Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

MỤC ĐÍCH THÁNH PHÁP LÀ GÌ 1

2026-03-03 00:55:44
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 5

MỤC ĐÍCH THÁNH PHÁP LÀ GÌ 1?

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Mãi là người học trò PAGEREF _Toc152225108 \h 1

II.Bộ sách Tinh Hoa Nikāya PAGEREF _Toc152225109 \h 2

1.Bối cảnh đạo Phật ngày nay PAGEREF _Toc152225110 \h 2

2.Nhân duyên hình thành tập sách PAGEREF _Toc152225111 \h 3

3.Mục đích của tập sách PAGEREF _Toc152225112 \h 6

Mãi là người học trò

Con thường tự xưng là “đệ tử Minh Thành” hay “con trò Minh Thành” để tự nhắc nhở bản thân, cho dù mình học tới đâu đi nữa cũng là học trò của Tăng đoàn, là thành viên trong Tăng đoàn, chỉ là một thành viên nhỏ bé mà thôi. Trong các Pháp cung kính thì có cung kính Tăng, cung kính bậc Đạo sư, cung kính Pháp, cung kính Thiền định. Thành tựu pháp cung kính để không buông lung, phóng dật, cung kính để tùy thuận vui vẻ đón tiếp. Các vị phải nhớ mình là Tăng Ni Sinh, luôn nhớ mình là khất sĩ, ý nghĩa từ khất sĩ là người xin ăn. Chỉ cần nhớ một chữ đó thôi là đủ sức để chúng ta nhập lưu và chứng thánh quả A-la-hán. Một trong chín Pháp an trú tâm của ngài Xá Lợi Phất là an trú mình là kẻ ăn xin thấp hèn hạ liệt, nếu chúng ta quên mình là kẻ ăn xin thì bản ngã sẽ sanh khởi. Những từ đó là những đề mục chiêm nghiệm để thiền quán, để suy xét.

Nhất là những vị đang còn ngồi trên ghế nhà trường, đây là thời điểm tốt để tu tập. Phải tu làm sao mà ba mươi năm nữa vẫn nhớ mình chỉ là học trò, là đệ tử nhỏ bé mà thôi. Phải nuôi dưỡng đức khiêm cung, khiêm hạ thì đạo hạnh mới tăng trưởng. Điều này rất quan trọng vì khi nhìn qua oai nghi, cách nói chuyện, cử chỉ, hành vi sẽ biết chúng ta có hành trì hay không, có phòng hộ, có nhiếp phục, có hộ trì căn, có an trú cảm giác toàn thân hay không. Đó chính là thân hành niệm.

Chúng ta còn nhớ thân hành niệm là gì không? Thân hành niệm gồm có mấy phần?

Mô Phật, con nhớ rằng thân hành niệm là an trú trong tứ oai nghi, tất cả các hoạt động đi đứng nằm ngồi đều tỉnh thức, ví dụ khi đưa tay thì biết đưa tay, khi đi biết đi, khi ăn nói biết ăn nói. Đó là những ví dụ căn bản của thân hành niệm.

Mô Phật, thưa thầy thân hành niệm là: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm 32 thể trược, niệm 9 giai đoạn của một tử thi.

Sáu khía cạnh của niệm thân là pháp hành căn bản quan trọng, là đề mục thường nhật hằng ngày của chư vị Tỳ kheo thời đức Phật còn tại thế. Niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động chúng ta có thể dễ quán chiếu. Bài kinh Tứ Niệm Xứ là bài kinh cốt tủy, nếu chúng ta không thuộc sẽ không biết cách thực hành. Chính Pháp hành này hướng dẫn chúng ta tự tu, cho dù giảng giải nhiều cũng không ra khỏi pháp hành này. Đó chính là niệm thân trong tứ niệm xứ. Thế nào là niệm tứ đại?

Kính bạch Thầy, theo con nhớ thì niệm tứ đại là niệm 32 thể trược, quy về tứ đại là đất nước gió lửa. Những phần xương, thịt mục nát ra sẽ trở về địa đại, phần hơi thở trở về phong đại, phần máu mủ sẽ trở về thủy đại.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Con kính bạch Thượng Tọa cùng quý huynh đệ. Niệm tứ đại là niệm thân gồm danh và sắc. Ở đây niệm tứ đại là niệm về phần sắc gồm có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại. Khi nói về hỏa đại là nhiệt lượng, hơi thở nóng lạnh trong thân, thủy đại là chỉ cho nước mắt, nước mũi, ghèn, những kết dính trong thân hòa hợp. Nói về địa đại là nói về xương, phong đại là chuyển động trong thân. Chuyển động trong thân về tứ đại là vô thường, biến đổi, dịch chuyển và quán đến nhân duyên hòa hợp của tứ đại mà có sự sanh khởi về thân này.

Bộ sách Tinh Hoa Nikāya

Bối cảnh đạo Phật ngày nay

“Tập sách này ra đời nhằm mục đích làm sáng tỏ lại lời dạy chân chánh của đức Phật vốn đã bị mai một khá nhiều cùng với khoảng thời gian lịch sử khá dài trên hai ngàn năm trăm năm. Với một quá trình lịch sử chìm nổi, đầy biến động trong Phật giáo trên hai ngàn năm trăm năm qua; với những cuộc thảm sát, tàn sát, hủy diệt của Hồi giáo đối với Phật giáo; với sự thêm bớt của người đời sau về những lời dạy của Đức Phật, với sự phát triển tràn lan của những tư tưởng cá nhân được đưa vào trong đạo Phật; với sự chia rẽ tông phái, môn phái, trường phái trong Tăng chúng, thì đạo Phật ngày nay ví như một chén mật ong đã bị pha tạp thành một hồ nước lớn. Do đó, một hành giả chân chánh trong đạo Phật khó lòng tìm thấy được hương vị ngọt dịu, vi diệu, thần diệu và giải thoát của những lời dạy nguyên chất của đức Phật ngày xưa. Đây là chỗ khó khăn, là chỗ khốn đốn, khốn khổ cho những hành giả muốn dấn thân vào trong đạo Phật, muốn đi sâu vào đạo Phật, muốn tìm hiểu thực hành và thể nhập thâm sâu vào giáo phát, vào sự thật, vào pháp hành mà Đức Phật đã chỉ dạy”.

Sau khi đức Phật nhập diệt đã có sự chia rẽ trong tăng chúng, phân ra hai mươi bộ phái và truyền thừa qua nhiều quốc gia khác nhau. Trải qua mấy ngàn năm, khi qua đến nước Việt Nam thì phân thành nhiều nhánh và xuất hiện nhiều tư tưởng cá nhân, với sự thêm bớt của người đời sau vào lời dạy của Đức Phật. Đức Phật không dạy như vậy, do đó chúng ta phải hết sức cẩn thận. Những tông phái, môn phái, trường phái từ một chén mật ong pha ra thành một hồ nước. Cho nên một người thật sự chân tu muốn tìm về cội gốc pháp hành của đức Phật là cả một vấn đề thiên nan vạn nan, vô cùng khó khăn. Mỗi người tu tập theo một hướng và pháp hành nào thật sự là Pháp hành của đức Phật tu nếu mình không truyền thừa tạng Kinh Nikāya này thì thật sự không biết đường đi.

Nhân duyên hình thành tập sách

Với những thuận duyên hiền thiện, tốt lành của đời trước và đời này, chúng tôi đã tiếp cận được với những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, chúng tôi lại có cơ duyên thực hiện công trình phân loại kinh Nikāya, phân loại những lời dạy nguyên chất của Đức Phật và chúng tôi lại được duyên lành trong thời gian vừa làm công tác phân loại kinh, vừa tu tập, thiền tập theo những lời dạy của Đức Phật trong bộ kinh sách này. Nhờ vậy, chúng tôi đã thể nhập được đôi phần trong những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, chúng tôi đã phát hiện ra cốt tủy trong những lời dạy của Ngài, chúng tôi thấy rõ con đường đi của mình, thấy được con đường trực chỉ đi đến sự thanh tịnh thân tâm, chấm dứt sanh tử.

Tập sách này được chúng tôi viết ra với lòng từ mẫn, với tâm chân thành, với lòng tha thiết, tha thiết mong cầu, tha thiết trao gửi, tha thiết mong muốn đưa hành giả trở về với cội nguồn của Phật Pháp, đi đến gần với lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Qua đây, hành giả được thấy, được nghe và được hành trì theo những lời dạy vi diệu, tuyệt vời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuở xưa để hành giả không bị tiền mất, tật mang, uổng công, vô ích khi đi theo những lỗi rẽ, ngõ cụt trong Phật giáo ngày nay, đi theo những cành lá trong đạo Phật ngày nay, không đạt được trí tuệ chân thật về tự thân và cuộc sống, không nhìn ra được những hoạt động của dục, ái, tham, sân, si, bản ngã trong tự thân và không đào thải hoàn toàn khỏi thân tâm tất cả những cấu uế, những rác bẩn này.

Tác giả tập sách đã phân loại kinh Nikāya gần mười năm, làm đi làm lại rất nhiều lần và phân loại thành 500 chủ đề, Ban Văn Hóa Linh Quy Pháp Ấn đã xây dựng nên ứng dụng phân loại kinh Nikāya. Trong khi vừa làm công việc phân loại kinh, tác giả đã ứng dụng theo những lời dạy của đức Phật trong kinh và tự thiền tập, tự tu tập. Nhờ vậy mà thể nhập đôi phần những lời dạy của đức Phật và phát hiện ra cốt tủy trong lời dạy của Ngài. Thấy rõ con đường trực chỉ đi đến sự thanh tịnh thân tâm chấm dứt sanh tử. Tác giả không có thầy hướng dẫn, không có sư phụ truyền thừa mà sư phụ chính là đức Phật trong tạng kinh Nikāya. Tác giả đã tự mình tìm tòi nương theo tạng kinh và thấy được đạo lộ trong khoảng thời gian mười năm phân loại kinh. Tác giả có tiền sử bệnh ung thư, nan y từ nhỏ, một mình ở nơi đất khách quê người bên Pháp Quốc nhưng phải cố gắng vượt qua các cảm giác rất khủng khiếp và khốn khổ để tu tập, nghiên cứu, làm việc đã cho thấy sức mạnh của Ngài rất phi thường. Trong khi vừa nghiên cứu, vừa phân loại, vừa kết hợp với thiền tập thì tác giả phát hiện ra cốt tủy trong thời đại của đức Phật là Ngũ Uẩn.

Minh Thành đã từng đi đến các thiền viện lớn trên thế giới ở Myanmar, Srilanka, Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc Châu, đến tu viện Ngài Achan Jah, trung tâm thiền quốc tế nhưng chưa thấy ai hướng dẫn đầy đủ về Thánh Trí Ngũ Uẩn và cho đến khi gặp Ngài thì bàng hoàng, sửng sốt. Chưa có người thứ hai chỉ cho chúng ta thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức rõ ràng bên trong con người mình như thế nào. Dục, ái, tham, sân, si vận hành như thế nào, nó an trú điều khiển xâm chiếm mình như thế nào, đã chỉ ra khổ đế, khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt ngay trong cảm giác nghĩ tưởng nhận thức của mình. Minh Thành đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, từ bất khả tư nghì này đến bất khả tư nghì khác, bằng chứng là chúng ta thuộc lòng Bát Nhã Tâm Kinh nhưng không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì.

Chúng ta đang thừa hưởng trí tuệ của bậc Thánh, thật sự là bộ sách này chưa từng ai trước đó sáng tác ra và sau này cũng không ai có thể viết được như vậy trừ những bậc chứng ngộ Thánh Quả. Minh Thành đã từng đi qua gặp Tam Tạng Pháp Sư, đi cầu Pháp khắp nơi nhưng không ai chỉ rõ ra về Ngũ uẩn. Đi đến trường thiền của Ngài Pa Auk, Ngài Mahasi, trung tâm thiền quốc tế của Ngài Ajahn Chah và đi qua tận Úc Châu gặp Ngài Ajahn Brahm là đệ tử Ngài Ajahn Chah với cuốn sách nổi tiếng “Từ Chánh niệm đến Giác ngộ”. Minh Thành đã vấn đạo với Ngài một giờ đồng hồ và được vị cư sĩ Bình Anson phiên dịch thời điểm đó nhưng vẫn không thể tìm được câu trả lời. Cho đến khi gặp đến tác giả thì làm cho Minh Thành kinh ngạc, chấn động, kinh chấn, kinh cảm, tâm địa mình rung chấn, như bài Kinh Thủ Chuyển, tất cả sự chấp thủ đều bị rung chuyển.

Minh Thành muốn sụp xuống lạy, dập đầu xuống lạy khi thấy chánh Pháp, đây là Pháp hành chưa từng thấy trên toàn cầu sau bao năm đi cầu Pháp nhưng đời sống của Ngài như đèn treo trước gió, bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi vì bệnh rất nặng. Do đó chúng ta đang cầm trong tay Thánh Pháp bảo, phải trân trọng, trân quý, trân kính. Tập sách này được viết bằng cả tấm lòng, chỉ có người thực hành rồi mới cảm nhận được. Tập sách được viết trên giường bệnh, được viết khi sức khỏe yếu tàn, được viết trong tâm trạng bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi. Như Ngài Hộ Pháp năm nay 80 tuổi, Ngài không còn ngồi được mà phải nằm để soạn kinh sách cho chúng ta học. Khi khỏe được 30 phút là tranh thủ ngồi dậy soạn và viết sách, sau đó lại nằm xuống trong trạng thái hôn mê, ta thấy được sức mạnh phi thường của tác giả.

Ngài muốn hướng dẫn phương pháp vi diệu, thần diệu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao, do đó người tu nếu không học thì rất uổng công cả cuộc đời tu hành, suốt ngày chỉ hướng ngoại, nếu có quay vào trong cũng loay hoay không biết gì bên trong thân tâm, như một màn đêm đen tối bên trong thân tâm mù mịt này. Vì không thấy được đặc tính của Ngũ uẩn cho nên sẽ không hiểu bản chất của chúng hoạt động như thế nào và không biết tìm cách để thấy và nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, viễn ly, xuất ly, xả ly, thoát ly chúng. Và mãi mãi chúng ta ở trong sầu bi khổ ưu não, đó là bế tắc, ngõ cụt của người tu vì không có đạo lộ xuất ly, không tìm thấy lối thoát.

Ngoài những pháp hành chúng ta đang được học đây thì không có một phương pháp nào, con đường nào khác để thoát ra khỏi vô minh và khát ái đối với Ngũ uẩn này. Không thể có một đạo lộ thứ hai, duy nhất chỉ có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện, chỉ có vị đó mới chỉ được lối thoát ra khỏi Ngũ uẩn, khỏi sự vây hãm của tham, sân, si, vô minh, bản ngã, sầu bi khổ ưu não, thoát khỏi luân hồi tái sanh đầy đau khổ này. Ngoài đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì không có con đường thứ hai. Nhưng thực trạng hiện nay chúng ta có đang học và hành từ những lời dạy nguyên chất của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không?

Chúng ta học với thi sĩ, nghệ sĩ, họa sĩ, nếu không phải là bậc Thánh Tăng thì không có ai có thể chỉ cho mình phương pháp đoạn tận dục ái tham sân si được, chính người đó còn chưa đoạn tận được làm sao hướng dẫn cho chúng ta. Chúng ta đang tu trong sự mờ mịt, quờ quạng giữa trời đêm thì kết quả cũng mờ mịt, quờ quạng. Vấn đề quan trọng ở đây là phải đạt được trí tuệ về tự thân và cuộc sống, phải nhìn ra cho được hoạt động của dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã trong con người của mình. Nếu không nhìn ra thì sẽ không thể nhiếp phục, vệ sinh thân tâm này được. Đôi khi chúng ta thấy biết chúng đó nhưng ta không đủ sức mạnh để từ bỏ nó, thậm chí có thể nhìn nhận những sự việc sai nhưng cho là đúng.

Mục đích của tập sách

“Vì chúng sanh đang phải chịu đựng những nỗi khổ vì thân xác này bị sự vô thường, biến hoại, hoại diệt, phải chịu nỗi khổ vì già nua, bệnh tật, chết chóc, những nỗi khổ về yêu thương nhưng lại phải chia ly, xa cách biệt ly, phải chịu những nỗi khổ vì thù hận, ghét ganh nhau nhưng phải gặp gỡ, gặp mặt, đối diện nhau mỗi ngày, những nỗi khổ về sinh nhai, kiếm sống, nỗi khổ về sinh tồn. Chúng sanh đang quằn quại trong sự khống chế và áp bức của dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, ích kỷ, ganh tỵ, tật đố, hẹp hòi, hơn thua, tranh giành, đấu đá, gian xảo, lừa dối tráo trở phản bội. Chúng sanh đang chết gục trong tham dục, tham ái, tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài. Chúng sanh đang bị thiêu đốt bởi những tâm sân hận, tức giận, hiềm hận, oán hận, oán thù, mê mờ dật dờ buông lung phóng dật, sống chìm nổi trong những cảm xúc cảm giác trì trệ u mê, si mê, si ám trong nội tâm.

Tóm lại, chúng sanh đang bị chìm đắm trong tham sân si, chúng sanh đang bị tham sân si hành hạ, bị tham sân si dẫn dắt, bị tham sân si chi phối, bị tham sân si làm cho khổ đau. Mục đích của đạo Phật là nhằm tháo gỡ, nhằm giải tỏa những tham sân si này cho chúng sanh, giúp chúng sanh nhìn rõ được chân tướng của dục, ái, tham, sân, si, nhìn rõ chân tướng của cuộc đời và có một thái độ đúng đắn đối với cuộc đời, không mê đắm cuộc đời, khống chế, áp bức và thống trị. Mục đích của đạo Phật là giải thoát chúng sanh khỏi tất cả những sanh tử, phiền não và khổ đau.

Mục đích của đạo Phật là chỉ cho chúng sanh nhìn thấy rõ thân tâm đầy cặn bã, đầy rác bẩn, đầy sâu bọ, đầy nhiễm ô của mình và chỉ cho chúng sanh một phương pháp chân chánh để đào thải, để thanh lọc khỏi thân tâm tất cả những cấu uế trong thân tâm, đưa thân tâm đi đến sự trọng sạch, thanh tịnh, an lạc, tự tại, giải thoát.

Như vậy, với mục đích làm sáng tỏ lại những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, đưa người con Phật đến gần với những lời dạy nguyên gốc của Ngài, khơi gợi lại cho người con Phật nhớ về mục đích của đạo Phật cội nguồn thuở xưa và phương pháp tu tập chân chánh để đạt được mục đích này. Vì thế, chúng tôi đã thực hiện tập sách này.”

Đây cũng là hình ảnh toàn cảnh của thế giới, chúng tay hãy thiền quán những nội dung này. Chúng ta có nhìn thấy toàn cảnh thế giới ngoài kia không? Trên đất nước Thổ Nhĩ Kỳ vừa qua, gần năm mươi ngàn người chỉ sau một đêm trở thành thây ma, thậm chí chỉ trong vài phút, vài chục phút là toàn bộ nhà cửa rung chuyển đè hết gần năm mươi ngàn người. Chỉ trong tích tắc một tiếng ho là chấm dứt cuộc đời, hàng chục triệu người chết vì dịch covid 19; tai nạn giao thông, tai nạn hàng không, bao nhiêu chứng ung thư, sự đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, mà chúng sanh trong đó có chúng ta đây đang phải chịu đựng những cảnh này. Một cậu thanh niên trong vụ sập nhà ở Thổ Nhĩ Kỳ với khuôn mặt trầy trụa thương tích đầy mình, khi tỉnh dậy đã mất đi hai mươi người thân trong gia đình, không còn ai sống sót, chỉ còn lại một mình cậu thôi, có cất tiếng nói thì cũng nói trong sự đau đớn tột cùng. Hãy đặt chúng ta vào hoàn cảnh ấy, nếu chúng ta là người đó thì chúng ta sẽ như thế nào? Chúng ta có chịu đựng nổi không?

Trong Tương Ưng Vô Thỉ, Đức Phật đã nói:

“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các ông nhàm chán, là vừa đủ để các ông từ bỏ, là vừa đủ để các ông giải thoát đối với tất cả các hành.”

“Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng bị bắt trong thời gian dài

Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, ăn cướp đường bị bắt trong thời gian dài

Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông đạo tặc, tư thông vợ người trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn”

Mỗi một câu kinh này, ta phải lạy xuống một lạy với đầy cảm thọ sâu lắng, như vậy mới thấm thía sự đau khổ trong vòng luân hồi sanh tử. Phải thấm thía cái khổ chúng ta mới tu được, phải thấm cái khổ thấu tận xương tủy, không thấy khổ sẽ không có động lực để tu tập, sung túc đầy đủ sẽ không tu được và bình an quá cũng không tu được. Con mắt của chúng ta mới nhìn thấy tai nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ và dịch Covid 19, tai nạn giao thông ở trong nước thôi đã thấy khổ rồi, nếu con mắt chúng ta có thể nhìn bao quát hết cả toàn cầu thì sẽ thấy khổ bao trùm cả toàn cầu chứ không chỉ những gì con mắt chúng ta thấy. Chúng ta hoảng loạn, sợ hãi sau khi chứng kiến những cảnh tai nạn ập đến như vậy, có những người bị tâm thần, điên loạn, trầm cảm sau dịch bệnh vì chúng ta không chịu đựng nổi. TPHCM vừa rồi trải qua trận dịch Covid 19 đã làm cho chúng ta kinh hãi, khiếp đảm, sợ hãi, ngán ngẩm, run sợ, đó chỉ là một chút ít khổ ở trong vòng luân hồi oan nghiệt này.

Kinh Nikāya nói rằng: “Như người dựng đứng lên những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt có thể thấy sắc”.

Đó là công năng giá trị của kinh Nikāya, chứ không phải nói qua loa để vui, để vỗ tay, để đùa giỡn. Kinh Nikāya khai mở trí tuệ, phơi bày sự thật thâm sâu mật mã của vũ trụ, của thế giới. Đức Thế Tôn đã khai mở, trình bày, tuyên thuyết, hiển thị, phơi bày, khai thị cho chúng ta thấy sự thật này. Cho nên già, bệnh, chết, thương nhau phải chia lìa trong những giọt nước mắt muốn đau nhói cả con tim, tan nát cõi lòng khi chứng kiến cảnh cha mẹ chết trên tay của mình.

Vừa rồi có một vụ tai nạn thương tâm khi con đưa mẹ đi làm đến một đoạn đường, sau khi mới vừa bỏ người mẹ xuống xe, quay xe lại để đi về thì khuất tầm nhìn của chiếc xe tải, xe tải lùi cán xe người con thành một đống bầy nhầy ở trước mặt, người mẹ chứng kiến cảnh con mình chết trước mặt đã ngất xỉu ngay tại chỗ. Chính mình chứng kiến chiếc xe chà nát đứa con của mình thành một đống bầy nhầy trước mặt thì sao chịu thấu. Điều này sẽ ám ảnh suốt cuộc đời, mỗi khi nhớ lại là nước mắt đầy mặt, ảnh hưởng đến tinh thần. Đó chính là ái biệt ly khổ, thương mà chia lìa là khổ, chứ không phải chúng ta chỉ nghe qua loa, phớt lờ, phải phơi bày nó ra cho cảm thọ chấn động bằng cả trái tim, bằng cả tấm lòng, bằng sự rung chuyển của cảm thọ thâm sâu trong con người của mình.

Có một gia đình chuẩn bị đi định cư nước ngoài, người mẹ dẫn đứa con tầm bốn tuổi lên Sài Gòn để chuẩn bị cho ngày mai ra sân bay. Đang ngủ trưa bỗng nhiên đứa con mất tích, người mẹ chạy đi kiếm đứa con khắp các quận, huyện tại Sài Gòn, đi kiếm suốt ba năm, năm năm, mười năm, khi đã đi qua nước ngoài vẫn gửi hình, gửi tin của đứa con về nhờ người thân, cha mẹ tìm kiếm hơn ba mươi năm trời. Ngày nào cũng ám ảnh chiêm bao về đứa con, nhắc tới là dâng trào nước mắt. Đó chính là ái biệt ly khổ, phải nhìn thấy và cảm nhận đến mức độ như thế, đêm nào cũng nằm chiêm bao, ám ảnh hình bóng đứa con bốn tuổi, đến giờ vẫn tìm con không còn biết con còn sống hay đã chết. Mỗi lần nhớ lại là thương yêu và xót xa vô cùng, tan nát cõi lòng, mình hãy đặt mình vào hoàn cảnh đó để xem mình cảm thọ ra sao, không cần nói 30 năm mà chỉ cần ba tuần thôi đã đau khổ như thế nào, đằng này phải chịu đựng cảm thọ đau khổ hơn 30 năm. Kẻ còn người mất, đầu bạc tìm đầu xanh.

Một trường hợp khác là chiếc xe đi đón dâu để chuẩn bị đám cưới, rạp xong xuôi hết, nguyên một chiếc xe chết hết, đại hỷ thành đại tang, để phơi ra hơn mười cái hòm, kêu trời không thấu kêu đất không nghe. Những đề mục thiền quán là những tai nạn, hoàn cảnh khổ hằng ngày trong đời sống chứ không ở đâu xa.

Một sự việc đau lòng khác là người mẹ, em gái, em trai đi thăm anh trai đi nhập ngũ, trên đường trở về nhà thì cả mẹ, em gái, em trai đều chết vì tai nạn giao thông, nếu bây giờ báo cho anh đi nhập ngũ tin này thì anh ấy sẽ bàng hoàng, kêu gào thảm thiết khi biết tin dữ.

“Đây là khổ, khổ là đây,

Thánh chuông vang động trời mây muôn ngàn,

Cái gì sanh phải diệt thôi,

Cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan.” (trích Giải Thoát Trí – Cửa Vào Bất Tử)

Câu kệ trên đã kết luận tất cả mọi sự hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Đây chính là khổ thánh đế, là sự thật về khổ đau mà bậc Thánh chứng ngộ.

Đó là những hoàn cảnh để chúng ta quán chiếu về khổ, thấm thía cái khổ, suy tư liên tục để thấy sự bất an trong đời sống này, thấy sự vô thường tan nát của đời sống này, không có gì chắc chắn và an ổn, trường cửu. Mọi sự hiện hữu đều bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu, đều nằm trong tai họa chứ không an ổn. Đó là toàn cảnh của thế giới, những sự vui cười đùa giỡn chỉ là một chốc lát ít ỏi mà thôi, mà trong cái cười vui đó là bẫy mồi trong đó, lưỡi câu trong đó. Có cái gì ở trong này, chỉ toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Có gì an lạc hạnh phúc ở trong ngũ uẩn này? Chỉ là trống rỗng, trống không, dối trái, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, trống trơn. Ai thương rồi ai giận? Ai yêu rồi ai hận? Ai thân rồi ai sơ? Ai khen rồi ai chê? Thật tráo trở và phản trắc, đổi thay, biến hoại là bản chất của ngũ uẩn, phải nhìn cho thấu điều này, nếu không thì chúng ta sẽ chết dài dài, nước mắt chảy mãi, chảy mãi.

“Khóc than rồi than khóc,

Thương thay trò than khóc,

Thương thay nẻo tái sanh,

Thương thay cảnh nhân quả,

Chúng sanh đáng thương thay.”

Chúng ta phải thấm thía cái khổ mới tu được, nếu không sẽ buông lung phóng dật, vô minh bản ngã, tham, sân, si, hiềm hận, tật đố, ganh tỵ, đố kị, hẹp hòi, nhỏ mọn, đầy những cấu nhiễm của tâm, làm khổ mình và người, thật tội nghiệp và đáng thương làm sao. Chúng ta ứng xử với nhau bằng mặt mà không bằng lòng, đôi khi là giả tạo, biết là giả dối nhưng vẫn thích bị gạt như vậy. Đó chính là vô minh. Cho nên đây là tập sách chúng ta học ba năm chưa xong, đây là những trí tuệ tối tôn, tối thượng, tối thù thắng của bậc đại thành tựu. Chúng ta thật là hạnh phúc vì Phật giáo Việt Nam có một bậc đại thành tựu như vậy và rất hiếm có khó gặp trên hành tinh này.

Chúng ta phải đối diện với những nỗi khổ khi ghét nhau mà vẫn phải gặp mặt, đối diện với nhau mỗi ngày, mà khổ hơn nữa là ghét của nào trời trao của nấy. Đi đâu cũng đụng chạm, đó là nghiệp quả, nghiệp theo ta như bóng theo hình, nghiệp chờ thời để ra tay. Đừng nói tại sao hôm nay tôi xui xẻo tôi gặp phải người đó, vì nghiệp đã chờ sẵn rồi, đúng ngày đúng tháng sẽ xuất hiện, là oan gia trái chủ. Nếu chúng ta không trang bị một nội tâm hiền, tâm từ, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, hiền nhân, hiền trí thì sẽ gây oán thù tiếp, nợ cũ chưa trả xong lại vay thêm nợ mới. Ví dụ như chúng ta vay 300 triệu nhưng đến khi nợ chồng chất không có khả năng chi trả thì xã hội đen đến đòi số nợ lên đến tiền tỷ, nếu không trả thì có thể giết mình chết. Cho nên hết sức cẩn thận ác nghiệp, vậy ác nghiệp ở đâu?

Ác nghiệp ở trong suy nghĩ, lời nói, hành động của chúng ta chứ không ai đem đến cho chúng ta. Nó tạo ra một kết quả dị thục, biến đổi, chín muồi, ra trái của khổ đau, đắng cay, hận thù. Cho nên nhất định phải tu tập tâm hiền ròng rã ba năm song song là tu tập tâm từ nên phải hết sức cẩn thận với nghiệp quả. Đến những hội chúng tu tập hiền thiện hiền lành nhưng không chịu tu mà chỉ suốt ngày xét lỗi người,xét những điều xấu của người khác, dù sao họ cũng phàm phu đang tu, chỉ có tâm chúng ta là tâm dữ, tâm xấu ác nên cứ đi tìm kiếm những chỗ xấu ác để nhìn ngó, tâm hướng thiện để nhìn những cái hay cái thiện, cái đẹp để nó đi theo hướng thiện lành.

Oán tắng hội khổ, ghét mà gặp nhau là khổ. Trong tâm này có sẵn lửa và bom, súng ống nên khi bên ngoài đụng vô là nổ. Chúng ta chất chứa để làm gì? Chúng ta hãy tu tâm hiền, tâm từ để trở nên ngọt ngào. Khi nhìn thấy những người xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, mình phải sanh một cái tâm hoan hỷ với họ, thật là cao thượng làm sao, khi nhìn lại mình thấy thật là xấu hổ khi còn nhiều cấu uế. Có như vậy sự tu tập của chúng ta mới tiến bộ. Mọi người hãy tự quét rác trong nhà mình, đừng để ý đến rác của nhà người khác.

“Các nhân tự tảo môn tiền tuyết

Mạc quản tha nhân ngõa thượng sương”

Mấy giọt sương ở mái nhà người khác thì mặc kệ họ, tuyết của mình một đống trước sân nhà mà không lo dọn, không lo quét, điều đó ám chỉ tâm hướng ngoại, tâm không lo tu tập cho bản thân mình mà đi nhìn lỗi người khác. Bản ngã, sân si, ngạo mạn đầy dẫy những ác bất thiện pháp mình không lo quét dọn, người ta có một lỗi nhỏ thôi mà phán xét, kiếm chuyện, gây sự. Thật là khổ vô cùng. Cội gốc của sự tu là nhìn lại mình, đi tới đâu cũng muốn làm sư phụ, chỉnh cái này cái kia, vừa vô duyên, vừa bản ngã, không biết mình là ai, đi đâu cũng chỉnh người khác. Đây là bệnh nan y với cái nội tâm bản ngã đi đến đâu cũng muốn điều khiển người khác, muốn quản lý người khác làm theo ý mình, không là sân si, khó chịu. Bản ngã lớn hơn cả trời đất này, cả bầu trời này chứa không nổi.

Tiếp theo là khổ về sinh nhai, kiếm sống, chúng ta tham khảo Đại Kinh Khổ Uẩn, Tiểu Kinh Khổ Uẩn, ở đây Đức Phật diễn tả nỗi khổ của cuộc sống. Đôi khi chúng ta thấy những người chạy xe ôm chạy sáng đêm mới được nghỉ, có bao giờ chúng ta ngồi thiền học kinh, nghe Pháp sáng đêm không? Vậy chúng ta thua người chạy xe honda ôm. Chúng ta nói cao siêu cứu độ chúng sanh nhưng chịu khổ một chút là không được. Chúng ta không có đức kham nhẫn, không thành tựu được một đức hạnh chịu khó, chịu khổ, kham nhẫn, cho nên mình tu không tiến. Lúc còn là Bồ Tát, Thái tử chỉ ăn ngày một hột mè, vài ngày ăn một lần trong lúc tu khổ hạnh, rờ vào bụng trúng xương sườn, tóc rớt xuống từng mảng, ăn phân bò, trong khi Ngài là khổ hạnh đệ nhất. Bây giờ chúng ta tu sướng quá là hư hỏng, chúng ta không có đức kham nhẫn chịu khó chịu khổ, nên tu không tiến bộ.

Đại chúng ở đạo tràng Linh Quy Pháp Ấn ngồi nghe Pháp hơn ba tiếng, nghe xong ai cũng hoan hỷ, hạnh phúc, sung sướng cả. Tại sao lại được như vậy? Vì phải có Pháp vị, Pháp hỷ, Pháp lạc, phải có sự kham nhẫn, chịu đựng mới được như vậy. Chúng ta ngồi thiền một chút là bung chân, không nhiếp phục, chế ngự, điều phục, không chiến đấu, không đối trị thân để nó nghe lời mình. Chúng ta cứ làm nô lệ cho thân thì làm sao mà học Pháp, cầu Pháp? Thầy chưa nhắc nhở đã bắt lỗi thầy trước nên không học đạo được, Minh Thành không dám dạy những người như vậy.

Đúng ra khi mới gặp vị Thầy nào, chúng ta phải dập đầu lạy với một nội tâm tha thiết cầu Pháp, Thầy thấy con có lỗi gì hãy chỉ dạy cho con. Cho nên một nội tâm cung kính cầu Pháp quan trọng quyết định sự thành tựu sau này của mình. Mỗi khi muốn đến vấn đạo với các vị hòa thượng Thanh Từ, hòa thượng Vạn Đức, Minh Thành một bước một lạy khi đến gặp các Ngài. Minh Thành đi giảng khắp nơi từ thiền viện, luật viện, học viện, với tâm cung kính cầu Pháp, Minh Thành lên giảng dạy nhưng với tâm thế là người học trò.

./.