Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 11

2026-03-03 00:55:44
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 11

TỔNG CƯƠNG LĨNH PHẬT PHÁP LÀ GÌ?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực tập nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc126342209 \h 1

II.Quán chiếu khi ăn PAGEREF _Toc126342210 \h 3

III.Nhiếp phục dục tham PAGEREF _Toc126342211 \h 4

IV.Hai đức hạnh quan trọng của người tu PAGEREF _Toc126342212 \h 11

V.Quán chiếu đời tu PAGEREF _Toc126342213 \h 14

Thực tập nhận diện ngũ uẩn

Sự tu không nằm trong những chuyện xa vời, mà chính trong những lúc ăn uống, nói năng, làm việc, ngủ nghỉ… Ngay trong chính giờ học cũng thể hiện mức độ chánh niệm tỉnh giác, nhiệt tâm, tinh cần của mỗi người, điều này cũng thể hiện qua những gì ghi trong vở, cũng như cách ngồi, cách nghe, cách trình bày. Một người không nắm vững pháp khi trình pháp sẽ bị lộn lạo, đó cũng là lí do nhiều vị e sợ, không muốn chia sẻ. Vì vậy, chúng ta phải có hiểu biết căn bản về pháp, căn bản trí phải được thành tựu, tối thiểu nhất là biết thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn. Nếu có bất cứ thắc mắc, nghi vấn nào về pháp hành Nikāya, chúng ta hãy đặt câu hỏi để được làm sáng tỏ những vấn đề chưa hiểu. Học mà không hỏi, không trình thưa, không để tâm tìm hiểu thì người đó không nhiệt tâm trong sự tu học. Người nhiệt tâm có rất nhiều câu hỏi, rất nhiều vấn đề muốn trình bày.

Mời quý thầy cô nhận diện ngũ uẩn trong hai tuần qua trong chính thân tâm mình hoặc ngũ uẩn vận hành khi có duyên xúc diễn ra như thế nào? Đây là những bài tập không phải nằm trên sách vở, mà là bài tập thật sự trong đời sống thiền môn của chúng ta. Cho nên, đây là những giây phút quý báu, là những bài tập sống động trong thân tâm mình, chúng ta cần nhiệt tâm, hợp tác trong sự tu học để đem lại lợi ích cho tự thân, cũng như những vị sau này khi mình chia sẻ pháp.

Sư thầy:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên thầy giáo thọ và đại chúng. Thời gian vừa qua, trong cuộc sốngcon có rất nhiều hoàn cảnh, nhiều sự tiếp xúc, nhiều đối tượng khác nhau. Điều làm con để tâm nhận diện ngũ uẩn nhiều nhất là trong khi ăn cơm và khi tu học.

Trong lúc thọ trai, nhất là khi con đang đói thì sắc uẩn có sự biến đổi, dạ dày phát ra tiếng sôi, con có sự rõ biết về nhĩ thức. Lúc dùng cơm, con có cảm giác hơi khó chịu vì bụng đang trống rỗng. Khi tiếp xúc với những màu sắc, mùi thơm, hương vị khác nhau của các món ăn; được đưa thức ăn vào miệng thì con nghĩ về những khung cảnh về các món ăn, hương vị trước đây đã từng trải qua. Mặt khác, trong lòng của con có sự thúc giục, khiến cho mình gắp liên tục. Điều này làm cho tự hỏi tại sao vừa ăn muỗng này xong mình lại đưa lên ngay muỗng khác như vậy. Những lúc đó, có khi con có cảm giác bế tắc vì không có câu trả lời cho mình; nhưng cũng có lúc con cảm thấy có sự dễ chịu khi truy xuất được lí do mình ăn liên tục như vậy là do có sự tham muốn. Khi đó, con tiếp tục tự hỏi, tại sao phải ăn, đó là vì phải sống… Cứ như vậy, con cứ trả lời những câu hỏi tiếp theo. Tuy chưa tìm được câu trả lời như mong muốn nhưng con phần nào hiểu được tất cả là do dục tham của bản thân nên có cảm thọ dễ chịu. Nhờ ứng dụng kiến thức được học về ngũ uẩn, cũng như tam pháp ấn nên con cảm thấy sự truy hỏi của mình không sai với Chánh Pháp.

Sư thầy:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên thầy giáo thọ và đại chúng. Con xin nhận diện ngũ uẩn tuần vừa qua của mình. Thời gian qua có rất nhiều sự kiện, nhưng sự kiện nổi bật con nhớ nhất là khi hình bóng của cha xuất hiện trong tâm con. Cha con là người nghiện rượu nên trước giờ khiến cho gia đình rất khổ sở. Là một người tu sĩ, con luôn tìm cách khuyên nhủ, giúp cha thay đổi. Hình bóng cha hiện lên trong tâm con là tưởng uẩn. Những cảm thọ nhớ nhung, cũng như cảm giác khó chịu khi cha khiến cho mẹ con và gia đình phải khổ đau là thọ uẩn. Hành uẩn suy nghĩ rằng con sẽ cố gắng tu tập để hồi hướng và chuyển hóa, giúp đỡ cha để cha con thoát khỏi cuộc sống cũ, từ đó có được cuộc đời hạnh phúc hơn. Thức uẩn là sự rõ biết về những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ trong tâm.

Trong con cũng có tâm ái luyến, những hình bóng về gia đình còn chi phối trong tâm con. Những ái luyến đó còn thúc giục con, làm mình không chuyên tâm tu tập được, dẫn đến sự tu học bị trì trệ.

Sư cô:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên thầy giáo thọ và đại chúng. Đầu tiên, con xin tri ân sâu sắc, cung kính đối với giáo thọ sư. Thưa thầy, con xin nhận diện ngũ uẩn trong thời gian tu học vừa qua. Dù có rất nhiều sự kiện xảy ra nhưng trong đó có một sự kiện khiến con để tâm rất nhiều. Đó là khi sư tỷ của con điện về nói rằng tạm dừng việc học ở đây lại để theo một vị thầy hướng dẫn thiền. Tỷ nói với con rằng cuộc đời người quý nhất là khi tìm được một vị thầy tâm linh cho mình và cơ hội không đến lần thứ hai. Vì thời gian cứ trôi, tuổi tác ngày một lớn, lúc đó khả năng tu tập của mình cũng bị suy giảm, chưa chắc rằng mình có thể tu học tốt được. Khi nghe chia sẻ như vậy, sư phụ của con hoan hỷ cho chị ấy ra đi. Tâm thức con lúc đó bị đánh động rất mạnh. Cảm thọ lúc đó có sự tiếc nuối và cũng có một chút phân vân, vì trước đó, con chưa muốn vào trường Phật học, con chỉ ở chùa nghe pháp của thầy giảng và thực hành theo, con mong một ngày có đủ nhân duyên, được sự đồng ý của sư phụ để đến Linh Quy Pháp Ấn một lần. Đây là ước mơ con không dám nói ra, khi thấy sư tỷ mạnh mẽ thực hiện ước mơ của mình, con thấy trong con có sự thúc giục, đồng thời cũng có sự lo sợ, vì nếu con ra đi thì sư phụ con chắc chắn sẽ không hoan hỷ nên con không dám xin phép. Từ đó đến nay, trong con lúc nào cũng nhớ đến những câu sư tỷ chia sẻ, mỗi một phút giây trong lòng con đều có sự đấu tranh. Khi đó, con ngồi lại nhận diện ngũ uẩn và khởi lên ý hành, hiện tại con đang học ở trường, sư phụ con rất khó khăn mỗi lần làm giấy tờ cho con. Bây giờ, con chưa đủ nhân duyên để đi tìm thầy, nên con cố gắng lên lớp học tập, nghe pháp và thực hành theo, đến khi đầy đủ nhân duyên, đủ sự mạnh mẽ thì con sẽ quyết tâm hơn.

Quán chiếu khi ăn

Nhiều người nghĩ rằng, trong lúc ngồi thiền, khi trên chánh điện, lúc đắp y hậu, cầm chuông mỏ, mở kinh sách ra đọc tụng mới là lúc tu học. Còn khi ăn uống không phải lúc tu; hoặc lúc đọc “cúng dường thanh tịnh pháp thân…” mới là tu, đến khi bắt đầu dùng bữa thì ăn và tu không liên quan gì đến nhau, hiểu như vậy là không đúng. Sự tu nằm trong tất cả thời gian, tất cả sinh hoạt. Trong mỗi ánh mắt của người đối diện, chúng ta cũng có thể đọc được ngũ uẩn đang vận hành thế nào. Đó có thể là ánh mắt đang hoan hỷ, đồng lòng với những gì Minh Thành đang chia sẻ; bên cạnh đó cũng có những ánh mắt biểu lộ sự chống đối, chống cự. Không phải đợi đối phương nói ra mình mới biết được, mà trong ánh mắt họ đã biểu lộ lên rất nhiều điều, phương pháp nhận diện ngũ uẩn đặc biệt như vậy.

Có ba trạng thái tâm trong khi học: một là trạng thái đồng lòng, hoan hỷ; hai là trạng thái chống đối, bất mãn, không thích; ba là trạng thái trơ trơ, không phải không thích, cũng không phải chống đối. Đó cũng là ba trạng thái của tham, sân, si; từ trong ánh mắt, biểu cảm của người khác chúng ta có thấy được. Khi học được trí về ngũ uẩn, chúng ta sẽ đọc được thân tâm chính mình một cách chính xác, đồng thời đọc được thân tâm người khác một cách chính xác. Tuy nhiên, trước tiên chúng ta phải đọc sự vận hành thân tâm của chính mình trước, nếu chỉ lo đọc của người khác thì chỉ mang đến phiền não.

Vấn đề chúng ta đang tìm hiểu là nhận diện, quá chiếu thân tâm trong khi ăn, đây là vấn đề rất quan trọng. Vậy, trong khi ăn cơm, chúng ta phải tu thế nào? Minh Thành đã có những chia sẻ rất chi tiết trong bài Cách Ăn Cơm Của Đức Phật, cũng như bài Chánh Quán Thọ Thực trong quyển Nghi thức tu học Nikāya. Trong đó hướng dẫn cách thọ thực của đạo trạng Nikāya trên Linh Quy Pháp Ấn, nghi thức này không giống trước nay chúng ta từng biết. Cách ăn cơm này giúp chúng ta nhìn ra được những thúc giục, ham muốn, khoan khoái lúc ăn; từ đó ta có cách chế ngự, nhiếp phục những tham muốn đó.

Nhiếp phục dục tham

Tất cả giáo pháp của Đức Phật đều đưa đến mục đích, đạo lộ, phương pháp để nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận dục tham, nói ngắn gọn là “ly tham”, người tu chúng ta cần nhớ thật kỹ. Điều này được nhắc đến rất rõ trong kinh tạng Nikāya, một lần các thầy Tỷ-kheo đến đảnh lễ Đức Thế Tôn trước khi các Ngài đi xa, Đức Thế Tôn hỏi các thầy đã gặp và xin phép Ngài Xá Lợi Phất chưa, nếu chưa thì hãy đến và gặp Xá Lợi Phất. Các thầy Tỷ-kheo vâng lời Thế Tôn, đến gặp Ngài Xá Lợi Phất và được Ngài Xá Lợi Phất chỉ dạy như sau:

Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): " Bậc Đạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? " Được hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời: " Này các Hiền giả, bậc Đạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham ".

Được trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm câu hỏi như sau: Có những vị Sát-đế-lỵ hiền trí... có những Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát ( có thể hỏi ): "Đối với cái gì, bậc Đạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?" Được hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: "Đối với sắc, này các Hiền giả, bậc Đạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, bậc Đạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham ".

(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, I. Phẩm Nakulapità, bài kinh Devadaha)

Nhiếp phục lòng tham muốn đối với sắc là nhiếp phục dục tham đối với hình hài chính mình, đối với tiền của, vật chất, hình hài của những người khác. Nhiếp phục lòng tham muốn đối với thọ là nhiếp phục lòng tham muốn đối với những cảm giác. Nhiếp phục dục tham, chế ngự dục tham đối với những bóng trong tâm là tưởng. Nhiếp phục dục tham, chế ngự dục tham đối với những suy nghĩ trong tâm là hành. Nhiếp phục dục tham, chế ngự dục tham đối với những nhận thức trong từng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc.

Không nói đâu xa, đang ngồi học mà nghe tiếng chuông đánh hết giờ là bên trong bắt đầu có sự thúc giục; hoặc khi có tiếng xây dựng, ồn ào là trong tâm cũng khởi lên sự khó chịu. Qua đó, ta thấy rằng, dục tham trong thân tâm mỗi người là hết sức khủng khiếp, chúng tràn ngập khắp mọi nơi trong thân tâm này, chỉ khi nhận diện được ngũ uẩn thì mình mới thấy được chúng. Đừng tưởng lấy đồ của người khác mới là tham; cãi nhau với người khác mới là sân… người không đi tu cũng biết những điều này, nếu sự hiểu chỉ hạn hẹp như vậy thì đi tu để làm gì. Người tu phải thấy được tham, sân từ khi chúng còn là mầm mống, manh nha, máy động trong thọ, tưởng, hành của mỗi người. Kẻ vô văn phàm phu không thấy được những điều này; chỉ có Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và đệ tử của Ngài biết nhận diện ngũ uẩn nên mới nhìn thấy.

Trong mỗi cái nhìn của chúng ta cũng chất chứa dục tham. Thứ gì đẹp thì mình nhìn hoài, còn những thứ không đẹp, không hấp dẫn thì không ai nhìn. Tại sao lại như vậy? Điều này được nhắc đến trong một bài kinh:

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sàriputta:

-- Thưa Hiền giả, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt?

Này Hiền giả Kotthika, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử

Nghĩa là con mắt không buộc các sắc, các sắc cũng không buộc con mắt nhưng tại sao mắt cứ nhìn các sắc? Tôn giả Xá Lợi Phất đáp rằng, do ở khoảng giữa mắt và các sắc có dục tham, chính dục tham nay là sự trói cột con mắt và các sắc lại với nhau. Do đó, khi mắt gặp các sắc sẽ bị dính mắc, trói buộc vào đó. Cũng vậy, con mắt không buộc người đẹp, người đẹp cũng không buộc con mắt, nhưng ở khoảng giữa con mắt và người đẹp lại có dục tham, tâm tham, chúng ta thọ người đẹp, cảnh đẹp đó nên có sự trói buộc.

Ví như, này Hiền giả, một con bò đen và một con bò trắng bị cột lại bởi sợi dây hay cái ách. Nếu có người nói con bò đen là kiết sử của con bò trắng, hay con bò trắng là kiết sử của con bò đen, thời nói vậy có phải nói một cách chơn chánh không?

-- Thưa không.

-- Này Hiền giả, con bò đen không phải là kiết sử của con bò trắng. Và con bò trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đen. Do sợi dây hay cái ách cột lại, cái ấy ở đây là kiết sử.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, III. Phẩm Biển, bài kinh Kotthika)

Cũng vậy, lỗ tai không bị buộc với những bài nhạc trữ tình, nhạc trữ tình cũng không bị buộc với lỗ tai này, thế nhưng, chỉ cần nghe được bài nhạc ưa thích thì cảm thọ liền sung sướng, khoan khoái, dính mắc, muốn nghe thêm, muốn kéo dài cảm thọ ưa thích đó càng nhiều càng tốt. Bởi lẽ, lỗ tai không buộc với những âm thanh, các âm thanh cũng không trói lỗ tai, mà ở giữa lỗ tai và âm thành có dục tham trong đó.

Mũi đối với các mùi, lưỡi đối với các vị cũng vậy, cái miệng này không bị buộc với đồ ăn ngon, đồ ăn ngon cũng không trói cái miệng này, nhưng giữa chúng có dục tham, khi xúc thì sanh thọ, sanh dục, sanh nghiệp. Xúc ở đây gồm sáu xúc, là sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mắt vừa tiếp xúc với đồ ăn ngon là nước miếng tươm ra, cảm thọ thúc giục bên trong sanh khởi, nếu cứ đọc kinh, cúng kiếng mà chưa được ăn thì bụng đói cồn cào, không được ăn, khi đó, tham không được đáp ưng sẽ chuyển thành sân. Nếu không nhìn thấy tham, sân thì người đó đang si, thấy người khác làm như vậy là chướng ngại với mình, từ đó lại sanh khởi đúng sai, phải quấy, cao thấp, hơn thua… tất cả những điều này đều vận hành trong vô minh, dục, ái, bản ngã. Các pháp trong khi ăn sanh khởi như vậy, trong chúng ta được bao nhiêu người nhận diện được những pháp đó. Hay chỉ thấy trước mặt là những món ngon, béo bổ và ăn như vậy là ăn trong vô minh, ăn trong sự mù lòa, ăn trong sự không thấy không biết các pháp, ăn không có chánh niệm tỉnh giác, ăn không tu tập. Dù có tụng bao nhiêu kinh, mà cái gốc tham dục, mê đắm bên trong không được nhìn thấy, không được chế ngự, nhiếp phục thì không thể đi đến đoạn tận.

Thân này dính mắc với những sự tiếp xúc, ví dụ đơn giản, khi ngồi bàn gỗ, lúc ngồi ghế salon và khi ngồi bẹp dưới đất sẽ có cảm thọ khác nhau, nếu trong đó có sanh khởi tham, sân, si thì phải lập tức nhiếp phục. Khi ngồi trong máy điều hòa, phải xem lại cảm giác dễ chịu có sự ưa thích, trong đó có tham; khi ra bên ngoài, trời nóng, cảm thọ bắt đầu khó chịu, đồng thời trong đó sẽ có sân. Cần rà soát tâm mình từng chút một như vậy, đó là quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp trong Tứ Niệm Xứ, nền tảng của Tứ Niệm Xứ chính là ngũ uẩn. Không có ngũ uẩn là không tu được, vì ngũ uẩn chính là thân tâm này, nếu không có thân tâm thì không tu được. Cũng như tảng đá thì không thể tu, mặc dù nó cũng là sắc uẩn trong tứ đại, nhưng nó không có phần tâm. Cho nên, nếu không nắm vững được phương pháp nhận diện ngũ uẩn thì không thể tu học một cách chính xác, chánh trí để đưa đến sự chế ngự, nhiếp phục thân tâm một cách đúng đắn, đầy đủ, có hiệu quả. Thân này khi tiếp xúc với đồ vật, con người… nếu không phòng hộ sẽ tham đắm, chấp thủ đến chết cũng không nhả ra được. Một khi dính mắc vào là sụp đổ hết tất cả những sự tu học của mình.

Ý với các pháp cũng vậy, ý dính mắc với những cảm giác, hình bóng suy nghĩ trong tâm. Ví dụ, khi nghĩ về chính mình, có hình bóng lờ mờ của tự thân hiện ra trong tâm, mình thấy ưa thích hình bóng đó, chấp nhận hình bóng đó là mình, đó gọi là tưởng thủ uẩn. Chúng ta cũng yêu thích những suy nghĩ của mình, cho rằng suy nghĩ của mình là số một, là đúng đắn, chấp vào suy nghĩ đó, cho suy nghĩ đó là tôi, là của tôi, đó gọi là hành thủ uẩn. Những cảm giác sanh khởi lên chúng ta cũng nắm giữ, xem đó là tôi, là của tôi, đó là thọ thủ uẩn. Chính sự chấp thủ, ưa thích, khoan khoái, chấp chặt sắc, thọ, tưởng, hành, thức là mình là ta không đi ra khỏi ngũ uẩn được. Hơn thế nữa, chẳng những chúng ta chấp cái thân này, ngay cả hình bóng về cái thân này mình cũng nắm giữ. Thậm chí đến những thứ bên ngoài chúng ta cũng nắm giữ, gọi là ngã sở hữu, cho rằng mọi thứ là của mình. Chính ý nghĩ tham muốn, nắm giữ đó gọi là ái và thủ đối với dục tham. Nắm giữ là một trong mười hai chi phần của Thập Nhị Nhân Duyên, đây là nguyên nhân dẫn đến những đời sống sanh tử, phiền não, khổ đau. Khi nào phá được dục tham trong suy nghĩ đối với ngũ uẩn, không xem đó là mình, là của mình, không thấy hoan hỷ, khoan khoái, ưa thích, chấp nhận, nắm giữ, phá được ái và thủ đối với ngũ uẩn thì lúc đó chúng ta mới có khả năng thoát ra khỏi ngũ uẩn, gọi là giải thoát. Cho nên, giải thoát chính là thoát khỏi ngũ uẩn, thoát ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Vậy, làm thế nào để đối trị được với dục, tham? Tu một ngày hai thời, nghe giảng pháp ngày vài cử thì có nhiếp phục được hay không? Sự tu thật sự không phải chuyện đơn giản, đây là cả một công trình lật đổ hoàn toàn tất cả những tư duy mê lầm, tà kiến; phá tan, phá đổ, phá nát, phá sập tất cả hệ điều hành trong nhận thức của vô minh. Thay vào đó là minh kiến, minh trí, minh nhãn, Thánh nhãn của Phật, khi đó, mới gọi là thành tựu Chánh kiến, Chánh trí, Thánh tri kiến, Thánh trí tuệ. Còn cứ tu phớt phớt cho qua ngày thì không một ai có thể chứng quả, không người nào có thể đắc nào. Bởi lẽ, cứ tu trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì chỉ dung chứa thêm tham, thêm sân, thêm si trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chứ không đạt được sự xuất ly khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong khi xuất ly khỏi ngũ uẩn mới trở thành Thánh nhân. Chính vì vậy, ngài Xá Lợi Phất nói với các thầy Ty-kheo sắp đi du phương rằng, Đức Thế Tôn dạy để xuất ly khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì phải nhiếp phục dục tham, chế ngự dục tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Còn hầu hết chúng ta bị các dục dẫn đi hết chỗ này đến chỗ kia mà tưởng rằng đó là đang tu. Thậm chí còn thích đi đây đi đó để ngắm cảnh đẹp mà không biết mình đang bị cái gì chi phối. Đến khi nào thành tựu được sự thấy đúng trong pháp thì chúng ta mới thấy toàn bộ đời sống này bị vô minh, tham ái điều khiển, vận hành, sai khiến. Vì vậy, điều cấp thiết nhất của người tu chúng ta là tầm cầu chánh kiến, thành tựu sự thấy đúng về thân tâm. Muốn thấy đúng thì phải nhận diện được ngũ uẩn, thấy được sự vận hành của tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, vô minh; nếu không thấy được những thứ đó thì không thể tu được. Người này chỉ lo nhìn ra ngoài, thấy người này thành công, chùa kia to lớn, người này đạt chức vị cao, kẻ nọ đẹp xấu, cao thấp, mập ốm, trắng đen, giàu nghèo. Những pháp đó là những pháp thông thường, sẽ bị sụp đổ, tan hoại, đến khi ấy mình sẽ khổ, sầu, bi, ưu, não.

Vì vậy, người tu phải hướng đến chỗ nhiếp phục dục tham, chế ngự dục tham, đoạn tận dục tham – đó chính là giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát. Sự tu mà hướng đến ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức là chúng ta đang đi đúng con đường của Đức Phật, đúng đạo lộ của bậc Thánh; đi ra khỏi con đường này thì không phải là Thánh đệ tử, không phải là người Phật tử. Chính vì vậy, muốn phá được dục, tham là cả một công trình vĩ đại, miên mật, xuyên suốt. Trong từng hơi thở, từng phút giây, từng cảm giác, từng tư tưởng phải loại trừ được tất cả dục, tham. Cho nên, đây không phải chuyện đơn giản. Bài kinh “Devadaha” là tổng cương lĩnh của toàn bộ Thánh điển Nikāya. Nắm được cương lĩnh này thì tất cả sự tu học của chúng ta sẽ đúng theo Chánh Pháp.

Ví dụ, khi vừa mua một chiếc điện thoại mới mắc tiền, mình sẽ rất thích thú, hoan hỷ, lạc thọ, cầm lướt web, trải nghiệm không rời. Xài điện thoại mới chưa được lâu thì đi ngoài đường mình bị giật điện thoại, chẳng những mất điện thoại mà còn té đập đầu, lúc này chỉ toàn khổ thọ. Chiếc điện thoại này là thứ vô thường nhưng nó chính là thứ khiến con người sanh khởi lòng tham nên bị dính mắc vào. Vừa rồi, có một vị trụ trì bị tòa án xét xử tù chung thân vì lừa gạt người khác sáu mươi tám tỷ.

Thật sự khiếp sợ trước lòng tham của con người, chính nó là hung thủ làm cho chúng sanh đau khổ trong vô lượng, vô số, vô thỉ kiếp. Người tu đối với những gì khiến người khác tham muốn thì mình không được làm, chúng ta phải đi ngược lại những thứ đó, như vậy gọi là nghịch lưu, tức là ngược dòng. Nếu không, chúng ta cũng nhào vào những thứ người đời tham muốn thì mình cũng sẽ bị u đầu mẻ trán. Người tu đúng theo tinh thần Đức Phật phải từ bỏ những thứ khiến chúng sanh tham muốn, đó là bản sắc, bản chất của Phật giáo khi Đức Thế Tôn còn tại thế. Người tu chúng ta bây giờ phải đi đúng theo đạo lộ đó thì mới có thể giải thoát.

Với một người thật tu, khi có được chiếc điện thoại mới hay chiếc xe đời mới thì biết bản chất của những thứ xa xỉ này có khả năng nguy hiểm, càng sở hữu chúng thì càng lo lắng, đi đâu cũng sợ mất. Những thứ càng có giá trị thì càng mang đến những nỗi lo sợ, bất an. Người trí là người không làm những việc đem đến cho mình sự bất an, sợ hãi, khổ đau, sầu bi, ưu não. Ngày xưa, Đức Thế Tôn khi đi khất thực hay đi giảng pháp không bao giờ có chuyện lo tinh xá Ngài đang cư trú không ai trông coi. Người tu chúng ta cần thấy rõ những điểm này để tu đúng đường của Đức Phật, nếu tu sai thì không thể gặp được các bậc Thánh chúng, không thể gặp được Thế Tôn.

Phải xem xét trong khi trình pháp, trong khi ăn, trong khi nói năng thì dục tham vận hành như thế nào; trong sinh hoạt, trò chuyện với mọi người bản ngã sanh khởi ra sao; trong mỗi lời nói phải xem mình có sự cao ngạo, tự cao, tự đại, tự mãn không; từng cử chỉ, hành động của mình có sự khiêm cung, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm hạ, khiêm nhã hay chưa? Đây là những chỗ chúng ta cần tu, là chỗ chúng ta phải nhiếp phục bản ngã, cái tôi xuống.

Ngài Xá Lợi Phất dạy chúng ta an trú tâm như nùi giẻ rách để nhiếp phục, chế ngự bản ngã. Vì bản ngã lúc nào hất mặt lên nên dù học hoài cũng không đi đến được cánh cửa vô ngã. Còn làm học trò đã lên mặt, xem sư phụ, thầy cô không ra gì, bên trong là một cái tâm ngạo mạn, kiêu căng thì tu không được gì, dù tu một ngàn kiếp thì vô minh, bản ngã vẫn không thay đổi.

Hai đức hạnh quan trọng của người tu

Thế nên, hai yếu tố quan trọng của các hành giả trong đạo Nikāya là tu tập tâm hiền và thực hành hạnh diệt ngã. Hai pháp này không thành tựu là không vào dòng pháp này được, sau một thời gian là tự động văng ra, vì ở nơi ai cũng hiền, chỉ có mình dữ thì khó ở lại được. Ai ai cũng khiêm cung, riêng mình cao cao, phách lối thì không thể bước qua cánh cửa nhỏ được. Trước thất Minh Thành, có một cây trẻ ngã nghiêng qua một bên, chắn ngang đường đi, các chú ở chùa định chặt đi thì Minh Thành không cho chặt, mà nhờ mấy chú lấy những cây khác đỡ cây tre ngã đó. Từ đó, những ai sắp bước vào thất phải cúi đầu xuống mới bước qua được, còn không cúi thấp xuống thì không thể đi qua. Nhiều người mới đến sẽ thấy bất ngờ, vì trước cửa thất có một cây tre nằm ngã nằm ngang, được những cây khác chống đỡ, ai vào thì cúi đầu bước qua. Đây là pháp khiêm hạ, đốn chặt bản ngã.

Kẻ thù thật sự của tất cả chúng ta chính là bản ngã – tâm cao ngạo, khắc nghiệt, kiêu căng, hống hách, ngạo mạn… Khi nào diệt tận được tâm này thì chúng ta mới tu được, bằng không, tâm này còn tồn tại là không bao giờ tu được, dù tu một tỷ kiếp thì vẫn là phàm phu. Muốn tu tập được Chánh Pháp thì phải hạ được bản ngã theo chín cách an trú tâm của Ngài Xá Lợi Phất trong bài kinh “Sau khi an cư”, đây là pháp hành của Tôn giả Sàriputta – tướng quân Chánh Pháp, thượng thủ của hành Thánh chúng.

Cho nên, hai yếu tố đầu tiên khi bước vào Chánh Pháp là tâm hiền lành và sự khiêm hạ. Trước khi Minh Thành vào dòng pháp này, lúc còn ở trong am tranh trên núi, Minh Thành đã cho làm mái tranh của thất khai sơn phủ xuống thật thấp, ai muốn bước vào am tranh cũng phải cúi đầu. Lúc mới hình thành am tranh trên núi, những người có trách nhiệm ở địa phương đã đến xem xét, lớn tiếng hỏi ai đến dựng thất trên núi. Đúng lúc ấy, Minh Thành đang ngồi tại một chiếc bàn tre, phía trên có hình Phật Thích Ca Mâu Ni đang thiền định. Người này phải cúi đầu bước vào bên trong, khi vừa ngẩng lên thì thấy phía trên là hình Đức Phật ngồi thiền, phía dưới là Minh Thành cũng đang ngồi yên ngay bàn tre, cảnh vật xung quanh lan tỏa sự bình an. Người này bỗng dưng nhẹ nhàng, nói rằng Minh Thành lên núi tuy cực khổ nhưng là nơi tu rất tốt, từ đó về sau, những người ở địa phương đều hỗ trợ cho Minh Thành tu học an ổn.

Qua đó, ta thấy rằng, thâm ý trong sự tu rất quan trọng, Minh Thành ở chùa gần ba mươi năm, đã từng nhìn rất nhiều người không tu được đều do bản ngã. Những vị này không học pháp được, mà ngày càng tăng trưởng ngã kiến, tức là lấy những tri thức đó bồi đắp cho bản ngã ngày càng lớn, chứ không học để phá ngã. Đây là kinh nghiệm rất sâu sắc trong đời tu. Vì vậy, trong khi chia sẻ, nói chuyện với mọi người, dù là giáo thọ sư, là thầy, là sư phụ nhưng Minh Thành đều xưng “con” là để thực tập phá ngã. Danh và tướng thường liên hệ với thọ, tưởng, hành, khi xưng “tôi”, xưng “sư phụ” thì cảm thọ trong người mình sẽ khác với lúc mình xưng “con”. Đối với những người lớn tuổi, bằng tuổi cha, tuổi mẹ, tuổi ông, tuổi bà mà mình xưng “cô”, xưng “thầy” thì mình phải là người đầy đủ giới, định, tuệ; nếu không đủ những đức hạnh đó thì nguy hiểm không lường, tai họa nằm trong đại từ xưng hô.

Càng cúi xuống nhiều chừng nào thì càng gần với đạo chừng đó, hãy cố gắng tập hạnh cúi đầu, khiêm cung. Cũng như mặt đất này rộng lớn, thấp bé, bị tất cả mọi người, mọi loài đạp xuống mà đi nhưng nó chuyên chở tất cả chúng sanh, lúc nào cũng nằm dưới chân người khác.

Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong

Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,

Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt, hơn thua.

(Đảnh lễ Đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất)

Tâm hiền là đức hạnh tuyệt đối quan trọng của người tu, trong kinh Nikāya, các vị Tỳ-kheo gọi nhau là chư Hiền, Hiền giả, các bậc Hiền trí. Bây giờ, Minh Thành trước khi chia sẻ sẽ mở đầu bằng câu “Kính thưa các bậc Hiền trí, Tăng Ni”, đây chính là pháp hành, nhắc nhở tự thân mình và mọi người tu tập tâm hiền, phát triển trí tuệ để thật sự là những bậc Hiền trí trong Phật giáo. Ngày xưa, các vị Thánh Tăng và Thánh chúng gặp nhau sẽ gọi là “chư Hiền, các Hiền giả, các bậc Hiền trí”, đây là những từ thông thường thời ấy, cũng giống như từ “các thầy, quý thầy” ngày nay chúng ta dùng. Minh Thành sử dụng những từ trong kinh Nikāya là vì muốn Chánh Pháp của Đức Phật được khơi lại, được nhắc nhở, được khắc ghi vào tim và phát ra từ miệng mỗi người, chứ không còn là món đồ cổ hàng ngàn năm trước, những từ này phải được tái hiện trong đời sống sinh hoạt bây giờ. Ít nhất khi học Nikāya, chúng ta hãy tập gọi nhau là “Hiền giả”, “Hiền trí” để cùng nhắc nhau tu tập tâm hiền, không được hung dữ, đừng tu mà người khác nhìn mặt mình phải sợ.

Minh Thành thật sự có lúc không dám nhìn vào những người học trò của mình, vì Minh Thành thấy trong đó là tâm sân hận, tâm hung dữ, không được nhiếp phục, khi đọc được sự vận hành các ngũ uẩn đó, Minh Thành không dám nhìn nữa. Tu mà như vậy là điều rất nguy hiểm. Ở chung nhau chứng kiến những ánh mắt rực lửa, trừng trợn, huých háy, liếc ngang liếc dọc thì thật sự đáng sợ. Những điều này đúng ra tuyệt đối không nên có ở một người tu. Chúng ta phải cố gắng diệt tận, từ bỏ những điều này. Trong Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò, Đức Thế Tôn dạy người tu phải nhìn nhau với đôi mắt nhìn thiện cảm, đó là người tu nhìn người tu với nhau, đừng nói chi đến ánh mắt nhìn những bậc giáo thọ, sư trưởng, trưởng thượng của mình. Đối với các vị ấy, chúng ta cần phải nhìn bằng ánh mắt cung kính, tôn trọng, từ tâm dù trước mặt hay sau lưng.

Quán chiếu đời tu

Thật sự hiện tại Minh Thành không muốn đi giảng dạy nhiều nữa, vì đời này hiếm có người chân tu, nếu không khéo, mình nói Chánh Pháp mà người nghe lại có sự chống đối, vì bên trong tâm họ đầy rẫy tham, sân, si và bản ngã. Do đó, mạt pháp xuất hiện là do sự thật không được tôn trọng, không được quý trọng; thay vào đó, mọi người giờ đây quý trọng danh lợi, địa vị, còn người chân tu ít được nhắc đến, ai có chức cao mới được nhắc nhiều, có tiền nhiều mới được tôn trọng nhiều, có quyền lớn thì mới được kính trọng lớn. Đây chính là nguyên nhân khiến cho Chánh Pháp ngày càng mai một.

Mỗi năm, hàng ngàn người được xuất gia, thọ giới nhưng người thật sự đặt tâm tầm cầu sự giải thoát chân chánh đếm trên đầu ngón tay. Nhìn thấy những giới đàn có hàng ngàn người nhưng bên trong Minh Thành không hề có sự vui mừng, vì không biết các vị sẽ đem đến nhiều lợi ích cho Phật pháp hay lại càng làm tổn hại giáo pháp của Thế Tôn. Cho nên, đừng nhìn vào số lượng, đừng nhìn vào hình thức bên ngoài, mà hãy nhìn sâu xa vào bản chất của vấn đề. Chúng ta bây giờ chạy theo hình thức, số lượng rất nhiều. Hội họp lại với nhau toàn hướng đến mặt hình thức, còn sự chân thành tu học thật sự hiếm có, hy hữu.

Chánh Pháp khó nghe là vậy, chúng ta không dễ được nghe, không dễ được học, không dễ được gặp; những gì chúng ta thường gặp chỉ là tượng pháp, tức là chỉ có một chút tương tự, giông giống Chánh Pháp nhưng những pháp này không có khả năng đoạn tận tham, sân, si; không có khả năng diệt trừ bản ngã; không có khả năng giúp ta nhìn thấy những lậu hoặc, mê lầm, cấu nhiễm trong tâm. Mà nhìn còn không thấy được thì làm sao chúng ta có khả năng chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch và đi đến lậu tận.

Chính vì vậy, biết bao người tu cứ quờ quạng giữa trời đêm, không thấy được Chánh Pháp. Dù ở chùa đến chết, học được bằng cao nhất nhưng cuối cùng cũng không thấy được tham, sân, si, bản ngã thật sự nếu không được gặp bậc Minh Sư, bậc thành tựu chánh kiến, minh kiến, chánh trí hướng dẫn. Vì vậy, chúng ta cần để tâm thật nhiều vào sự tu tập, không cho phép mình học pháp một cách qua loa, hành pháp một cách phớt phớt ngoài da, mà phải đi sâu vào trong xương tủy của Thánh Pháp.

Minh Thành không biết mình có thể chia sẻ với quý thầy cô được bao lâu nữa, Minh Thành chỉ biết hy vọng quý thầy cô là sẽ là những người nhiệt tâm, tinh cần, đem hết tất cả tấm lòng của mình đặt vào sự tu học. Quý thầy cô hãy đặt hết tất cả tấm lòng, tất cả trái trái, tất cả sinh mạng của mình để cầu học Chánh Pháp. Đó mới là động lực để Minh Thành tiếp tục giảng dạy, mỗi tuần vượt gần 500 cây số để đến lớp. Còn con đường Minh Thành thật sự muốn hướng đến là đi vào rừng tu học và chỉ hướng dẫn cho những ai thật tâm đến cầu pháp.

Hãy tự nhìn lại sự tu học của bản thân ngay hiện tại để xem chúng ta đã có sự xót xa, đau lòng, trăn trở, ưu tư hay chưa? Hay mình cứ trơ trơ qua ngày đoạn tháng? Thuở xưa, thái tử Tất Đạt Đa đã thao thức, trăn trở vô cùng mới chứng ngộ được pháp. Cho nên, sự tu này không phải chuyện đơn giản, chúng ta đừng suy nghĩ một cách quá ngây thơ rằng người ta sao mình vậy. Thay vào đó, hãy tìm cho mình lối đi đúng theo Thánh đạo của Đức Phật. Dù phải đánh đổi cả sinh mạng, xem thường mạng sống thì cũng quyết tâm cầu pháp. Phải có tâm thật sự mạnh mẽ, dám từ bỏ tất cả mới có thể tu được. Còn tu mà thứ gì cũng muốn, cái gì cũng thích, không dám từ bỏ thì không thể tu được. Vì vậy, người tu chúng ta phải có tâm mạnh mẽ, đại hùng đại lực, xả vô lượng tâm, dám buông bỏ để tìm cầu giác ngộ.

Hãy nhìn lại và tự hỏi xem sự tu học của mình đi đến đâu; mình có được dự vào hàng bốn đôi tám chúng của Đức Phật không; đạo lộ của bậc Thánh như thế nào mình có biết không; mình đang ở đâu trên đạo lộ đó? Chúng ta tu mà hoàn toàn không biết gì hết, như vậy cả một đời tu rồi sẽ đi về đâu? Vậy mà không thao thức, không trăn trở để tu học! Thậm chí có những người hy sinh cả thân mạng, đem tất cả tâm huyết chỉ dạy mà mình vẫn không chấp nhận, còn phô bày bản ngã ra với họ.

Người chân tu phải thật sự trăn trở, tha thiết, nước mắt đầy mặt, gánh một gánh nặng của thiện pháp; người này luôn thao thức, dày vò, ray rứt, đau khổ vì không tìm ra được đạo lộ thật sự của Đức Phật. Còn chúng ta tu mà không biết mình đang ở trong trên đạo lộ này, không biết đâu là đạo lộ chân truyền của Đức Phật thì sự tu đó là tu trong vô minh, tu trong bóng đêm, tu trong mù lòa.

Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỷ-kheo, cái gì mù lòa?

Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập IV, bài kinh Mù Lòa)

Khi nào ý thức được bản thân đang bị mù thì lúc đó mình mới bắt đầu sáng mắt. Khi nào ý thức được bản thân đang vô minh thì lúc đó minh mới được sanh khởi. Thế nhưng, chúng ta không chấp nhận mình đang sống trong vô minh, ai chỉ lỗi một chút là sân hận, ầm ĩ lên: “tôi vô minh lúc nào”, “tôi giận hồi nào”. Đây là sự đau đớn nhất của người tu, những người đầu tròn áo vuông, những người Thánh đệ tử của Đức Phật. Chính chúng ta đi còn không đúng đường, tu không thấy được kết quả thì hướng dẫn người khác đi đến đâu? Đức Phật gọi đây là một người mù dẫn một đoàn mù đi xuống vực sâu. Cần phải trăn trở, thao thức, suy nghĩ, mất ăn bỏ ngủ vì lý tưởng tu hành càng nhiều càng tốt.

Đây là những lời tâm sự của Minh Thành với các bậc đồng Phạm hạnh. Mong các vị hãy duy trì những cảm thọ này và kéo dài ra để có cơ hội khởi động lại thân tâm. Đừng chấp nhận con người hiện tại, đừng chấp nhận nội tâm cấu nhiễm của mình. Phải luôn luôn hướng thượng, vượt lên để nắm được cơ hội thăng tiến trong pháp và luật của bậc Thánh.

./.