Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Bốn Thánh Trí Năm Uẩn

2026-03-03 00:55:44
TINH HOA NIKĀYA

4 THÁNH TRÍ NGŨ UẨN

Thích Minh Thành

Chúng ta cần nắm vững bảy cách đoạn trừ phiền não vì tất cả những phiền não, tham, sân, si, mê lầm, lậu hoặc đều do bảy cách này mà được nhiếp phục, hóa giải và đoạn tận, nếu không nắm vững bảy cách này thì chúng ta không có phương pháp xử lý tham, sân, si, phiền não và lậu hoặc của chúng ta. Vì thế đây là những cách thức, đường lối, phương pháp để xử lý những tham muốn, nóng giận, si mê, chấp ngã dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não của chúng ta. Chúng ta phải chịu khó để nắm được phần cốt lõi trong đây.

Ba cách trong bảy cách đoạn trừ phiền não:

Các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.

Các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ.

Các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.

Cách thứ nhất là do thấy biết (tri kiến) được thân tâm của mình, thấy biết được sắc, những cảm giác (thọ), những hình bóng trong tâm (tưởng), những suy nghĩ (hành), những sự rõ biết (thức) trong tâm. Sở dĩ người này làm cho ham muốn, sân hận, phiền não, vô minh chưa sanh được sanh khởi là do người này suy nghĩ những thứ không cần suy nghĩ còn những thứ cần nghĩ thì lại không nghĩ đến, những cái cần quán sát, nghiền ngẫm thì người này lại không quán sát, những cái không cần suy tư, nghiền ngẫm thì người này lại suy tư cho nên dục lậu chưa sanh được sanh khởi, dục lậu đã sanh được tăng trưởng, phát triển, đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã cũng vậy. Những điều cần tác ý thì người này lại không tác ý, những cái không cần tác ý thì người này lại tác ý, không cần suy nghĩ thì cứ suy nghĩ nhưng chuyện cần phải nghĩ lại không nghĩ. Cái cần suy nghĩ "đây là khổ", "đây là nguyên nhân của khổ", "đây là sự chấm dứt khổ", "đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ" là những điều cần suy nghĩ, suy tư, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, cần tác ý, quán sát. Chúng ta phối hợp Tứ Thánh Đế với năm thủ uẩn thành bốn Thánh trí về ngũ uẩn:

Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.

Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và khát ái.

Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.

Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.

Đây là sự kết hợp giữa Thánh trí năm uẩn và Tứ Thánh Đế, vì khi giảng Tứ Thánh Đế mà nói "Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu mà không gặp là khổ, ghét mà phải gặp là khổ, mong cầu mà không được là khổ", khi chúng ta giải thích như vậy sẽ không thấy khổ vì nó rất mông lung nhưng khi chúng ta đánh thẳng năm thủ uẩn là khổ sẽ làm sáng tỏ được mọi thứ. Vì thế trong kinh tạng Nikāya có một câu làm nên lịch sử mà bên Phật Giáo phát triển không có trong Tứ Thánh Đế, tức là ngoài những cái khổ nêu trên thì Đức Phật nói câu cuối tóm lại năm thủ uẩn là khổ, đây là câu cốt tủy tóm thâu tất cả trí tuệ chứng đắc về khổ của Đức Phật. "Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ" những cái khổ này nằm trong sắc uẩn, "yêu mà không gặp là khổ, ghét mà phải gặp là khổ, mong cầu mà không được là khổ" nằm trong thọ uẩn cho nên bảy cái khổ này không đầy đủ bằng một câu cuối tóm lại năm thủ uẩn là khổ, câu này làm rực sáng mọi thứ như Mặt Trời. Minh Thành rất thông cảm cho mọi người học giờ trưa rất buồn ngủ, Minh Thành ở gần đây nhưng vẫn phải qua trước bốn mươi đến bốn mươi lăm phút vì sợ kẹt xe, đúng một giờ Minh Thành có mặt ở văn phòng, chẳng thà chờ các huynh đệ chứ không để các huynh đệ chờ Minh Thành.

Trong bài kinh Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu cho rằng thân xác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì thấy thân này đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, sáu mươi năm, thậm chí đứng vững một trăm năm cho nên kẻ vô văn phàm phu cho thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Nhưng có những người tu nhìn thấy thân này vô thường, mong manh, tạm bợ nên người ta không cho thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.

 "Và này các Tỳ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'.

Do vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

Này các Tỳ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.

Vì sao? Này các Tỳ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỳ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, I. Hạng Người Ít Nghe)

Những cảm giác này sanh rồi diệt, những hình bóng này khởi lên rồi diệt, những suy nghĩ này sanh ra rồi chấm dứt, lúc nghĩ vầy lúc nghĩ khác và tâm này thường xuyên thay đổi. Kẻ phàm phu không đủ trí tuệ để nhìn thấy được thọ; tưởng; hành; thức để biết được nội tâm này là sự sanh diệt vô thường, biến đổi, tan hoại. Khi Đức Phật trình bày trí tuệ về năm uẩn đã làm chấn động biết bao nhiêu ngàn thế giới cho nên chúng ta cần nắm vững trí tuệ nền tảng cốt lõi này để thấy được vấn đề. Mình cần nhớ diệt là diệt vô minh và tham ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng xin thưa đại chúng điều này rất thâm sâu, vi diệu và cực kì khó khăn. Cảm giác vui sướng muốn bỏ cũng không phải dễ dàng, chỉ riêng việc buồn ngủ còn chống không nổi, khi nó sanh khởi là xâm chiếm, áp đảo chứ đừng nói gì đến những cái sâu xa như các tầng thiền định mà chỉ cần vào sơ thiền thôi là mình đã thích thú, cho nên các người ngoại đạo khi đi đến các tầng thiền đó là ra không được, những người ngoại đạo ở Ấn Độ như phái Ni-kiền-tử (Jain) cho đến giờ vẫn đi ngoài đường trần truồng, không mặc quần áo, các vị này tu khổ hạnh cực đoan, xem việc hành hạ thân xác là phương tiện cứu cánh để được giải thoát và họ rất xem thường thân xác này, người ta chỉ chú trọng cái tâm để ly dục, diệt dục và do họ ly dục nên việc họ vào được sơ thiền là chuyện bình thường, không khó đối với họ. Tuy nhiên khi đi vào thọ uẩn thì họ bị dính mắc trong đó, không đi ra được vì họ cảm thấy cảnh giới đó an lạc, thanh tịnh, sung sướng, họ lấy đó làm chỗ cứu cánh và cho đó là Niết-bàn, tu tới đó là tốt lắm rồi nhưng Đức Phật còn thâm sâu hơn nữa, đi đến đâu ngài đều nhìn ra từng ngõ ngách, căn nguyên làm sanh khởi lên sắc, thế nào là sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, thế nào là vị ngọt, sự nguy hiểm của sắc và con đường chấm dứt sắc hoặc thế nào là thọ, thế nào là sự sanh khởi, chấm dứt của thọ, thế nào là vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm của thọ và con đường thoát ra khỏi thọ, mỗi uẩn có bảy trí tuệ, tổng cộng tất cả ba mươi lăm loại trí tuệ. Những loại trí huệ này phải thuộc lòng thì vào tu quán mới biết được, ví dụ thức ăn tập khởi là sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, vậy là được hai loại trí tuệ. Các vị Thánh A-la-hán vẫn trùng tiên Tam Tạng, vẫn trùng tiên kinh tạng và luật tạng, trong bài kinh Phúng tụng Đức Phật rất tuyên dương việc đọc thuộc lòng vì đây là một trong những pháp có khả năng thừa kế, truyền trì những lời Đức Phật dạy trong kinh tạng.

"Này các Hiền giả, thế nào là Pháp được Thế Tôn chúng ta khéo giảng dạy, khéo trình bày, một pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh do vị Chánh Đẳng Giác trình bày? Ở đây, tất cả cần phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Này các Hiền giả, có một pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị này đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người". (Trung Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Nếu không học thuộc lòng thì Chánh pháp sẽ chấm dứt cho nên hiện tại ở Myanmar có những vị Tam Tạng pháp sư học thuộc lòng cả ba tạng để truyền trì Chánh pháp, chính Minh Thành qua đó đảnh lễ dưới chân các ngài, lâu lâu ở đây cũng thỉnh các ngài về vì thế chúng ta phải chịu khó trùng tụng, học thuộc lòng là một trong những cách để giữ gìn và truyền thừa Chánh pháp, đến ngay cả các bậc Thánh Tăng A-la-hán cũng học thuộc kinh tạng cho nên chúng ta đừng xem thường "đây là lớp sơ cấp mới học còn mình lên lớp giảng sư rồi không học nữa", đó chính là bản ngã, đừng suy nghĩ như vậy vì đó là phi Như lý tác ý, suy nghĩ sai vì các bậc Thánh Tăng A-la-hán còn đọc thuộc lòng thì huống chi mình vẫn còn phàm phu, vì thế cần đọc hân hoan, hoan hỉ trong pháp và cần đọc một cách thành kính, thiết tha, nhiệt tâm, cho nên đây là thiện pháp rất lớn. Vừa rồi Minh Thành rất hoan hỉ vì ở thiền viện Phước Sơn cũng cho trùng tụng tạng kinh, Minh Thành cũng thưa với thầy trụ trì chùa Hoằng Pháp, thầy cũng hoan hỉ và nếu đủ duyên thì thầy cũng tổ chức tụng, ở Linh Quy Pháp Ấn chưa đủ nhân duyên vì nếu đủ thì Minh Thành cũng đã làm, nên tụng đọc lại tạng kinh và nhất là chánh tạng, nếu không đọc tụng thì mình không nhớ, nếu không nhớ thì không thể tu. Nhờ đọc mà chúng ta đánh tan được cơn buồn ngủ, nhờ đọc mà chúng ta có sự hân hoan, động lực, có nguồn sức mạnh thâm nhập được văn huệ, từ việc đọc rồi tư duy trong lời đọc thì có tư huệ để mình nhớ rồi hành trì, vì thế trong buổi học của chúng ta luôn có phần đọc trả bài, đó cũng là cách để mình cố gắng học bài. Các thầy, các cô nhớ điều này để hướng dẫn Phật tử, phải có trả bài vì chỉ nói thì mọi người không nhớ gì cả, vì thế học thuộc và nắm vững những yếu nghĩa của pháp phải có chứ không thể chỉ có nói thì mọi người sẽ không nhớ gì cả.

Thế nào là sự xuất ly khỏi sắc?

"Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn tận dục tham đối với sắc, đây là sự xuất ly của sắc". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ) 

"Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Chúng ta đã trình bày xong bảy Thánh trí về sắc uẩn: Thế nào là sắc, thế nào là sắc tập khởi, thế nào là sắc đoạn diệt, thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là sự nguy hiểm của sắc, thế nào là sự xuất ly khỏi sắc và thế nào là con đường đưa đến sắc đoạn diệt, tức là sắc diệt đạo.

 "Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỳ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Thế nào là thọ? Được cảm giác, cảm xúc nên được gọi là thọ.

Thế nào là thọ tập khởi? Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi.

Thế nào là thọ đoạn diệt? Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt.

Thế nào là thọ diệt đạo? Con đường Thánh đạo Tám ngành.

"Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ, đây gọi là sự xuất ly của thọ". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ) 

Đây đều là những bí kíp Chánh pháp, học rồi chúng ta sẽ thấy lợi ích của nó vô cùng, vô tận về sau. Khi nói đến sắc; thọ; tưởng; hành; thức chúng ta sẽ biết nó là gì, từ đâu nó sanh, từ đâu nó diệt, cái gì là vị ngọt và sự nguy hiểm của nó, làm sao để thoát ra khỏi nó và con đường thoát ra là như thế nào đều được chúng ta nắm rõ, nhưng đầu tiên phải chịu khó học thuộc lòng.

./.