Thiền Quán - Tương Ưng Sự Thật - Tứ Thánh Đế 3
Kinh Nikāya Thiền Quán
TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT
TỨ THÁNH ĐẾ 3
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bốn sự thật vi diệu PAGEREF _Toc110242124 \h 1
II.Cẩn thận với tâm mình PAGEREF _Toc110242125 \h 5
III.Vị tu hành chân chánh PAGEREF _Toc110242126 \h 6
IV.Không được lãng quên PAGEREF _Toc110242127 \h 10
Bốn sự thật vi diệu
Chúng ta tiếp tục nghe về Tương Ưng Sự Thật, buổi thứ ba, phẩm Kotigàma.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa các dân chúng Vajji, tại Kotigàma.
Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.
Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, I. Minh (1))
Đức Phật nói rằng do không thấy biết, không thông suốt bốn sự thật cho nên ngài và các Tỳ-kheo phải rong ruổi, lưu chuyển lâu dài như thế này. Do không thông hiểu, thấu đạt về bốn sự thật khổ đau, về nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau nên ngài và các Tỳ-kheo phải trôi nổi lâu ngày, nhưng hôm nay ngài đã giác ngộ bốn Thánh đế này, đã chặt đứt hữu ái, đoạn trừ những gì đưa đến tái sanh để không còn đưa đến tái sanh nữa.
"Nhưng nay, này các Tỳ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ tập đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt. Ðược chặt đứt là hữu ái, được đoạn tận là những gì đưa đến tái sanh (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, I. Minh (1))
Trên đây là bài kinh “Minh”. Tiếp đến là bài kinh Đức Phật nói những vị Sa-môn, những vị tu hành nào không biết đúng sự thật về bốn Thánh đế thì ngài không chấp nhận đó là những người tu, những điều này chúng ta ít được nghe. Đây là điều tóm gọn của bài kinh số 2.
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỳ-kheo, không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ', không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ tập', không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt', không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', thời này các Tỳ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, Bà-la-môn hạnh.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỳ-kheo, như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ', như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ tập', như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt', như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', thời này các Tỳ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay của Bà-la-môn hạnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, II. Minh (2))
Bất cứ một người tu nào, một vị Sa-môn, một vị tu hành nào mà không biết một cách đúng như sự thật về bốn Thánh đế thì Thế Tôn không chấp nhận đó là người tu hành. Cho nên dù có cạo tóc đắp y ở trong chùa mấy chục năm cho đến suốt đời nhưng không như thật rõ biết đời sống này là khổ đau, không rõ biết đúng sự thật bản chất thân xác này là khổ đau, không rõ biết đúng sự thật những nguyên nhân làm cho mình đau khổ và cũng không rõ biết đúng sự thật con đường chấm dứt khổ đau thì người đó chưa thật sự là đệ tử chân chánh của Đức Phật. Bởi lẽ, Đức Phật đã nói nếu không rõ biết bốn sự thật này thì "các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn". Đây là định nghĩa mới của người xuất gia, mình nói là mới là do mới được biết đến nhưng thật ra tiêu chuẩn này đã có từ ngàn xưa, người nào thấy biết bốn Thánh đế thì người đó mới là người xuất gia chân chánh, mới là người Phật tử chân chánh, còn nếu không thấy không biết gì cả thì không được chấp nhận đó là người tu hành.
Bài kinh đầu tiên nói rằng sở dĩ có đau khổ, lưu chuyển, trôi nổi lâu dài là do không thấy bốn sự thật, nhìn ra toàn thế giới có gì không phải là khổ, bị muỗi cắn là khó chịu, bị sâu bắn nổi mẩn đỏ khắp người là khổ, đói cũng khổ, no quá cũng khổ, khát cũng khổ mà uống nhiều quá cũng khổ. Những người nào không được những gì họ mong muốn thì họ nghĩ “mình khổ, người nào được thì sướng” nhưng họ không biết rằng người được nhiều cũng có cái khổ của họ. Đó là lý do phải thấy cái khổ nằm trong tất cả mọi sự hiện hữu mới là Khổ Thánh Đế chứ không phải thấy nghèo, bệnh mới khổ, mà người giàu, khỏe vẫn khổ, vẫn tội nghiệp.
Như vậy, nếu chỉ thấy người nghèo là khổ, người giàu có sung sướng, hạnh phúc thì đó là phàm phu, vẫn chưa thấy được Khổ Thánh Đế. Nếu nghĩ rằng bệnh tật mới khổ còn khỏe mạnh không khổ thì đó chưa phải là cái thấy của một Sa-môn chính thống đệ tử của Đức Phật. Người giàu có cái khổ của người giàu, người khỏe có cái bệnh nằm trong cái khỏe, ngoài ra họ còn có những nỗi khổ khác. Minh Thành đã thấy quá nhiều cái khổ nên phải lấy kinh ra giảng, hết giành đất, giành tiền đến tranh giành chùa chiền, chức quyền, đầy rẫy sự khổ đau trong đời sống này gọi là biến mãn khổ, thấm nhuần khổ. Mình không thấy khổ do mình bị vô minh che lấp, chỉ thấy được vị ngọt chứ không thấy được sự nguy hại của nó, thấy nước ngọt là uống nhiều rồi chứ không biết những thứ này là nguyên nhân đưa đến bệnh tật.
Cho nên, chỉ khi giác ngộ được bốn sự thật mới hết trôi lăn, hết rong ruổi, hết lưu chuyển, còn không giác ngộ được sự thật này, chỉ thấy vui sướng sẽ rất khó tu. Thấy vui thì phải chạy đến chỗ này chỗ kia, tầm cầu chỗ nọ, tìm kiếm hết cái này đến cái khác nhưng cái vui không thấy chỉ toàn thấy cái khổ. Minh Thành đi từ Sài Gòn về núi mà thấy bất an, xe từ mọi phía giống như muốn tông vào xe mình, trên đường đèo thì bị kẹp giữa, phía sau nhấn còi thúc mình chạy nhưng phía trước đầy xe làm sao chạy được. Xung quanh đầy rẫy dục, tham, sân, hận, bãn ngã của hữu tình chúng sanh.
Trưa nay, Minh Thành thấy hình ảnh con chim cứ bay vào tấm kính mổ liên tục vào đó vì nó thấy bóng mình trong đó, nhưng nó cứ nghĩ là con chim nào khác nên cứ mổ ầm ầm vào tấm kính, mình thấy đau đớn giùm cái miệng nó vậy mà nó cứ mổ. Nhìn lại mình không khác gì con chim đó, những hình bóng là tưởng uẩn hiện ra trong tâm rồi tự mình giày vò, đó là mình bị xâm chiếm, áp đảo trong đó, những cảm giác trong tâm cứ thúc giục. Có người ở yên một chỗ tu không được mà muốn đi chỗ này đi chỗ kia, tìm cái này kiếm cái nọ, không muốn bình yên mà muốn phải sân si, hơn thua, tranh đau, ganh tỵ để khổ sầu, thân tàn ma dại, sứt đầu mẻ trán mới chịu, còn an tịnh, lắng dịu, viễn ly lại không muốn, đó là sự khổ trong tâm, ở ngoài thấy thân bình thường nhưng bên trong là một sự nổi loạn, buông lung phóng dật.
Trước khi vào tu chúng ta khổ với những tham, sân, si, hơn thua, ganh tỵ ngoài đời, bây giờ vào tu thì bị hôn trầm, trạo cử, kiết sử, năm triền cái hành hạ, vì thế phải thấy khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, những mầm móng của khổ, những tiềm ẩn của khổ. Nhiều khi ăn dư còn chút đồ ăn là kiến bu đầy trong đó rồi chết trong món đồ ăn đó, chỉ có một miếng ăn mà phải mất mạng, chưa kể đến những thứ mình khạc nhổ có nhiều con bu vào giành giật, câu xé, nhai nuốt lẫn nhau rồi chết trong đó vì vậy cần chiêm nghiệm thật nhiều những cái khổ này.
Đức Phật nói chúng sanh bị sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhai nuốt, những cảm giác làm mình mệt mỏi, bức xúc nên phải nhàm chán nó, những tư tưởng tà tư duy này làm mình si ám, những suy nghĩ về dục, về sân, về hại, về thị phi, nhân ngã sanh khởi lên là phải lo sợ với những thứ đó. Khi thấy những người đua xe, phóng nhanh, lạng lách đánh võng là mình lo sợ nhưng vì vô minh, tham ái, vì dục bên trong bên nên họ lấy đó làm vui, còn mình thấy là lo sợ, đó là nói những việc ở bên ngoài.
Quay ngược vào trong những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng sanh khởi ra là lo sợ, lo lắng vì mình biết đó là mầm mống của khổ, là nguyên nhân, là nguồn cội đưa đến những đời sống của nước mắt, dục vọng, sân hận, đời sống của si ám, bóng đêm, đọa xứ, đó là một nơi không có ánh sáng nên không biết ai ở bên cạnh mình. Lâu thật lâu có những trường hợp đặc biệt như Thế Tôn chuyển pháp luân thì ánh sáng đó mới chiếu vào những chỗ đọa xứ, lúc đó các chúng sanh bị đọa mới thấy có những ai kế cạnh mình. Đọa xứ là nơi không có ánh sáng trong vô lượng vô biên kiếp, lâu lâu có những trường hợp đặc biệt có ánh sáng rọi vào một chút rồi sau đó cũng trở lại bóng đêm trường dạ vô lượng kiếp. Thật sự rất kinh sợ đối với vô minh, khi rời xa thiền định, thiền quán là lập tức trở về vô minh, đó là lý do chúng ta cần học kinh, nghe pháp thường xuyên, đó là những lúc minh phần sanh khởi, khi buông bỏ pháp là trở về vị trí của vô minh.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta hãy sống không phóng dật'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, I. Chóp Mái)
Cẩn thận với tâm mình
Khi nhìn lại tâm thấy rất sợ hãi vì nó theo các dục mà quay cuồng, tâm hoảng hốt sợ hãi, tức là tâm bị sự bất ngờ, đột ngột làm dao động. Nhưng nhờ nhận diện ngũ uẩn, nhờ độc cư thiền định, nhờ sự tĩnh lặng một nhìn khi nhìn ra mới thấy lo sợ cho tâm này.
"Tâm hoảng hốt dao động,
Khó hộ trì, khó nhiếp,
Người trí làm tâm thẳng,
Như thợ tên, làm tên"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 33)
"Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến".
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 35)
Một chàng rể rất hiền lành nhưng hôm nọ đang nhậu với mấy người bạn thì cha vợ la mắng trước mặt mọi người, chàng rể xấu hổ, sân hận nhưng cũng đi về, sau đó về nhà còn bị cha vợ tát cho bạt tay, hai người cãi qua cãi lại nên con rể muốn về nhà ba má ruột ngủ nhưng cha vợ vẫn đi theo tiếp tục chửi, cuối cùng người con rể mở cốp xe lấy nón bảo hiểm lại vô tình có con dao trong đó, tâm dao động bất thình lình nên lấy dao đâm chết cha vợ tại chỗ. Tất cả mọi người đều bất ngờ, không ai nghĩ như vậy vì bình thường người này hiền lành, sống có tình có nghĩa với làng xóm nhưng không ngờ lại đâm chết cha vợ, đó là tâm hoảng hốt dao động theo tham, sân, si quay cuồng, nếu người trí biết điều phục tâm sẽ có sự an lạc.
Một người hiền lành, chăm chỉ tu tập nhưng bất thình lình lại hoàn tục ra đời vì cái tâm rất bất ngờ, đột ngột không lường trước được, cho nên chớ có tin tâm mình, chỉ khi nào là bậc A-la-hán lậu tận mới tin tâm được. Ngay cả những bậc Thánh quả đã thành tựu chánh tri kiến của bậc sơ quả, nhị quả, tam quả mà Đức Phật còn nói đừng tin tâm, chỉ có bậc A-la-hán lậu tận mới tin được tâm thôi. Tu mà không cẩn ngôn, không cẩn hành sẽ rất nguy hiểm vì tâm này bất thình lình nổi loạn không biết trước được, cũng như anh con rể bất thình lình thành kẻ sát nhân giết chính cha vợ mình, cho nên đừng tin vào tâm, phải biết lo lắng.
Chúng ta ở rừng núi, ở nơi xa vắng viễn ly xứ, sống một mình trong tịnh thất ven suối, bìa rừng là để nhìn rõ bản chất của tâm, thấy được tính chất của tâm, thấy được bộ mặt thật sự của tâm, vì trên đời này chuyện gì cũng có thể xảy ra và vì tâm này là bất chợt, bất thình lình. Đối với cái dục cũng vậy, bất thình lình trong tích tắc là làm mất tất cả những gì đã gây dựng, bồi đắp trong cả đời tu hành, có rất nhiều vị tu hành lên hàng 70 nhưng vẫn rơi rớt, có những người ăn chay trường suốt cả đời nhưng khi gần chết lại muốn ăn mặn, thật sự rất khủng khiếp nên cần cẩn thận với tâm mình
Thế nên, ở cuối bài kinh Đức Phật dặn dò "các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta hãy sống không phóng dật'". Buông lung phóng dật là mình xem thường, nghĩ "dễ gì tôi bị như vậy, dễ gì tôi rơi rớt" nhưng một khi đã thối là sẽ đọa chứ không có thối chuyển, lùi lại và rớt luôn xuống vực sâu. Cho nên phải cẩn thận trong sự học pháp, cẩn thận trong việc hành pháp.
Vị tu hành chân chánh
Đức Thế Tôn mới nói những người tu hành nào không thấy rõ đúng như sự thật về bốn Thánh đế, về khổ đau của cuộc đời này, nguyên nhân chấm dứt đau khổ đó và con đường chấm dứt đau khổ thì ta không chấp nhận người đó là những bậc tu hành. Nếu không thấy khổ thì không phải là người tu chân chánh, ngược lại người tu chân chánh phải thấy khổ. Không phải chỉ thấy khổ khi chùa cháy, khi bị phế chức mà ngay khi được tung hô, tán thưởng vẫn thấy cái khổ trong đó, khi mất thấy khổ đã đành nhưng khi được vẫn thấy cái được đó khổ vì tâm bị dính mắc, trói cột vào đó. Phải nhìn thấy tất cả mọi sự hiện hữu này đều nằm trong đau khổ để lòng dục, lòng ái, lòng tham được nhiếp phục, giảm thiểu và đi đến chỗ chấm dứt, tìm kiếm, chạy đuổi được dừng lại. Ngồi đây và nghĩ đến cảnh mình nằm trên gường bệnh, mình tàn tạ, lấy hơi lên để trút hơi thở cuối cùng thì còn gì nữa? Sanh ra để chết đi, có gì vui trong đời này ngoài việc ảo tưởng, ảo ảnh, bổn phận và trách nhiệm thì phải làm nhưng nhìn sâu vào đó là khổ đau, hệ lụy và ràng buộc.
"Tại Sàvatthi...
-- Có bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ,... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Này các Tỳ-kheo, do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, III. Chánh Ðẳng Giác)
Bài kinh này là sự thấy biết cùng tột, rốt ráo, viên mãn tất cả mọi phương diện, khía cạnh của đời sống này. Tại sao được gọi là Phật? Tại sao được gọi là bậc Chánh Giác thấy biết cùng tột? Chính là "do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác", cho nên ngoài bốn Thánh đế này ra không có một vị Phật, ngoài bốn Thánh đế này không có bậc tu hành chân chánh, cả một chương Tương Ưng Sự Thật này nhằm làm rực sáng lên tất cả mọi chân lý về bốn Thánh đế, bao trùm tất cả hiền Thánh, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, tất cả các bậc tu hành. Do giác ngộ bốn sự thật này mới có bậc Chánh Giác xuất hiện, nếu không giác ngộ bốn sự thật này sẽ không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời.
"Tại Sàvatthi...
-- Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy đã như thật chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy sẽ chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ như thật đã chánh đẳng chánh giác... sẽ như thật chánh đẳng chánh giác, hiện như thật chánh đẳng chánh giác; tất cả những vị ấy... hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, IV. A-La-Hán)
Những vị nào giác ngộ tận cùng trong thuở xưa phải là những vị thật sự thấy biết chứng ngộ tất cả mọi phương diện khía cạnh bốn sự thật này thì đó mới thật sự là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác nào trở về sau trong tương lai cũng phải chứng ngộ, thông hiểu, thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của bốn Thánh đế, đó mới là Đức Phật trong thời vị lai. Những vị nào trong thời hiện tại thật sự là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì tất cả những ấy hiện đang thấu suốt trọn vẹn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ viên mãn về bốn sự thật của khổ đau này, đó mới là bậc Chánh Đẳng Giác thật sự. Nếu không phải vậy thì không phải bậc Chánh Đẳng Chánh Giác dù cho có được gọi là một vị Phật nhưng vẫn không phải thật sự là Phật. Tất cả những hình tướng này là khổ đau, là tan nát, là hủy hoại, hoại diệt, diệt vong, không có gì đứng vững, bền chắc, kiên cố, lòng dục, lòng tham, lòng ái đối với những thứ trong ngoài các pháp này là khổ.
"-- Với người biết, với người thấy, này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy. Và do biết gì, do thấy gì, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận?
Do biết, do thấy: 'Ðây là Khổ', này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do biết, do thấy: "Ðây là Khổ tập'... 'Ðây là Khổ diệt'... Do biết, do thấy: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', các lậu hoặc được đoạn tận.
Do biết vậy, do thấy vậy, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, V. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc)
Ngài tuyên bố sự chấm dứt hoàn toàn tham, sân, si, vô minh, lậu hoặc, phiền não với người biết, với người thấy chứ không phải với người không biết, không thấy. Do biết do thấy đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau nên các lậu hoặc được đoạn tận. Cho đến khi nào bậc Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy…
… sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là khổ đau,
… sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này là phiền não,
… sáu thức này, sự rõ biết các hình sắc, âm thanh, hình bóng, suy nghĩ, sự xúc chạm là trống rỗng,
… những cảm giác sanh khởi trong sáu giác quan này, những cảm giác sanh khởi trên con mắt, tai, mũi, lưỡi, những cảm giác sanh khởi trong tâm ý này là phiền não, là khổ đau, là trống rỗng,
… yêu thích sắc là yêu thích khổ, yêu thích những âm thanh, mùi vị là yêu thích khổ, yêu thích sự đụng chạm, tiếp xúc là sự yêu thích ràng buộc,
… sự yêu thích những hình bóng, suy nghĩ trong tâm là yêu thích khổ, cảm giác sanh khởi là khổ sanh khở, những nghĩ tưởng sanh khởi là hệ lụy, trói buộc,
… nhìn vào gương thấy ngao ngán, nhàm chán gương mặt này, không còn hài lòng, tự mãn, không chấp nhận trạng thái bất tịnh, xương da, máu mủ, không chấp nhận những cảm giác thúc giục cứ sanh ra, không chấp nhận những hình bóng hiện ra liên tục, không chấp nhận những suy nghĩ hơn thua, nhàm chán, đau khổ thì các lậu hoặc mới được đoạn tận.
Không còn bất cứ một cái gì trong ngoài, sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu xúc xứ, căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu tầm, sáu tư, sáu xúc, sáu thọ, sáu thức… Tất cả những thứ này hiện khởi lên đều là đau khổ, hệ lụy, sự tập khởi của những thứ này là sự tập khởi của khổ, sự sanh khởi của những thứ này là sự sanh khởi của sầu, bi, ưu, não, của nước mắt, của máu, của chết chóc, giành giật, đánh đập, khẩu tranh, chiến tranh. "Đây là khổ", chỉ một câu này đã bao trùm cả nhân sinh vũ trụ, phải để cho câu này ngấm vào từng tế bào, từng lỗ chân lông, ngấm vào từng suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ trong thân tâm. Bất kì cái gì sanh khởi lên cũng phải thấy khổ, không chấp thủ nó là tôi, là của tôi nữa, không thấy có hình bóng của tự ngã trong đó, đó là chỗ thâm sâu của Tứ Thánh Đế mà chúng ta cần phải nỗ lực phải làm để rõ biết đây là khổ, đây là con đường đưa đến khổ đau diệt tận.
Không được lãng quên
Khi các thầy Tỳ-kheo, các vị Ni sư thời Đức Phật mà gặp là hỏi nhau "thầy/cô đã làm xong bổn phận của người xuất gia chưa?", "đã hoàn thành Sa-môn hạnh chưa?", đó là câu hỏi thường xuyên được hỏi trong thời Đức Phật còn tại thế, nghe hỏi câu này là nhức nhói, tê tái, đau buốt cả người, xót xa, giày xéo làm mình thao thức, trăn trở. Cho đến khi nào phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong thì lúc đó mới hết buồn đau, lo lắng, ưu tư.
Mỗi ngày đều phải nhắc nhở bản thân, phải làm con tin nhức nhói, đau đớn vì bổn phận của người xuất gia vẫn chưa hoàn thành, khi chưa hoàn thành thì có được cái gì để đem về nhà cho cha mẹ, cho lục thân quyến thuộc, sống trong vất vơ vất vưởng, sống trong vô minh, trong tập khí, trong thói quen. Không được để bản thân trú trong cảm giác bất khổ bất lạc thọ, cảm giác đều đều như lục bình trôi sông, phải đốt lên ngọn lửa bừng cháy của sự nhiệt huyết, tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ, đừng bao giờ để ngọn lửa tu hành, học pháp, hành pháp tắt đi, phải châm củi lửa, đổ nhiên liệu vào để ngọn lửa đó lúc nào cũng cháy sáng. Đừng bao giờ quên khổ, đừng bao giờ quên đây là khổ, khổ là đây vì một khi quên đi cái khổ này sẽ đi tìm những thú vui giả tạo, phù phiếm, hư ảo như mây khói, nó sẽ giết chết tuổi thanh xuân, giết chết ý chí kiêu hùng trong thời trai tráng niên thiếu này để rồi khi già sẽ hối hận, tiếc nuối rồi đau khổ. Phải luôn nhắc bản thân không được quên cái khổ đau này, phải nhớ mình đang ở đâu, đang làm gì, lấy đó làm động lực, làm sức mạnh, làm đòn bẩy, làm nguồn sinh lực thúc đẩy bản thân tiến lên phía trước.
"Tinh cần giữa phóng dật,
Tỉnh thức giữa quần mê.
Người trí như ngựa phi,
Bỏ sau con ngựa hèn".
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 29)
Ai phóng dật buông lung thì mặc ai, còn mình phải tinh chuyên, siêng năng. Ai đam mê ngủ, nghỉ, si ám thì mặc người ta, còn mình phải tỉnh thức, chánh niệm. Hãy lo cho chính mình, tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình thắp sáng ngọn lửa trong tim mình, tự mình hướng đạo cho chính mình, lấy pháp làm thầy cho đến khi nào mình và pháp là một, mình chính là pháp và pháp chính là mình thì lúc đó mới mỉm cười, mới thật sự bình an.
Hằng ngày người ta tấp nập, bận rộn chạy theo dục, tham, ái, sân si, bản ngã, sống lay lắt chờ ngày vào hòm, tai nạn bất thình lình đến hoặc bất ngờ nhận tin ung thư giai đoạn cuối, hoặc đột đột bị tan biến mạch máu não, bị bán thân bất toại, có biết bao nỗi khổ xung quanh chúng ta, chỉ riêng kế mưu sinh thôi đã có biết bao nỗi vất vả, cực nhọc, nước mắt chứ đừng nói gì đến cái già là biết bao hờn trách, oán hờn, nuối tiếc, bệnh tật.
Có những người mẹ lạc mất con, sống mấy chục năm không ngày nào không mong nhớ, chờ đợi. Có những người bị tù oan mấy chục năm, thậm chí chết trong tù, đó là tìm ra được oai sai còn có khi không được minh oan rồi chết trong tức tưởi, chết trong sự gặm nhấm tức giận trong thời gian ở tù. Cha mẹ già bị con đuổi ra đường hoặc con đem vào bệnh viện rồi bỏ mặc, để cho muốn làm gì thì làm, không thì đẻ ra rồi bỏ thùng rác, bỏ trước cổng chùa hoặc bỏ trong bệnh viện luôn… vô số cảnh khổ, hiện trạng thế giới ngày nay vô cùng xót xa.
Hãy làm tất cả mọi cách để chứng nhập pháp, đừng nghĩ gì khác ngoài pháp, không có ai ở đây ngoài những đống tham, sân, si, vô minh và bản ngã đang hoạt động ngày đêm, nó lăn lóc, thiêu đốt nhau trong biển ái, đốt nhau trong những ngọn lửa sân, bao phủ nhau trong bóng đêm vô minh, si ám, nó đè đầu cưỡi cổ nhau trong ngọn núi của bản ngã. Chỉ toàn là những đống tham, sân, si, vô minh và bản ngã lừa dối nhau, hãm hại nhau, hành hạ nhau, làm khổ cho nhau. Chính vì vậy hãy nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đưa tâm mình về chỗ an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn.
"-- Này các Tỳ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn, những ai mà các Ông nghĩ cần nghe theo như bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay huyết thống, thì này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải khích lệ những người ấy, huấn luyện, an trú các người ấy trong sự chứng ngộ như thật bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Này các Tỳ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn... như thật bốn Thánh đế.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, VI. Thân Hữu)
Những ai là người mà mình thương xót, những ai là người mà mình nghĩ rằng họ có thể nghe theo được, giống như bạn bè, bà con, những người chung huyết thống thì cần khích lệ, huấn luyện, an trú, đặt để họ vào sự chứng ngộ như thật bốn Thánh đế. Mình thương ai là phải tạo điều kiện khuyến khích, nhắc nhở để đưa họ bước vào sự thấu hiểu đây là khổ và con đường diệt khổ. Điều tối thiểu cho người nào hiểu được bốn sự thật này là không đọa ba đường ác, người nào đã hiểu về khổ thì người đó chắc chắn sẽ không làm những ác nghiệp nặng nề để rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải biết giúp đỡ cho những người thân với điều kiện họ phải chịu nghe, đừng bao giờ miễn cưỡng, bản thân mình phải hiểu trước, phải thành tựu Khổ Thánh Trí trước cho nên cần phải cố gắng rất nhiều.
"-- Này các Tỳ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, chúng được gọi là Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, VII. Như Thật)
Đức Phật đã nói tất cả những phương diện, khía cạnh, ngôn từ, không còn chỗ nào không nói. Bốn Thánh đế này chính là sự thật của bậc Thánh, ngoài sự thật này ra không còn sự thật nào khác nữa, do vậy chúng được gọi là Thánh đế - sự thật của bậc Thánh. Ngài dùng rất nhiều hình ảnh, vô số lời lẽ, vô số từ tâm, bi tâm để diễn thuyết cho mình thấy bốn sự thật để mình tin rồi mình tu, thế mà có nhiều người vẫn không chịu nghe, đi theo vô minh lại thấy vui. Những câu trong kinh chỉ toàn là khẩu quyết, được cô đọng lại thành những định lý và phải lấy những câu này làm đề tài thiền quán. Tựa bài kinh này là Như Thật nghĩa là đúng với sự thật, sự thật này không phải là sự thật của phàm phu mà là sự thật của bậc Thánh.
"-- Này các Tỳ-kheo, trong các thế giới, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, và quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, Như Lai là bậc Thánh, do vậy được gọi là Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, VIII. Thế Giới)
Trong tất cả thế giới của chư thiên, thế giới của ma, thế giới của vua trời và tất cả những đẳng cấp tu hành, trong các dạng thức tu sĩ thì Như Lai là bậc Thánh nên được gọi là Thánh đế. Vì đây là sự thật được bậc Thánh giác ngộ nên các vị cần cố gắng, siêng năng, nỗ lực, việc cần làm thì phải làm.
"-- Này các Tỳ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Trong bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo, có Thánh đế cần phải liễu tri, có Thánh đế cần phải đoạn tận, có Thánh đế cần phải chứng ngộ, có Thánh đế cần phải tu tập. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh đế cần phải liễu tri?
Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo, cần phải liễu tri. Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận. Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, IX. Cần Phải Liễu Tri Hay Thắng Tri)
Liễu tri hay thắng tri nghĩa là cần phải thấu rõ một cách tường tận, triệt để. Trong bốn sự thật của bậc Thánh có sự thật cần phải thấu rõ, có sự thật cần đoạn tận, có sự thật cần chứng ngộ và có sự thật cần phải tu tập. Thế nào là sự thật cần phải thấu rõ? Khổ đau là sự thật mà các vị cần thấu rõ, nguyên nhân của khổ cần phải được đoạn tận, sự chấm dứt của khổ cần phải chứng ngộ và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ cần phải được tu tập.
"Một thời, một số đông Tỳ-kheo trú ở giữa dân chúng Ceti tại Sahancanika.
Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-kheo Thượng tọa sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong ngôi nhà tròn, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Này chư Hiền, ai thấy Khổ, người ấy thấy Khổ tập, thấy Khổ diệt, thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Govampati nói với các Tỳ-kheo Thượng tọa:
-- 'Tôi có tự thân nghe từ Thế Tôn, thưa chư Hiền, tự thân lãnh thọ như sau:
'Này các Tỳ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, X. Gavampati)
Nghĩa là trong bốn Thánh đế, bốn sự thật này ai thấy được một sự thật sẽ tự động thông suốt ba sự thật còn lại. Cho nên người nào thấy rõ được ngũ uẩn này là khổ đau thì người đó cũng sẽ thấy được nguyên nhân gây đau khổ chính là tham, sân, si, vô minh và bản ngã, người nào thấy được nguyên nhân khổ sẽ thấy được con đường chấm dứt khổ chính là Bát Chánh Đạo, thấy được một sự thật triệt để thì ba sự thật kia sẽ biểu hiện, thấy cái này là thấy cái kia, thấy cái kia là thấy cái này.
./.
TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT
TỨ THÁNH ĐẾ 3
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bốn sự thật vi diệu PAGEREF _Toc110242124 \h 1
II.Cẩn thận với tâm mình PAGEREF _Toc110242125 \h 5
III.Vị tu hành chân chánh PAGEREF _Toc110242126 \h 6
IV.Không được lãng quên PAGEREF _Toc110242127 \h 10
Bốn sự thật vi diệu
Chúng ta tiếp tục nghe về Tương Ưng Sự Thật, buổi thứ ba, phẩm Kotigàma.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa các dân chúng Vajji, tại Kotigàma.
Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.
Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, I. Minh (1))
Đức Phật nói rằng do không thấy biết, không thông suốt bốn sự thật cho nên ngài và các Tỳ-kheo phải rong ruổi, lưu chuyển lâu dài như thế này. Do không thông hiểu, thấu đạt về bốn sự thật khổ đau, về nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau nên ngài và các Tỳ-kheo phải trôi nổi lâu ngày, nhưng hôm nay ngài đã giác ngộ bốn Thánh đế này, đã chặt đứt hữu ái, đoạn trừ những gì đưa đến tái sanh để không còn đưa đến tái sanh nữa.
"Nhưng nay, này các Tỳ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ tập đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt. Ðược chặt đứt là hữu ái, được đoạn tận là những gì đưa đến tái sanh (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, I. Minh (1))
Trên đây là bài kinh “Minh”. Tiếp đến là bài kinh Đức Phật nói những vị Sa-môn, những vị tu hành nào không biết đúng sự thật về bốn Thánh đế thì ngài không chấp nhận đó là những người tu, những điều này chúng ta ít được nghe. Đây là điều tóm gọn của bài kinh số 2.
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỳ-kheo, không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ', không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ tập', không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt', không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', thời này các Tỳ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, Bà-la-môn hạnh.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỳ-kheo, như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ', như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ tập', như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt', như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', thời này các Tỳ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay của Bà-la-môn hạnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, II. Minh (2))
Bất cứ một người tu nào, một vị Sa-môn, một vị tu hành nào mà không biết một cách đúng như sự thật về bốn Thánh đế thì Thế Tôn không chấp nhận đó là người tu hành. Cho nên dù có cạo tóc đắp y ở trong chùa mấy chục năm cho đến suốt đời nhưng không như thật rõ biết đời sống này là khổ đau, không rõ biết đúng sự thật bản chất thân xác này là khổ đau, không rõ biết đúng sự thật những nguyên nhân làm cho mình đau khổ và cũng không rõ biết đúng sự thật con đường chấm dứt khổ đau thì người đó chưa thật sự là đệ tử chân chánh của Đức Phật. Bởi lẽ, Đức Phật đã nói nếu không rõ biết bốn sự thật này thì "các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn". Đây là định nghĩa mới của người xuất gia, mình nói là mới là do mới được biết đến nhưng thật ra tiêu chuẩn này đã có từ ngàn xưa, người nào thấy biết bốn Thánh đế thì người đó mới là người xuất gia chân chánh, mới là người Phật tử chân chánh, còn nếu không thấy không biết gì cả thì không được chấp nhận đó là người tu hành.
Bài kinh đầu tiên nói rằng sở dĩ có đau khổ, lưu chuyển, trôi nổi lâu dài là do không thấy bốn sự thật, nhìn ra toàn thế giới có gì không phải là khổ, bị muỗi cắn là khó chịu, bị sâu bắn nổi mẩn đỏ khắp người là khổ, đói cũng khổ, no quá cũng khổ, khát cũng khổ mà uống nhiều quá cũng khổ. Những người nào không được những gì họ mong muốn thì họ nghĩ “mình khổ, người nào được thì sướng” nhưng họ không biết rằng người được nhiều cũng có cái khổ của họ. Đó là lý do phải thấy cái khổ nằm trong tất cả mọi sự hiện hữu mới là Khổ Thánh Đế chứ không phải thấy nghèo, bệnh mới khổ, mà người giàu, khỏe vẫn khổ, vẫn tội nghiệp.
Như vậy, nếu chỉ thấy người nghèo là khổ, người giàu có sung sướng, hạnh phúc thì đó là phàm phu, vẫn chưa thấy được Khổ Thánh Đế. Nếu nghĩ rằng bệnh tật mới khổ còn khỏe mạnh không khổ thì đó chưa phải là cái thấy của một Sa-môn chính thống đệ tử của Đức Phật. Người giàu có cái khổ của người giàu, người khỏe có cái bệnh nằm trong cái khỏe, ngoài ra họ còn có những nỗi khổ khác. Minh Thành đã thấy quá nhiều cái khổ nên phải lấy kinh ra giảng, hết giành đất, giành tiền đến tranh giành chùa chiền, chức quyền, đầy rẫy sự khổ đau trong đời sống này gọi là biến mãn khổ, thấm nhuần khổ. Mình không thấy khổ do mình bị vô minh che lấp, chỉ thấy được vị ngọt chứ không thấy được sự nguy hại của nó, thấy nước ngọt là uống nhiều rồi chứ không biết những thứ này là nguyên nhân đưa đến bệnh tật.
Cho nên, chỉ khi giác ngộ được bốn sự thật mới hết trôi lăn, hết rong ruổi, hết lưu chuyển, còn không giác ngộ được sự thật này, chỉ thấy vui sướng sẽ rất khó tu. Thấy vui thì phải chạy đến chỗ này chỗ kia, tầm cầu chỗ nọ, tìm kiếm hết cái này đến cái khác nhưng cái vui không thấy chỉ toàn thấy cái khổ. Minh Thành đi từ Sài Gòn về núi mà thấy bất an, xe từ mọi phía giống như muốn tông vào xe mình, trên đường đèo thì bị kẹp giữa, phía sau nhấn còi thúc mình chạy nhưng phía trước đầy xe làm sao chạy được. Xung quanh đầy rẫy dục, tham, sân, hận, bãn ngã của hữu tình chúng sanh.
Trưa nay, Minh Thành thấy hình ảnh con chim cứ bay vào tấm kính mổ liên tục vào đó vì nó thấy bóng mình trong đó, nhưng nó cứ nghĩ là con chim nào khác nên cứ mổ ầm ầm vào tấm kính, mình thấy đau đớn giùm cái miệng nó vậy mà nó cứ mổ. Nhìn lại mình không khác gì con chim đó, những hình bóng là tưởng uẩn hiện ra trong tâm rồi tự mình giày vò, đó là mình bị xâm chiếm, áp đảo trong đó, những cảm giác trong tâm cứ thúc giục. Có người ở yên một chỗ tu không được mà muốn đi chỗ này đi chỗ kia, tìm cái này kiếm cái nọ, không muốn bình yên mà muốn phải sân si, hơn thua, tranh đau, ganh tỵ để khổ sầu, thân tàn ma dại, sứt đầu mẻ trán mới chịu, còn an tịnh, lắng dịu, viễn ly lại không muốn, đó là sự khổ trong tâm, ở ngoài thấy thân bình thường nhưng bên trong là một sự nổi loạn, buông lung phóng dật.
Trước khi vào tu chúng ta khổ với những tham, sân, si, hơn thua, ganh tỵ ngoài đời, bây giờ vào tu thì bị hôn trầm, trạo cử, kiết sử, năm triền cái hành hạ, vì thế phải thấy khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, những mầm móng của khổ, những tiềm ẩn của khổ. Nhiều khi ăn dư còn chút đồ ăn là kiến bu đầy trong đó rồi chết trong món đồ ăn đó, chỉ có một miếng ăn mà phải mất mạng, chưa kể đến những thứ mình khạc nhổ có nhiều con bu vào giành giật, câu xé, nhai nuốt lẫn nhau rồi chết trong đó vì vậy cần chiêm nghiệm thật nhiều những cái khổ này.
Đức Phật nói chúng sanh bị sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhai nuốt, những cảm giác làm mình mệt mỏi, bức xúc nên phải nhàm chán nó, những tư tưởng tà tư duy này làm mình si ám, những suy nghĩ về dục, về sân, về hại, về thị phi, nhân ngã sanh khởi lên là phải lo sợ với những thứ đó. Khi thấy những người đua xe, phóng nhanh, lạng lách đánh võng là mình lo sợ nhưng vì vô minh, tham ái, vì dục bên trong bên nên họ lấy đó làm vui, còn mình thấy là lo sợ, đó là nói những việc ở bên ngoài.
Quay ngược vào trong những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng sanh khởi ra là lo sợ, lo lắng vì mình biết đó là mầm mống của khổ, là nguyên nhân, là nguồn cội đưa đến những đời sống của nước mắt, dục vọng, sân hận, đời sống của si ám, bóng đêm, đọa xứ, đó là một nơi không có ánh sáng nên không biết ai ở bên cạnh mình. Lâu thật lâu có những trường hợp đặc biệt như Thế Tôn chuyển pháp luân thì ánh sáng đó mới chiếu vào những chỗ đọa xứ, lúc đó các chúng sanh bị đọa mới thấy có những ai kế cạnh mình. Đọa xứ là nơi không có ánh sáng trong vô lượng vô biên kiếp, lâu lâu có những trường hợp đặc biệt có ánh sáng rọi vào một chút rồi sau đó cũng trở lại bóng đêm trường dạ vô lượng kiếp. Thật sự rất kinh sợ đối với vô minh, khi rời xa thiền định, thiền quán là lập tức trở về vô minh, đó là lý do chúng ta cần học kinh, nghe pháp thường xuyên, đó là những lúc minh phần sanh khởi, khi buông bỏ pháp là trở về vị trí của vô minh.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta hãy sống không phóng dật'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, I. Chóp Mái)
Cẩn thận với tâm mình
Khi nhìn lại tâm thấy rất sợ hãi vì nó theo các dục mà quay cuồng, tâm hoảng hốt sợ hãi, tức là tâm bị sự bất ngờ, đột ngột làm dao động. Nhưng nhờ nhận diện ngũ uẩn, nhờ độc cư thiền định, nhờ sự tĩnh lặng một nhìn khi nhìn ra mới thấy lo sợ cho tâm này.
"Tâm hoảng hốt dao động,
Khó hộ trì, khó nhiếp,
Người trí làm tâm thẳng,
Như thợ tên, làm tên"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 33)
"Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến".
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 35)
Một chàng rể rất hiền lành nhưng hôm nọ đang nhậu với mấy người bạn thì cha vợ la mắng trước mặt mọi người, chàng rể xấu hổ, sân hận nhưng cũng đi về, sau đó về nhà còn bị cha vợ tát cho bạt tay, hai người cãi qua cãi lại nên con rể muốn về nhà ba má ruột ngủ nhưng cha vợ vẫn đi theo tiếp tục chửi, cuối cùng người con rể mở cốp xe lấy nón bảo hiểm lại vô tình có con dao trong đó, tâm dao động bất thình lình nên lấy dao đâm chết cha vợ tại chỗ. Tất cả mọi người đều bất ngờ, không ai nghĩ như vậy vì bình thường người này hiền lành, sống có tình có nghĩa với làng xóm nhưng không ngờ lại đâm chết cha vợ, đó là tâm hoảng hốt dao động theo tham, sân, si quay cuồng, nếu người trí biết điều phục tâm sẽ có sự an lạc.
Một người hiền lành, chăm chỉ tu tập nhưng bất thình lình lại hoàn tục ra đời vì cái tâm rất bất ngờ, đột ngột không lường trước được, cho nên chớ có tin tâm mình, chỉ khi nào là bậc A-la-hán lậu tận mới tin tâm được. Ngay cả những bậc Thánh quả đã thành tựu chánh tri kiến của bậc sơ quả, nhị quả, tam quả mà Đức Phật còn nói đừng tin tâm, chỉ có bậc A-la-hán lậu tận mới tin được tâm thôi. Tu mà không cẩn ngôn, không cẩn hành sẽ rất nguy hiểm vì tâm này bất thình lình nổi loạn không biết trước được, cũng như anh con rể bất thình lình thành kẻ sát nhân giết chính cha vợ mình, cho nên đừng tin vào tâm, phải biết lo lắng.
Chúng ta ở rừng núi, ở nơi xa vắng viễn ly xứ, sống một mình trong tịnh thất ven suối, bìa rừng là để nhìn rõ bản chất của tâm, thấy được tính chất của tâm, thấy được bộ mặt thật sự của tâm, vì trên đời này chuyện gì cũng có thể xảy ra và vì tâm này là bất chợt, bất thình lình. Đối với cái dục cũng vậy, bất thình lình trong tích tắc là làm mất tất cả những gì đã gây dựng, bồi đắp trong cả đời tu hành, có rất nhiều vị tu hành lên hàng 70 nhưng vẫn rơi rớt, có những người ăn chay trường suốt cả đời nhưng khi gần chết lại muốn ăn mặn, thật sự rất khủng khiếp nên cần cẩn thận với tâm mình
Thế nên, ở cuối bài kinh Đức Phật dặn dò "các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta hãy sống không phóng dật'". Buông lung phóng dật là mình xem thường, nghĩ "dễ gì tôi bị như vậy, dễ gì tôi rơi rớt" nhưng một khi đã thối là sẽ đọa chứ không có thối chuyển, lùi lại và rớt luôn xuống vực sâu. Cho nên phải cẩn thận trong sự học pháp, cẩn thận trong việc hành pháp.
Vị tu hành chân chánh
Đức Thế Tôn mới nói những người tu hành nào không thấy rõ đúng như sự thật về bốn Thánh đế, về khổ đau của cuộc đời này, nguyên nhân chấm dứt đau khổ đó và con đường chấm dứt đau khổ thì ta không chấp nhận người đó là những bậc tu hành. Nếu không thấy khổ thì không phải là người tu chân chánh, ngược lại người tu chân chánh phải thấy khổ. Không phải chỉ thấy khổ khi chùa cháy, khi bị phế chức mà ngay khi được tung hô, tán thưởng vẫn thấy cái khổ trong đó, khi mất thấy khổ đã đành nhưng khi được vẫn thấy cái được đó khổ vì tâm bị dính mắc, trói cột vào đó. Phải nhìn thấy tất cả mọi sự hiện hữu này đều nằm trong đau khổ để lòng dục, lòng ái, lòng tham được nhiếp phục, giảm thiểu và đi đến chỗ chấm dứt, tìm kiếm, chạy đuổi được dừng lại. Ngồi đây và nghĩ đến cảnh mình nằm trên gường bệnh, mình tàn tạ, lấy hơi lên để trút hơi thở cuối cùng thì còn gì nữa? Sanh ra để chết đi, có gì vui trong đời này ngoài việc ảo tưởng, ảo ảnh, bổn phận và trách nhiệm thì phải làm nhưng nhìn sâu vào đó là khổ đau, hệ lụy và ràng buộc.
"Tại Sàvatthi...
-- Có bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ,... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Này các Tỳ-kheo, do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, III. Chánh Ðẳng Giác)
Bài kinh này là sự thấy biết cùng tột, rốt ráo, viên mãn tất cả mọi phương diện, khía cạnh của đời sống này. Tại sao được gọi là Phật? Tại sao được gọi là bậc Chánh Giác thấy biết cùng tột? Chính là "do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác", cho nên ngoài bốn Thánh đế này ra không có một vị Phật, ngoài bốn Thánh đế này không có bậc tu hành chân chánh, cả một chương Tương Ưng Sự Thật này nhằm làm rực sáng lên tất cả mọi chân lý về bốn Thánh đế, bao trùm tất cả hiền Thánh, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, tất cả các bậc tu hành. Do giác ngộ bốn sự thật này mới có bậc Chánh Giác xuất hiện, nếu không giác ngộ bốn sự thật này sẽ không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời.
"Tại Sàvatthi...
-- Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy đã như thật chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy sẽ chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ như thật đã chánh đẳng chánh giác... sẽ như thật chánh đẳng chánh giác, hiện như thật chánh đẳng chánh giác; tất cả những vị ấy... hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, IV. A-La-Hán)
Những vị nào giác ngộ tận cùng trong thuở xưa phải là những vị thật sự thấy biết chứng ngộ tất cả mọi phương diện khía cạnh bốn sự thật này thì đó mới thật sự là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác nào trở về sau trong tương lai cũng phải chứng ngộ, thông hiểu, thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của bốn Thánh đế, đó mới là Đức Phật trong thời vị lai. Những vị nào trong thời hiện tại thật sự là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì tất cả những ấy hiện đang thấu suốt trọn vẹn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ viên mãn về bốn sự thật của khổ đau này, đó mới là bậc Chánh Đẳng Giác thật sự. Nếu không phải vậy thì không phải bậc Chánh Đẳng Chánh Giác dù cho có được gọi là một vị Phật nhưng vẫn không phải thật sự là Phật. Tất cả những hình tướng này là khổ đau, là tan nát, là hủy hoại, hoại diệt, diệt vong, không có gì đứng vững, bền chắc, kiên cố, lòng dục, lòng tham, lòng ái đối với những thứ trong ngoài các pháp này là khổ.
"-- Với người biết, với người thấy, này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy. Và do biết gì, do thấy gì, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận?
Do biết, do thấy: 'Ðây là Khổ', này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do biết, do thấy: "Ðây là Khổ tập'... 'Ðây là Khổ diệt'... Do biết, do thấy: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', các lậu hoặc được đoạn tận.
Do biết vậy, do thấy vậy, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, V. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc)
Ngài tuyên bố sự chấm dứt hoàn toàn tham, sân, si, vô minh, lậu hoặc, phiền não với người biết, với người thấy chứ không phải với người không biết, không thấy. Do biết do thấy đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau nên các lậu hoặc được đoạn tận. Cho đến khi nào bậc Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy…
… sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là khổ đau,
… sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này là phiền não,
… sáu thức này, sự rõ biết các hình sắc, âm thanh, hình bóng, suy nghĩ, sự xúc chạm là trống rỗng,
… những cảm giác sanh khởi trong sáu giác quan này, những cảm giác sanh khởi trên con mắt, tai, mũi, lưỡi, những cảm giác sanh khởi trong tâm ý này là phiền não, là khổ đau, là trống rỗng,
… yêu thích sắc là yêu thích khổ, yêu thích những âm thanh, mùi vị là yêu thích khổ, yêu thích sự đụng chạm, tiếp xúc là sự yêu thích ràng buộc,
… sự yêu thích những hình bóng, suy nghĩ trong tâm là yêu thích khổ, cảm giác sanh khởi là khổ sanh khở, những nghĩ tưởng sanh khởi là hệ lụy, trói buộc,
… nhìn vào gương thấy ngao ngán, nhàm chán gương mặt này, không còn hài lòng, tự mãn, không chấp nhận trạng thái bất tịnh, xương da, máu mủ, không chấp nhận những cảm giác thúc giục cứ sanh ra, không chấp nhận những hình bóng hiện ra liên tục, không chấp nhận những suy nghĩ hơn thua, nhàm chán, đau khổ thì các lậu hoặc mới được đoạn tận.
Không còn bất cứ một cái gì trong ngoài, sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu xúc xứ, căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu tầm, sáu tư, sáu xúc, sáu thọ, sáu thức… Tất cả những thứ này hiện khởi lên đều là đau khổ, hệ lụy, sự tập khởi của những thứ này là sự tập khởi của khổ, sự sanh khởi của những thứ này là sự sanh khởi của sầu, bi, ưu, não, của nước mắt, của máu, của chết chóc, giành giật, đánh đập, khẩu tranh, chiến tranh. "Đây là khổ", chỉ một câu này đã bao trùm cả nhân sinh vũ trụ, phải để cho câu này ngấm vào từng tế bào, từng lỗ chân lông, ngấm vào từng suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ trong thân tâm. Bất kì cái gì sanh khởi lên cũng phải thấy khổ, không chấp thủ nó là tôi, là của tôi nữa, không thấy có hình bóng của tự ngã trong đó, đó là chỗ thâm sâu của Tứ Thánh Đế mà chúng ta cần phải nỗ lực phải làm để rõ biết đây là khổ, đây là con đường đưa đến khổ đau diệt tận.
Không được lãng quên
Khi các thầy Tỳ-kheo, các vị Ni sư thời Đức Phật mà gặp là hỏi nhau "thầy/cô đã làm xong bổn phận của người xuất gia chưa?", "đã hoàn thành Sa-môn hạnh chưa?", đó là câu hỏi thường xuyên được hỏi trong thời Đức Phật còn tại thế, nghe hỏi câu này là nhức nhói, tê tái, đau buốt cả người, xót xa, giày xéo làm mình thao thức, trăn trở. Cho đến khi nào phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong thì lúc đó mới hết buồn đau, lo lắng, ưu tư.
Mỗi ngày đều phải nhắc nhở bản thân, phải làm con tin nhức nhói, đau đớn vì bổn phận của người xuất gia vẫn chưa hoàn thành, khi chưa hoàn thành thì có được cái gì để đem về nhà cho cha mẹ, cho lục thân quyến thuộc, sống trong vất vơ vất vưởng, sống trong vô minh, trong tập khí, trong thói quen. Không được để bản thân trú trong cảm giác bất khổ bất lạc thọ, cảm giác đều đều như lục bình trôi sông, phải đốt lên ngọn lửa bừng cháy của sự nhiệt huyết, tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ, đừng bao giờ để ngọn lửa tu hành, học pháp, hành pháp tắt đi, phải châm củi lửa, đổ nhiên liệu vào để ngọn lửa đó lúc nào cũng cháy sáng. Đừng bao giờ quên khổ, đừng bao giờ quên đây là khổ, khổ là đây vì một khi quên đi cái khổ này sẽ đi tìm những thú vui giả tạo, phù phiếm, hư ảo như mây khói, nó sẽ giết chết tuổi thanh xuân, giết chết ý chí kiêu hùng trong thời trai tráng niên thiếu này để rồi khi già sẽ hối hận, tiếc nuối rồi đau khổ. Phải luôn nhắc bản thân không được quên cái khổ đau này, phải nhớ mình đang ở đâu, đang làm gì, lấy đó làm động lực, làm sức mạnh, làm đòn bẩy, làm nguồn sinh lực thúc đẩy bản thân tiến lên phía trước.
"Tinh cần giữa phóng dật,
Tỉnh thức giữa quần mê.
Người trí như ngựa phi,
Bỏ sau con ngựa hèn".
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 29)
Ai phóng dật buông lung thì mặc ai, còn mình phải tinh chuyên, siêng năng. Ai đam mê ngủ, nghỉ, si ám thì mặc người ta, còn mình phải tỉnh thức, chánh niệm. Hãy lo cho chính mình, tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình thắp sáng ngọn lửa trong tim mình, tự mình hướng đạo cho chính mình, lấy pháp làm thầy cho đến khi nào mình và pháp là một, mình chính là pháp và pháp chính là mình thì lúc đó mới mỉm cười, mới thật sự bình an.
Hằng ngày người ta tấp nập, bận rộn chạy theo dục, tham, ái, sân si, bản ngã, sống lay lắt chờ ngày vào hòm, tai nạn bất thình lình đến hoặc bất ngờ nhận tin ung thư giai đoạn cuối, hoặc đột đột bị tan biến mạch máu não, bị bán thân bất toại, có biết bao nỗi khổ xung quanh chúng ta, chỉ riêng kế mưu sinh thôi đã có biết bao nỗi vất vả, cực nhọc, nước mắt chứ đừng nói gì đến cái già là biết bao hờn trách, oán hờn, nuối tiếc, bệnh tật.
Có những người mẹ lạc mất con, sống mấy chục năm không ngày nào không mong nhớ, chờ đợi. Có những người bị tù oan mấy chục năm, thậm chí chết trong tù, đó là tìm ra được oai sai còn có khi không được minh oan rồi chết trong tức tưởi, chết trong sự gặm nhấm tức giận trong thời gian ở tù. Cha mẹ già bị con đuổi ra đường hoặc con đem vào bệnh viện rồi bỏ mặc, để cho muốn làm gì thì làm, không thì đẻ ra rồi bỏ thùng rác, bỏ trước cổng chùa hoặc bỏ trong bệnh viện luôn… vô số cảnh khổ, hiện trạng thế giới ngày nay vô cùng xót xa.
Hãy làm tất cả mọi cách để chứng nhập pháp, đừng nghĩ gì khác ngoài pháp, không có ai ở đây ngoài những đống tham, sân, si, vô minh và bản ngã đang hoạt động ngày đêm, nó lăn lóc, thiêu đốt nhau trong biển ái, đốt nhau trong những ngọn lửa sân, bao phủ nhau trong bóng đêm vô minh, si ám, nó đè đầu cưỡi cổ nhau trong ngọn núi của bản ngã. Chỉ toàn là những đống tham, sân, si, vô minh và bản ngã lừa dối nhau, hãm hại nhau, hành hạ nhau, làm khổ cho nhau. Chính vì vậy hãy nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đưa tâm mình về chỗ an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn.
"-- Này các Tỳ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn, những ai mà các Ông nghĩ cần nghe theo như bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay huyết thống, thì này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải khích lệ những người ấy, huấn luyện, an trú các người ấy trong sự chứng ngộ như thật bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Này các Tỳ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn... như thật bốn Thánh đế.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, VI. Thân Hữu)
Những ai là người mà mình thương xót, những ai là người mà mình nghĩ rằng họ có thể nghe theo được, giống như bạn bè, bà con, những người chung huyết thống thì cần khích lệ, huấn luyện, an trú, đặt để họ vào sự chứng ngộ như thật bốn Thánh đế. Mình thương ai là phải tạo điều kiện khuyến khích, nhắc nhở để đưa họ bước vào sự thấu hiểu đây là khổ và con đường diệt khổ. Điều tối thiểu cho người nào hiểu được bốn sự thật này là không đọa ba đường ác, người nào đã hiểu về khổ thì người đó chắc chắn sẽ không làm những ác nghiệp nặng nề để rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải biết giúp đỡ cho những người thân với điều kiện họ phải chịu nghe, đừng bao giờ miễn cưỡng, bản thân mình phải hiểu trước, phải thành tựu Khổ Thánh Trí trước cho nên cần phải cố gắng rất nhiều.
"-- Này các Tỳ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, chúng được gọi là Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, VII. Như Thật)
Đức Phật đã nói tất cả những phương diện, khía cạnh, ngôn từ, không còn chỗ nào không nói. Bốn Thánh đế này chính là sự thật của bậc Thánh, ngoài sự thật này ra không còn sự thật nào khác nữa, do vậy chúng được gọi là Thánh đế - sự thật của bậc Thánh. Ngài dùng rất nhiều hình ảnh, vô số lời lẽ, vô số từ tâm, bi tâm để diễn thuyết cho mình thấy bốn sự thật để mình tin rồi mình tu, thế mà có nhiều người vẫn không chịu nghe, đi theo vô minh lại thấy vui. Những câu trong kinh chỉ toàn là khẩu quyết, được cô đọng lại thành những định lý và phải lấy những câu này làm đề tài thiền quán. Tựa bài kinh này là Như Thật nghĩa là đúng với sự thật, sự thật này không phải là sự thật của phàm phu mà là sự thật của bậc Thánh.
"-- Này các Tỳ-kheo, trong các thế giới, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, và quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, Như Lai là bậc Thánh, do vậy được gọi là Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, VIII. Thế Giới)
Trong tất cả thế giới của chư thiên, thế giới của ma, thế giới của vua trời và tất cả những đẳng cấp tu hành, trong các dạng thức tu sĩ thì Như Lai là bậc Thánh nên được gọi là Thánh đế. Vì đây là sự thật được bậc Thánh giác ngộ nên các vị cần cố gắng, siêng năng, nỗ lực, việc cần làm thì phải làm.
"-- Này các Tỳ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Trong bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo, có Thánh đế cần phải liễu tri, có Thánh đế cần phải đoạn tận, có Thánh đế cần phải chứng ngộ, có Thánh đế cần phải tu tập. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh đế cần phải liễu tri?
Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo, cần phải liễu tri. Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận. Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, IX. Cần Phải Liễu Tri Hay Thắng Tri)
Liễu tri hay thắng tri nghĩa là cần phải thấu rõ một cách tường tận, triệt để. Trong bốn sự thật của bậc Thánh có sự thật cần phải thấu rõ, có sự thật cần đoạn tận, có sự thật cần chứng ngộ và có sự thật cần phải tu tập. Thế nào là sự thật cần phải thấu rõ? Khổ đau là sự thật mà các vị cần thấu rõ, nguyên nhân của khổ cần phải được đoạn tận, sự chấm dứt của khổ cần phải chứng ngộ và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ cần phải được tu tập.
"Một thời, một số đông Tỳ-kheo trú ở giữa dân chúng Ceti tại Sahancanika.
Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-kheo Thượng tọa sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong ngôi nhà tròn, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Này chư Hiền, ai thấy Khổ, người ấy thấy Khổ tập, thấy Khổ diệt, thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Govampati nói với các Tỳ-kheo Thượng tọa:
-- 'Tôi có tự thân nghe từ Thế Tôn, thưa chư Hiền, tự thân lãnh thọ như sau:
'Này các Tỳ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, X. Gavampati)
Nghĩa là trong bốn Thánh đế, bốn sự thật này ai thấy được một sự thật sẽ tự động thông suốt ba sự thật còn lại. Cho nên người nào thấy rõ được ngũ uẩn này là khổ đau thì người đó cũng sẽ thấy được nguyên nhân gây đau khổ chính là tham, sân, si, vô minh và bản ngã, người nào thấy được nguyên nhân khổ sẽ thấy được con đường chấm dứt khổ chính là Bát Chánh Đạo, thấy được một sự thật triệt để thì ba sự thật kia sẽ biểu hiện, thấy cái này là thấy cái kia, thấy cái kia là thấy cái này.
./.