Tương Ưng KOSALA 6 - Không Buông Lung - Con Đường Hạnh Phúc
Kinh Nikāya Giảng Giải
TƯƠNG ƯNG KOSALA 6
KHÔNG BUÔNG LUNG
CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không phóng dật PAGEREF _Toc113979190 \h 1
II. Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc113979191 \h 3
III. Lợi tha khi không phóng dật PAGEREF _Toc113979192 \h 6
IV. Hộ trì căn – Chánh Niệm PAGEREF _Toc113979193 \h 9
V. Tu tập Bát Chánh Đạo PAGEREF _Toc113979194 \h 14
I. Không phóng dật
Chúng ta tiếp tục nghe về Tương Ưng Kosala, nghe về những lời giáo hóa của Đức Phật đối với vua Ba-tư-nặc.
"Ở tại Sàvatthi.
… Ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có một pháp nào có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau?
-- Thưa Ðại vương, có một pháp có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau.
-- Bạch Thế Tôn, pháp ấy là gì, có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau?
-- Bất phóng dật, thưa Ðại vương, là một pháp có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Không Phóng Dật)
Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình phải có sự bảo vệ, giữ gìn, để ý, trông chừng, chính sự bảo hộ, giữ gìn, quản lý thân tâm là pháp đưa đến hạnh phúc cho cả đời này và đời sau, đưa đến bình an, đưa đến an lạc, hạnh phúc trong đời này và kiếp sau.
"Thưa Ðại vương, cũng như con voi, trong tất cả loài hữu tình có chân, tóm thâu tất cả đặc tướng của chân trong bàn chân của nó; và bàn chân của voi được xem là đệ nhất về phương diện to lớn trong tất cả loại chân. Cũng vậy, thưa Ðại vương, bất phóng dật là một pháp có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau.
Ai ước nguyện tuổi thọ,
Không bệnh, có diệu sắc,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Sanh các nhà quý tộc,
Phải liên tục tăng thượng,
Tinh tấn, không dừng nghĩ.
Người hiền triết tán thán,
Hạnh lành không phóng dật,
Ðối với những người lành,
Làm các hạnh công đức,
Người hiền không phóng dật,
Ðược cả hai lợi ích,
Lợi ích trong đời này,
Lợi ích cả đời sau.
Kẻ anh hùng được gọi,
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy,
Hạnh phúc cho chính mình".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Không Phóng Dật)
Bài kinh này lặp lại rất nhiều lần con đường hạnh phúc không những cho đời này mà cả đời sau. Ai mong muốn được sống lâu, ai mong muốn được khỏe mạnh, ai mong muốn có sắc đẹp, ai mong muốn sanh lên cõi trời hoặc mong muốn sanh trong đời này vào nhà quý tộc thì người đó phải liên tục cố gắng hướng lên, siêng năng chứ không được dừng nghỉ. Người hiền trí khen ngợi hạnh lành không buông lung này, đối với những người làm các hạnh công đức và những người hiền không phóng dật đều có lợi ích. Người hiền là không có buông lung, do vì không buông lung, buông thả, buông xuôi sáu căn nên họ được lợi ích ngay trong đời này và cả trong đời sau.
"Kẻ anh hùng được gọi,
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy,
Hạnh phúc cho chính mình".
Tại sao lại gọi người đó là anh hùng, là bậc hiền triết? Vì người đó biết nắm lấy hạnh phúc cho chính mình.
II. Làm bạn với thiện
"Trú ở Sàvatthi.
... Rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con ngồi yên tĩnh một mình, tư tưởng sau đây được khởi lên: 'Pháp được Thế Tôn khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du'".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Vua Ba-tư-nặc khởi lên suy nghĩ pháp của Thế Tôn được giảng cho người hiền, người thiện, người lành chứ không phải giảng cho người hung dữ, hung ác.
"-- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, pháp được Ta khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du.
Một thời, thưa Ðại vương, Ta ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca) tại một thị trấn của các vị Sakka.
Rồi thưa Ðại vương, Tỳ-kheo Ananda đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Ðại vương, Tỳ-kheo Ananda bạch với Ta:
'-- Bạch Thế Tôn, quá phân nửa đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du'.
Khi được nói vậy, thưa Ðại vương. Ta nói với Tỳ-kheo Ananda:
'-- Này Ananda, không phải vậy. Này Ananda, không phải vậy. Thật sự, này Ananda, toàn phần đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du. Từ một Tỳ-kheo làm bạn với thiện, này Ananda, chúng ta hy vọng rằng vị ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du'".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Đức Phật nhắc lại cho vua Ba-tư-nặc nghe bài kinh Một nửa mà Đức Phật đã dạy cho ngài Ananda vì suy nghĩ của nhà vua là đúng pháp cho nên Đức Phật nhắc lại câu chuyện cũ, trong đó ngài Anan nói với Đức Phật rằng cả sự tu hành này được người bạn lành giúp mình hơn phân nửa nhưng Thế Tôn nói không phải vậy, sự tu hành của mình tất cả đều nhờ vào bậc thiện tri thức, nhờ vào thầy lành bạn tốt, nhờ vào những người hiền thiện, gọi là bạn đạo đồng tu hoặc là bậc thiện tri thức.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn".
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Chữ "thiện" ở đây vừa là người bạn tốt, vừa là thiện pháp, là Bát Chánh Đạo, mình hiểu nghĩa gần nhất là bậc thiện tri thức, là vị thầy hướng dẫn cho mình, là huynh đệ đồng tu. Bậc thầy cũng được gọi là thiện hữu, bậc thiện tri thức hoặc là huynh đệ, một bậc cư sĩ hiền thiện tri thức cũng có thể là bậc thiện hữu hoặc có thể là người xuất gia hành trì thiện pháp hoặc chánh kiến. Nếu mình giao du, quen biết, mình làm bạn, thân cận, gần gũi, được người đó hướng dẫn thì hi vọng mình sẽ tu tập được Bát Chánh Đạo và viên mãn được Bát Chánh Đạo. Chữ "hiền thiện" trong kinh Nikāya rất sâu sắc, đó là bậc hiền trí, hiền triết, hiền Thánh, còn bây giờ dùng chữ hiền theo nghĩa rất khác.
"Và Ananda, thế nào là Tỳ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo tu tập chánh tri kiến, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly, tu tập chánh tư duy..., tu tập chánh ngữ..., tu tập chánh nghiệp..., tu tập chánh mạng..., tu tập chánh tinh tấn..., tu tập chánh niệm..., tu tập chánh định, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly. Như vậy, này Ananda, là vị Tỳ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
Và chính theo pháp môn này, này Ananda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.
Này Ananda, chính vì Ta y cứ, làm bạn với thiện, nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị bệnh được giải thoát khỏi bệnh; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ ưu, não. Và chính theo pháp môn này, này Ananda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Vị nào tu tập Tám Đúng này là dựa vào sự rời xa, rời tham muốn, dựa vào sự chấm dứt tham, sân, si, vô minh, tham ái đối với năm uẩn. Chính vì Đức Phật làm bạn với thiện, y cứ vào thiện nên các chúng sanh bị sanh, già, bệnh, chết được thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, các chúng sanh bị buồn đau, khổ sầu được thoát khỏi buồn đau, sầu khổ cho nên toàn bộ đời sống tu hành này đều thuộc về bạn lành, bậc thiện tri thức, thuộc về thầy lành bạn tốt.
"Do vậy, này Ðại vương, cần phải học như sau: 'Tôi sẽ là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du'. Như vậy, này Ðại vương, Ðại vương cần phải học. Này Ðại vương, để Ðại vương có thể trở thành thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, Ðại vương cần phải y cứ, an trú vào một pháp, tức là không phóng dật trong các thiện pháp".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Đức Phật nhắc nhà vua tác ý bản thân phải là người lành, người thiện. Muốn trở thành bạn lành, thiện hữu, bậc thiện tri thức thì phải an trú vào một pháp, đó là không buông lung, không buông thả, không buông xuôi với các thiện pháp, không xem thường các thiện pháp, một buổi ngồi thiền, một buổi nghe pháp, một buổi tụng kinh hay một buổi công quả hoặc một việc thiện trong đại chúng đều không được xem thường.
III. Lợi tha khi không phóng dật
Đó là nói cho tự thân, sau đây là nói cho tha nhân, đừng nghĩ rằng cái pháp không buông lung này chỉ đem lại lợi ích cho chính mình (tự lợi) nhưng thực tế còn có lợi tha. Mình chưa làm gì cả nhưng thực tế đã đem lại lợi ích cho người khác, còn thấy mình làm rất nhiều việc nhưng chưa chắc đem lại lợi ích cho người khác.
"Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời các nữ cung nhân sẽ suy nghĩ: 'Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật'.
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các vị Sát-đế-lỵ chư hầu sẽ suy nghĩ: 'Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật'.
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các dân chúng ở thị trấn và quốc độ sẽ suy nghĩ: 'Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật. Vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật'
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời tự ngã được che chở, hộ trì, nội cung được che chở, hộ trì, kho tàng được che chở, hộ trì".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Nữ cung nhân phải hiểu rộng ra là ngoài các cung nữ phục vụ trong cung còn có hoàng hậu, quý phi, những người nữ gần gũi nhà vua khi thấy vua không buông lung thì bản thân họ cũng phải biết giữ gìn. Sát-đế-lỵ là dòng dõi quan văn, quan võ và chư hầu thấy nhà vua không buông lơi thì các vị này cũng sẽ cố gắng giữ gìn. Đầu tiên là các phi tần, cung nữ, kế đó là các quan, chư hầu và bây giờ nói rộng là dân chúng cả nước, cả quốc độ cũng sẽ giữ gìn, nếu nhà vua biết giữ gìn, an trú trong việc không buông thả thì tự thân của nhà vua được giữ gìn, tự mình che chở cho mình, tự mình bảo hộ cho mình, "nội cung được che chở, hộ trì, kho tàng được che chở, hộ trì".
Chỉ với một pháp không buông lung phóng dật mà có đầy đủ tự lợi lợi tha, ra tới cả thị trấn, quốc độ, thành phố và toàn quốc cho nên khi hiểu lợi tha là phải đi đây đi đó làm lợi cho người ta là không phải, chính tự thân tu tập các thiện hạnh, Thánh hạnh đó sẽ đem lại lợi tha rộng lớn chứ không nhất thiết phải đi nhiều. Tự mình tu không buông lung phóng dật thì những người kề cận trong thân quyến của mình, trong cung đình, trong đạo tràng, tự viện sẽ được lợi ích từ việc tu hành của mình.
Tự thân mình biết giữ gìn, không buông lơi, không buông thả, không buông lung thì người ở gần bên mình thấy mình như vậy cũng sẽ giữ gìn, họ có thể là chồng con, cha mẹ, anh chị em, tu cái này rất tuyệt vời, đứng gần bếp lửa phải nóng, đứng gần quạt thì phải mát, tức là cảm thọ khi tu tập sẽ tỏa ra và mình sẽ hưởng được điều đó, còn ở gần người buông lung phóng dật nếu không vững vàng sẽ bị ảnh hưởng ngay, tự thân người đó không giữ gìn được và người mà họ giao tiếp cũng không giữ gìn, làm ảnh hưởng cả đại chúng, không còn sự trang nghiêm thanh tịnh, thả lỏng các căn, vì thế cần chiêm nghiệm và thực hành vì đây là con đường hạnh phúc cho đời này và đời sau, hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính ngay ở nơi không buông lơi đối với thân tâm mình, đó là chỗ đến của hạnh phúc.
Trong gia đình nếu mình có giữ gìn thì mọi người cũng sẽ giữ gìn, ở nơi làm việc cũng vậy, mình tập trung vào công việc thì những người khác cũng sẽ tập trung vào công việc, còn vừa làm vừa chơi không tập trung công việc thì người khác cũng sẽ bắt chước, người này đi trễ được thì người kia cũng đi trễ được, người kia đi trễ thì tới người nọ đi trễ, cuối cùng ảnh hưởng hết tập thể. Trong đạo tràng cũng thế, người này bỏ nghe pháp thì người kia cũng bỏ được, người nọ muốn lên ngồi thiền thì ngồi, không muốn thì thôi nên những người khác cũng sẽ làm theo thế là ảnh hưởng hết đạo tràng.
Từ trong gia đình, đến công sở hoặc rộng ra đến những người lạ, người dân Nhật Bản thường được khen ngợi rất tự giác, có những nơi ở Nhật Bản không có người bán mà người mua tự lấy đồ và tự động trả tiền, người ta rất văn minh, lịch sự, có nhiều điều đáng phải học hỏi theo, ở những nơi công cộng đều tự động xếp hàng, nói chuyện vừa đủ nghe còn chúng ta chừng vài ba người là thành cái chợ, ồn ào, làm ảnh hưởng người khác, đại chúng đang trang nghiêm thanh tịnh mà có người nói chuyện lớn tiếng sẽ làm động niệm tất cả mọi người nhưng bản thân người nói lớn tiếng lại không hay biết.
"Người ước mong tài sản,
Phải liên tục tăng thượng,
Người hiền trí tán thán,
Hạnh lành không phóng dật.
Ðối với những người lành,
Làm các hạnh công đức.
Người hiền không phóng dật,
Ðược cả hai lợi ích,
Lợi ích trong đời này,
Lợi ích cả đời sau.
Kẻ anh hùng được gọi
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy
Hạnh phúc cho chính mình".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
IV. Hộ trì căn – Chánh Niệm
Minh Thành giải nghĩa phóng dật là buông lơi, buông thả, buông lung, buông trôi, thêm một từ trong kinh là thả lỏng, năm từ này có ý nghĩa tương đương với phóng dật. Phóng dật là thả lỏng các căn, thả lỏng con mắt, thả lỏng lỗ tai, thả lỏng lỗ mũi, thả lỏng lưỡi, thả lỏng tâm ý, buông thả sáu căn, buông lung sáu căn, buông trôi sáu căn, nói gọi là buông thả thân tâm. Nếu mình không thành tựu pháp không phóng dật này sẽ đau khổ lâu dài.
"-- Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
.. Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Có sáu xúc này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Biết phòng hộ, biết giữ gìn sẽ an lạc trong cả đời này và đời sau, nhưng để có được chánh niệm và tỉnh thức không buông lơi, buông thả, không thả lỏng là cả một sự tu tập kiên trì, gian khó. Chỉ vừa nghe xong bài giảng pháp là đã bung ra rồi, đó là một kiết sử, không biết tu tập thân tâm, không tu tập giới, không tu tập tuệ, không biết tu là thường trú trong trạng thái buông lung nhưng lại không biết và cho điều đó là bình thường, còn tu tập là khó chịu, giữ gìn là thấy bức xúc, bức bối.
Cái thọ bên trong người mình là một thọ nổi loạn, cái thọ đó thích thả lỏng chứ không muốn hộ trì, không muốn giữ gìn và cái này sẽ đưa đến đau khổ. Vợ chồng nói chuyện một chút là cự cãi là do thả lỏng, lúc mới quen giữ gìn từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ, còn giờ ở chung là thả lỏng mọi thứ nên mới có sân hận, gây gổ, còn biết giữ gìn sẽ giảm bớt hoặc không xảy ra la mắng. Huynh đệ tỉ muội hay xảy ra chuyện bất hòa, nói vài ba câu là buồn giận cũng do thả lỏng, không biết giữ gìn, muốn nói là nói chứ không dè chừng, không cẩn thận, không biết lời nói đó có nên nói hay không, nói ở mức độ nào, nói bao nhiêu phần, nói lúc nào, nói cho ai, nói cái gì, muốn là nói rồi buồn giận, ở trong nhà cũng vậy, trong tập thể cũng vậy và trong chùa cũng thế, còn biết giữ gìn sẽ không bị đau khổ.
Chỉ với một chữ "không buông lung" là cả một công phu tu tập, đó là bí quyết tu hành, Đức Phật ví dụ như dấu chân voi, trong dấu chân đó thâu tóm tất cả dấu chân khác, cũng vậy, cái pháp không buông lung là tổng thâu nhiếp tất cả các thiện pháp khác, ví dụ mình giữ giới được là do không buông lung, thành tựu định là do không buông lung, thành tựu được tuệ là cả một sự quán chiếu giữ gìn, thành tựu được quán thân trong Tứ Niệm Xứ là cả một sự giữ gìn, tập trung tăng thượng, không thể buông lung mà thành tựu được Thân Hành Niệm, Đức Phật ví dụ ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui mè đều hướng về nóc nhọn, nghiêng về nóc nhọn, cũng vậy, tất cả pháp đều tập trung về chỗ không phóng dật.
"Không phóng dật, này Bà-la-môn là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, phàm có những dấu chân của các loại bộ hành nào, tất cả dấu chân ấy đều được thâu nhiếp trong dấu chân voi. Dấu chân voi được gọi là tối thắng trong các dấu chân ấy, cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như này Bà-la-môn, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui kèo đều hướng về nóc nhọn, thiên về nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, nóc nhọn được gọi là tối thắng trong các vật ấy. Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật..."
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI). Không Phóng Dật)
Từ việc không phóng dật mới thành tựu được những pháp khác. Ví dụ mình có lỗi sai được mọi người chỉ dạy, nếu không buông lung thì mình sẽ lắng nghe lời chỉ dạy đó, để ý những lần sau không lặp lại lỗi đó nữa, còn nếu buông lung thì sân lên, chối tội, lấy lý do này lý do kia để ngụy biện quanh co. Tại sao lại ngụy biện, quanh co, sân si, bản ngã?
Là do không thu nhiếp các căn, nếu có sự chánh niệm tỉnh giác, không buông lung phóng dật thì khi nghe sẽ tập trung nhìn lại, chiêm nghiệm sẽ thấy đúng, dù có tự ái nhưng phải từ bỏ tự ái để học cái đúng này, học đạo là phải như vậy, còn buông lung là "như vậy là khinh thường tôi", "tại sao cứ nói tôi hoài vậy", suy nghĩ theo lối đó là thất bại, từ ân nhân trở thành người mình không thích, người ta chỉ chỗ chôn vàng nhưng mình từ chối vì cái tâm buông lung, buông lơi, thả lỏng đó không thấy được pháp, các pháp không như thật hiển hiện trong tâm buông lung, các pháp đã bị che mờ hoàn toàn.
Mình đi thẳng, nhìn thẳng về phía trước đúng theo oai nghi, đúng theo tinh thần chánh niệm sẽ thấy phía trước có con ếch, con gián, côn trùng, sỏi đá thì tránh né được, còn giờ đi mà nhìn trên trời trên mây, không chú ý dưới chân sẽ lỡ chân đạp chết con ốc hay con kiến, đó là do buông lung nên phạm giới sát sanh, vậy là ăn chay trường nhưng lại phạm giới sát sanh, trong bước chân không có giữ gìn, chánh niệm thì tạo nghiệp. Cho nên không buông lung giúp cho mình rất nhiều chuyện, giúp an ổn trong gia đình, giảm bớt bất hòa, tạo sự hòa hợp trong đại chúng, thăng tiến trong tu tập, ai cũng thâu nhiếp sẽ rất mát mẻ, thanh lương, an tịnh.
Nếu có một người buông lung sẽ làm động niệm những người còn lại, người ta muốn yên tĩnh quán chiếu còn mình lại gây ồn ào, điều đó làm tự thân mình không tu tập được, ngoài ra còn làm động niệm đại chúng làm mình tổn phước, tổn đức, đời tu càng ngày càng giảm thiểu đi đến thối đọa. Khi ngồi thiền phải biết quán sát những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong thân tâm một cách cẩn trọng, chánh niệm và tỉnh giác, phải biết cái nào cho qua, cái nào cần xử lý, còn buông lung là cho qua hết thậm chí không thấy các pháp đang diễn ra thì làm sao xử lý, đó là thả lỏng ý căn, thả lỏng sự quán sát về trí năm uẩn nên ngồi nhiều mà trí huệ chẳng phát sanh, trí tuệ không phát sanh thì không thấy được các lậu hoặc, không thấy một cách rõ ràng, sâu sắc, tu hoài nhưng con mắt trí huệ vẫn không mở được, ở trong chùa lâu ngày nhưng vẫn sân, vẫn giận, thiện pháp có nhưng không tăng trưởng được, thậm chí có nguy cơ giảm thiểu. Cho nên Đức Thế Tôn nói ai ước mong sống lâu, ước mong khỏe mạnh, không bệnh thì phải tu tập pháp không buông lung, trong kinh dùng từ "diệu sắc" thì phải hiểu là những dung sắc thù diệu, trong đó có cả dung sắc của cõi trời, ai muốn được sanh lên thiên giới hoặc sanh vào nhà quyền quý thì phải liên tục tăng thượng pháp không buông lung.
Phải tu tập pháp không buông trôi, buông lung, buông thả như thế nào để sống lâu? Là phải giữ gìn sức khỏe, ăn uống và ngủ nghỉ phải điều độ, tiết độ trong các dục đối với người đời, muốn giữ được vậy thì phải giữ gìn không buông lung mới sống thọ với con cháu. Còn bây giờ ăn chơi trác táng, rượu chè bê tha, buông lung trong các dục thì có khi chưa đến tuổi mạng chung nhưng lại chết trước, gọi là hoạnh tử, đột tử. Phá hủy phước đức cũng chết, bất cẩn cũng chết, gây ra những nghiệp ác sẽ chết trước cái tuổi đáng chết, không phải ai cũng được định sẵn ngày giờ để chết mà có trường hợp chết trước, không cẩn thận là chết, buông lung phóng dật là chết, gặp tai họa là chết hoặc phạm vào những húy kỵ như giết cha, giết mẹ, giết một vị A-la-hán, làm thân Phật chảy máu và chia rẽ Tăng-già, năm trọng tội sẽ bị đày xuống địa ngục.
"- Có năm nghịch tội này, này các Tỳ-kheo, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không có thể chữa trị. Thế nào là năm?
Ðoạt mạng mẹ,
Đoạt mạng cha,
Đoạt mạng vị A-la-hán,
Với ác tâm làm Như Lai chảy máu,
Phá hòa hợp Tăng.
Này các Tỳ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị".
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Chương V - Năm Pháp, (IX). Ngũ Nghịch)
Vì thế tuổi thọ sống lâu là nhờ vào sự giữ gìn của mình, khỏe mạnh, dung sắc hay sanh cõi trời, sanh vào nhà giàu có cũng đều do sự kiểm soát, bảo hộ thân tâm của mình, siêng năng tăng thượng không buông lung, người hiền triết tán thán những hạnh lành này. Đối với người lành họ làm những việc công đức từng chút một, những người kinh doanh buôn bán quý trọng thời gian từng chút một, khi làm gì họ cũng tính toán lời lỗ kĩ lưỡng, họ tích lũy tiền bạc từng đồng, các người lành làm các hạnh công đức cũng giống như vậy, họ rất siêng năng, tinh tấn, nỗ lực từng giây từng phút, nhất là trong thời điểm này đang rất cần bố thí, từ thiện.
Vào sáng nay Minh Thành có cảm xúc về kiếp người rất trân quý, Thánh trí tối thượng, chúng ta còn được ngồi đây nghe pháp như vầy rất quý báu nhưng nếu không tác ý chỉ thấy bình thường, có gì đâu mà quý, nhiều khi nghe pháp còn thấy ngán. Chúng ta phải thấy quý trọng trong từng hơi thở vì giờ này ngoài kia người ta phải giành giật từng hơi thở, thậm chí phải lưa chọn cho người nào được thở và người nào không, đặc biệt trong thời kì dịch bệnh phải chọn cho người nào sống, người nào chết, bác sĩ rất ray rứt và đau khổ vì điều này, số lượng bệnh nhân quá nhiều nên dù rất cố gắng vẫn không đủ dụng cụ y khoa để cứu chữa cho tất cả bệnh nhân cùng lúc, trong lúc dịch bệnh không thiếu những hình ảnh người cha chạy ngược xuôi tìm bình oxy cho con thở hoặc con cái chạy tất tả tìm oxy cứu cha mẹ.
Chúng ta thường đợi đến khi gần mất hoặc mất đi mới thấy hối tiếc, những khi có lại xem thường, không thèm để ý đến cho nên phải quý trọng, nâng niu trong từng hơi thở, khi còn được thở thì phải biết giá trị của hơi thở đó vì nếu không biết sẽ sống trong vô minh, có ngàn vàng cũng không đổi được oxy để thở cho nên phải biết quý hơi thở, quý từng bước chân, chỉ khi nào đau nhức, sưng tấy chân đi không được mới biết quý chứ bình thường không biết quý trọng rồi đi trong lãng quên, đi trong thất niệm.
Chỉ khi nào có chánh niệm, có tỉnh giác, không buông lung phóng dật thì mình mới thấy mỗi động tác của mình đều là sự màu nhiệm, khi có tỉnh thức, khi không buông trôi, buông lơi, buông thả thì mỗi một nhất cử nhất động của mình đều là phép màu, là những tác phẩm kì vĩ trong giây phút hiện tại, nếu không chỉ như thây ma. Mỗi lời nói của mình phải nhả ngọc phun châu chứ không phải muốn nói gì là nói, mỗi một lời nói ra phải đem lại lợi ích cho mình lợi ích cho người, phải biết nâng niu, tôn trọng lời nói chứ không phải dễ thốt ra lời vì chỉ cần thốt là lời là như sen nở, như châu ngọc, đem lại lợi ích cho mọi người thì mới mở lời, còn không là không nói vì thế kiếp người trân quý – Thánh trí tối thượng, kiếp người trân quý – chánh kiến tối thượng.
Đối với suy nghĩ cũng vậy, không phải cái gì cũng nghĩ, phải suy nghĩ về ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, nghĩ về từ bi hỷ xả để được tưới tẳm, tăng trưởng, phát triển, còn nghĩ để nóng giận, ham muốn, bản ngã, vô minh thì đừng nghĩ, thâu nhiếp ý nghĩ đó lại. Giờ này có nhiều người đang ở trong khu cách ly, thậm chí chết trong đó, cho nên chữ "khổ uẩn" phải giải thích là một tổ hợp của khổ đau, một đống khổ, tức là cái khổ này chồng lên khổ kia, khổ kia chất lên khổ nọ thành thảm họa kép.
Lo lắng vì bệnh đã muốn chết rồi, ngoài ra còn bỏ ăn, bỏ ngủ, bỏ nhà, bỏ gia đình, công việc, bất an, hồi hộp vào khu cách ly, không biết bệnh có diễn biến nặng không, có về được không, còn sống không, thế là bí bách lên cự nhau, đánh nhau, chen lấn nhau lấy đồ ăn, đó là cả một tổ hợp của khổ đau, nhìn thấy những cảnh đó rất ngao ngán để cố gắng tu học. Những người nằm trên gường bệnh nhìn thấy mình được ngồi bình an nghe pháp thì điều này đối với họ là kì diệu, là một sự may mắn, là phép màu, là sự vi diệu nhưng mình lại thấy bình thường vì mình không có sự tác ý cho nên phải biết trân quý trong từng hơi thở, trân quý từng bước chân, từng cử chỉ đối với nhau trong gia đình hoặc huynh đệ, tỉ muội, thầy trò hoặc đồng đạo, đồng nghiệp, bạn hữu.
Vì chỉ có trân quý mới không buông lung, buông thả, mình sẽ tiết chế chứ không có những hành vi, cử chỉ không oai nghi của một người tu, mình sẽ biết phòng hộ, giữ gìn, thâu nhiếp, mình biết tu tập. Lành thay, tốt đẹp thay khi biết bảo vệ, phòng hộ con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, lành thay, hạnh phúc thay khi biết bảo vệ cái thân, bảo vệ lời nói, lành thay, màu nhiệm thay khi biết bảo hộ, giữ gìn thọ; tưởng; hành, như vậy là hạnh phúc ngay trong đời này và hạnh phúc trong cả đời sau, như vậy gọi là bậc anh hùng, là người hiền triết, là người biết nắm bắt lấy hạnh phúc cho chính mình, nắm bắt lấy sự không buông thả, buông trôi, buông lung, nắm bắt sự thâu nhiếp, phòng hộ, canh chừng thân tâm, lời nói, sáu căn.
V. Tu tập Bát Chánh Đạo
Bài kinh thứ hai nói về việc vua Ba-tư-nặc suy nghĩ pháp do Thế Tôn khéo thuyết được thuyết cho người lành, người thiện, không phải giảng cho người dữ. Người có tình có nghĩa, có đạo đức sẽ đi vào được pháp này, còn người chưa có thì phải tu tập được những cái căn bản đó mới vào được, còn người bản ngã, sân si được chỉ dạy lại không muốn, thường thì họ sẽ cãi lại, chối tội cho nên "pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du".
Thế Tôn đáp lại rằng nhà vua nói vậy là đúng, pháp của ngài giảng cho người lành, người thiện chứ không giảng cho người hung dữ, người ác. Sau đó Thế Tôn kể lại câu chuyện với ngài Ananda cho nhà vua nghe nhưng có một điều chúng ta cần lưu ý là "từ một Tỳ-kheo làm bạn với thiện, này Ananda, chúng ta hy vọng rằng vị ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du", toàn bộ sự tu học của chúng ta là tu học về Bát Thánh Đạo, làm cho trọn vẹn Bát Thánh Đạo.
Tu tập cái thấy đúng là dựa vào sự rời xa, đây là Thánh pháp ấn được Minh Thành nhắc rất nhiều lần, nếu chúng ta không thấy được đích đến thì làm sao tu, bắn cung mà không có hồng tâm thì bắn về đâu. Tu tập cái thấy đúng là dựa vào sự rời khỏi tham muốn, chấm dứt tham, sân si, dựa vào sự buông bỏ, xả ly, trong tám cái đúng này đều phải như vậy, chính là y cứ vào viễn ly, thoát ly, rời xa, từ bỏ, nếu mình không nắm được trọng tâm ngay đây là sự tu tập không đi đến đích được, phải rời xa năm dục vì nếu tu mà không có sự hướng tâm đến việc rời xa những thứ đó thì tu không đúng.
Tại sao phải rời xa năm thứ đó? Vì năm thứ đó làm chúng sanh đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi và điên đảo, chỉ với một chữ "sắc" thôi đã làm chúng sanh điên đảo, vào khu cách ly tập trung rồi còn ghen tuông để xảy ra án mạng vì sắc là hố than hừng, là con rắn độc, tâm mình cứ tham đắm trong đó thì đương nhiên bị rơi vào hố than, bị trúng nọc độc, còn tu Bát Chánh Đạo là nhằm rời xa sắc nhưng sắc ở đây mang hàm ý rộng lớn chứ không chỉ riêng chuyện nam nữ, đó là nhà cửa, tiền của, ruộng vườn, đất đai… Mình tu tất cả các pháp đều nhằm mục đích hướng đến sự rời xa những thứ đó, hướng đến không tham muốn, chấm dứt, xả bỏ.
Chính vì ngài làm bạn với thiện, chính vì ngài tu tập Bát Chánh Đạo, chính vì ngài y cứ vào việc rời xa năm dục, rời xa tứ đại, rời xa tham, sân, si, vô minh, bản ngã "nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh", nghĩa là do ngài đã rời xa nên ngài mới chỉ dạy lại cho chúng sanh con đường rời xa, ngài thoát ra nên mới hướng dẫn con đường thoát ra, ngài giải thoát nên mới hướng dẫn được đạo lộ giải thoát.
Chính vì ngài tu tập như vậy "nên các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị bệnh được giải thoát khỏi bệnh; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ ưu, não", minh chứng là có nhiều Phật tử bị nhiễm dịch bệnh nhưng tâm vẫn an trú trong pháp, đó là bị bệnh nhưng thoát ra khỏi bệnh.
Người ngoài nhìn vào chỉ thấy tiêu cực, bi quan nhưng khi nhìn bằng Thánh trí huệ sẽ thấy tuyệt diệu, khi chưa xảy ra đại dịch thì giao thương rất bình thường, đến khi xảy ra đại dịch thì việc đi lại, giao tiếp, tập trung trở nên khó khăn nên mọi người rất mong đợi, ao ước trở lại bình thường, nếu hết dịch ai cũng thấy hạnh phúc nhưng khi nhìn sâu vào thì trước dịch vẫn có những cái khổ chứ không phải trước dịch là không có khổ, khổ vì tham, sân, si, sầu, bi, ưu, não, vẫn sanh, già, bệnh, chết, trong khi dịch diễn ra là quá khổ, rồi sau khi hết dịch lại khổ kiểu khác, cho nên Đức Thế Tôn mới nói đời sống này là đại khổ uẩn, đạo lộ của Phật pháp nguyên chất là phải nhìn thấy được toàn bộ khổ uẩn này thì người đó mới buông xả được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, vì thấy cái khổ đó mà các pháp khác mới thành tựu.
Thấy được khổ rồi không dám buông lung, thấy khổ rồi mà sân lên cho khổ nữa hay sao, những người trong khu vực cách ly ý thức được rằng họ đang rất khổ thì họ sẽ không cãi nhau, đánh nhau nữa, khổ vì bị nhiễm bệnh phải vào khu cách ly rồi giờ đi tìm cái khổ khác cho khổ chồng khổ nữa hay sao, chỉ có ý thức được đang bị khổ hành hạ mới không tạo ra thêm những cái khổ mới nữa.
"Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau".
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Khi đã ý thức được cái khổ thì tự động tham, sân, si, vô minh và bản ngã sẽ được lắng dịu, sẽ bớt hoặc dừng lại việc tạo thêm nghiệp mới, còn không thấy khổ sẽ rất khó tu, họ sẽ sân si, tham muốn đủ điều. Trong chữ "tình" bao gồm cả ái và dục, ngoài ra còn có tham, cả ba chữ này rất khủng khiếp chứ không đơn giản như mình suy nghĩ, để hiểu được bản chất, sự vận hành, sự xâm chiếm, áp đảo của nó là không dễ dàng, phải là bậc Thánh quả chánh kiến Tu-đà-hoàn mới nhìn thấy trọn vẹn nguy hiểm và tác hại của nó. Ái nghĩa là thích thú, có cảm giác dễ chịu, thương mến và chúng sanh thường xuyên bị sập bẫy của ái. Dục là sự mong muốn, là sự thúc giục, cầm điện thoại lên là nói bất tận mặc kệ người nghe có muốn nghe hay không, có là một sự thúc giục mãnh liệt đang điều khiển chúng sanh hữu tình, vạn loại nhưng không ai hay biết, cái dục này không chỉ áp đảo người đời mà đến cả người tu cũng không tránh được nó, nếu người tu không thành tựu trí năm uẩn, không thành tựu trí lậu hoặc cũng không biết được nó.
Cho nên sự tu của mình trong Bát Thánh Đạo là y cứ viễn ly, rời xa những cái dục, chấm dứt, đoạn diệt sự thúc giục đó, chấm dứt việc đi như có ai đuổi, chấm dứt việc nói như có ai giành nói. Sự tu tập của mình là làm an tịnh và lắng dịu các thọ; tưởng; hành, có được tâm tự chủ, bình an không bị thúc giục nữa, nhưng muốn được như vậy thì không được phóng dật, muốn không phóng dật, không buông lơi là phải nhìn thật kĩ rồi nhiếp phục, chế ngự, bảo vệ, phòng hộ, nếu không cảm thọ sẽ quậy phá mình không yên định được, nó là một cảm thọ hoạt động ngấm ngầm thúc giục mình, phải đi nhanh, phải nói lẹ, làm gì cũng vội vàng, hấp tấp, lúc nào cũng bận rộn, chúng ta không được như vậy mà phải tập an tịnh, lắng dịu, tịnh chỉ các hành thì trí tuệ năm uẩn mới tỏ sáng, từ đó mới có thể nhiếp phục và chế ngự các sự thúc giục đó. Tu tập Thánh đạo này là rời xa, đoạn diệt những cái đó, hướng đến sự xả ly, buông bỏ, chấm dứt những cái đó, do Thế Tôn tu tập như vậy nên mới giúp chúng sanh thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
"Này Ðại vương, để Ðại vương có thể trở thành thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, Ðại vương cần phải y cứ, an trú vào một pháp, tức là không phóng dật trong các thiện pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Thiện pháp là nhiếp phục tham, đoạn tận tham; nhiếp phục sân, đoạn tận sân; nhiếp phục dục, đoạn tận dục; nhiếp phục ái, đoạn tận ái; nhiếp phục bản ngã, vô minh, đoạn tận bản ngã, vô minh. Phải nhìn sâu vào sự hoạt động trong nội tâm, sự điều khiển, dẫn dắt, áp đảo bên trong, bây giờ dùng từ "dục điên cuồng" rất phù hợp vì chúng sanh đang chìm đắm trong đó, tìm mọi cách để thỏa mãn lòng dục, lòng tham, chỉ cần nghe một cuộc điện thoại là bị mất tiền, có khi mất cả gia tài, tin nhắn lừa đảo tràn ngập hiện nay, trong mùa dịch lại có nhiều thủ đoạn tinh vi lừa đảo vì những ác tuệ, ác dục quá nhiều.
Ác dục là tham lam theo chiều ác, ác tuệ là dùng sự thông minh tính toán đủ cách để lừa đảo, lừa gạt người ta, mưa không đều, gió không thuận nên có nhiều bệnh lạ xảy ra, lòng người hung ác, tàn độc, chiến tranh, cướp bóc, dùng mọi thủ đoạn làm khổ lẫn nhau. Cho nên trong thời điểm này chúng ta cần nhớ kiếp người trân quý, Thánh trí tối thượng, sử dụng những hơi thở, lời nói, trong từng bước chân, từng cử chỉ hành động cho có giá trị, phải biết trân quý những điều này. Mình mượn những điều này để mình tu, để chứng nhập Thánh trí vô thường, khổ, vô ngã của cuộc đời này chứ không phải mình nâng niu, yêu thích nó, cho nên mình phải khéo léo, thông minh để có bình an, an lạc, từ bi, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm tu học chánh pháp, thể nhập Thánh trí tối thượng chứ đừng ngu si rồi tạo ra sầu, bi, ưu, não, làm đau khổ cho nhau.
./.
TƯƠNG ƯNG KOSALA 6
KHÔNG BUÔNG LUNG
CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không phóng dật PAGEREF _Toc113979190 \h 1
II. Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc113979191 \h 3
III. Lợi tha khi không phóng dật PAGEREF _Toc113979192 \h 6
IV. Hộ trì căn – Chánh Niệm PAGEREF _Toc113979193 \h 9
V. Tu tập Bát Chánh Đạo PAGEREF _Toc113979194 \h 14
I. Không phóng dật
Chúng ta tiếp tục nghe về Tương Ưng Kosala, nghe về những lời giáo hóa của Đức Phật đối với vua Ba-tư-nặc.
"Ở tại Sàvatthi.
… Ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có một pháp nào có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau?
-- Thưa Ðại vương, có một pháp có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau.
-- Bạch Thế Tôn, pháp ấy là gì, có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau?
-- Bất phóng dật, thưa Ðại vương, là một pháp có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Không Phóng Dật)
Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình phải có sự bảo vệ, giữ gìn, để ý, trông chừng, chính sự bảo hộ, giữ gìn, quản lý thân tâm là pháp đưa đến hạnh phúc cho cả đời này và đời sau, đưa đến bình an, đưa đến an lạc, hạnh phúc trong đời này và kiếp sau.
"Thưa Ðại vương, cũng như con voi, trong tất cả loài hữu tình có chân, tóm thâu tất cả đặc tướng của chân trong bàn chân của nó; và bàn chân của voi được xem là đệ nhất về phương diện to lớn trong tất cả loại chân. Cũng vậy, thưa Ðại vương, bất phóng dật là một pháp có thể đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời sau.
Ai ước nguyện tuổi thọ,
Không bệnh, có diệu sắc,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Sanh các nhà quý tộc,
Phải liên tục tăng thượng,
Tinh tấn, không dừng nghĩ.
Người hiền triết tán thán,
Hạnh lành không phóng dật,
Ðối với những người lành,
Làm các hạnh công đức,
Người hiền không phóng dật,
Ðược cả hai lợi ích,
Lợi ích trong đời này,
Lợi ích cả đời sau.
Kẻ anh hùng được gọi,
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy,
Hạnh phúc cho chính mình".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Không Phóng Dật)
Bài kinh này lặp lại rất nhiều lần con đường hạnh phúc không những cho đời này mà cả đời sau. Ai mong muốn được sống lâu, ai mong muốn được khỏe mạnh, ai mong muốn có sắc đẹp, ai mong muốn sanh lên cõi trời hoặc mong muốn sanh trong đời này vào nhà quý tộc thì người đó phải liên tục cố gắng hướng lên, siêng năng chứ không được dừng nghỉ. Người hiền trí khen ngợi hạnh lành không buông lung này, đối với những người làm các hạnh công đức và những người hiền không phóng dật đều có lợi ích. Người hiền là không có buông lung, do vì không buông lung, buông thả, buông xuôi sáu căn nên họ được lợi ích ngay trong đời này và cả trong đời sau.
"Kẻ anh hùng được gọi,
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy,
Hạnh phúc cho chính mình".
Tại sao lại gọi người đó là anh hùng, là bậc hiền triết? Vì người đó biết nắm lấy hạnh phúc cho chính mình.
II. Làm bạn với thiện
"Trú ở Sàvatthi.
... Rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con ngồi yên tĩnh một mình, tư tưởng sau đây được khởi lên: 'Pháp được Thế Tôn khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du'".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Vua Ba-tư-nặc khởi lên suy nghĩ pháp của Thế Tôn được giảng cho người hiền, người thiện, người lành chứ không phải giảng cho người hung dữ, hung ác.
"-- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, pháp được Ta khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du.
Một thời, thưa Ðại vương, Ta ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca) tại một thị trấn của các vị Sakka.
Rồi thưa Ðại vương, Tỳ-kheo Ananda đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Ðại vương, Tỳ-kheo Ananda bạch với Ta:
'-- Bạch Thế Tôn, quá phân nửa đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du'.
Khi được nói vậy, thưa Ðại vương. Ta nói với Tỳ-kheo Ananda:
'-- Này Ananda, không phải vậy. Này Ananda, không phải vậy. Thật sự, này Ananda, toàn phần đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du. Từ một Tỳ-kheo làm bạn với thiện, này Ananda, chúng ta hy vọng rằng vị ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du'".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Đức Phật nhắc lại cho vua Ba-tư-nặc nghe bài kinh Một nửa mà Đức Phật đã dạy cho ngài Ananda vì suy nghĩ của nhà vua là đúng pháp cho nên Đức Phật nhắc lại câu chuyện cũ, trong đó ngài Anan nói với Đức Phật rằng cả sự tu hành này được người bạn lành giúp mình hơn phân nửa nhưng Thế Tôn nói không phải vậy, sự tu hành của mình tất cả đều nhờ vào bậc thiện tri thức, nhờ vào thầy lành bạn tốt, nhờ vào những người hiền thiện, gọi là bạn đạo đồng tu hoặc là bậc thiện tri thức.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn".
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Chữ "thiện" ở đây vừa là người bạn tốt, vừa là thiện pháp, là Bát Chánh Đạo, mình hiểu nghĩa gần nhất là bậc thiện tri thức, là vị thầy hướng dẫn cho mình, là huynh đệ đồng tu. Bậc thầy cũng được gọi là thiện hữu, bậc thiện tri thức hoặc là huynh đệ, một bậc cư sĩ hiền thiện tri thức cũng có thể là bậc thiện hữu hoặc có thể là người xuất gia hành trì thiện pháp hoặc chánh kiến. Nếu mình giao du, quen biết, mình làm bạn, thân cận, gần gũi, được người đó hướng dẫn thì hi vọng mình sẽ tu tập được Bát Chánh Đạo và viên mãn được Bát Chánh Đạo. Chữ "hiền thiện" trong kinh Nikāya rất sâu sắc, đó là bậc hiền trí, hiền triết, hiền Thánh, còn bây giờ dùng chữ hiền theo nghĩa rất khác.
"Và Ananda, thế nào là Tỳ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo tu tập chánh tri kiến, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly, tu tập chánh tư duy..., tu tập chánh ngữ..., tu tập chánh nghiệp..., tu tập chánh mạng..., tu tập chánh tinh tấn..., tu tập chánh niệm..., tu tập chánh định, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly. Như vậy, này Ananda, là vị Tỳ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
Và chính theo pháp môn này, này Ananda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.
Này Ananda, chính vì Ta y cứ, làm bạn với thiện, nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị bệnh được giải thoát khỏi bệnh; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ ưu, não. Và chính theo pháp môn này, này Ananda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Vị nào tu tập Tám Đúng này là dựa vào sự rời xa, rời tham muốn, dựa vào sự chấm dứt tham, sân, si, vô minh, tham ái đối với năm uẩn. Chính vì Đức Phật làm bạn với thiện, y cứ vào thiện nên các chúng sanh bị sanh, già, bệnh, chết được thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, các chúng sanh bị buồn đau, khổ sầu được thoát khỏi buồn đau, sầu khổ cho nên toàn bộ đời sống tu hành này đều thuộc về bạn lành, bậc thiện tri thức, thuộc về thầy lành bạn tốt.
"Do vậy, này Ðại vương, cần phải học như sau: 'Tôi sẽ là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du'. Như vậy, này Ðại vương, Ðại vương cần phải học. Này Ðại vương, để Ðại vương có thể trở thành thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, Ðại vương cần phải y cứ, an trú vào một pháp, tức là không phóng dật trong các thiện pháp".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Đức Phật nhắc nhà vua tác ý bản thân phải là người lành, người thiện. Muốn trở thành bạn lành, thiện hữu, bậc thiện tri thức thì phải an trú vào một pháp, đó là không buông lung, không buông thả, không buông xuôi với các thiện pháp, không xem thường các thiện pháp, một buổi ngồi thiền, một buổi nghe pháp, một buổi tụng kinh hay một buổi công quả hoặc một việc thiện trong đại chúng đều không được xem thường.
III. Lợi tha khi không phóng dật
Đó là nói cho tự thân, sau đây là nói cho tha nhân, đừng nghĩ rằng cái pháp không buông lung này chỉ đem lại lợi ích cho chính mình (tự lợi) nhưng thực tế còn có lợi tha. Mình chưa làm gì cả nhưng thực tế đã đem lại lợi ích cho người khác, còn thấy mình làm rất nhiều việc nhưng chưa chắc đem lại lợi ích cho người khác.
"Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời các nữ cung nhân sẽ suy nghĩ: 'Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật'.
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các vị Sát-đế-lỵ chư hầu sẽ suy nghĩ: 'Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật'.
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các dân chúng ở thị trấn và quốc độ sẽ suy nghĩ: 'Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật. Vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật'
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời tự ngã được che chở, hộ trì, nội cung được che chở, hộ trì, kho tàng được che chở, hộ trì".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Nữ cung nhân phải hiểu rộng ra là ngoài các cung nữ phục vụ trong cung còn có hoàng hậu, quý phi, những người nữ gần gũi nhà vua khi thấy vua không buông lung thì bản thân họ cũng phải biết giữ gìn. Sát-đế-lỵ là dòng dõi quan văn, quan võ và chư hầu thấy nhà vua không buông lơi thì các vị này cũng sẽ cố gắng giữ gìn. Đầu tiên là các phi tần, cung nữ, kế đó là các quan, chư hầu và bây giờ nói rộng là dân chúng cả nước, cả quốc độ cũng sẽ giữ gìn, nếu nhà vua biết giữ gìn, an trú trong việc không buông thả thì tự thân của nhà vua được giữ gìn, tự mình che chở cho mình, tự mình bảo hộ cho mình, "nội cung được che chở, hộ trì, kho tàng được che chở, hộ trì".
Chỉ với một pháp không buông lung phóng dật mà có đầy đủ tự lợi lợi tha, ra tới cả thị trấn, quốc độ, thành phố và toàn quốc cho nên khi hiểu lợi tha là phải đi đây đi đó làm lợi cho người ta là không phải, chính tự thân tu tập các thiện hạnh, Thánh hạnh đó sẽ đem lại lợi tha rộng lớn chứ không nhất thiết phải đi nhiều. Tự mình tu không buông lung phóng dật thì những người kề cận trong thân quyến của mình, trong cung đình, trong đạo tràng, tự viện sẽ được lợi ích từ việc tu hành của mình.
Tự thân mình biết giữ gìn, không buông lơi, không buông thả, không buông lung thì người ở gần bên mình thấy mình như vậy cũng sẽ giữ gìn, họ có thể là chồng con, cha mẹ, anh chị em, tu cái này rất tuyệt vời, đứng gần bếp lửa phải nóng, đứng gần quạt thì phải mát, tức là cảm thọ khi tu tập sẽ tỏa ra và mình sẽ hưởng được điều đó, còn ở gần người buông lung phóng dật nếu không vững vàng sẽ bị ảnh hưởng ngay, tự thân người đó không giữ gìn được và người mà họ giao tiếp cũng không giữ gìn, làm ảnh hưởng cả đại chúng, không còn sự trang nghiêm thanh tịnh, thả lỏng các căn, vì thế cần chiêm nghiệm và thực hành vì đây là con đường hạnh phúc cho đời này và đời sau, hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính ngay ở nơi không buông lơi đối với thân tâm mình, đó là chỗ đến của hạnh phúc.
Trong gia đình nếu mình có giữ gìn thì mọi người cũng sẽ giữ gìn, ở nơi làm việc cũng vậy, mình tập trung vào công việc thì những người khác cũng sẽ tập trung vào công việc, còn vừa làm vừa chơi không tập trung công việc thì người khác cũng sẽ bắt chước, người này đi trễ được thì người kia cũng đi trễ được, người kia đi trễ thì tới người nọ đi trễ, cuối cùng ảnh hưởng hết tập thể. Trong đạo tràng cũng thế, người này bỏ nghe pháp thì người kia cũng bỏ được, người nọ muốn lên ngồi thiền thì ngồi, không muốn thì thôi nên những người khác cũng sẽ làm theo thế là ảnh hưởng hết đạo tràng.
Từ trong gia đình, đến công sở hoặc rộng ra đến những người lạ, người dân Nhật Bản thường được khen ngợi rất tự giác, có những nơi ở Nhật Bản không có người bán mà người mua tự lấy đồ và tự động trả tiền, người ta rất văn minh, lịch sự, có nhiều điều đáng phải học hỏi theo, ở những nơi công cộng đều tự động xếp hàng, nói chuyện vừa đủ nghe còn chúng ta chừng vài ba người là thành cái chợ, ồn ào, làm ảnh hưởng người khác, đại chúng đang trang nghiêm thanh tịnh mà có người nói chuyện lớn tiếng sẽ làm động niệm tất cả mọi người nhưng bản thân người nói lớn tiếng lại không hay biết.
"Người ước mong tài sản,
Phải liên tục tăng thượng,
Người hiền trí tán thán,
Hạnh lành không phóng dật.
Ðối với những người lành,
Làm các hạnh công đức.
Người hiền không phóng dật,
Ðược cả hai lợi ích,
Lợi ích trong đời này,
Lợi ích cả đời sau.
Kẻ anh hùng được gọi
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy
Hạnh phúc cho chính mình".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
IV. Hộ trì căn – Chánh Niệm
Minh Thành giải nghĩa phóng dật là buông lơi, buông thả, buông lung, buông trôi, thêm một từ trong kinh là thả lỏng, năm từ này có ý nghĩa tương đương với phóng dật. Phóng dật là thả lỏng các căn, thả lỏng con mắt, thả lỏng lỗ tai, thả lỏng lỗ mũi, thả lỏng lưỡi, thả lỏng tâm ý, buông thả sáu căn, buông lung sáu căn, buông trôi sáu căn, nói gọi là buông thả thân tâm. Nếu mình không thành tựu pháp không phóng dật này sẽ đau khổ lâu dài.
"-- Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
.. Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Có sáu xúc này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Biết phòng hộ, biết giữ gìn sẽ an lạc trong cả đời này và đời sau, nhưng để có được chánh niệm và tỉnh thức không buông lơi, buông thả, không thả lỏng là cả một sự tu tập kiên trì, gian khó. Chỉ vừa nghe xong bài giảng pháp là đã bung ra rồi, đó là một kiết sử, không biết tu tập thân tâm, không tu tập giới, không tu tập tuệ, không biết tu là thường trú trong trạng thái buông lung nhưng lại không biết và cho điều đó là bình thường, còn tu tập là khó chịu, giữ gìn là thấy bức xúc, bức bối.
Cái thọ bên trong người mình là một thọ nổi loạn, cái thọ đó thích thả lỏng chứ không muốn hộ trì, không muốn giữ gìn và cái này sẽ đưa đến đau khổ. Vợ chồng nói chuyện một chút là cự cãi là do thả lỏng, lúc mới quen giữ gìn từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ, còn giờ ở chung là thả lỏng mọi thứ nên mới có sân hận, gây gổ, còn biết giữ gìn sẽ giảm bớt hoặc không xảy ra la mắng. Huynh đệ tỉ muội hay xảy ra chuyện bất hòa, nói vài ba câu là buồn giận cũng do thả lỏng, không biết giữ gìn, muốn nói là nói chứ không dè chừng, không cẩn thận, không biết lời nói đó có nên nói hay không, nói ở mức độ nào, nói bao nhiêu phần, nói lúc nào, nói cho ai, nói cái gì, muốn là nói rồi buồn giận, ở trong nhà cũng vậy, trong tập thể cũng vậy và trong chùa cũng thế, còn biết giữ gìn sẽ không bị đau khổ.
Chỉ với một chữ "không buông lung" là cả một công phu tu tập, đó là bí quyết tu hành, Đức Phật ví dụ như dấu chân voi, trong dấu chân đó thâu tóm tất cả dấu chân khác, cũng vậy, cái pháp không buông lung là tổng thâu nhiếp tất cả các thiện pháp khác, ví dụ mình giữ giới được là do không buông lung, thành tựu định là do không buông lung, thành tựu được tuệ là cả một sự quán chiếu giữ gìn, thành tựu được quán thân trong Tứ Niệm Xứ là cả một sự giữ gìn, tập trung tăng thượng, không thể buông lung mà thành tựu được Thân Hành Niệm, Đức Phật ví dụ ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui mè đều hướng về nóc nhọn, nghiêng về nóc nhọn, cũng vậy, tất cả pháp đều tập trung về chỗ không phóng dật.
"Không phóng dật, này Bà-la-môn là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, phàm có những dấu chân của các loại bộ hành nào, tất cả dấu chân ấy đều được thâu nhiếp trong dấu chân voi. Dấu chân voi được gọi là tối thắng trong các dấu chân ấy, cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như này Bà-la-môn, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui kèo đều hướng về nóc nhọn, thiên về nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, nóc nhọn được gọi là tối thắng trong các vật ấy. Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật..."
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI). Không Phóng Dật)
Từ việc không phóng dật mới thành tựu được những pháp khác. Ví dụ mình có lỗi sai được mọi người chỉ dạy, nếu không buông lung thì mình sẽ lắng nghe lời chỉ dạy đó, để ý những lần sau không lặp lại lỗi đó nữa, còn nếu buông lung thì sân lên, chối tội, lấy lý do này lý do kia để ngụy biện quanh co. Tại sao lại ngụy biện, quanh co, sân si, bản ngã?
Là do không thu nhiếp các căn, nếu có sự chánh niệm tỉnh giác, không buông lung phóng dật thì khi nghe sẽ tập trung nhìn lại, chiêm nghiệm sẽ thấy đúng, dù có tự ái nhưng phải từ bỏ tự ái để học cái đúng này, học đạo là phải như vậy, còn buông lung là "như vậy là khinh thường tôi", "tại sao cứ nói tôi hoài vậy", suy nghĩ theo lối đó là thất bại, từ ân nhân trở thành người mình không thích, người ta chỉ chỗ chôn vàng nhưng mình từ chối vì cái tâm buông lung, buông lơi, thả lỏng đó không thấy được pháp, các pháp không như thật hiển hiện trong tâm buông lung, các pháp đã bị che mờ hoàn toàn.
Mình đi thẳng, nhìn thẳng về phía trước đúng theo oai nghi, đúng theo tinh thần chánh niệm sẽ thấy phía trước có con ếch, con gián, côn trùng, sỏi đá thì tránh né được, còn giờ đi mà nhìn trên trời trên mây, không chú ý dưới chân sẽ lỡ chân đạp chết con ốc hay con kiến, đó là do buông lung nên phạm giới sát sanh, vậy là ăn chay trường nhưng lại phạm giới sát sanh, trong bước chân không có giữ gìn, chánh niệm thì tạo nghiệp. Cho nên không buông lung giúp cho mình rất nhiều chuyện, giúp an ổn trong gia đình, giảm bớt bất hòa, tạo sự hòa hợp trong đại chúng, thăng tiến trong tu tập, ai cũng thâu nhiếp sẽ rất mát mẻ, thanh lương, an tịnh.
Nếu có một người buông lung sẽ làm động niệm những người còn lại, người ta muốn yên tĩnh quán chiếu còn mình lại gây ồn ào, điều đó làm tự thân mình không tu tập được, ngoài ra còn làm động niệm đại chúng làm mình tổn phước, tổn đức, đời tu càng ngày càng giảm thiểu đi đến thối đọa. Khi ngồi thiền phải biết quán sát những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong thân tâm một cách cẩn trọng, chánh niệm và tỉnh giác, phải biết cái nào cho qua, cái nào cần xử lý, còn buông lung là cho qua hết thậm chí không thấy các pháp đang diễn ra thì làm sao xử lý, đó là thả lỏng ý căn, thả lỏng sự quán sát về trí năm uẩn nên ngồi nhiều mà trí huệ chẳng phát sanh, trí tuệ không phát sanh thì không thấy được các lậu hoặc, không thấy một cách rõ ràng, sâu sắc, tu hoài nhưng con mắt trí huệ vẫn không mở được, ở trong chùa lâu ngày nhưng vẫn sân, vẫn giận, thiện pháp có nhưng không tăng trưởng được, thậm chí có nguy cơ giảm thiểu. Cho nên Đức Thế Tôn nói ai ước mong sống lâu, ước mong khỏe mạnh, không bệnh thì phải tu tập pháp không buông lung, trong kinh dùng từ "diệu sắc" thì phải hiểu là những dung sắc thù diệu, trong đó có cả dung sắc của cõi trời, ai muốn được sanh lên thiên giới hoặc sanh vào nhà quyền quý thì phải liên tục tăng thượng pháp không buông lung.
Phải tu tập pháp không buông trôi, buông lung, buông thả như thế nào để sống lâu? Là phải giữ gìn sức khỏe, ăn uống và ngủ nghỉ phải điều độ, tiết độ trong các dục đối với người đời, muốn giữ được vậy thì phải giữ gìn không buông lung mới sống thọ với con cháu. Còn bây giờ ăn chơi trác táng, rượu chè bê tha, buông lung trong các dục thì có khi chưa đến tuổi mạng chung nhưng lại chết trước, gọi là hoạnh tử, đột tử. Phá hủy phước đức cũng chết, bất cẩn cũng chết, gây ra những nghiệp ác sẽ chết trước cái tuổi đáng chết, không phải ai cũng được định sẵn ngày giờ để chết mà có trường hợp chết trước, không cẩn thận là chết, buông lung phóng dật là chết, gặp tai họa là chết hoặc phạm vào những húy kỵ như giết cha, giết mẹ, giết một vị A-la-hán, làm thân Phật chảy máu và chia rẽ Tăng-già, năm trọng tội sẽ bị đày xuống địa ngục.
"- Có năm nghịch tội này, này các Tỳ-kheo, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không có thể chữa trị. Thế nào là năm?
Ðoạt mạng mẹ,
Đoạt mạng cha,
Đoạt mạng vị A-la-hán,
Với ác tâm làm Như Lai chảy máu,
Phá hòa hợp Tăng.
Này các Tỳ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị".
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Chương V - Năm Pháp, (IX). Ngũ Nghịch)
Vì thế tuổi thọ sống lâu là nhờ vào sự giữ gìn của mình, khỏe mạnh, dung sắc hay sanh cõi trời, sanh vào nhà giàu có cũng đều do sự kiểm soát, bảo hộ thân tâm của mình, siêng năng tăng thượng không buông lung, người hiền triết tán thán những hạnh lành này. Đối với người lành họ làm những việc công đức từng chút một, những người kinh doanh buôn bán quý trọng thời gian từng chút một, khi làm gì họ cũng tính toán lời lỗ kĩ lưỡng, họ tích lũy tiền bạc từng đồng, các người lành làm các hạnh công đức cũng giống như vậy, họ rất siêng năng, tinh tấn, nỗ lực từng giây từng phút, nhất là trong thời điểm này đang rất cần bố thí, từ thiện.
Vào sáng nay Minh Thành có cảm xúc về kiếp người rất trân quý, Thánh trí tối thượng, chúng ta còn được ngồi đây nghe pháp như vầy rất quý báu nhưng nếu không tác ý chỉ thấy bình thường, có gì đâu mà quý, nhiều khi nghe pháp còn thấy ngán. Chúng ta phải thấy quý trọng trong từng hơi thở vì giờ này ngoài kia người ta phải giành giật từng hơi thở, thậm chí phải lưa chọn cho người nào được thở và người nào không, đặc biệt trong thời kì dịch bệnh phải chọn cho người nào sống, người nào chết, bác sĩ rất ray rứt và đau khổ vì điều này, số lượng bệnh nhân quá nhiều nên dù rất cố gắng vẫn không đủ dụng cụ y khoa để cứu chữa cho tất cả bệnh nhân cùng lúc, trong lúc dịch bệnh không thiếu những hình ảnh người cha chạy ngược xuôi tìm bình oxy cho con thở hoặc con cái chạy tất tả tìm oxy cứu cha mẹ.
Chúng ta thường đợi đến khi gần mất hoặc mất đi mới thấy hối tiếc, những khi có lại xem thường, không thèm để ý đến cho nên phải quý trọng, nâng niu trong từng hơi thở, khi còn được thở thì phải biết giá trị của hơi thở đó vì nếu không biết sẽ sống trong vô minh, có ngàn vàng cũng không đổi được oxy để thở cho nên phải biết quý hơi thở, quý từng bước chân, chỉ khi nào đau nhức, sưng tấy chân đi không được mới biết quý chứ bình thường không biết quý trọng rồi đi trong lãng quên, đi trong thất niệm.
Chỉ khi nào có chánh niệm, có tỉnh giác, không buông lung phóng dật thì mình mới thấy mỗi động tác của mình đều là sự màu nhiệm, khi có tỉnh thức, khi không buông trôi, buông lơi, buông thả thì mỗi một nhất cử nhất động của mình đều là phép màu, là những tác phẩm kì vĩ trong giây phút hiện tại, nếu không chỉ như thây ma. Mỗi lời nói của mình phải nhả ngọc phun châu chứ không phải muốn nói gì là nói, mỗi một lời nói ra phải đem lại lợi ích cho mình lợi ích cho người, phải biết nâng niu, tôn trọng lời nói chứ không phải dễ thốt ra lời vì chỉ cần thốt là lời là như sen nở, như châu ngọc, đem lại lợi ích cho mọi người thì mới mở lời, còn không là không nói vì thế kiếp người trân quý – Thánh trí tối thượng, kiếp người trân quý – chánh kiến tối thượng.
Đối với suy nghĩ cũng vậy, không phải cái gì cũng nghĩ, phải suy nghĩ về ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, nghĩ về từ bi hỷ xả để được tưới tẳm, tăng trưởng, phát triển, còn nghĩ để nóng giận, ham muốn, bản ngã, vô minh thì đừng nghĩ, thâu nhiếp ý nghĩ đó lại. Giờ này có nhiều người đang ở trong khu cách ly, thậm chí chết trong đó, cho nên chữ "khổ uẩn" phải giải thích là một tổ hợp của khổ đau, một đống khổ, tức là cái khổ này chồng lên khổ kia, khổ kia chất lên khổ nọ thành thảm họa kép.
Lo lắng vì bệnh đã muốn chết rồi, ngoài ra còn bỏ ăn, bỏ ngủ, bỏ nhà, bỏ gia đình, công việc, bất an, hồi hộp vào khu cách ly, không biết bệnh có diễn biến nặng không, có về được không, còn sống không, thế là bí bách lên cự nhau, đánh nhau, chen lấn nhau lấy đồ ăn, đó là cả một tổ hợp của khổ đau, nhìn thấy những cảnh đó rất ngao ngán để cố gắng tu học. Những người nằm trên gường bệnh nhìn thấy mình được ngồi bình an nghe pháp thì điều này đối với họ là kì diệu, là một sự may mắn, là phép màu, là sự vi diệu nhưng mình lại thấy bình thường vì mình không có sự tác ý cho nên phải biết trân quý trong từng hơi thở, trân quý từng bước chân, từng cử chỉ đối với nhau trong gia đình hoặc huynh đệ, tỉ muội, thầy trò hoặc đồng đạo, đồng nghiệp, bạn hữu.
Vì chỉ có trân quý mới không buông lung, buông thả, mình sẽ tiết chế chứ không có những hành vi, cử chỉ không oai nghi của một người tu, mình sẽ biết phòng hộ, giữ gìn, thâu nhiếp, mình biết tu tập. Lành thay, tốt đẹp thay khi biết bảo vệ, phòng hộ con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, lành thay, hạnh phúc thay khi biết bảo vệ cái thân, bảo vệ lời nói, lành thay, màu nhiệm thay khi biết bảo hộ, giữ gìn thọ; tưởng; hành, như vậy là hạnh phúc ngay trong đời này và hạnh phúc trong cả đời sau, như vậy gọi là bậc anh hùng, là người hiền triết, là người biết nắm bắt lấy hạnh phúc cho chính mình, nắm bắt lấy sự không buông thả, buông trôi, buông lung, nắm bắt sự thâu nhiếp, phòng hộ, canh chừng thân tâm, lời nói, sáu căn.
V. Tu tập Bát Chánh Đạo
Bài kinh thứ hai nói về việc vua Ba-tư-nặc suy nghĩ pháp do Thế Tôn khéo thuyết được thuyết cho người lành, người thiện, không phải giảng cho người dữ. Người có tình có nghĩa, có đạo đức sẽ đi vào được pháp này, còn người chưa có thì phải tu tập được những cái căn bản đó mới vào được, còn người bản ngã, sân si được chỉ dạy lại không muốn, thường thì họ sẽ cãi lại, chối tội cho nên "pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du".
Thế Tôn đáp lại rằng nhà vua nói vậy là đúng, pháp của ngài giảng cho người lành, người thiện chứ không giảng cho người hung dữ, người ác. Sau đó Thế Tôn kể lại câu chuyện với ngài Ananda cho nhà vua nghe nhưng có một điều chúng ta cần lưu ý là "từ một Tỳ-kheo làm bạn với thiện, này Ananda, chúng ta hy vọng rằng vị ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du", toàn bộ sự tu học của chúng ta là tu học về Bát Thánh Đạo, làm cho trọn vẹn Bát Thánh Đạo.
Tu tập cái thấy đúng là dựa vào sự rời xa, đây là Thánh pháp ấn được Minh Thành nhắc rất nhiều lần, nếu chúng ta không thấy được đích đến thì làm sao tu, bắn cung mà không có hồng tâm thì bắn về đâu. Tu tập cái thấy đúng là dựa vào sự rời khỏi tham muốn, chấm dứt tham, sân si, dựa vào sự buông bỏ, xả ly, trong tám cái đúng này đều phải như vậy, chính là y cứ vào viễn ly, thoát ly, rời xa, từ bỏ, nếu mình không nắm được trọng tâm ngay đây là sự tu tập không đi đến đích được, phải rời xa năm dục vì nếu tu mà không có sự hướng tâm đến việc rời xa những thứ đó thì tu không đúng.
Tại sao phải rời xa năm thứ đó? Vì năm thứ đó làm chúng sanh đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi và điên đảo, chỉ với một chữ "sắc" thôi đã làm chúng sanh điên đảo, vào khu cách ly tập trung rồi còn ghen tuông để xảy ra án mạng vì sắc là hố than hừng, là con rắn độc, tâm mình cứ tham đắm trong đó thì đương nhiên bị rơi vào hố than, bị trúng nọc độc, còn tu Bát Chánh Đạo là nhằm rời xa sắc nhưng sắc ở đây mang hàm ý rộng lớn chứ không chỉ riêng chuyện nam nữ, đó là nhà cửa, tiền của, ruộng vườn, đất đai… Mình tu tất cả các pháp đều nhằm mục đích hướng đến sự rời xa những thứ đó, hướng đến không tham muốn, chấm dứt, xả bỏ.
Chính vì ngài làm bạn với thiện, chính vì ngài tu tập Bát Chánh Đạo, chính vì ngài y cứ vào việc rời xa năm dục, rời xa tứ đại, rời xa tham, sân, si, vô minh, bản ngã "nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh", nghĩa là do ngài đã rời xa nên ngài mới chỉ dạy lại cho chúng sanh con đường rời xa, ngài thoát ra nên mới hướng dẫn con đường thoát ra, ngài giải thoát nên mới hướng dẫn được đạo lộ giải thoát.
Chính vì ngài tu tập như vậy "nên các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị bệnh được giải thoát khỏi bệnh; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ ưu, não", minh chứng là có nhiều Phật tử bị nhiễm dịch bệnh nhưng tâm vẫn an trú trong pháp, đó là bị bệnh nhưng thoát ra khỏi bệnh.
Người ngoài nhìn vào chỉ thấy tiêu cực, bi quan nhưng khi nhìn bằng Thánh trí huệ sẽ thấy tuyệt diệu, khi chưa xảy ra đại dịch thì giao thương rất bình thường, đến khi xảy ra đại dịch thì việc đi lại, giao tiếp, tập trung trở nên khó khăn nên mọi người rất mong đợi, ao ước trở lại bình thường, nếu hết dịch ai cũng thấy hạnh phúc nhưng khi nhìn sâu vào thì trước dịch vẫn có những cái khổ chứ không phải trước dịch là không có khổ, khổ vì tham, sân, si, sầu, bi, ưu, não, vẫn sanh, già, bệnh, chết, trong khi dịch diễn ra là quá khổ, rồi sau khi hết dịch lại khổ kiểu khác, cho nên Đức Thế Tôn mới nói đời sống này là đại khổ uẩn, đạo lộ của Phật pháp nguyên chất là phải nhìn thấy được toàn bộ khổ uẩn này thì người đó mới buông xả được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, vì thấy cái khổ đó mà các pháp khác mới thành tựu.
Thấy được khổ rồi không dám buông lung, thấy khổ rồi mà sân lên cho khổ nữa hay sao, những người trong khu vực cách ly ý thức được rằng họ đang rất khổ thì họ sẽ không cãi nhau, đánh nhau nữa, khổ vì bị nhiễm bệnh phải vào khu cách ly rồi giờ đi tìm cái khổ khác cho khổ chồng khổ nữa hay sao, chỉ có ý thức được đang bị khổ hành hạ mới không tạo ra thêm những cái khổ mới nữa.
"Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau".
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Khi đã ý thức được cái khổ thì tự động tham, sân, si, vô minh và bản ngã sẽ được lắng dịu, sẽ bớt hoặc dừng lại việc tạo thêm nghiệp mới, còn không thấy khổ sẽ rất khó tu, họ sẽ sân si, tham muốn đủ điều. Trong chữ "tình" bao gồm cả ái và dục, ngoài ra còn có tham, cả ba chữ này rất khủng khiếp chứ không đơn giản như mình suy nghĩ, để hiểu được bản chất, sự vận hành, sự xâm chiếm, áp đảo của nó là không dễ dàng, phải là bậc Thánh quả chánh kiến Tu-đà-hoàn mới nhìn thấy trọn vẹn nguy hiểm và tác hại của nó. Ái nghĩa là thích thú, có cảm giác dễ chịu, thương mến và chúng sanh thường xuyên bị sập bẫy của ái. Dục là sự mong muốn, là sự thúc giục, cầm điện thoại lên là nói bất tận mặc kệ người nghe có muốn nghe hay không, có là một sự thúc giục mãnh liệt đang điều khiển chúng sanh hữu tình, vạn loại nhưng không ai hay biết, cái dục này không chỉ áp đảo người đời mà đến cả người tu cũng không tránh được nó, nếu người tu không thành tựu trí năm uẩn, không thành tựu trí lậu hoặc cũng không biết được nó.
Cho nên sự tu của mình trong Bát Thánh Đạo là y cứ viễn ly, rời xa những cái dục, chấm dứt, đoạn diệt sự thúc giục đó, chấm dứt việc đi như có ai đuổi, chấm dứt việc nói như có ai giành nói. Sự tu tập của mình là làm an tịnh và lắng dịu các thọ; tưởng; hành, có được tâm tự chủ, bình an không bị thúc giục nữa, nhưng muốn được như vậy thì không được phóng dật, muốn không phóng dật, không buông lơi là phải nhìn thật kĩ rồi nhiếp phục, chế ngự, bảo vệ, phòng hộ, nếu không cảm thọ sẽ quậy phá mình không yên định được, nó là một cảm thọ hoạt động ngấm ngầm thúc giục mình, phải đi nhanh, phải nói lẹ, làm gì cũng vội vàng, hấp tấp, lúc nào cũng bận rộn, chúng ta không được như vậy mà phải tập an tịnh, lắng dịu, tịnh chỉ các hành thì trí tuệ năm uẩn mới tỏ sáng, từ đó mới có thể nhiếp phục và chế ngự các sự thúc giục đó. Tu tập Thánh đạo này là rời xa, đoạn diệt những cái đó, hướng đến sự xả ly, buông bỏ, chấm dứt những cái đó, do Thế Tôn tu tập như vậy nên mới giúp chúng sanh thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
"Này Ðại vương, để Ðại vương có thể trở thành thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, Ðại vương cần phải y cứ, an trú vào một pháp, tức là không phóng dật trong các thiện pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)
Thiện pháp là nhiếp phục tham, đoạn tận tham; nhiếp phục sân, đoạn tận sân; nhiếp phục dục, đoạn tận dục; nhiếp phục ái, đoạn tận ái; nhiếp phục bản ngã, vô minh, đoạn tận bản ngã, vô minh. Phải nhìn sâu vào sự hoạt động trong nội tâm, sự điều khiển, dẫn dắt, áp đảo bên trong, bây giờ dùng từ "dục điên cuồng" rất phù hợp vì chúng sanh đang chìm đắm trong đó, tìm mọi cách để thỏa mãn lòng dục, lòng tham, chỉ cần nghe một cuộc điện thoại là bị mất tiền, có khi mất cả gia tài, tin nhắn lừa đảo tràn ngập hiện nay, trong mùa dịch lại có nhiều thủ đoạn tinh vi lừa đảo vì những ác tuệ, ác dục quá nhiều.
Ác dục là tham lam theo chiều ác, ác tuệ là dùng sự thông minh tính toán đủ cách để lừa đảo, lừa gạt người ta, mưa không đều, gió không thuận nên có nhiều bệnh lạ xảy ra, lòng người hung ác, tàn độc, chiến tranh, cướp bóc, dùng mọi thủ đoạn làm khổ lẫn nhau. Cho nên trong thời điểm này chúng ta cần nhớ kiếp người trân quý, Thánh trí tối thượng, sử dụng những hơi thở, lời nói, trong từng bước chân, từng cử chỉ hành động cho có giá trị, phải biết trân quý những điều này. Mình mượn những điều này để mình tu, để chứng nhập Thánh trí vô thường, khổ, vô ngã của cuộc đời này chứ không phải mình nâng niu, yêu thích nó, cho nên mình phải khéo léo, thông minh để có bình an, an lạc, từ bi, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm tu học chánh pháp, thể nhập Thánh trí tối thượng chứ đừng ngu si rồi tạo ra sầu, bi, ưu, não, làm đau khổ cho nhau.
./.