Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

6 Lợi Ích Quán Chiếu Vô Ngã

2026-03-03 00:55:45
Kinh Nikāya Giảng Giải

6 Lợi Ích Quán Chiếu Vô Ngã

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tà kiến và Chánh Kiến PAGEREF _Toc183015976 \h 1

II. Sáu lợi ích quán chiếu vô ngã PAGEREF _Toc183015977 \h 3

I. Tà kiến và Chánh Kiến

Phải hiểu được lý do mình đau khổ là vì cho rằng có cái tôi mà thật sự là không có cái tôi nhưng mình lại ngộ nhận, nhận lầm, hiểu sai, mình ảo tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng về một cái tự ngã, đây là nguyên nhân gốc rễ của mọi khổ đau cho chính mình, cho những người xung quanh và cho hữu tình chúng sanh vạn loại. Hằng ngày chúng ta đảnh lễ, sám hối diệt ngã, chẳng những diệt ngã mà còn phải sám hối nữa, đây là pháp kết hợp rất vi diệu.

Từ lâu con sống trong mê muội,

Không biết tâm mình rất uế nhơ.

Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.

Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.

Chẳng những mình nhìn sai về tự thân, về tự tâm, về sự vật bên ngoài, nó không có mà mình cho là có trong ảo tưởng, vọng tưởng, hư tưởng của mình mà mình lại còn vỗ ngực ta đây, hơn thua, tranh giành, xem mình là quan trọng hơn hết, từ đó có ra nhiều hệ lụy, bực phiền, khổ đau trên cuộc đời này cho nên Đức Thế Tôn thuyết pháp để nói cho chúng ta nhìn lại thấy rõ được bản chất của vấn đề. Bản chất nghĩ sai, nhìn sai, tưởng sai, nhận thức sai, có những cảm thọ sai, đó là bát tà đạo, là sự chấp thủ trong năm uẩn, từ chỗ thấy sai cho có cái tôi nên nghĩ sai, "tôi phải hơn người ta".

Mình nói sai rồi mình làm sai, hành động sai, có cuộc sống sai lầm, hành xử sai, siêng năng sai, tập trung tâm ý cũng sai, Đức Thế Tôn đưa ra Bát Chánh Đạo để phá bát tà đạo, để phá tám cái sai là đưa ra tám cái đúng, đưa ra Thánh trí ngũ uẩn để mình dẹp cái hư tưởng, huyễn tưởng, ảo tưởng, vọng tưởng về sắc là mình, hình hài này là mình, mình ở trong hình hài này, hình hài này ở trong mình, những cảnh vật đó là mình, mình gắn liền với cảnh vật đó, món đồ đó, những cái đó thuộc sở hữu của tôi.

Một cái nhìn sai khác là cho cảm giác này là mình, mình là cảm giác này, cảm giác này ở trong mình, mình ở trong cảm giác này, mình chính là cảm giác này, cảm giác này chính là mình, những hình bóng trong tâm đó là mình, của mình, mình ở trong cái tưởng đó, những tưởng đó ở trong mình, những suy nghĩ đó là tôi, tôi ở trong suy nghĩ đó, trong suy nghĩ đó có tôi, tôi có trong suy nghĩ đó, nhận thức đó là tôi, là của tôi, tôi ở trong nhận thức đó, nhận thức đó có trong tôi. Vì vậy cái hư tưởng, cái huyễn tưởng, ảo tưởng, vọng tưởng này sai hoàn toàn về bản chất, tánh chất, trong những cái sai đó bị cái sai này huân tập lâu ngày thành thói quen cứng chắc, trở thành thâm căn cố đế trong muôn đời ngàn kiếp nên rất bền chặt, nó đã quen cái sai đó từ rất lâu đời nên cái sai đó trở thành cái đúng.

Ví dụ một cái mê tín dị đoan nào đó được hưởng ứng đông thì người ta sẽ tập theo như đốt vàng mã, đốt hình con ngựa, đốt hình chiếc xe, căn nhà, điện thoại… đã được người ta làm theo từ xưa đến nay, ai mà không làm theo bị nói là thiếu thốn, bất hiếu, là không lo cho người chết. Như vậy cái sai từ lâu ngày sẽ trở thành cái đúng, tất cả ai cũng cho ngũ uẩn này là mình, là của mình, nhà này là mình, là của mình, thân này là mình, là của mình, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, suy tư là mình, là của mình, ai cũng cho như vậy từ vô lượng kiếp cho đến nay thì cái sai này từ lâu ngày sẽ trở thành cái đúng.

Khi Đức Thế Tôn chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác thì ngài thấy không phải như vậy nên ngài nói ngược lại thì bị người ta chỉ trích, phê phán, chống đối. Ngài tuyên thuyết cái pháp ly tham, nhàm chán, chấm dứt đối với ngũ uẩn cho nên nhiều người hỏi rằng Sa-môn Gotama muốn hủy diệt thế giới hay sao, đây là thế giới của dục, thế giới của mê, thế giới của vô minh, thế giới của tham đắm, khát ái, sân si, ngã mạn, thế giới của tranh giành, chiến tranh, nước mắt, máu, thế giới của bất an, tai hoạn, đầy rẫy ách nạn, ngài chỉ cho mình một thế giới an tịnh, cứu cánh bất tử thì chỉ có những người có tâm hiền thiện, có cái nhìn trong sáng thì mới tiếp nhận được sự thật đi ngược lại hết tất cả sự thật của thế gian, đó gọi là chân lý xuất thế gian hoặc là trí huệ xuất thế gian. Trí huệ này sẽ đưa mình ra khỏi thế giới vô minh, thế giới tham ái, thế giới chấp thủ, thế giới của ngu muội, thế giới của khổ đau, gọi là xuất thế gian trí, trí tuệ ra khỏi thế gian.

Chúng ta được nghe, được học, được thiền quán, nước mắt đầm đìa, lạy dập đầu hằng ngày mà đụng chuyện vẫn hơn thua, sân si, thật là khủng khiếp. Mọi người có thấy kinh hãi, kinh sợ với bản ngã này không? Có thấy bản ngã này là cái đáng lo, đáng ưu tư không? Đó là hằng ngày chúng ta được đọc, được quán chiếu, hằng ngày dập đầu lạy mà còn vậy, huynh đệ, tỉ muội cũng sân si, chỉ trích, vậy thì chúng ta phải biết mình vô minh đến mức độ nào, mình ái tự ngã này đến mức độ nào, mình chấp vào thân kiến này đến mức độ nào. Người tu chân chánh, tha thiết, chân thành thì trong từng suy nghĩ, cảm thọ, tư tưởng, nhận thức phải luôn canh chừng bản ngã này, phải để ý nó thường xuyên trong sự nhận diện ngũ uẩn, phải để tâm để nhiếp phục, chế ngự bản ngã này, cái tôi ta này.

II. Sáu lợi ích quán chiếu vô ngã

" - Thấy được sáu lợi ích, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?

Trong tất cả thế giới, tôi sẽ không dự phần vào trong ấy;

Cái gì tạo ra cái 'tôi' trong tôi sẽ được chận đứng;

Cái gì tạo ra cái 'của tôi' trong tôi sẽ được chận đứng;

Tôi sẽ thành tựu trí;

Không cùng chia sẻ với người khác;

Nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.

Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (IX). Không Có Hạn Chế (3))

Không hạn chế là bất cứ giờ nào, bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, ba phép quán về vô thường, khổ, vô ngã không có hạn chế. Bất cứ hoàn cảnh nào, giây phút nào cũng đều có thể quán chiếu về tính chất đau khổ, biến động, trống rỗng của tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Đức Phật nói ba bài kinh như vậy, mỗi bài kinh có 6 lợi ích, tổng cộng là 18 lợi ích trong ba pháp ấn, 18 lợi ích vĩ đại, tối thượng trong ba sự thật của ngũ uẩn, của nhân sinh, thế giới.

"Nguyên nhân và các pháp sanh ra được tôi khéo thấy" thì nguyên nhân chính là Tập Thánh Đế, các pháp sanh ra chính là những pháp khổ, những pháp bất an, mình phải thấy được những gì làm cho bản ngã này sanh khởi ra, những suy tư, cảm thọ, nhận thức nào là nguyên nhân để tạo thành cái tôi và của tôi thì chúng ta phải chặn đứng nó, phải khéo thấy nó, phải khéo phát giác, phát hiện ra nó, phải khéo quán chiếu về nó.

Ở đây chúng ta nói từ cái thô đến cái tế, từ cái gần đến cái xa, từ cái nhỏ đến lớn để chúng ta thấy. Thế giới nói về phương diện lớn là tam giới, thế giới của dục, thế giới của sắc và thế giới của vô sắc, nói gần là trong tất cả ngũ uẩn. Thế nào gọi là dự phần? Ví dụ mình mới vào chùa ở mà được chia cho cái phòng đó, cái gường đó là mình nói đây là chỗ của tôi, như vậy gọi là dự phần vào sắc uẩn đó. Mình được chia cho chỗ đó ngồi ăn cơm thì mình cho chỗ đó là chỗ của mình, người nào đến đó để đồ lên hoặc làm gì không sạch sẽ là mình tức giận, sân si "tại sao bỏ lên chỗ của tôi? Đây là chỗ của tôi", đó là dự phần vào sắc uẩn.

Chúng ta gắn cờ, gắn mắc "của tôi" lên cái gường đó, lên cái ghế đó hoặc vô cái phòng đó, thậm chí là đi toilet phòng nào là cho rằng "toilet đó của tôi", rộng ra chút thì cái chùa của tôi, tất cả những cái đó là dự phần vào sắc uẩn. Đó là nói bên ngoài còn sâu thẳm là thân này, mình có loại bỏ dần tư tưởng tôi không dự phần vào sắc uẩn này không? Có loại bỏ tư tưởng, suy nghĩ này nhiều không? Những hình bóng sanh khởi lên về những người thân hoặc những người không thân, khó chịu hoặc dễ chịu sanh khởi lên thì mình có dự phần vào đó không? Có nhận cái tưởng đó là tôi, là của tôi không?

Khi học pháp một thời gian là mình cho rằng tôi thấy như vậy, tôi biết như vậy, tôi có trí tuệ như vậy chứ mình không còn nói cái này là trí tuệ của Phật, mình học được từ nơi Phật và các bậc thầy, học một thời gian rồi cái gì cũng cho là mình cho nên sau này mới có nhiều tông phái, ai cũng muốn làm sư phụ, pháp không còn là độc nhất nữa, Tứ Niệm Xứ không còn là con đường độc nhất đưa chúng sanh đến thanh tịnh nữa, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưa, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.

Mình bị bản ngã xen vào chia 5 sẻ 7, chia ra 20 bộ phái trong thời gian Đức Phật nhập diệt không bao lâu, vì mình dự phần vào trong đó, mình không tôn trọng Thánh trí huệ của Đức Phật, không tôn trọng sự giác ngộ của Thế Tôn, không tôn kính thành quả chứng đắc của bậc đại đạo sư của chúng ta cho nên mới có ra nhiều tông phái vì cái nào mình cũng dự phần vào trong đó. Nếu mình tôn kính tuyệt đối lời dạy của bậc Chánh Đẳng Giác thì không có tông phái nào cả, không có một ai ngoài bậc Chánh Đẳng Giác có thể đưa ra pháp môn khác được cho nên ngoài những lời dạy của Đức Phật không có đường lối nào có thể thành tựu Thánh đạo, Thánh trí, Thánh quả, các bậc Thánh không dám làm sai một chữ, mà chính các bậc Thánh càng tôn kính, quý trọng Đức Phật nhiều hơn.

Có một vị Tỳ-kheo sắp chết nên Thế Tôn đến thăm thì vị này muốn ngồi dậy nhưng Thế Tôn bảo cứ nằm. Vị này gần chết nhưng vẫn gắng gượng bò xuống quỳ mọp dưới đất dù ngài là bậc Thánh Tăng A-la-hán, qua đây chúng ta thấy được rằng nếu thật sự là bậc Thánh Tăng sẽ tôn kính Đức Phật tuyệt đối, còn người nào không tôn kính thì người đó không phải là Thánh nên không biết được giá trị thật sự của Đức Phật, giá trị của giáo pháp của ngài. Càng kính pháp bao nhiêu thì càng kính Phật bấy nhiêu, càng kính Tăng bấy nhiêu, càng kính đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Giác bấy nhiêu.

"- Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Nhìn sâu vào chúng ta sẽ thấy tại sao có thời kì tượng pháp và mạt pháp, nhìn thâm sâu vào nguồn cội là do bản ngã, vì không có đầy đủ pháp cung kính đối với bậc Chánh Đẳng Giác cũng như không có đầy đủ sự cung kính với các bậc hiền Thánh Tăng đã giữ gìn pháp tạng và truyền bá, ai cũng muốn mình là số 1 nên không tuân theo Thánh đạo của Đức Phật, nghĩ mình có thể có đường lối riêng. "Cái gì tạo ra cái 'tôi' trong tôi sẽ được chận đứng; cái gì tạo ra cái 'của tôi' trong tôi sẽ được chận đứng", hai câu này là cái lõi của tạng kinh Nikāya, đối với tất cả sắc mình không gắn tâm mình vào đó cho rằng đó là mình, là của mình, dù là sắc quá khứ, hiện tại, vị lai, thắng liệt, thô tế, xa gần thì tất cả các sắc phải được quán, được thấy đúng như thật bằng trí tuệ sắc này là vô thường, khổ, vô ngã, sắc này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, sắc này không có trong tôi, tôi không có trong sắc này.

Thân này không phải là tôi, con mắt này không phải là tôi… khi ngồi thiền quán mình nhắc nhở bản thân từng cái như vậy, mình gỡ con mắt xuống, gỡ lỗ tai, lỗ mũi xuống, gỡ hàm răng ra, gỡ cái miệng xuống, mình giải phẫu toàn bộ hình hài này để tìm xem cái nào là mình ở trong đó. Mỗi ngày đều phải làm như vậy để gỡ những nhận thức, nghĩ tưởng điên đảo, vô minh, tham ái, chấp thủ về một tự ngã.

Chúng ta phải nhớ trong Nikāya thế giới chính là ngũ uẩn, trong tất cả ngũ uẩn mình đều không dự phần vào trong đó, không để suy nghĩ đó tồn tại, không chấp nhận suy nghĩ căn nhà này của tôi, cái chùa này của tôi, cái phòng này của tôi, món đồ này của tôi, mình diệt tận suy nghĩ đó, ngăn chặn suy nghĩ đó, nhiếp phục và chế ngự suy nghĩ đó cho đến mức tẩy sạch hoàn toàn không để suy nghĩ đó tồn tại trong thân tâm mình nữa, cảm thọ đó không còn, hình bóng đó cũng phá luôn. Cách Đức Phật dạy đánh phá nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ của chấp ngã, thứ nhất là không dự phần vào ngũ uẩn này, thứ hai là chặn đứng những nguyên nhân nào tạo ra chấp ngã này.

Những sự khuếch trương, khuếch đại, những sự vun vén, xây đắp trên sắc pháp, sắc tướng, sắc uẩn để cho thọ; tưởng; hành; thức dựa vào sắc pháp đó để tạo nên một cái tôi, một ảo tưởng của tự ngã, những cảm thọ nào có sự ngầm ý thô hoặc tế để bồi đắp, để tạo ra, làm cho lớn mạnh lên chấp ngã mà mình nhận diện ngũ uẩn không sâu sắc, không miên mật, không tinh tế, không sát sao, sắc bén thì mình sẽ không nhìn ra nổi, chỉ nhìn được cái thô bên ngoài thôi, nếu mình không thấy thì làm sao mình chặn đứng được. Một ý nghĩ tạo ra cái tôi trong tôi phải được chặn đứng, một nhận thức về vấn đề nào đó mà tạo ra cái tôi hoặc là cái của tôi trong người mình phải được phát giác, phát hiện và chặn đứng nó.

Chín pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất là tối thượng, chúng ta phải lấy chín pháp đó hoặc là lấy vài pháp tâm đắc trong đó để thực tập. Bước vào thiền đường mình chùi chân vào nùi giẻ nhưng mình có nhớ pháp hành không? Khi nhìn vào gương thấy mặt mình đẹp, tươi, trắng sáng hay nhìn thấy mình là kẻ hạ liệt, ăn xin, một kẻ không có giai cấp trên cuộc đời này? Khi mình bưng bình bát đi khất thực buổi trưa với cảm giác thúc giục muốn biết hôm nay ăn món gì hay với tâm thái hạ liệt, một người thấp kém, an trú tâm như người hèn kém nhất trong xã hội này, mình là kẻ ăn xin.

Những pháp tác ý như vậy mới gội rửa, tẩy sạch, chuyển hóa những gì tạo ra cái tôi trong người mình sẽ được chặn đứng, những gì tạo ra cái của tôi trong người mình sẽ được chặn đứng. Sáng ngủ dậy có thấy ghèn trong mắt không? Có ngửi mùi hôi trong miệng bay ra không? Mình có nhìn thấy nước tiểu và phân không? Có nhìn thấy những chất bất tịnh rỉ chảy ra dính trong quần áo không? Mình có quán thân chín lỗ lủng lỗ đáng xấu hổ không? Đó là những pháp chặn đứng những thứ tạo thành tôi và những cái của tôi trong mình, chín pháp an trú tâm đó là quyết định trong pháp hàng của đạo tràng Nikāya của chúng ta, chỉ cần quên nó là mất tâm hiền lập tức, mình sẽ sống với tâm buông lung phóng dật, ngã mạn, hơn thua, quên cái này là có chiến tranh trong nội tâm hoặc trong lời nói, hành vi.

Khi mình an trú vào những pháp này thì tâm mình hiền ngoan, dễ thương, lắng dịu, cúi xuống, lúa chín phải cúi đầu, sông sâu chảy chậm. Hằng ngày phải hỏi bản thân "đã cúi đầu chưa", "có thường ở trong trạng thái cúi đầu không", hãy an trú tâm mình hiền lành, dễ chịu, dễ mến, dễ thương, ngọt ngào, còn bên trong là một trí tuệ rực sáng phá vỡ những chấp ngã ngu muội, nội tâm mình là một cảm giác hiền hòa, lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Mình nói lời chân thật, nói lời từ ái, mình không chấp nhận những lời nói chỉ trích, châm chích nhau trong đạo tràng, cái đó là thấp kém vì không nhận diện ngũ uẩn, để cho nó xâm chiếm thân tâm của mình. Phải làm sao để an trú được trong chín pháp an trú tâm.

Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong

Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,

Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt, hơn thua.

Đọc những câu này lên phải thấm thía vào tim vào gan, vào tủy vào não, phải nhớ nghĩ về nó, phải thực hành liên tục, quán chiếu, quán tưởng thường xuyên để không nói những câu hơn thua với nhau. Có thể bảy ngày chỉ nghe một bài này thôi để thâm nhập, vừa quét sân vừa mở nghe, chừng nào tâm mình còn hung hăng, hung dữ, còn hơn thua thì chừng đó mình còn đau khổ, còn tai họa, còn nhiều hoạn nạn, khổ ách. Cho đến khi nào tâm mát dịu, hiền hòa, dù bị người ta chửi mắng tâm mình vẫn trú được với hình ảnh nùi giẻ, của một ung nhọt, của một kẻ thấp hèn ăn xin thì mình mới thấm mùi tương chao trong chùa, các sư ông ngày xưa gọi là "thấm mùi tương chao", mới có chất tu.

Phải làm cho mình thấm được tâm hiền, tâm từ, cảm giác ngọt ngào, cảm giác khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hòa, khiêm tốn, nhường nhịn, nhúng nhường, chắp tay cúi đầu lạy xuống phải được thực hành thường xuyên. Nếu mình dễ vui, mình lơ là một chút thôi là nó bung ra quậy mình cho nên con lúc nào cũng mong muốn đạo tràng chúng ta phải an trú được tâm hiền thiện, phải thành tựu ít nhất 80% để mọi người về đều thấy thanh tịnh, an lạc để tu học, đó là nề nếp gia phong của đạo tràng phải giữ gìn.

Mỗi sáng hoặc trưa đều phải đọc thanh quy, đọc khuyến tấn đạo tràng, đọc cho đến khi nào ai cũng thành tựu được hết mới không đọc nữa, còn chưa thành tựu là còn đọc. Những pháp mà chúng ta thực hành như sám hối diệt ngã, lạy đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, khuyến tấn đạo tràng, tâm hiền, tâm từ đều hỗ trợ cho nhau, tác thành cho nhau để an trú được cái tưởng vô ngã, cái tưởng trống rỗng, cái tưởng tanh hôi, xú uế, nhàm chán trong một cái thân bất tịnh, cái tâm đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã. Khi nhìn vào trong này phải thấy ê chề, ngao ngán, gớm ghê, chỉ muốn nhàm chán, từ bỏ, như con bò bị cưa sừng không còn hăng hái để tranh đua với bất cứ một ai trên cuộc đời này, mình đã ngao ngán, bỏ mọi thứ để lên núi.

Mình thực tập tâm hiền trí, quyết tâm từ bỏ, quyết tâm xa lìa, quyết tâm thoát ra, quyết tâm diệt tận và mình vui trong tâm hiền, mình thích thú trong tâm từ ái, mình dễ chịu trong tâm nhân hậu đó, mình thấy toàn thân từ đảnh tóc cho đến gót chân đều thấm đẫm cảm giác hiền thiện, mình tu tập tâm hiền như vòi nước hoa sen tưới từ đỉnh đầu xuống chân, không có chỗ nào trên thân mình không nhuần thấm cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào, từ ái, dễ chịu, lắng dịu, không có lỗ chân lông nào không thấm, không có làn da nào không ướt, không có chỗ nào trên cơ thể mình không có cảm giác hiền thiện.

Mình có bị người ta chửi rủa, vu khống nhưng mình vẫn nhẹ nhàng, ngọt ngào, vẫn từ ái được, mình bị vu oan giá họa, thậm chí là người ta hãm hại, giết hại mình thì mình thấy khỏe, đó là trả hết nghiệp rồi, giã từ thế giới sầu, bi, khổ, ưu, não này, phải an trú tâm mình đến mức độ đó. Quán đảnh là như vậy đó, là rưới từ đỉnh đầu đến gót chân, lúc quy y con cầm cành trúc nhúng vào nước rưới mọi nơi, đó là cái pháp biểu trưng để cho người đó nhìn những hình ảnh đó, khắc ghi cảm thọ đó để tu tâm hiền từ, đó là biểu trưng cho Thánh thủy tẩy sạch phàm tâm cấu nhiễm.

Hằng ngày mình đều tắm cho sạch sẽ, cũng vậy, mình đem nước của tâm hiền để tắm mình trong tâm trong mỗi thời thiền, thậm chí là ngoài thời thiền cũng đem nước tâm hiền đó quán đảnh lên đầu của mình, rưới vào tim mình, rưới vào gan, phèo, phổi của mình để thấm vào huyết quản của mình, thấm vào từng hơi thở, suy nghĩ của mình để triệt hạ bản ngã ngu muội, ác độc, xấu xa, bẩn thỉu. Khi mình thực tập tưởng vô ngã thường xuyên mình sẽ thành tựu được trí tuệ thấy được tính trống rỗng, vô nghĩa, đây là trí huệ bất cộng đặc biệt của bậc Thánh đệ tử không thể chia sẻ được với ai. Những nguyên nhân và các pháp do nhân duyên sanh ra mình sẽ khéo thấy được nó hết để mình chặn đứng nó lại, mình nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, tẩy sạch để thân tâm là một cảm thọ ngọt ngào, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền trí, hiền Thánh.

./.