên chánh tu duy là li dục tư duy, li sân tư duy và bất hại tư duy ở trong bát chánh đạo.
Có thêm xã li tư duy là lúc nào tâm mình cũng hướng đến việc xả li, viễn li, xa lìa, xã li.
Ví dụ: Mình gặp chuyện hơn thua, người đó mới vô chùa mà muốn hơn mình, làm gì cũng muốn hơn. Mình xã li, mình nói với bản thân, hơn thua cái gì mình vô đây mình tu chứ mình đâu có vô đây để hơn thua, có gì đâu mà hơn thua.
Mình xã li, suy nghĩ đến sự xã li là chánh tư duy. Khi mình trú tầm được vào cái này là mình nhẹ nhàng lắm, an lạc lắm. Mình không trú được cái này là mệt, nặng nề, một ngày không biết bao nhiêu chuyện.
Vô lớp cũng có chuyện, ăn cơm cũng có chuyện, vô phòng cũng có chuyện. Người này mở lên người kia không chịu nghe, người kia mở quạt mạnh người kia không chịu. Cảm thọ nó có tuỳ thời điểm, vui là sao cũng được, buồn là nói chút là giận. Mình phải nhìn thấy được cảm xúc có cơn, lâu lâu hay bất thường, mình phải nhìn thấy khi nó bất thường, mình phải cẩn thận. Cái tưởng, hành suy nghĩ đang bất thường mình phải cẩn thận. Mình tu tập phải quản lí mắt, tai, thân, ý của mình. Quản lý lỗ tai, quản lí sự rõ biết của âm thanh, quản lí cái nhĩ xúc khi lỗ tai tiếp xúc âm thanh khi nhĩ thức tiếp xúc, quản lý nhĩ xúc, quản lý cảm giác khi lỗ tai nghe được tiếp xúc được, phải tỉnh giác, rõ biết. Sau khi thọ sanh ra tưởng, thành, sanh ra ái hay là sân hận, tham. Phải quản lí, kiểm soát, nó vận hành như thế nào. Nếu mình không có trí huệ sắc bén, sự tế nhị, không có trí huệ tinh vi thì không thấy được, làm sao mình thấy được. Mình chỉ thấy một đống này, bản ngã này, làm sao mình thấy được năm quẩn. Một đống thịt 60kg, người nào nặng thì 80kg, leo lên một cái cân là cân muốn nhổng luôn, nặng nề, tại vì mình không thấy được pháp thì thấy được bản ngã, cái tôi. Mình không thấy được, thì hoàn toàn kẻ vô văn phàm phu cho sắc là mình hết.
Đánh thương là khác, đánh giận là khác đủ thứ kiểu, muôn ngàn cảm thọ hết. Mình phải tập nhận diện các cảm thọ, các cảm giác. Đừng để cho tâm hướng ngoại, bên ngoài rất là mạnh, tà kiến là mình không thấy được năm quẩn. Lúc nào mình cũng một đống này, tôi của tôi, đi đâu chúng vác cái thân một đống, lúc nào mặt cũng hất lên, khen mình chê người, cống cao ngã mạng, dương dương tự đắc nó làm cho khổ sầu. Ở ngoài khổ rồi chạy vào chùa, vào chùa khổ rồi chạy lên thất vô thất khổ rồi không biết chạy đi đâu. Chạy hoài vì không biết nguyên nhân của khổ là từ chỗ không thấy được năm quẩn, từ chỗ dục, thâm, sân, bản ngã chứ không phải ai làm cho mình khổ. Giờ có ai làm mình như thế nào mà tâm mình hoàn toàn lắng dịu thì mình đâu có khổ, mình không có khổ. Mình chỉ thích đổ thừa, thích giác ngộ, thích trí huệ không chịu mà thích đổ thừa. Hở là tại chị kia, tại cô kia, tại với bị, thích đổ thừa, rồi tại thầy, tại sư phụ. Nó không quay trở lại nhìn thâm tâm mà lại mê tín hướng ngoại và tà kiến ba cái này xâm chiếm hết nội tâm. Mình không thành tựu trí huệ về năm quẩn là mình mê tín, mình hướng ngoại rồi mình tà kiến, rồi mình phải nhíp phục được tà tham trong tâm của mình, mình không nhíp phục được là khổ lắm. Cho nên ba chữ hay này: hoan hỷ, hoan nghênh và đấm trước. Mình phải quán chiếu, đừng an trú tâm mình ở trong sắc, an trú trong sắc mình gọi đó là của mình, tức là mình làm địa chỉ thường trú ngay trong sắc đó luôn. Mình cho chùa này là của mình, phòng này là phòng của mình, đồng hồ, áo quần, kiếng, chiếc xe, áo cặp tất cả những cái đó là mình an trú trong sắc. Mà sắc này vô thường, biến đổi thì sầu, bi, khổ, ưu, não nó sanh khởi. Bất cứ sự an trú nào mà an trú trong sắc thì an trú đó sanh cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình phải tập nhìn tất cả những thứ đó là tứ đại. Quán chiếu một đống thịt này, ngày nào mình cũng quán chiếu đống thịt năm sáu chục kí này, đây là một đống thịt, một bao thịt, một bao thịt chảy ra, chảy ra, nó lủng lổ chảy ra những thứ không thơm tho gì hết. Cứ ngồi thiền quán bao thịt này, bao thịt này, bọc thịt này làm cho mình khổ sở hoài, giờ đi tu vẫn còn khổ với bọc thịt này, bọc thịt tối ngày thúc dục mình đi tìm cái này, tìm cái kia. Bọc thịt mà tốt này đòi hỏi, muốn muốn, tìm tìm cho nó mệt rồi, nó già rồi, nó mệt mỏi rồi mà muốn đi tìm nữa đó là dục lậu đó.
Sai kiến mình đi tìm hoài, kiếm hoài, ngồi hoài không yên, ở một mình ở nhà không yên. Nó bày ra trò này, trò kia, hữu lậu giao động, mà tất cả cái đó là không thấy được năm quẩn, vô minh lậu, không thấy không biết tự thân của nó. Cho nên nó ngấm ngầm ba trạng thái: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, ba cái trạng thái này là một trạng thái tâm nhiễm, tâm mê. Nó mê, cái gì cũng mê, cái gì cũng mê, mà mình không nhìn ra được bản chất thực tín của năm quẩn là mình chết. Mình hãy nhìn đây là một đống xi măng, cốt xác không có gì hết, một đống đất, nước, gió, lửa thôi không có gì hết. Dù cho mình đến một ngôi chùa đẹp nhất thế giới thì thì đó là một đống đất thôi không có gì hết, tứ đại thôi không có gì hết, nó sẽ sụp đổ không sớm thì muộn. Mình nhìn như vậy thì nó đưa đến trạng thái li tham. Hảnh diện cái gì với cái bọc thịt này, ta đây cái gì với cái bao thịt này, ngã mạng cái gì tới cục thịt này, cục thịt mà bất cứ lúc nào nó cũng có thể bầy nhầy. Quán chiếu thâm sâu như vậy, phá tung sự bám chấp vào trong sắc quẩn, trong sắc pháp. Nó đưa mình đến trạng thái li tham đối với sắc pháp, đối với tất cả sắc chất tứ đại, sắc quẩn trên thế gian này. Đó là nó đưa mình dần dần đến thánh trí, trí huệ của bậc thánh. Mình tập nhìn bất cứ cái gì, một tờ năm trăm ngàn hay một tờ hai chục ngàn hay là tờ năm ngàn đây chỉ là tờ giấy thôi. Đây là sắc quẩn, sắc pháp tứ đại, đương nhiên nó khởi lên tham mà mình phải nhíp phục từ từ. Bây giờ một tờ năm trăm ngàn với tờ năm ngàn bỏ vào lửa nó cháy thành tro thì cũng giống nhau không? Cũng là tro thôi, rồi cái thân của một người bảy chục tuổi với người mười bảy tuổi đem vào lò thiêu thì cũng là tro thôi, là bao thịt đống thịt, cục thịt. Quán chiếu như vậy, quán chiếu như vậy thì người ta quỳ người ta lạy người ta cúng dường. Một đống chình ình đó người ta lạy là tổn phước. Tham đắm, hoan hỷ, hoan nghênh, đấm trước vào trong sắc pháp này nhìn thấy mấy món ngon ngồi đó chảy nước miếng. Lẹ lẹ để gắp nhai và nuốt, chết chưa, dục, tham, ái đó. Nhìn vào thâm sâu là đã lắm, tu cái này sướng lắm, nhìn nó lí thú lắm, vận hành trong đó, nó quậy mình trong đó. Tối này nó bắt mình phải đuổi tìm kiếm, truy tầm, tối ngày đòi chạy theo danh lợi tài sắc, nó đòi nghe, nó đòi ngửi, đòi nếm, đòi xúc chạm, nó đòi kiếm không dừng lại được đó là khổ thánh đế đó.
Đây là khổ đó, sự đòi hỏi thúc dục tìm kiếm đó là khổ đó. Ngày nào mà nó dừng lại, an tịnh lại thì lúc đó mình mới thấy được sự thức tỉnh của niết bàn. Tất cả dục, tham, ái, tất cả các cảm thọ nó yên tịnh lại hết mà nhìn thấu xuống bản chất trống rỗng, nhìn thấy một đống bọt, bong bóng nước, bong bóng da này. Quán chiếu bong bóng da này do nước, lửa bên trong phình ra, bữa nào xì bong bóng da thì nó nằm đó. Nhìn thâm sâu, thật là thâm sâu các cảm thọ đi, đứng, ngồi, nằm, lúc mình nói chuyện cũng coi cái cảm thọ. Coi cảm thọ khi nói có nói bằng bản ngã, khi nói có ta đây không? Mình khi nói chuyện mình phải nhìn, khi mình yên lặng mình phải nhìn luôn. Những suy nghĩ đó đang suy nghĩ cái gì, nó có suy nghĩ như lí tác ý chánh tư duy không? Nó có suy nghĩ xã li tư duy, nó có suy nghĩ bất hại tư duy không? Cho nên khi mình mắt thấy sắc, sự tiếp xúc, quay lại nhìn cảm giác liền, mũi mình ngửi mùi, lưỡi mình nếm vị phải quay lại trở lại nhìn cảm giác mình liền. Thân mình xúc chạm quay trở lại nhìn cảm giác lúc đó, quay trở lại liền, quay lại coi liền, coi cảm giác đó là gì có tham đắm không. Có tham ai trong đó không? có thì gỡ ra mở ra. Trú vô cái tâm xã, không chạy theo cái thích và không thích, chánh niệm tỉnh giác và trú xã. Chỗ mà an trú tâm xã là địa chỉ thường trú của người xuất gia chúng ta đó.
Trú vô tâm xã, không ưa thích cảm thọ dễ chịu, không có bực mình khó chịu với cảm thọ khó chịu, không có si mê lờ đờ với cảm giá trơ trơ không dễ chịu không khó chịu, lúc nào cũng phải có trí huệ để tháo gỡ. Cho nên nhiều khi mình không chết với cảm giác khổ thọ, không chết với cảm giác lạc thọ mà chết với cảm giác đều đều không khổ không vui mà mình chết. Tại cảm giác này đều đều hơn những cảm giác kia vì đâu phải lúc nào cũng vui, đâu phải lúc nào cũng buồn, cũng bực đâu mà cảm giác bất khổ, bất lạc thọ cảm giác này nhiều hơn. Rồi mình ở cảm giác này nhiều, rồi mình an trú trong cảm giác đó rồi mình cho rằng cảm giác đó là tâm mình, là tôi là mình chết. Cho nên kêu làm gì là mệt quá, bày ra công chuyện mà nói mệt quá, kêu đi chơi cũng không đi, không thích đi đâu, cứ ở nhà lù khù như vậy. Vì mình trú vào cảm giác không khổ, không lạc mình chưa thành tựu trí huệ nên không thấy được nên mình bị si, vô minh trong đó, trú trong đó. Khổ là chồng thêm cái bản ngã mình tu nhiều hơn người kia cái đó mới chết. Ai đi chơi thì đi tôi không đi, ai làm gì thì làm tôi không làm rồi tôi đóng cửa nuôi cái bản ngã.
,