Thức Ăn Của Vô Minh
Kinh Nikāya Giảng Giải
THỨC ĂN CỦA VÔ MINH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thức ăn của vô minh PAGEREF _Toc80954689 \h 1
1.Năm triền cái PAGEREF _Toc80954690 \h 3
2.Ba ác hành PAGEREF _Toc80954691 \h 7
3.Các căn không chế ngự PAGEREF _Toc80954692 \h 8
4.Như lý giác sát và Như lý tác ý PAGEREF _Toc80954693 \h 8
5.Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc80954694 \h 9
6.Chánh Pháp khó gặp PAGEREF _Toc80954695 \h 10
II.Thức ăn của minh PAGEREF _Toc80954696 \h 13
Thức ăn của vô minh
Trước khi vào bài chúng ta có câu đố: “thức ăn của vô minh là gì?”. Câu này rất quan trọng, nếu không biết thức ăn của vô minh là gì thì mình sẽ cho vô minh ăn mà không hay biết. Thức ăn của vô minh chính là năm dục trưởng dưỡng: tham lam, sân hận, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi. Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh “Vô Minh”, tập IV có ghi:
"- Này các Tỳ-kheo, khởi điểm đầu tiên của vô minh không thể nêu rõ để có thể nói: 'Trước điểm này, vô minh không có, rồi sau mới có'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: 'Do duyên này, vô minh (có mặt)'. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng vô minh có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho vô minh? Năm triền cái, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng năm triền cái có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho năm triền cái? Ba ác hành, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng ba ác hành có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho ba ác hành? Các căn không chế ngự, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, các căn không chế ngự có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho các căn không chế ngự? Không chánh niệm tỉnh giác, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng không chánh niệm tỉnh giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không chánh niệm tỉnh giác? Phi như lý tác ý, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng phi như lý tác ý có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho phi như lý tác ý? Không có lòng tin, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng không có lòng tin có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không có lòng tin? Không nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, không nghe diệu pháp có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không nghe diệu pháp? Không giao thiệp với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, không giao thiệp với bậc Chân nhân được viên mãn, thời làm viên mãn không có nghe diệu pháp; không có nghe diệu pháp được viên mãn, thời làm viên mãn không có lòng tin; không có lòng tin được viên mãn, thời làm viên mãn phi như lý tác ý; phi như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn không chánh niệm tỉnh giác; không chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn không chế ngự; các căn không chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba ác hành; ba ác hành được viên mãn, thời làm viên mãn năm triền cái, năm triền cái được viên mãn, thời làm viên mãn vô minh.
Như vậy, đây là thức ăn cho vô minh này, và như vậy là sự viên mãn". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, (I) Vô Minh)
Nếu không học kinh thì sẽ không biết thức ăn của vô minh là gì, mình có cho nó ăn thì mình cũng không biết. Như vậy:
Thức ăn của vô minh là năm triền cái (tham lam, sân hận, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi).
Thức ăn của năm triền cái là ba hành ác (tham, sân, si).
Thức ăn của ba hành ác là các căn không chế ngự, tức là buông lung phóng dật (sáu căn: mắt, mũi, lưỡi, tai, thân, ý).
Thức ăn của các căn không chế ngự là không chánh niệm tỉnh giác
Thức ăn của không chánh niệm tỉnh giác là phi Như lý tác ý (không suy tư chân chánh).
Thức ăn của phi Như lý tác ý là không có lòng tin.
Thức ăn của không có lòng tin là không nghe diệu pháp.
Thức ăn của không nghe diệu pháp là không giao tiếp với bậc chân nhân (thiện tri thức).
Trên đây là trình tự diễn biến của các pháp, cho nên không giao thiệp với bậc chánh tri kiến sẽ không được nghe diệu pháp. Không nghe diệu pháp thì không có lòng tin đối với Tam bảo, đối với pháp. Không có lòng tin sẽ nhìn sai, nghĩ sai, hiểu sai, suy nghĩ sai thì không đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Không chánh niệm tỉnh giác thì các căn không chế ngự. Các căn không chế ngự thì tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác. Khi ý nghĩ ác, thân làm ác, miệng nói ác thì đó là thức ăn cho năm triền cái. Năm thứ này được đầy đủ thì nuôi lớn vô minh.
Đây là trí tuệ Chánh Đẳng Giác của Đức Phật, tức là mỗi một pháp đều có nhân quả chứ không phải tự nhiên người đó buông lung phóng dật, vì không có chánh niệm tỉnh giác nên mới buông lung phóng dật, vì suy nghĩ sai nên không có chánh niệm tỉnh giác (phi Như lý tác ý). Từng pháp đều có nhân quả hệ, đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, bậc Chánh Biến Tri là tất cả các góc độ, phương diện, khía cạnh diễn ra trong tâm đều thấy biết và đây cũng là quán pháp trên pháp. Đức Phật vừa nói xuôi vừa nói ngược, từ ngọn Đức Phật đưa về cành, lá, thân rồi mới tới gốc; từ gốc Đức Phật mới đưa lên thân, cành, lá rồi tới ngọn, đó là sự chứng ngộ các pháp của Đức Phật. Còn mình vô minh thì cứ nghĩ "tại sao người đó lại không có lòng tin?", vì người đó không nghe diệu pháp nên không có lòng tin, vì không gặp bậc chân nhân, bậc chánh kiến nên không được nghe diệu pháp. Nếu không biết thức ăn của vô minh là gì thì cứ cho nó ăn thì làm sao hết vô minh được? Cho nên, phải bỏ đói vô minh để nó cạn kiệt, để nó chết dần chết mòn.
Năm triền cái
Cứ mỗi ngày mình có suy nghĩ về tham dục, có hình bóng về tham dục, suy tư về tham dục mà cứ để nó sanh khởi, để nó có chỗ trong tâm, để lâu lâu nó sanh khởi lên thì lúc đó là mình đang cho vô minh ăn. Những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về tham dục, tham ái, ngay cả khi nghĩ về cha mẹ, về người thân thương với tâm niệm ái, lưu luyến, nhớ thương, không biết giờ này họ thế nào, rồi lo lắng chứ không phải nghĩ để cố gắng tu thì đó vẫn là thức ăn của vô minh. Nếu không học, không có sự chứng ngộ của Đức Phật thì làm sao mình biết đang cho vô minh ăn? Nếu phát giác ra thức ăn của vô minh thì mình giảm bớt, loại trừ, tẩy sạch, nhiếp phục và diệt tận nó từ từ.
Khi để cho những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ có chỗ đứng trong thân tâm là mình đang cho vô minh ăn. Ví dụ mình thích cây kiểng nên mỗi ngày cứ nhìn ngắm, đam mê, thích thú là mình đang cho vô minh ăn, còn mình làm để trang nghiêm tùng lâm, có cây xanh bóng mát cho mọi người về tu học, thăm viếng chùa thì lại khác. Cho nên con người, đồ vật, đất đai, chùa chiền, xe cộ, tiền bạc, danh lợi… mà mình ham thích, khoan khoái là đang cho vô minh ăn để nó tăng trưởng phát triển. Do không thấy nó là tứ đại, là vô thường, khổ, vô ngã mà mình lại yêu thích, đam mê thì mỗi lần mình khởi lên suy nghĩ yêu thích là mỗi lần mình cho vô minh ăn, mỗi lần khởi hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình chấp nhận là mình đang vun phân, tưới nước cho nó. Phải giác ngộ đến mức này mới bứng tận gốc rễ của vô minh được, phải xem trong từng cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó tham ái cái gì thì lúc đó phải chặn đứng, nhiếp phục, trừ diệt là đang loại bỏ thức ăn của vô minh. Thời gian trước mình tu lâu nhưng mình không thành tựu trí tuệ này nên mình không biết, còn giờ biết rồi thì đừng sợ khó, lúc mới sanh mình có vài kí nhưng giờ mình mấy chục kí, một ngày mình ăn chỉ có vài chén cơm. Cũng vậy, trí tuệ này càng ngày sẽ càng lớn lên, sự thành tựu phải được nuôi lớn từ từ.
Bây giờ mình không cho thức ăn của vô minh mà mình cho thức ăn của minh. Dục tham là thức ăn của vô minh thì ngược lại thức ăn của minh là ly tham, ly dục, quán bất tịnh, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi. Ngày nào chúng ta cũng ăn pháp, uống sữa pháp là đang nuôi dưỡng minh để minh soi vô minh, làm cho vô minh tan biến từ từ và đi đến chỗ diệt tận, tẩy sạch hoàn toàn. Cho nên người nào tu mà chán nghe pháp, không thích ngồi thiền là thối đọa vì những lúc đó phải dùng minh để đánh phá vô minh, đó là lúc không cho vô minh ăn mà phải cho minh ăn. Vì thế vô minh nhiều quá vào nghe bất tịnh chỉ thấy tịnh là vô minh đang chống lại minh, đến khi nào chấp nhận bất tịnh là bất tịnh, tứ đại là bất tịnh, là vô thường, khổ thì trí và quang bắt đầu có chân đứng trong thân tâm chúng ta. Một khi mình xác quyết trong tâm tứ đại là vô thường, đau khổ, tan nát, hoại diệt thì lúc đó minh đã có chân đứng trong thân tâm, nó có chỗ trú, sự tồn tại trong tâm chúng ta. Một khi cái tâm không chấp nhận, nghe thì nghe, hiểu thì hiểu nhưng sâu thẳm trong tâm vẫn không chấp nhận thì minh không có chỗ đứng và vô minh xâm chiếm, chế ngự, bao trùm thân tâm. Khi nhìn lại nội tâm chúng ta sẽ thấy rất rõ bản thân có bao nhiêu phần minh, bao nhiêu phần vô minh, nếu chấp nhận bất tịnh, khổ, vô thường khoảng 60% thì 60% đó là minh, 40% còn lại là vô minh, cho đến khi xác quyết 100% thì Nhập Lưu. Vì thế nếu không khéo hằng ngày mình cho vô minh ăn rất nhiều, cứ ham thích, khoan khoái cái gì thì phải kiểm soát tất cả, nếu là thiện pháp thì được, còn ác bất thiện pháp thì không cho, có thể không cắt đứt một lần được nhưng phải giảm bớt và chuyển hướng từ từ.
Mỗi lần cảm giác bực bội, khó chịu, cộc cằn sanh khởi là mỗi lần cho vô minh ăn, đang tưới tẩm, vun phân cho cây vô minh, cây si ám. Nếu cái sân hận, bực bội, tức giận đó tồn tại trong thân tâm thì đó là nguồn cung cấp thực phẩm rất lớn làm vô minh được sung mãn, vì thế một người giận dai, giận lâu thì đây là nguồn thực phẩm cho vô minh rất dồi dào. Một người không chấp nhận ý niệm tức giận, gắt gỏng, hơn thua, đấu đá… chỉ muốn xóa sạch, bứng tận gốc rễ thì người này cắt đứt thức ăn thứ hai của vô minh là sân hận. Dùng tâm từ trị sạch hoàn toàn cảm thọ, suy nghĩ, bóng dáng người mình đang giận.
Thức ăn thứ ba của vô minh là hôn trầm thụy miên, nói đầy đủ là uể oải, lười biếng, ăn no buồn ngủ. Tới giờ ngồi thiền hoặc tới giờ học chỉ thấy mệt mỏi, khi có suy nghĩ đó mà mình không thấy, không biết, không đánh đuổi, không diệt tận thì mình đang cho vô minh ăn, dù đang ngồi trong pháp hội nhưng vẫn đang cho vô minh ăn, chính vì vậy nếu không để tâm vào pháp thoại mà chỉ để tâm vào sự đau nhức, mỏi mệt, cứ đi theo thọ; tưởng; hành dẫn dắt thì ngồi một lúc có khi là mắt sụp xuống, không nhiệt tâm, tinh cần, không chánh niệm tỉnh giác, không khao khát, tôn trọng, cung kính pháp bảo thì mình đang cho vô minh ăn. Đức Phật khi nói pháp thường làm cho người đó hân hoan, phấn khởi, hoan hỉ trong pháp, khi nào chúng ta nghe pháp, đọc kinh có trạng thái tâm đó thì tu mới tiến, không có trạng thái lờ đờ, lười biếng, buồn ngủ thì chúng ta sẽ chặn được nguồn cung cấp thực phẩm cho vô minh trong thân tâm. Vì thế vào buổi sáng khi chúng ta học tới 8-9h thì chúng ta đang cho thức ăn của minh, nếu chúng ta xả ra mà ăn nhiều rồi vào học thì chỉ có cho vô minh ăn, còn để cho bụng hơi đói, bụng được nhẹ thì cảm giác, cảm xúc mới sanh, tinh thần minh mẫn, sáng suốt thì đó là cho minh ăn. Chúng ta phải hiểu được điều này để khỏi thắc mắc sao cứ nghe pháp hoài, mỗi lần nghe pháp là mỗi lần cho minh ăn, còn không nghe thì cứ cho vô minh ăn, trừ những người tinh cần, tinh tấn trú niệm trong Tứ Niệm Xứ còn ngoài ra đều cho vô minh ăn. Tu thiền quán sẽ khác với tu thiền chỉ, phải làm cho cân bằng vì chỉ cần thấy buồn ngủ, uể oải là mình biết ngay nên phải tác ý trở thành buổi thiền quán, còn khi thấy minh mẫn, sáng tỏ thì vào thiền chỉ, thiền định, đây là sự khéo léo khi ngồi thiền chứ còn thấy buồn ngủ, mệt mỏi mà cứ đi theo nó thì đó là thức ăn của vô minh, thời thiền không được hiệu quả, không có lợi ích. Nếu mệt thì khi xả thiền đi nghỉ cũng không sao nhưng trong lúc thiền phải minh, phải quang, phải trí, không được ngồi gục ngã trên Bồ-đoàn, đó là chết trên chiến trường, khi xả thiền ra mệt thì cứ đi nghỉ nhưng giờ thiền là giờ linh thiêng, đó là giờ ra trận đánh giặc vậy mà mình gục ngã thì lúc không ngồi thiền còn chết đến thế nào nữa? Vì thế giờ ngồi thiền rất quan trọng vậy mà lên ngồi thiền lại cho vô minh ăn, khổ chưa?
Thức ăn thứ tư của vô minh là trạo cử. Tâm mình cứ nghĩ cái này, nghĩ cái kia mà không quay trở về an trú cảm giác toàn thân, không đặt niệm trước mặt, không theo hơi thở làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Ngồi học hoặc ngồi nghe pháp mà trong đầu cứ diễn ra hết kế hoạch này đến kế hoạch kia, hết dự tính này đến dự tính kia nên cả buổi chỉ làm thức ăn cho vô minh, ở ngoài thấy ngồi yên nhưng bên trong lại tính toán công việc, đó là tâm bị trạo cử. Vì thế hiện tại lạc trú rất cần thiết, mình trú ngay cảnh trước mặt, để tâm chánh niệm trước mặt không nghĩ đến những thứ khác, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, cái gì ở trước mặt chỉ thấy cái đó thôi thì tâm hoàn toàn trú trong hiện tại hỷ lạc gọi là hiện tại lạc trú. Nếu tâm dao động, mệt mỏi quá thì hiện tại lạc trú, tức là sự rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, an trú ngay giây phút, ngay khoảnh khắc đó, cái gì có mặt thì ngay đó có mặt. Trong bài kinh Tiểu không Đức Phật dạy lâm tưởng là chỉ có sự suy tưởng, sự rõ biết trong tưởng rừng chứ không có thôn tưởng, nhân tưởng, nghĩa là nếu ngồi trong rừng thì chỉ có cảnh rừng chứ không có tưởng về xóm làng, chợ, không có tưởng về người này người kia, như vậy tâm được an định, cảm giác toàn thân được an lạc, hiện tại lạc trú, cảnh vật như thế nào thì tâm chỉ biết có như vậy thôi.
"Này Ananda, Tỳ-kheo không tác ý thôn tưởng, không tác ý nhơn tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí, do duyên lâm tưởng. Tâm của vị ấy được thích thú hân hoan, an trú, hướng đến lâm tưởng. Vị ấy tuệ tri như sau: 'Các ưu phiền do duyên thôn tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng'. Vị ấy tuệ tri: 'Loại tưởng này không có thôn tưởng'. Vị ấy tuệ tri: 'Loại tưởng này không có nhân tưởng'. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí (ekattam) do duyên lâm tưởng'. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: 'Cái kia có, cái này có'. Như vậy, này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh". (Trung Bộ Kinh, 121. Kinh Tiểu không)
Cần loại bỏ những chuyện phiền toái của thôn trưởng, lăng xăng thời sự, ngay lúc đó như thế nào thì chỉ biết như thế đó sáng tỏ, hiện tại lạc trú để tâm bớt dao động. Còn nếu cứ ngồi đó rồi nghĩ hết cái này tới cái kia, hết chuyện kia tới chuyện nọ thì mình đang cho vô minh ăn.
Thức ăn cuối cùng của vô minh là hoài nghi. Cứ nghi ngờ ngày xưa ta như thế nào, bây giờ ta ra sao rồi sau này ta là ai… Hoài nghi đó là do không thấy năm uẩn, người thấy năm uẩn sẽ biết trước đó ta là năm uẩn, sau này ta cũng chỉ là năm uẩn và bây giờ vẫn là năm uẩn. Nếu còn vô minh, tham ái thì còn tiếp tục những hình thức năm uẩn tái sanh, tái diễn, tái tục, tiếp tục tái sanh ra những tấm thân ngũ uẩn. Trước đây là ngũ uẩn, sau này là ngũ uẩn, nếu mình không đoạn trừ vô minh, tham ái thì vẫn chỉ là ngũ uẩn. Cho nên, đối với giáo pháp không còn hoài nghi, tâm được an định thì mới tu hành được, nếu không cứ nghi ngờ hoài "không biết nói vậy có phải không?", "không biết có phải Đức Phật tu chứng ngộ Tứ Diệu Đế không?"… thì đó là thức ăn cho vô minh. Cứ ngờ vực, nghi hoặc, hoang mang mọi thứ, nhiều khi lại nghĩ "không biết mình có làm được không?", "ngồi thiền chắc không được", "tu cái này khó lắm chắc mình tu không được"… tất cả những cái đó đều là thức ăn cho vô minh. Nếu chúng ta nghe theo và chấp nhận điều đó là đang cho vô minh ăn. Thế nên, những lúc như thế cần nhận diện ngũ uẩn lập tức, không đi theo hoài nghi nữa thì không cho vô minh ăn, nhận diện năm uẩn là minh, còn không thấy năm uẩn mà chỉ thấy "mình" thì vô minh.
Ba ác hành
Thức ăn của năm triền cái chính là ba ác hành, ác hạnh vì tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác. Chữ "ác" nghĩa là bất thiện pháp, gốc rễ của nó chính là tham, sân, si. Nghĩ xấu thì có sân, có tham, có bực bội; nói lời cay đắng, thô ác thì tâm sẽ sân hận, hối tiếc (trạo hối); làm việc xấu khi ở một mình thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ làm cho tâm bất an. Vì thế để có tâm an định cần rất nhiều yếu tố chứ không phải ngồi lại là tâm an định được. Có nhiều lầm lỗi là ngồi thiền sẽ bị trạo hối, hối tiếc cho nên có nhiều người không ngồi thiền được, nhất là những người có ba ác hành nhiều thì lại càng không thể ngồi.
Các căn không chế ngự
Thức ăn của ba ác hành là các căn không chế ngự. Tại sao nghĩ ác, nói ác, làm ác? Vì không biết giữ gìn, thâu nhiếp, chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Có nhiều chuyện không ngờ nhưng vẫn xảy ra, như gọi bạn hát karaoke mà bạn không hát là giết tại chỗ. Các căn không chế ngự sẽ đưa đến ác hành ngay, một ánh mắt nhìn cũng xảy ra án mạng vì cho rằng người ta nhìn đểu nên giết người, hậu quả phải nhận án tù chung thân. Đó là ác hành do các căn không chế ngự, có sáu xúc xứ nếu không phòng hộ, thâu nhiếp, không hộ trì, không giữ gìn thì đưa đến bất hạnh, đau khổ dài lâu. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý không bảo hộ, không giữ gìn thì đưa đến đau khổ, đưa đến bất hạnh, đem đến những quả báo ác nghiệp địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đọa xứ.
"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Những con cọp, con beo, con gấu, những con dã thú là hậu quả của các căn không chế ngự, là thức ăn cho ba ác hành. Muốn nói là nói, muốn làm là làm mà không suy xét, không dùng trí tuệ, không Như lý giác sát.
Như lý giác sát và Như lý tác ý
Như lý tác ý và Như lý giác sát là hai pháp cực kì quan trọng trong sự tu của chúng ta. “Giác” là tỉnh giác, “sát” là quán sát, Như lý giác sát là tỉnh giác và quán sát đúng theo Chánh pháp, đúng với sự thật của vấn đề đó. Tác động tâm ý đúng theo sự thật là Như lý tác ý. Như lý giác sát là một sự yên tĩnh nhìn sâu vào bên trong vấn đề, sau khi nhìn sâu thấy rõ cái nào là thiện, cái nào là bất thiện, cái này chánh hay tà, cái này đúng hay sai thì tiếp theo mới dùng Như lý tác ý. Nghĩa là cầm cây chổi rồi mới nhìn chỗ nào dơ thì mới lại hốt, quét chỗ đó, chúng ta phải quán sát trước chỗ dơ đó cần dùng cái gì, có khi phải dùng bàn chải, nước, chất tẩy rửa. Như vậy, Như lý giác sát trước rồi sau đó mới tới Như lý tác ý, tức là phải cảnh giác và quán sát thân tâm rồi sau đó tác động tâm ý một cách đúng đắn mới có hiệu quả. Nếu không tỉnh giác để quán sát thân tâm thì sẽ không nhìn ra vấn đề đang ở trong tình trạng, tình huống, hoàn cảnh như thế nào, nó đang bê bối, cấu nhiễm, sai quấy chỗ nào, điều này đòi hỏi một sự Như lý giác sát, chỗ này đã bước qua chánh niệm tỉnh giác.
Chánh niệm tỉnh giác
Chúng ta dùng chánh niệm tỉnh giác để đối trị việc không chánh niệm tỉnh giác. Không chánh niệm tỉnh giác là do suy nghĩ không đúng vấn đề (phi Như lý tác ý). Chánh niệm tỉnh giác là Như lý giác sát, vì thế việc nhìn lại thân tâm rất vi tế, sâu sắc. Khi ở một mình chiêm nghiệm rồi mới thấy khiếp sợ tâm thức vì nó thật sự ngoài sức tưởng tượng, nói dễ hiểu là các căn buông lung phóng dật vì không có chánh niệm tỉnh giác, mà không chánh niệm tỉnh giác vì phi Như lý tác ý. Ví dụ, có suy nghĩ "cứ đi thoải mái, ăn thoải mái đi chứ làm gì phải khép nép, nhìn xuống, giữ oai nghi kĩ vậy?", đó là phi Như lý tác ý mà chính phi Như lý tác ý làm cho mình buông thả, đi kéo lê dép chưa thấy mặt đã nghe tiếng. Tất cả là do suy nghĩ sai nên không đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Hoặc là đến giờ tu mọi người ngồi chung nhưng mình lại ngồi riêng một mình rồi buông lung phóng dật trong khi đại chúng đang trú trong pháp, có biết bao cảm thọ dạt dào. Đó là phi Như lý tác ý dẫn đến không có chánh niệm tỉnh giác, không biết cái gì nên làm, cái gì không nên làm. Cũng vì không chánh niệm tỉnh giác nên làm đổ vỡ mọi thứ, có khi chỉ cần một lời nói thôi là đổ vỡ, có khi một ý nghĩ là tan vỡ, có khi chỉ vì một hành động là hối hận suốt đời. Ví dụ chồng nhậu say không có chánh niệm, không tỉnh táo rồi về nhà đập đồ, chửi vợ đánh con, như vậy ba ác hành sanh khởi phải chịu quả báo khổ.
Chánh Pháp khó gặp
"Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng phi như lý tác ý có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho phi như lý tác ý? Không có lòng tin, cần phải trả lời như vậy". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Mình suy nghĩ sai vì không có lòng tin, không có thành tựu tịnh tín bất động, không thành tựu lòng tin trong sáng, trong sạch, vững chắc, không dao động, mà không có lòng tin vì không được nghe diệu pháp, mình không nghe được diệu pháp vì mình không gặp được bậc chân nhân. Bậc chân nhân, bậc chánh kiến, những vị thấy biết về pháp, hiểu về pháp, thực hành về pháp là báu vật trong cuộc đời này, rất khó gặp được những vị này. Trong kinh ví dụ con rùa mù dưới đáy biển, một trăm năm mới nổi lên biển một lần, đúng lúc nó nổi lên thì có bọng cây trôi ngang đó để con rùa chui vào bọng cây đưa nó vào đất liền thì cơ hội đó cực kì khó. Hoặc một người đứng ở đỉnh núi thả sợi chỉ xuống, một người đứng dưới chân núi đưa lỗ kim ra để hứng lấy sợi chỉ trong khi ở giữa là bão táp phong ba, việc này cũng cực kì khó khăn. Cũng vậy, gặp được bậc chân nhân, bậc chánh kiến, gặp được Chánh pháp còn khó hơn như vậy gấp ngàn lần.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?
-- Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!
-- Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời.
Nhưng nay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, VIII. Lỗ Khóa).
Đây là những điều để mình tác ý tu học, phải sống chết với pháp. Thật không dễ để được nghe pháp này, cực kì khó khăn. Bản thân Minh Thành đi tìm cầu suốt mấy chục năm, đi hết chỗ này đến chỗ kia, trong nước ngoài nước khó khăn, khổ cực mới tìm thấy Thánh pháp này. Nhìn ra thế giới bây giờ thấy lòng dục tham, hung ác lên đỉnh điểm, ngày xưa nghe giết người là chấn động toàn quốc, còn bây giờ vài ngày lại nghe con giết cha, giết mẹ, vợ giết chồng, anh giết em… Những ác pháp đầy rẫy như vậy thì càng ngày thiện pháp còn khó có được chứ đừng nói gì Thánh pháp; thiện pháp còn khó nghe, khó thực hành thì huống hồ gì Thánh pháp. Cho nên chúng ta phải cung kính, tha thiết, chân thành đối với pháp, nếu không nắm được phao này thì mình sẽ chìm sâu xuống đại dương của nước mắt, của máu, của dục tham, sân hận, vô minh, bản ngã, của bóng đêm vĩnh viễn và mãi mãi. Cũng vì lẽ ấy mà cổ nhân có câu:
"Nhất thất túc thành thiên cổ hận
Tái đầu hồi thị bách niên thân".
Dịch nghĩa:"Một bước sa chân ngàn đời ân hận
Quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi".
Thật sự là phước duyên rất lớn cho chúng ta mới gặp được Chánh pháp, nếu mình không gặp, không nghe, không được chỉ dẫn thì giờ này mình cũng mò mẫm trong bóng đêm không biết đường ra, dù cho có muốn ra nhưng vừa không ai chỉ dẫn. Vừa không thấy đường trong bóng đêm, vừa ở trong rừng rậm, hoang mạc thì vô lượng vô biên kiếp không thoát ra được.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Cho nên việc mình gặp được Thánh pháp là hy hữu thù thắng, ngàn năm có một nên phải biết trân trọng Chánh pháp. Hãy dùng tinh thần quyết tử hi sinh để tu học pháp này, có chết một trăm mạng cũng xứng đáng, phát thệ nguyện dù cho có chết cũng chết trong pháp, dù có xương tan thịt nát cũng chết trong pháp này. Vì nếu không gặp bậc chân nhân, không nghe diệu pháp, không có lòng tin, không có chánh niệm tỉnh giác, không chế ngự các căn, buông lung phóng dật, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác sẽ đưa đến quả báo đau khổ cùng cực. Còn chúng ta có phước duyên tốt lành gặp bậc chân nhân, bậc đại thiện tri thức, nghe diệu pháp, có lòng tin, chánh niệm tỉnh giác, chế ngự các căn, chặn đứng ba ác hạnh, diệt năm triền cái để chấm dứt vô minh, thành tựu minh, cho nên phải nỗ lực tu học.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, trên một ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa ấy chảy xuống theo sườn dốc; làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng; sau khi làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lụng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn; sau khi làm đầy các hồ lớn, chúng làm đầy các sông nhỏ; sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy các sông lớn; sau khi làm đầy các sông lớn, chúng làm đầy biển cả. Như vậy là thức ăn của biển lớn, của đại dương và như vậy là viên mãn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, không giao thiệp với các bậc Chân nhân được viên mãn, thời làm viên mãn không có nghe diệu pháp; không có nghe diệu pháp được viên mãn, thời làm viên mãn không có lòng tin; không có lòng tin được viên mãn, thời làm viên mãn phi như lý tác ý; phi như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn không chánh niệm tỉnh giác; không chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn không chế ngự; các căn không chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba ác hành; ba ác hành được viên mãn, thời làm viên mãn năm triền cái, năm triền cái được viên mãn, thời làm viên mãn vô minh". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Giống như dòng nước từ trên núi đổ xuống làm tràn đầy các khe hốc nhỏ, ra đến sông và ra đến biển sẽ làm viên mãn vô minh.
Thức ăn của minh
Ngược lại như thế nào là thức ăn của minh?
"Và này các Tỳ-kheo, Ta nói minh giải thoát có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho minh giải thoát? Bảy giác chi, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng Bảy giác chi có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho Bảy giác chi? Bốn niệm xứ, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng Bốn niệm xứ có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho Bốn niệm xứ? Ba thiện hành, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ kheo, Ta nói như rằng ba thiện hành có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho ba thiện hành? Các căn được chế ngự, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng các căn được chế ngự có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho các căn được chế ngự? Chánh niệm tỉnh giác, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, chánh niệm tỉnh giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho chánh niệm tỉnh giác? Như lý tác ý, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, như lý tác ý có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho như ý tác ý? Lòng tin, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói lòng tin có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho lòng tin? Nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng nghe diệu pháp có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho nghe diệu pháp? Giao thiệp với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Thức ăn của minh và giải thoát là bảy pháp giác chi:
Trạch pháp giác chi: Trí lựa chọn chánh pháp, phân biệt tà pháp.
Tinh tấn giác chi: Trí tinh tấn mạnh mẽ mà tu hành chánh pháp.
Hỷ giác chi: Trí hoan hỉ đặng chánh pháp.
Khinh an giác chi: Trí nhẹ nhàng từ bỏ các chướng ngại.
Niệm giác chi: Trí thường niệm định và huệ (Tứ Niệm Xứ).
Định giác chi: Trí thường an định không tán loạn.
Xả giác chi: Trí bỏ các pháp tà, các điều đã làm.
Bảy giác chi này bao trùm mọi thứ. Cho nên mỗi pháp trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo để hiểu cho toàn diện, viên mãn thì trong pháp này có pháp kia. Trong niệm giác chi có niệm thân – thọ – tâm – pháp. Niệm thân là niệm sáu pháp: niệm tứ đại, niệm hơi thở, niệm hành động, niệm oai nghi, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi. Niệm ba loại cảm thọ: cảm giác dễ chịu (lạc thọ), cảm giác khó chịu (khổ thọ), cảm giác không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc thọ). Niệm những trạng thái của tâm và niệm pháp là những pháp thiện và bất thiện đang có mặt trong tâm như thế nào, cho nên niệm giác chi bao trùm Tứ Niệm Xứ.
Kế tiếp Đức Phật nói thức ăn của Bảy Giác Chi chính là Bốn Niệm Xứ, cho nên pháp này liên hệ với pháp kia. Và đương nhiên khi Niệm Giác Chi, niệm Tứ Niệm Xứ sẽ có sự giãn trạch phân biệt cái nào thuộc về sắc, cái nào thuộc về thọ, cái nào thuộc về tưởng; hành; thức. Tức là thấy rõ trong thọ có thọ gì, trong thọ có thiện pháp hay bất thiện pháp; thấy rõ trong suy nghĩ (hành) cái nào là dục tư duy, cái nào là sân tư duy, hại tư duy, cái nào là từ, bi, hỷ, xả, cái nào là những suy nghĩ ly dục, ly sân, bất hại, cái nào là suy nghĩ xuất ly, thoát ra… chúng ta phân biệt được hết gọi là trạch pháp giác chi. Sau đó phải nỗ lực tinh tấn để thực hành Tứ Niệm Xứ sẽ thành Tinh Tấn Giác Chi. Khi tinh tấn thực hành sẽ thấy hoan hỉ, thấy được pháp, thấy được tâm, thấy được những thứ trước nay chưa thấy, biết những cái trước nay chưa biết, hiểu những điều trước nay mình chưa hiểu và nhiếp phục những cái trước nay chưa nhiếp phụ. Cho nên tâm mình sẽ vui, hoan hỉ, hân hoan nên Hỷ Giác Chi sanh khởi. Khi vui thì tâm sẽ nhẹ nhàng nên Khinh An Giác Chi sanh khởi, bắt đầu đi vào sự an định. Sau đó chúng ta có tâm buông xả, không bị dính mắc. Bảy yếu tố giác ngộ này là thức ăn của minh, qua đây chúng ta thấy được thức ăn của minh rất nhiều.
Thức ăn của Bảy Giác Chi là Bốn Niệm Xứ, thức ăn của Bốn Niệm Xứ là ba thiện hành (thân, khẩu, ý). Muốn tu Bốn Niệm Xứ đầy đủ, viên mãn thì người đó phải nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện. Thức ăn của ba thiện hành là các căn được chế ngự, muốn nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện thì phải có sự phòng hộ, thâu nhiếp, bảo hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Muốn được sự chế ngự đó thì phải có chánh niệm tỉnh giác, Như lý giác sát. Muốn có chánh niệm tỉnh giác thì phải có Như lý tác ý, suy nghĩ đúng, hướng tâm đúng. Muốn suy nghĩ đúng, muốn hướng tâm đúng thì phải có lòng tin. Muốn có lòng tin thì phải nghe diệu pháp. Muốn nghe diệu pháp thì phải giao thiệp với bậc chân nhân. Đây là con đường ngược lại ở phía trên, Đức Phật cũng ví dụ giống vậy nhưng ví dụ ở trên theo chiều xấu ác, còn ví dụ này thuận theo chiều thiện lành.
"Như vậy, này các Tỳ-kheo, giao thiệp với bậc Chân nhân được viên mãn thời làm viên mãn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp được viên mãn thời làm viên mãn lòng tin; lòng tin được viên mãn, thời làm viên mãn như lý tác ý; như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn được chế ngự; các căn được chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba thiện hành; ba thiện hành được viên mãn, thời làm viên mãn Bốn niệm xứ; Bốn niệm xứ được viên mãn, thời làm viên mãn Bảy giác chi; Bảy giác chi được viên mãn, thời làm viên mãn minh giải thoát.
Ví như, này các Tỳ-kheo, trên một ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa chảy xuống theo sườn dốc, làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng; sau khi làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn. Sau khi làm đầy các hồ lớn, chúng làm đầy các sông nhỏ. Sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy các sông lớn. Sau khi làm đầy các sông lớn, chúng làm đầy biển cả. Như vậy, là thức ăn của biển lớn, của đại dương, và như vậy là sự viên mãn.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, giao thiệp với bậc Chân nhân được viên mãn, thời làm viên mãn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp được viên mãn, thời làm viên mãn lòng tin; lòng tin được viên mãn thời làm viên mãn như lý tác ý; như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn được chế ngự; các căn chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba thiện hành; ba thiện hành được viên mãn, thời làm viên mãn Bốn niệm xứ; Bốn niệm xứ được viên mãn, thời làm viên mãn Bảy giác chi; Bảy giác chi được viên mãn, thời làm viên mãn minh giải thoát.
Như vậy là thức ăn của minh giải thoát, và như vậy là viên mãn". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Như vậy những điểm quan trọng là gặp được bậc chân nhân, nghe được diệu pháp, thành tựu lòng tin, Như lý tác ý, chánh niệm tỉnh giác, các căn được chế ngự, nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt, nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, bốn niệm xứ viên mãn, bảy giác chi viên mãn, minh giải thoát viên mãn. Hội chúng của chúng ta thật sự rất hiếm có, thật sự rất phước báo, hãy cố gắng mỗi ngày nghe pháp, đọc kinh, ngồi thiền, Như lý tác ý làm cho minh được nuôi lớn chứ đừng nuôi lớn vô minh, làm cho lòng tin càng ngày càng kiên cố, vững chắc, tăng trưởng Như lý tác ý.
Qua đây chúng ta thấy không phải chỉ tu một pháp là được mà cần tu nhiều pháp, nhiều phương diện, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, nhiều ngõ ngách để nhiếp phục các tập khí, cấu uế, rác bẩn trong thân tâm của mình. Đức Phật không phải chỉ nói Bốn Niệm Xứ hay Tứ Thánh Đế mà Đức Phật còn nói Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, phải khéo léo vận dụng tất cả để làm cho minh và giải thoát được sớm ngày viên mãn. Tướng báo trước của Mặt Trời xuất hiện là rạng đông; tướng báo trước của sự thành tựu là minh, là trí; tướng báo trước của sự thành tựu nhiếp phục tất cả các lậu hoặc và phiền não là thấy biết năm uẩn; tướng báo trước của những bậc thành tựu là chánh tri kiến và hiện tại chúng ta đang nuôi dưỡng, tưới tẩm làm cho tri kiến được đầy đủ, viên mãn, cái thấy biết phải vững chắc chứ không để cho nó yếu ớt, tiêu hao.
Cho nên hằng ngày chúng ta phải nuôi dưỡng và cho minh, cho trí, cho tuệ ăn. Những vị cao Tăng ngày xưa đi thỉnh kinh phải bỏ mạng trên đường rất nhiều. Có biết bao người tu hành phải bỏ thân mạng nhưng không thành đạo, không thành tựu chánh kiến vì không đủ duyên gặp được bậc chân nhân, không đủ duyên nghe được diệu pháp viên mãn. Nếu chúng ta không gặp bậc chân nhân, không được nghe diệu pháp viên mãn thì dù cho tu trăm kiếp ngàn đời thì cũng vẫn ở trong nhân thiên phước báo, không đi đến chỗ nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy lậu hoặc, phá được vô minh để thành tựu minh và giải thoát. Chúng ta phải nhớ điều này để tác ý phấn khởi, hân hoan trong sự tu học.
./.
THỨC ĂN CỦA VÔ MINH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thức ăn của vô minh PAGEREF _Toc80954689 \h 1
1.Năm triền cái PAGEREF _Toc80954690 \h 3
2.Ba ác hành PAGEREF _Toc80954691 \h 7
3.Các căn không chế ngự PAGEREF _Toc80954692 \h 8
4.Như lý giác sát và Như lý tác ý PAGEREF _Toc80954693 \h 8
5.Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc80954694 \h 9
6.Chánh Pháp khó gặp PAGEREF _Toc80954695 \h 10
II.Thức ăn của minh PAGEREF _Toc80954696 \h 13
Thức ăn của vô minh
Trước khi vào bài chúng ta có câu đố: “thức ăn của vô minh là gì?”. Câu này rất quan trọng, nếu không biết thức ăn của vô minh là gì thì mình sẽ cho vô minh ăn mà không hay biết. Thức ăn của vô minh chính là năm dục trưởng dưỡng: tham lam, sân hận, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi. Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh “Vô Minh”, tập IV có ghi:
"- Này các Tỳ-kheo, khởi điểm đầu tiên của vô minh không thể nêu rõ để có thể nói: 'Trước điểm này, vô minh không có, rồi sau mới có'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: 'Do duyên này, vô minh (có mặt)'. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng vô minh có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho vô minh? Năm triền cái, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng năm triền cái có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho năm triền cái? Ba ác hành, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng ba ác hành có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho ba ác hành? Các căn không chế ngự, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, các căn không chế ngự có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho các căn không chế ngự? Không chánh niệm tỉnh giác, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng không chánh niệm tỉnh giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không chánh niệm tỉnh giác? Phi như lý tác ý, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng phi như lý tác ý có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho phi như lý tác ý? Không có lòng tin, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng không có lòng tin có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không có lòng tin? Không nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, không nghe diệu pháp có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không nghe diệu pháp? Không giao thiệp với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, không giao thiệp với bậc Chân nhân được viên mãn, thời làm viên mãn không có nghe diệu pháp; không có nghe diệu pháp được viên mãn, thời làm viên mãn không có lòng tin; không có lòng tin được viên mãn, thời làm viên mãn phi như lý tác ý; phi như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn không chánh niệm tỉnh giác; không chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn không chế ngự; các căn không chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba ác hành; ba ác hành được viên mãn, thời làm viên mãn năm triền cái, năm triền cái được viên mãn, thời làm viên mãn vô minh.
Như vậy, đây là thức ăn cho vô minh này, và như vậy là sự viên mãn". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, (I) Vô Minh)
Nếu không học kinh thì sẽ không biết thức ăn của vô minh là gì, mình có cho nó ăn thì mình cũng không biết. Như vậy:
Thức ăn của vô minh là năm triền cái (tham lam, sân hận, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi).
Thức ăn của năm triền cái là ba hành ác (tham, sân, si).
Thức ăn của ba hành ác là các căn không chế ngự, tức là buông lung phóng dật (sáu căn: mắt, mũi, lưỡi, tai, thân, ý).
Thức ăn của các căn không chế ngự là không chánh niệm tỉnh giác
Thức ăn của không chánh niệm tỉnh giác là phi Như lý tác ý (không suy tư chân chánh).
Thức ăn của phi Như lý tác ý là không có lòng tin.
Thức ăn của không có lòng tin là không nghe diệu pháp.
Thức ăn của không nghe diệu pháp là không giao tiếp với bậc chân nhân (thiện tri thức).
Trên đây là trình tự diễn biến của các pháp, cho nên không giao thiệp với bậc chánh tri kiến sẽ không được nghe diệu pháp. Không nghe diệu pháp thì không có lòng tin đối với Tam bảo, đối với pháp. Không có lòng tin sẽ nhìn sai, nghĩ sai, hiểu sai, suy nghĩ sai thì không đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Không chánh niệm tỉnh giác thì các căn không chế ngự. Các căn không chế ngự thì tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác. Khi ý nghĩ ác, thân làm ác, miệng nói ác thì đó là thức ăn cho năm triền cái. Năm thứ này được đầy đủ thì nuôi lớn vô minh.
Đây là trí tuệ Chánh Đẳng Giác của Đức Phật, tức là mỗi một pháp đều có nhân quả chứ không phải tự nhiên người đó buông lung phóng dật, vì không có chánh niệm tỉnh giác nên mới buông lung phóng dật, vì suy nghĩ sai nên không có chánh niệm tỉnh giác (phi Như lý tác ý). Từng pháp đều có nhân quả hệ, đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, bậc Chánh Biến Tri là tất cả các góc độ, phương diện, khía cạnh diễn ra trong tâm đều thấy biết và đây cũng là quán pháp trên pháp. Đức Phật vừa nói xuôi vừa nói ngược, từ ngọn Đức Phật đưa về cành, lá, thân rồi mới tới gốc; từ gốc Đức Phật mới đưa lên thân, cành, lá rồi tới ngọn, đó là sự chứng ngộ các pháp của Đức Phật. Còn mình vô minh thì cứ nghĩ "tại sao người đó lại không có lòng tin?", vì người đó không nghe diệu pháp nên không có lòng tin, vì không gặp bậc chân nhân, bậc chánh kiến nên không được nghe diệu pháp. Nếu không biết thức ăn của vô minh là gì thì cứ cho nó ăn thì làm sao hết vô minh được? Cho nên, phải bỏ đói vô minh để nó cạn kiệt, để nó chết dần chết mòn.
Năm triền cái
Cứ mỗi ngày mình có suy nghĩ về tham dục, có hình bóng về tham dục, suy tư về tham dục mà cứ để nó sanh khởi, để nó có chỗ trong tâm, để lâu lâu nó sanh khởi lên thì lúc đó là mình đang cho vô minh ăn. Những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về tham dục, tham ái, ngay cả khi nghĩ về cha mẹ, về người thân thương với tâm niệm ái, lưu luyến, nhớ thương, không biết giờ này họ thế nào, rồi lo lắng chứ không phải nghĩ để cố gắng tu thì đó vẫn là thức ăn của vô minh. Nếu không học, không có sự chứng ngộ của Đức Phật thì làm sao mình biết đang cho vô minh ăn? Nếu phát giác ra thức ăn của vô minh thì mình giảm bớt, loại trừ, tẩy sạch, nhiếp phục và diệt tận nó từ từ.
Khi để cho những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ có chỗ đứng trong thân tâm là mình đang cho vô minh ăn. Ví dụ mình thích cây kiểng nên mỗi ngày cứ nhìn ngắm, đam mê, thích thú là mình đang cho vô minh ăn, còn mình làm để trang nghiêm tùng lâm, có cây xanh bóng mát cho mọi người về tu học, thăm viếng chùa thì lại khác. Cho nên con người, đồ vật, đất đai, chùa chiền, xe cộ, tiền bạc, danh lợi… mà mình ham thích, khoan khoái là đang cho vô minh ăn để nó tăng trưởng phát triển. Do không thấy nó là tứ đại, là vô thường, khổ, vô ngã mà mình lại yêu thích, đam mê thì mỗi lần mình khởi lên suy nghĩ yêu thích là mỗi lần mình cho vô minh ăn, mỗi lần khởi hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình chấp nhận là mình đang vun phân, tưới nước cho nó. Phải giác ngộ đến mức này mới bứng tận gốc rễ của vô minh được, phải xem trong từng cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó tham ái cái gì thì lúc đó phải chặn đứng, nhiếp phục, trừ diệt là đang loại bỏ thức ăn của vô minh. Thời gian trước mình tu lâu nhưng mình không thành tựu trí tuệ này nên mình không biết, còn giờ biết rồi thì đừng sợ khó, lúc mới sanh mình có vài kí nhưng giờ mình mấy chục kí, một ngày mình ăn chỉ có vài chén cơm. Cũng vậy, trí tuệ này càng ngày sẽ càng lớn lên, sự thành tựu phải được nuôi lớn từ từ.
Bây giờ mình không cho thức ăn của vô minh mà mình cho thức ăn của minh. Dục tham là thức ăn của vô minh thì ngược lại thức ăn của minh là ly tham, ly dục, quán bất tịnh, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi. Ngày nào chúng ta cũng ăn pháp, uống sữa pháp là đang nuôi dưỡng minh để minh soi vô minh, làm cho vô minh tan biến từ từ và đi đến chỗ diệt tận, tẩy sạch hoàn toàn. Cho nên người nào tu mà chán nghe pháp, không thích ngồi thiền là thối đọa vì những lúc đó phải dùng minh để đánh phá vô minh, đó là lúc không cho vô minh ăn mà phải cho minh ăn. Vì thế vô minh nhiều quá vào nghe bất tịnh chỉ thấy tịnh là vô minh đang chống lại minh, đến khi nào chấp nhận bất tịnh là bất tịnh, tứ đại là bất tịnh, là vô thường, khổ thì trí và quang bắt đầu có chân đứng trong thân tâm chúng ta. Một khi mình xác quyết trong tâm tứ đại là vô thường, đau khổ, tan nát, hoại diệt thì lúc đó minh đã có chân đứng trong thân tâm, nó có chỗ trú, sự tồn tại trong tâm chúng ta. Một khi cái tâm không chấp nhận, nghe thì nghe, hiểu thì hiểu nhưng sâu thẳm trong tâm vẫn không chấp nhận thì minh không có chỗ đứng và vô minh xâm chiếm, chế ngự, bao trùm thân tâm. Khi nhìn lại nội tâm chúng ta sẽ thấy rất rõ bản thân có bao nhiêu phần minh, bao nhiêu phần vô minh, nếu chấp nhận bất tịnh, khổ, vô thường khoảng 60% thì 60% đó là minh, 40% còn lại là vô minh, cho đến khi xác quyết 100% thì Nhập Lưu. Vì thế nếu không khéo hằng ngày mình cho vô minh ăn rất nhiều, cứ ham thích, khoan khoái cái gì thì phải kiểm soát tất cả, nếu là thiện pháp thì được, còn ác bất thiện pháp thì không cho, có thể không cắt đứt một lần được nhưng phải giảm bớt và chuyển hướng từ từ.
Mỗi lần cảm giác bực bội, khó chịu, cộc cằn sanh khởi là mỗi lần cho vô minh ăn, đang tưới tẩm, vun phân cho cây vô minh, cây si ám. Nếu cái sân hận, bực bội, tức giận đó tồn tại trong thân tâm thì đó là nguồn cung cấp thực phẩm rất lớn làm vô minh được sung mãn, vì thế một người giận dai, giận lâu thì đây là nguồn thực phẩm cho vô minh rất dồi dào. Một người không chấp nhận ý niệm tức giận, gắt gỏng, hơn thua, đấu đá… chỉ muốn xóa sạch, bứng tận gốc rễ thì người này cắt đứt thức ăn thứ hai của vô minh là sân hận. Dùng tâm từ trị sạch hoàn toàn cảm thọ, suy nghĩ, bóng dáng người mình đang giận.
Thức ăn thứ ba của vô minh là hôn trầm thụy miên, nói đầy đủ là uể oải, lười biếng, ăn no buồn ngủ. Tới giờ ngồi thiền hoặc tới giờ học chỉ thấy mệt mỏi, khi có suy nghĩ đó mà mình không thấy, không biết, không đánh đuổi, không diệt tận thì mình đang cho vô minh ăn, dù đang ngồi trong pháp hội nhưng vẫn đang cho vô minh ăn, chính vì vậy nếu không để tâm vào pháp thoại mà chỉ để tâm vào sự đau nhức, mỏi mệt, cứ đi theo thọ; tưởng; hành dẫn dắt thì ngồi một lúc có khi là mắt sụp xuống, không nhiệt tâm, tinh cần, không chánh niệm tỉnh giác, không khao khát, tôn trọng, cung kính pháp bảo thì mình đang cho vô minh ăn. Đức Phật khi nói pháp thường làm cho người đó hân hoan, phấn khởi, hoan hỉ trong pháp, khi nào chúng ta nghe pháp, đọc kinh có trạng thái tâm đó thì tu mới tiến, không có trạng thái lờ đờ, lười biếng, buồn ngủ thì chúng ta sẽ chặn được nguồn cung cấp thực phẩm cho vô minh trong thân tâm. Vì thế vào buổi sáng khi chúng ta học tới 8-9h thì chúng ta đang cho thức ăn của minh, nếu chúng ta xả ra mà ăn nhiều rồi vào học thì chỉ có cho vô minh ăn, còn để cho bụng hơi đói, bụng được nhẹ thì cảm giác, cảm xúc mới sanh, tinh thần minh mẫn, sáng suốt thì đó là cho minh ăn. Chúng ta phải hiểu được điều này để khỏi thắc mắc sao cứ nghe pháp hoài, mỗi lần nghe pháp là mỗi lần cho minh ăn, còn không nghe thì cứ cho vô minh ăn, trừ những người tinh cần, tinh tấn trú niệm trong Tứ Niệm Xứ còn ngoài ra đều cho vô minh ăn. Tu thiền quán sẽ khác với tu thiền chỉ, phải làm cho cân bằng vì chỉ cần thấy buồn ngủ, uể oải là mình biết ngay nên phải tác ý trở thành buổi thiền quán, còn khi thấy minh mẫn, sáng tỏ thì vào thiền chỉ, thiền định, đây là sự khéo léo khi ngồi thiền chứ còn thấy buồn ngủ, mệt mỏi mà cứ đi theo nó thì đó là thức ăn của vô minh, thời thiền không được hiệu quả, không có lợi ích. Nếu mệt thì khi xả thiền đi nghỉ cũng không sao nhưng trong lúc thiền phải minh, phải quang, phải trí, không được ngồi gục ngã trên Bồ-đoàn, đó là chết trên chiến trường, khi xả thiền ra mệt thì cứ đi nghỉ nhưng giờ thiền là giờ linh thiêng, đó là giờ ra trận đánh giặc vậy mà mình gục ngã thì lúc không ngồi thiền còn chết đến thế nào nữa? Vì thế giờ ngồi thiền rất quan trọng vậy mà lên ngồi thiền lại cho vô minh ăn, khổ chưa?
Thức ăn thứ tư của vô minh là trạo cử. Tâm mình cứ nghĩ cái này, nghĩ cái kia mà không quay trở về an trú cảm giác toàn thân, không đặt niệm trước mặt, không theo hơi thở làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Ngồi học hoặc ngồi nghe pháp mà trong đầu cứ diễn ra hết kế hoạch này đến kế hoạch kia, hết dự tính này đến dự tính kia nên cả buổi chỉ làm thức ăn cho vô minh, ở ngoài thấy ngồi yên nhưng bên trong lại tính toán công việc, đó là tâm bị trạo cử. Vì thế hiện tại lạc trú rất cần thiết, mình trú ngay cảnh trước mặt, để tâm chánh niệm trước mặt không nghĩ đến những thứ khác, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, cái gì ở trước mặt chỉ thấy cái đó thôi thì tâm hoàn toàn trú trong hiện tại hỷ lạc gọi là hiện tại lạc trú. Nếu tâm dao động, mệt mỏi quá thì hiện tại lạc trú, tức là sự rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, an trú ngay giây phút, ngay khoảnh khắc đó, cái gì có mặt thì ngay đó có mặt. Trong bài kinh Tiểu không Đức Phật dạy lâm tưởng là chỉ có sự suy tưởng, sự rõ biết trong tưởng rừng chứ không có thôn tưởng, nhân tưởng, nghĩa là nếu ngồi trong rừng thì chỉ có cảnh rừng chứ không có tưởng về xóm làng, chợ, không có tưởng về người này người kia, như vậy tâm được an định, cảm giác toàn thân được an lạc, hiện tại lạc trú, cảnh vật như thế nào thì tâm chỉ biết có như vậy thôi.
"Này Ananda, Tỳ-kheo không tác ý thôn tưởng, không tác ý nhơn tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí, do duyên lâm tưởng. Tâm của vị ấy được thích thú hân hoan, an trú, hướng đến lâm tưởng. Vị ấy tuệ tri như sau: 'Các ưu phiền do duyên thôn tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng'. Vị ấy tuệ tri: 'Loại tưởng này không có thôn tưởng'. Vị ấy tuệ tri: 'Loại tưởng này không có nhân tưởng'. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí (ekattam) do duyên lâm tưởng'. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: 'Cái kia có, cái này có'. Như vậy, này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh". (Trung Bộ Kinh, 121. Kinh Tiểu không)
Cần loại bỏ những chuyện phiền toái của thôn trưởng, lăng xăng thời sự, ngay lúc đó như thế nào thì chỉ biết như thế đó sáng tỏ, hiện tại lạc trú để tâm bớt dao động. Còn nếu cứ ngồi đó rồi nghĩ hết cái này tới cái kia, hết chuyện kia tới chuyện nọ thì mình đang cho vô minh ăn.
Thức ăn cuối cùng của vô minh là hoài nghi. Cứ nghi ngờ ngày xưa ta như thế nào, bây giờ ta ra sao rồi sau này ta là ai… Hoài nghi đó là do không thấy năm uẩn, người thấy năm uẩn sẽ biết trước đó ta là năm uẩn, sau này ta cũng chỉ là năm uẩn và bây giờ vẫn là năm uẩn. Nếu còn vô minh, tham ái thì còn tiếp tục những hình thức năm uẩn tái sanh, tái diễn, tái tục, tiếp tục tái sanh ra những tấm thân ngũ uẩn. Trước đây là ngũ uẩn, sau này là ngũ uẩn, nếu mình không đoạn trừ vô minh, tham ái thì vẫn chỉ là ngũ uẩn. Cho nên, đối với giáo pháp không còn hoài nghi, tâm được an định thì mới tu hành được, nếu không cứ nghi ngờ hoài "không biết nói vậy có phải không?", "không biết có phải Đức Phật tu chứng ngộ Tứ Diệu Đế không?"… thì đó là thức ăn cho vô minh. Cứ ngờ vực, nghi hoặc, hoang mang mọi thứ, nhiều khi lại nghĩ "không biết mình có làm được không?", "ngồi thiền chắc không được", "tu cái này khó lắm chắc mình tu không được"… tất cả những cái đó đều là thức ăn cho vô minh. Nếu chúng ta nghe theo và chấp nhận điều đó là đang cho vô minh ăn. Thế nên, những lúc như thế cần nhận diện ngũ uẩn lập tức, không đi theo hoài nghi nữa thì không cho vô minh ăn, nhận diện năm uẩn là minh, còn không thấy năm uẩn mà chỉ thấy "mình" thì vô minh.
Ba ác hành
Thức ăn của năm triền cái chính là ba ác hành, ác hạnh vì tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác. Chữ "ác" nghĩa là bất thiện pháp, gốc rễ của nó chính là tham, sân, si. Nghĩ xấu thì có sân, có tham, có bực bội; nói lời cay đắng, thô ác thì tâm sẽ sân hận, hối tiếc (trạo hối); làm việc xấu khi ở một mình thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ làm cho tâm bất an. Vì thế để có tâm an định cần rất nhiều yếu tố chứ không phải ngồi lại là tâm an định được. Có nhiều lầm lỗi là ngồi thiền sẽ bị trạo hối, hối tiếc cho nên có nhiều người không ngồi thiền được, nhất là những người có ba ác hành nhiều thì lại càng không thể ngồi.
Các căn không chế ngự
Thức ăn của ba ác hành là các căn không chế ngự. Tại sao nghĩ ác, nói ác, làm ác? Vì không biết giữ gìn, thâu nhiếp, chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Có nhiều chuyện không ngờ nhưng vẫn xảy ra, như gọi bạn hát karaoke mà bạn không hát là giết tại chỗ. Các căn không chế ngự sẽ đưa đến ác hành ngay, một ánh mắt nhìn cũng xảy ra án mạng vì cho rằng người ta nhìn đểu nên giết người, hậu quả phải nhận án tù chung thân. Đó là ác hành do các căn không chế ngự, có sáu xúc xứ nếu không phòng hộ, thâu nhiếp, không hộ trì, không giữ gìn thì đưa đến bất hạnh, đau khổ dài lâu. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý không bảo hộ, không giữ gìn thì đưa đến đau khổ, đưa đến bất hạnh, đem đến những quả báo ác nghiệp địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đọa xứ.
"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Những con cọp, con beo, con gấu, những con dã thú là hậu quả của các căn không chế ngự, là thức ăn cho ba ác hành. Muốn nói là nói, muốn làm là làm mà không suy xét, không dùng trí tuệ, không Như lý giác sát.
Như lý giác sát và Như lý tác ý
Như lý tác ý và Như lý giác sát là hai pháp cực kì quan trọng trong sự tu của chúng ta. “Giác” là tỉnh giác, “sát” là quán sát, Như lý giác sát là tỉnh giác và quán sát đúng theo Chánh pháp, đúng với sự thật của vấn đề đó. Tác động tâm ý đúng theo sự thật là Như lý tác ý. Như lý giác sát là một sự yên tĩnh nhìn sâu vào bên trong vấn đề, sau khi nhìn sâu thấy rõ cái nào là thiện, cái nào là bất thiện, cái này chánh hay tà, cái này đúng hay sai thì tiếp theo mới dùng Như lý tác ý. Nghĩa là cầm cây chổi rồi mới nhìn chỗ nào dơ thì mới lại hốt, quét chỗ đó, chúng ta phải quán sát trước chỗ dơ đó cần dùng cái gì, có khi phải dùng bàn chải, nước, chất tẩy rửa. Như vậy, Như lý giác sát trước rồi sau đó mới tới Như lý tác ý, tức là phải cảnh giác và quán sát thân tâm rồi sau đó tác động tâm ý một cách đúng đắn mới có hiệu quả. Nếu không tỉnh giác để quán sát thân tâm thì sẽ không nhìn ra vấn đề đang ở trong tình trạng, tình huống, hoàn cảnh như thế nào, nó đang bê bối, cấu nhiễm, sai quấy chỗ nào, điều này đòi hỏi một sự Như lý giác sát, chỗ này đã bước qua chánh niệm tỉnh giác.
Chánh niệm tỉnh giác
Chúng ta dùng chánh niệm tỉnh giác để đối trị việc không chánh niệm tỉnh giác. Không chánh niệm tỉnh giác là do suy nghĩ không đúng vấn đề (phi Như lý tác ý). Chánh niệm tỉnh giác là Như lý giác sát, vì thế việc nhìn lại thân tâm rất vi tế, sâu sắc. Khi ở một mình chiêm nghiệm rồi mới thấy khiếp sợ tâm thức vì nó thật sự ngoài sức tưởng tượng, nói dễ hiểu là các căn buông lung phóng dật vì không có chánh niệm tỉnh giác, mà không chánh niệm tỉnh giác vì phi Như lý tác ý. Ví dụ, có suy nghĩ "cứ đi thoải mái, ăn thoải mái đi chứ làm gì phải khép nép, nhìn xuống, giữ oai nghi kĩ vậy?", đó là phi Như lý tác ý mà chính phi Như lý tác ý làm cho mình buông thả, đi kéo lê dép chưa thấy mặt đã nghe tiếng. Tất cả là do suy nghĩ sai nên không đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Hoặc là đến giờ tu mọi người ngồi chung nhưng mình lại ngồi riêng một mình rồi buông lung phóng dật trong khi đại chúng đang trú trong pháp, có biết bao cảm thọ dạt dào. Đó là phi Như lý tác ý dẫn đến không có chánh niệm tỉnh giác, không biết cái gì nên làm, cái gì không nên làm. Cũng vì không chánh niệm tỉnh giác nên làm đổ vỡ mọi thứ, có khi chỉ cần một lời nói thôi là đổ vỡ, có khi một ý nghĩ là tan vỡ, có khi chỉ vì một hành động là hối hận suốt đời. Ví dụ chồng nhậu say không có chánh niệm, không tỉnh táo rồi về nhà đập đồ, chửi vợ đánh con, như vậy ba ác hành sanh khởi phải chịu quả báo khổ.
Chánh Pháp khó gặp
"Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng phi như lý tác ý có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho phi như lý tác ý? Không có lòng tin, cần phải trả lời như vậy". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Mình suy nghĩ sai vì không có lòng tin, không có thành tựu tịnh tín bất động, không thành tựu lòng tin trong sáng, trong sạch, vững chắc, không dao động, mà không có lòng tin vì không được nghe diệu pháp, mình không nghe được diệu pháp vì mình không gặp được bậc chân nhân. Bậc chân nhân, bậc chánh kiến, những vị thấy biết về pháp, hiểu về pháp, thực hành về pháp là báu vật trong cuộc đời này, rất khó gặp được những vị này. Trong kinh ví dụ con rùa mù dưới đáy biển, một trăm năm mới nổi lên biển một lần, đúng lúc nó nổi lên thì có bọng cây trôi ngang đó để con rùa chui vào bọng cây đưa nó vào đất liền thì cơ hội đó cực kì khó. Hoặc một người đứng ở đỉnh núi thả sợi chỉ xuống, một người đứng dưới chân núi đưa lỗ kim ra để hứng lấy sợi chỉ trong khi ở giữa là bão táp phong ba, việc này cũng cực kì khó khăn. Cũng vậy, gặp được bậc chân nhân, bậc chánh kiến, gặp được Chánh pháp còn khó hơn như vậy gấp ngàn lần.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?
-- Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!
-- Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời.
Nhưng nay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, VIII. Lỗ Khóa).
Đây là những điều để mình tác ý tu học, phải sống chết với pháp. Thật không dễ để được nghe pháp này, cực kì khó khăn. Bản thân Minh Thành đi tìm cầu suốt mấy chục năm, đi hết chỗ này đến chỗ kia, trong nước ngoài nước khó khăn, khổ cực mới tìm thấy Thánh pháp này. Nhìn ra thế giới bây giờ thấy lòng dục tham, hung ác lên đỉnh điểm, ngày xưa nghe giết người là chấn động toàn quốc, còn bây giờ vài ngày lại nghe con giết cha, giết mẹ, vợ giết chồng, anh giết em… Những ác pháp đầy rẫy như vậy thì càng ngày thiện pháp còn khó có được chứ đừng nói gì Thánh pháp; thiện pháp còn khó nghe, khó thực hành thì huống hồ gì Thánh pháp. Cho nên chúng ta phải cung kính, tha thiết, chân thành đối với pháp, nếu không nắm được phao này thì mình sẽ chìm sâu xuống đại dương của nước mắt, của máu, của dục tham, sân hận, vô minh, bản ngã, của bóng đêm vĩnh viễn và mãi mãi. Cũng vì lẽ ấy mà cổ nhân có câu:
"Nhất thất túc thành thiên cổ hận
Tái đầu hồi thị bách niên thân".
Dịch nghĩa:"Một bước sa chân ngàn đời ân hận
Quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi".
Thật sự là phước duyên rất lớn cho chúng ta mới gặp được Chánh pháp, nếu mình không gặp, không nghe, không được chỉ dẫn thì giờ này mình cũng mò mẫm trong bóng đêm không biết đường ra, dù cho có muốn ra nhưng vừa không ai chỉ dẫn. Vừa không thấy đường trong bóng đêm, vừa ở trong rừng rậm, hoang mạc thì vô lượng vô biên kiếp không thoát ra được.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Cho nên việc mình gặp được Thánh pháp là hy hữu thù thắng, ngàn năm có một nên phải biết trân trọng Chánh pháp. Hãy dùng tinh thần quyết tử hi sinh để tu học pháp này, có chết một trăm mạng cũng xứng đáng, phát thệ nguyện dù cho có chết cũng chết trong pháp, dù có xương tan thịt nát cũng chết trong pháp này. Vì nếu không gặp bậc chân nhân, không nghe diệu pháp, không có lòng tin, không có chánh niệm tỉnh giác, không chế ngự các căn, buông lung phóng dật, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác sẽ đưa đến quả báo đau khổ cùng cực. Còn chúng ta có phước duyên tốt lành gặp bậc chân nhân, bậc đại thiện tri thức, nghe diệu pháp, có lòng tin, chánh niệm tỉnh giác, chế ngự các căn, chặn đứng ba ác hạnh, diệt năm triền cái để chấm dứt vô minh, thành tựu minh, cho nên phải nỗ lực tu học.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, trên một ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa ấy chảy xuống theo sườn dốc; làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng; sau khi làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lụng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn; sau khi làm đầy các hồ lớn, chúng làm đầy các sông nhỏ; sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy các sông lớn; sau khi làm đầy các sông lớn, chúng làm đầy biển cả. Như vậy là thức ăn của biển lớn, của đại dương và như vậy là viên mãn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, không giao thiệp với các bậc Chân nhân được viên mãn, thời làm viên mãn không có nghe diệu pháp; không có nghe diệu pháp được viên mãn, thời làm viên mãn không có lòng tin; không có lòng tin được viên mãn, thời làm viên mãn phi như lý tác ý; phi như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn không chánh niệm tỉnh giác; không chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn không chế ngự; các căn không chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba ác hành; ba ác hành được viên mãn, thời làm viên mãn năm triền cái, năm triền cái được viên mãn, thời làm viên mãn vô minh". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Giống như dòng nước từ trên núi đổ xuống làm tràn đầy các khe hốc nhỏ, ra đến sông và ra đến biển sẽ làm viên mãn vô minh.
Thức ăn của minh
Ngược lại như thế nào là thức ăn của minh?
"Và này các Tỳ-kheo, Ta nói minh giải thoát có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho minh giải thoát? Bảy giác chi, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng Bảy giác chi có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho Bảy giác chi? Bốn niệm xứ, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng Bốn niệm xứ có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho Bốn niệm xứ? Ba thiện hành, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ kheo, Ta nói như rằng ba thiện hành có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho ba thiện hành? Các căn được chế ngự, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng các căn được chế ngự có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho các căn được chế ngự? Chánh niệm tỉnh giác, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, chánh niệm tỉnh giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho chánh niệm tỉnh giác? Như lý tác ý, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, như lý tác ý có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho như ý tác ý? Lòng tin, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói lòng tin có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho lòng tin? Nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng nghe diệu pháp có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho nghe diệu pháp? Giao thiệp với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Thức ăn của minh và giải thoát là bảy pháp giác chi:
Trạch pháp giác chi: Trí lựa chọn chánh pháp, phân biệt tà pháp.
Tinh tấn giác chi: Trí tinh tấn mạnh mẽ mà tu hành chánh pháp.
Hỷ giác chi: Trí hoan hỉ đặng chánh pháp.
Khinh an giác chi: Trí nhẹ nhàng từ bỏ các chướng ngại.
Niệm giác chi: Trí thường niệm định và huệ (Tứ Niệm Xứ).
Định giác chi: Trí thường an định không tán loạn.
Xả giác chi: Trí bỏ các pháp tà, các điều đã làm.
Bảy giác chi này bao trùm mọi thứ. Cho nên mỗi pháp trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo để hiểu cho toàn diện, viên mãn thì trong pháp này có pháp kia. Trong niệm giác chi có niệm thân – thọ – tâm – pháp. Niệm thân là niệm sáu pháp: niệm tứ đại, niệm hơi thở, niệm hành động, niệm oai nghi, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi. Niệm ba loại cảm thọ: cảm giác dễ chịu (lạc thọ), cảm giác khó chịu (khổ thọ), cảm giác không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc thọ). Niệm những trạng thái của tâm và niệm pháp là những pháp thiện và bất thiện đang có mặt trong tâm như thế nào, cho nên niệm giác chi bao trùm Tứ Niệm Xứ.
Kế tiếp Đức Phật nói thức ăn của Bảy Giác Chi chính là Bốn Niệm Xứ, cho nên pháp này liên hệ với pháp kia. Và đương nhiên khi Niệm Giác Chi, niệm Tứ Niệm Xứ sẽ có sự giãn trạch phân biệt cái nào thuộc về sắc, cái nào thuộc về thọ, cái nào thuộc về tưởng; hành; thức. Tức là thấy rõ trong thọ có thọ gì, trong thọ có thiện pháp hay bất thiện pháp; thấy rõ trong suy nghĩ (hành) cái nào là dục tư duy, cái nào là sân tư duy, hại tư duy, cái nào là từ, bi, hỷ, xả, cái nào là những suy nghĩ ly dục, ly sân, bất hại, cái nào là suy nghĩ xuất ly, thoát ra… chúng ta phân biệt được hết gọi là trạch pháp giác chi. Sau đó phải nỗ lực tinh tấn để thực hành Tứ Niệm Xứ sẽ thành Tinh Tấn Giác Chi. Khi tinh tấn thực hành sẽ thấy hoan hỉ, thấy được pháp, thấy được tâm, thấy được những thứ trước nay chưa thấy, biết những cái trước nay chưa biết, hiểu những điều trước nay mình chưa hiểu và nhiếp phục những cái trước nay chưa nhiếp phụ. Cho nên tâm mình sẽ vui, hoan hỉ, hân hoan nên Hỷ Giác Chi sanh khởi. Khi vui thì tâm sẽ nhẹ nhàng nên Khinh An Giác Chi sanh khởi, bắt đầu đi vào sự an định. Sau đó chúng ta có tâm buông xả, không bị dính mắc. Bảy yếu tố giác ngộ này là thức ăn của minh, qua đây chúng ta thấy được thức ăn của minh rất nhiều.
Thức ăn của Bảy Giác Chi là Bốn Niệm Xứ, thức ăn của Bốn Niệm Xứ là ba thiện hành (thân, khẩu, ý). Muốn tu Bốn Niệm Xứ đầy đủ, viên mãn thì người đó phải nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện. Thức ăn của ba thiện hành là các căn được chế ngự, muốn nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện thì phải có sự phòng hộ, thâu nhiếp, bảo hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Muốn được sự chế ngự đó thì phải có chánh niệm tỉnh giác, Như lý giác sát. Muốn có chánh niệm tỉnh giác thì phải có Như lý tác ý, suy nghĩ đúng, hướng tâm đúng. Muốn suy nghĩ đúng, muốn hướng tâm đúng thì phải có lòng tin. Muốn có lòng tin thì phải nghe diệu pháp. Muốn nghe diệu pháp thì phải giao thiệp với bậc chân nhân. Đây là con đường ngược lại ở phía trên, Đức Phật cũng ví dụ giống vậy nhưng ví dụ ở trên theo chiều xấu ác, còn ví dụ này thuận theo chiều thiện lành.
"Như vậy, này các Tỳ-kheo, giao thiệp với bậc Chân nhân được viên mãn thời làm viên mãn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp được viên mãn thời làm viên mãn lòng tin; lòng tin được viên mãn, thời làm viên mãn như lý tác ý; như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn được chế ngự; các căn được chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba thiện hành; ba thiện hành được viên mãn, thời làm viên mãn Bốn niệm xứ; Bốn niệm xứ được viên mãn, thời làm viên mãn Bảy giác chi; Bảy giác chi được viên mãn, thời làm viên mãn minh giải thoát.
Ví như, này các Tỳ-kheo, trên một ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa chảy xuống theo sườn dốc, làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng; sau khi làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn. Sau khi làm đầy các hồ lớn, chúng làm đầy các sông nhỏ. Sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy các sông lớn. Sau khi làm đầy các sông lớn, chúng làm đầy biển cả. Như vậy, là thức ăn của biển lớn, của đại dương, và như vậy là sự viên mãn.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, giao thiệp với bậc Chân nhân được viên mãn, thời làm viên mãn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp được viên mãn, thời làm viên mãn lòng tin; lòng tin được viên mãn thời làm viên mãn như lý tác ý; như lý tác ý được viên mãn, thời làm viên mãn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệm tỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn được chế ngự; các căn chế ngự được viên mãn, thời làm viên mãn ba thiện hành; ba thiện hành được viên mãn, thời làm viên mãn Bốn niệm xứ; Bốn niệm xứ được viên mãn, thời làm viên mãn Bảy giác chi; Bảy giác chi được viên mãn, thời làm viên mãn minh giải thoát.
Như vậy là thức ăn của minh giải thoát, và như vậy là viên mãn". (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Đôi, (I) Vô Minh)
Như vậy những điểm quan trọng là gặp được bậc chân nhân, nghe được diệu pháp, thành tựu lòng tin, Như lý tác ý, chánh niệm tỉnh giác, các căn được chế ngự, nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt, nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, bốn niệm xứ viên mãn, bảy giác chi viên mãn, minh giải thoát viên mãn. Hội chúng của chúng ta thật sự rất hiếm có, thật sự rất phước báo, hãy cố gắng mỗi ngày nghe pháp, đọc kinh, ngồi thiền, Như lý tác ý làm cho minh được nuôi lớn chứ đừng nuôi lớn vô minh, làm cho lòng tin càng ngày càng kiên cố, vững chắc, tăng trưởng Như lý tác ý.
Qua đây chúng ta thấy không phải chỉ tu một pháp là được mà cần tu nhiều pháp, nhiều phương diện, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, nhiều ngõ ngách để nhiếp phục các tập khí, cấu uế, rác bẩn trong thân tâm của mình. Đức Phật không phải chỉ nói Bốn Niệm Xứ hay Tứ Thánh Đế mà Đức Phật còn nói Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, phải khéo léo vận dụng tất cả để làm cho minh và giải thoát được sớm ngày viên mãn. Tướng báo trước của Mặt Trời xuất hiện là rạng đông; tướng báo trước của sự thành tựu là minh, là trí; tướng báo trước của sự thành tựu nhiếp phục tất cả các lậu hoặc và phiền não là thấy biết năm uẩn; tướng báo trước của những bậc thành tựu là chánh tri kiến và hiện tại chúng ta đang nuôi dưỡng, tưới tẩm làm cho tri kiến được đầy đủ, viên mãn, cái thấy biết phải vững chắc chứ không để cho nó yếu ớt, tiêu hao.
Cho nên hằng ngày chúng ta phải nuôi dưỡng và cho minh, cho trí, cho tuệ ăn. Những vị cao Tăng ngày xưa đi thỉnh kinh phải bỏ mạng trên đường rất nhiều. Có biết bao người tu hành phải bỏ thân mạng nhưng không thành đạo, không thành tựu chánh kiến vì không đủ duyên gặp được bậc chân nhân, không đủ duyên nghe được diệu pháp viên mãn. Nếu chúng ta không gặp bậc chân nhân, không được nghe diệu pháp viên mãn thì dù cho tu trăm kiếp ngàn đời thì cũng vẫn ở trong nhân thiên phước báo, không đi đến chỗ nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy lậu hoặc, phá được vô minh để thành tựu minh và giải thoát. Chúng ta phải nhớ điều này để tác ý phấn khởi, hân hoan trong sự tu học.
./.