Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sự Hình Thành Thế Giới và Nhân Sinh IV - Kinh Khởi Thế Nhân Bổn Trường Bộ

2026-03-03 00:52:29
Kinh Nikāya Giảng Giải

SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI & NHÂN SINH IV

KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN- TRƯỜNG BỘ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những câu hỏi sâu xa PAGEREF _Toc114154213 \h 1

II. Thế Tôn PAGEREF _Toc114154214 \h 9

III. Vũ trụ PAGEREF _Toc114154215 \h 12

I. Những câu hỏi sâu xa

Chúng ta tiếp tục nghe về trí tuệ thần diệu, tối thượng, thâm sâu, rộng lớn và dài xa của Đức Thế Tôn để chúng ta thành tựu lòng tin bất động đối với Thánh trí tuệ mà Đức Phật chứng ngộ trong tinh thần chúng ta đang tìm hiểu nhân sinh quan – vũ trụ quan, sự chứng ngộ của Đức Phật về sự khởi nguyên của thế giới, sự thành lập thế giới, sự biến hoại của thế giới và sự diệt tận cũng như sự hình thành con người hữu tình chúng sanh, sự thăng trầm, sự sanh diệt, sự tập khởi và đoạn tận được Thế Tôn thấy rõ, chứng và biết một cách tường tận từ chân tơ kẽ tóc. Chúng ta chỉ giới thiệu một phần nhỏ thôi, ngoài ra chúng ta cần nhiều thời gian để học, tu, quán chiếu và chúng ta sẽ thấy được những gì Đức Phật nói 26 thế kỉ trước cho đến nay các nhà khoa học mới phát hiện một phần nhỏ bé, con người vẫn đang tìm kiếm nhưng những điều này đã được Đức Phật chứng ngộ 26 thế kỉ trước. Trong kinh Đại bát Niết-bàn của Trường Bộ Kinh, Tập I, Đức Phật đã nói:

“Này Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này Ananda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Đó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.”

(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Đây là những lúc mà Đức Phật tuyên bố ngài nhập Niết-bàn thì quả đất rúng động, ngài Ananda hỏi thì Đức Phật giải thích. Chúng ta nhớ những sự kiện quan trọng khi Bồ-tát chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác, khi ngài chuyển pháp luân, khi ngài nhập Niết-bàn thì đại địa bị chấn động. Đức Phật nói cho ngài Ananda cũng như chúng sanh biết sự thiết lập của Trái Đất, đại địa này được thiết lập trên nước, đất ở trên nước, nước ở trên gió, gió ở trong hư không. Đến một thời đại gió khởi lên, tức là phong tai thì làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động, chúng ta đã thấy sóng thần, động đất và nhất là trận sóng thần chưa từng có trong lịch sử của Nhật Bản. Trong bài kinh Lỗ khóa, Đức Phật nói quả đất này là một bãi nước.

“Ví như, này các Tỳ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng.” 

(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, VIII. Lỗ Khóa) 

Cách đây gần 2700 năm, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân Đức Phật đã nhìn thấy như vậy và đến giờ các nhà khoa học đã chứng minh nước chiếm 70% diện tích Trái Đất này, tức là gần ¾. Thời đó chưa có nền khoa học phát triển như giờ nhưng với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Đức Phật nói quả đất lớn này chỉ toàn là một bãi nước. Trong Trường Bộ Kinh, bài kinh Ba-lê, tập II, Đức Phật nói:

“Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không có chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy; chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”

(Trường Bộ Kinh, 24. Kinh Ba-lê)

Ta biết về khởi nguyên thế giới tức là thế giới này thành lập như thế nào thì ngài đều thấy đều biết và điều này được chứng minh trong những buổi học trước với bài kinh Khởi thế nhân bổn. Ta còn biết hơn thế nữa tức là ngài còn biết rất nhiều và sâu xa hơn nữa, sự biết của ngài còn vượt qua cả sự khởi nguyên của thế giới và khi đã biết như vậy thì ngài không chấp trước vào cái biết, không nắm giữa, ưa thích, không bị dính mắc vào cái biết đó. Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy, ngài thấu hiểu được sự an tịnh vì ngài đã thành tựu lậu tận, tất cả dục tham ái bị dập tắt, diệt tận hoàn toàn tham, thích, ưa, dính mắc trong đó.

Nếu không đoạn tận các lậu hoặc, không dứt sạch dục tham ái mà biết như vậy thì rơi vào lầm lỗi vì chấp vào kiến chấp đó. Những điều này Đức Phật nói rất ít chỉ có trong một vài bài kinh, có rất nhiều vị Tỳ-kheo vào tu một thời gian rồi ra điều kiện với Đức Phật, yêu cầu Đức Phật phải trả lời "thế giới này là thường hay vô thường", "hữu biên hay vô biên", "có thể đi đến tận cùng thế giới không", "sau khi chết Như Lai còn hay không còn", nếu không trả lời thì hoàn tục, không tu nữa.

Đức Phật quở trách các vị ấy là đồ ngu si và hỏi vị Tỳ-kheo ấy khi đi xuất gia có đặt điều kiện phải trả lời những điều này rồi mới tu không, nói những chuyện này không liên hệ đến mục đích của đời sống phạm hạnh, không đoạn tận khát ái, không phá vỡ vô minh, không diệt sạch kiết sử, không chấm dứt sanh y, không đưa đến an tịnh thắng trí chứng ngộ Niết-bàn, không đưa đến viễn ly. Vì thế trong Tương Ưng Không Thuyết, Đức Phật không trả lời những câu hỏi này.

“Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, nói với Tôn giả Mahà Moggalàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Tôn giả Mahà Moggalàna:

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là thường còn?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Thế giới là thường còn".

-- Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô thường?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Thế giới là vô thường".

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải thế giới là hữu biên?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Thế giới là hữu biên".

-- Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô biên?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Thế giới là vô biên".

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải sinh mạng và thân thể là một?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Sinh mạng và thân thể là một".

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy sinh mạng và thân thể là khác?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Sinh mạng và thân thể là khác".

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Như Lai có tồn tại sau khi chết".

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không có tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết".

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".”

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương X. Tương Ưng Không Thuyết, VII. Moggalàna)

Phật không trả lời những câu hỏi về triết học, về những vấn đề xa xăm rơi vào hý luận vì những sự hiểu biết này vượt quá tầm hiểu biết của con người. Vừa rồi chúng ta đã học bài kinh Rohitassa của Tăng Chi Bộ kinh, trong đó Đức Phật dạy:

“- Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: "Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (V) Rohitassa (1))

Không thể dùng đôi chân của mình để phi hành thần thông đi đến chỗ không sanh, không già, không bệnh, không chết, không thể bằng đôi chân của mình có thể đi đến chỗ từ bỏ đời này mà không sanh khởi đời sau, không thể thấy điều đó bằng con mắt bình thường, bằng đôi chân bình thường. Nhưng trong cái thân 1m7, 1m8 này với những tưởng và tư duy thì Ta tuyên bố về thế giới, về sự tập khởi thế giới, sự chấm dứt của thế giới và con đường đưa đến sự chấm dứt này. Sau gần 2700 mình nghe những lời này còn xúc động, nước mắt ràng rụa thì tại thời điểm những người ở trước mặt Thế Tôn nghe ngài nói những lời này thì họ sẽ như thế nào, chỉ còn cách quỳ lạy và tán dương hết lời.

“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!”

(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).

Cuối cùng họ trở thành những đệ tử tại gia và những đệ tử xuất gia của Đức Phật, trở thành những bậc hiền Thánh, Thánh cư sĩ, Thánh Tăng. Chúng ta đọc mà còn rung chấn toàn thân, nước mắt đầy mặt, với khổ, với ưu, khóc than thì những vị đối diện trực tiếp với Đức Thế Tôn, được nghe Đức Như Lai kim khẩu tuyên thuyết thì còn đến mức nào? Ngài nói hết sự vận hành của thế giới này trải qua các thời đại, trải qua sự thăng trầm của kiếp tăng kiếp giảm, những thiện pháp ác pháp dẫn dắt thế giới như thế nào. Bài kinh Mưa của Tăng Chi Bộ kinh, tập II, chương V có nói:

“Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi loài Người trở thành phi pháp, này các Tỳ-kheo, đây là chướng ngại thứ năm cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.”

(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (VII) Mưa)

Nghĩa là trái mùa, thời tiết thay đổi bất thường, trời không mưa nữa, không còn phong đều gió thuận nữa. Mùa nắng thì mưa, mùa mưa thì nắng, mùa xuân bị ảnh hưởng bởi áp thấp nhiệt đới, mùa đông thì nóng làm người nông dân khổ sở. Nhiều người trồng mai, đào chỉ biết khóc vì cả năm trời đầu tư chăm sóc bằng cả tâm huyết, tiền của vậy mà dịch bệnh bùng phát là phong tỏa, người ngoài vào mua không được, người bán cũng bán không xong, vậy là chỉ biết đứng nhìn hàng trăm hecta đào nở rộ.

Nông dân trồng dưa bán cũng không được vì thời tiết trái mùa hoặc miền Tây đang ngập mặn nặng nề, nhà cửa bị sạt lở trôi hết xuống sông cho nên số lượng người miền Tây phải tha hương cầu thực rất nhiều vì không thể trồng trọt, lúa ngập mặn chết hết, vườn sầu riêng bị ngập mặn phải chặt bỏ trong nước mắt. Đây là sự cộng nghiệp của cả thế giới chứ không phải riêng một vài nước, gần đây là động đất, bạo động chiến tranh ở Myanmar làm các sư thầy, sư cô phải về nước gấp.

Nghèo đói, trộm cắp, thiên tai, thủy nạn… diễn ra rất nhiều, Trung Quốc ngập lụt bởi bão, cảnh tượng tan thương dâu bể không thể cầm được nước mắt, con mắt cha, vợ mất chồng, chị em chia ly. Người chết nằm trong xe cấp cứu và chiếc xe đậu ngoài đường, người thân trong gia đình mặc đồ bảo hộ quấn khăn tang, cầm lư hương nhưng phải đứng cách xa vì đảm bảo phòng dịch rồi khóc lóc nghẹn ngào, tức tưởi. Thật sự xót xa! Theo khuyến cáo của Bộ Y Tế những người chết vì dịch bệnh, người thân không được đến gần mà phải đem hỏa táng cấp tốc để tránh truyền nhiễm. Số lượng người chết quá nhiều nên nhiều nước phải đào hố chôn tập thể lớn bằng sân vận động, xác người được bọc trong bao ni lông đen đưa lên xe rồi đổ xuống hố.

Cũng vì người chết quá nhiều không có chỗ chứa xác nên phải huy động những chiếc xe đông lạnh chứa xác người trong đó, hiện tại số lượng người nhiễm bệnh toàn cầu vì dịch bệnh đã lên 119 triệu người, gần 3 triệu người chết. Có một số người ở phương Tây tự tử vì mất việc làm, không có tiền dẫn đến buồn bã, trầm cảm nên suy nghĩ quẩn. Trong bài kinh Phi pháp của Tăng Chi Bộ, tập II, chương IV có ghi:

Khi nào, này các Tỳ-kheo, các vua phi pháp có mặt, khi ấy, các đại thần phi pháp của vua có mặt. 

Khi nào các đại thần phi pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt.

Khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở thành phi pháp.

Khi nào dân chúng thị thành và ở các làng là phi pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo.

Khi nào mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo, khi ấy các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo.

Khi nào các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo, khi ấy ngày đêm đi sai quỹ đạo.

Khi nào ngày đêm đi sai quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo.

Khi nào tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi sai quỹ đạo.

Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc trái mùa.

Khi nào gió thổi sai lạc trái mùa, khi ấy chư Thiên bực mình.

Khi nào chư Thiên bực mình, khi ấy trời mưa không có điều hòa.

Khi nào trời mưa không có điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa.

Này các Tỳ-kheo, khi nào lúa chín trái mùa, khi ấy các loài Người nuôi sống với loại lúa ấy, thì thọ mạng sẽ ngắn, dung sắc xấu, yếu sức và nhiều bệnh.

(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VII. Phẩm Nghiệp Công Ðức, (X) Phi Pháp)

Trí tuệ của Đức Phật nhìn xuyên thấu, xuyên suốt những nguyên nhân hình thành, tại sao lại vậy, từ đâu dẫn đến điều này, tại sao đưa đến hậu quả như vầy. Tất cả những sự việc trong trời đất này Ngài đều thấu suốt, thông hiểu nên gọi là bậc Thế Gian Giải, nghĩa là thông giải các pháp của thế gian. Mình học để lòng tin càng vững chắc, mạnh mẽ để ngày càng nỗ lực thấy được thực trạng của đời sống này, của chúng sanh, của thế giới này, tất cả ác pháp đang bao vây, xâm chiếm, áp đảo, lật đổ mọi thứ.

II. Thế Tôn

Chúng ta hãy dấn thân vào lời dạy của Phật, vào pháp học và pháp hành; dấn thân vào thiền định, Như lý tác ý, quán chiếu; dấn thân vào sự độc cư ở một mình để thực hành và cùng đại chúng tiến tu. Hôm nay mọi người nghe có bất ngờ không? Trước nay chúng ta chỉ nghe Đức Phật nói về Khổ - Tập – Diệt – Đạo, Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, khi Đức Phật đi vào khu rừng Simsapà đã hỏi các vị Tỳ-kheo lá trong nắm tay của ngài nhiều hay lá trong rừng nhiều thì các vị Tỳ-kheo nói lá trong rừng nhiều hơn lá trong nắm tay Thế Tôn, Đức Phật nói cũng vậy, những điều ta thấy, ta biết, ta chứng ngộ, ta thấu đạt nhiều như lá trong khu rừng này và những điều ta trình bày, ta giảng thuyết ít như lá trong bàn ta. Ngài chỉ nói những điều liên hệ đến mục đích khổ và con đường diệt khổ.

“Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.

Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỳ-kheo:

-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?

-- Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!

Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.

Và này các Tỳ-kheo, điều gì mà Ta nói? "Ðây là Khổ", này các Tỳ-kheo, là điều Ta nói. "Ðây là Khổ tập", là điều Ta nói. "Ðây là Khổ diệt", là điều Ta nói. "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", là điều Ta nói.

Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.”

(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, I. Simsapà)

Có rất nhiều trường hợp những vị cư sĩ mất hay các vị Tỳ-kheo qua đời thì ngài Anan đến hỏi Đức Phật người này mất thì đi đến đâu, người kia mất có thành tựu gì không thì Đức Phật trả lời hết các câu hỏi, sau đó ngài nói đừng làm phiền Như Lai nữa và Thế Tôn chỉ cho cách tu để chứng quả Dự Lưu, không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Khi hỏi thì ngài nói hết người nào chứng Dự Lưu, người nào chứng Nhị Quả, Tam Quả, người nào thành tựu tâm bất động cứu cánh Niết-bàn, người nào lên cảnh giới tịnh cư Bất Lai, còn một đời nữa là chứng Niết-bàn rồi cuối cùng Đức Phật nói đừng hỏi nữa, đừng làm phiền Như Lai và ngài chỉ cho cách” tu tự chứng tự biết.

Một thời Thế Tôn ở Nàtika, trong ngôi giảng đường bằng gạch.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến... bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Sàlha đã mạng chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào? Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo-ni Nànda mệnh chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào? Nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào?

-- Tỳ-kheo Sàlha, này Ananda, đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Tỳ-kheo-ni Nànda, này Ananda, mệnh chung, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không phải trở lui thế giới này. Cư sĩ Sudatta, này Ananda, do đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất Lai, sau khi trở lui thế giới này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Nữ cư sĩ Sujàtà, này Ananda, mạng chung, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

Này Ananda, thật không có gì lạ vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này, thời này Ananda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy Ta sẽ giảng pháp môn Pháp kính (gương Chánh pháp) để vị Thánh đệ tử sau khi thành tựu pháp môn này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: "Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loài bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta đã chứng quả Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ".”

(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, VIII. Giảng Đường Bằng Gạch (1))

Chúng ta đã thấy lòng từ bi bao la, trí tuệ siêu việt của ngài nên mình cần cố gắng tu học để nhiếp phục dục tham ái, vô minh, bản ngã rồi sẽ thấy tuệ giải thoát, tâm giải thoát của chính tự thân. Bây giờ không cần biết những chuyện nhỏ nhặt, lặt vặt, mai đây biết là biết cùng khắp vũ trụ vạn vật. Vì thế cái thấy biết của mình thật là nhỏ bé, sự hiểu biết của mình thật nhỏ nhoi, tri thức của mình như muỗi mòng, như kiến bọ đối với trí tuệ của Đức Phật và các bậc Thánh. Biết được điều này để thấy hổ thẹn, nhàm chán, tàm quý để chúng ta không tự hào, kiêu ngạo, hài lòng với thọ; tưởng; hành; thức của mình. Cái biết của chúng ta là biết trong vô minh, si ám, học để phá chấp thủ trong năm uẩn và có niềm tịnh tín bất động đối với Như Lai. Thật là đau khổ thay cho chúng ta khi chấp thủ vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhỏ bé, bất tịnh, tanh hôi, xú uế này. Thật là khổ não cho chúng ta khi nắm chặt vào đời sống vô nghĩa đầy khổ đau và ưu não này. Không có gì đáng tự hào trong ngũ uẩn này, vì vô minh, tham ái, si mê nên chúng ta cứ thấy mình hay, mình giỏi, mình hơn rồi tạo biết bao ác nghiệp.

III. Vũ trụ

Đức Thế Tôn có thể thuyết pháp với âm thanh vang dội ra mười ngàn thế giới và xa hơn thế nữa, tùy theo ý muốn của ngài.

“Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Con được nghe trước mặt Thế Tôn, con được nắm giữ trước mặt Thế Tôn: "Abhibhù, đệ tử Ðức Phật Sikhi, đứng ở Phạm Thiên Giới, có thể làm cho ngàn thế giới nghe tiếng của mình". Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 80.- Abhibhù)

Abhibhù chính là vị Tỳ-kheo đọc bài kệ "hãy đứng dậy lên đường…". Abhibhù là đệ tử của Đức Phật Thi Khí, ngài đứng ở giữa Phạm Thiên giới có thể làm cho một ngàn thế giới nghe tiếng của mình khi ngài đọc bài kệ:

“"Hãy đứng dậy, lên đường,

Hãy dấn thân Phật giáo,

Hãy đánh bại Ma quân,

Như voi phá chòi lá.

Ai trong pháp luật này,

An trú không phóng dật,

Đoạn tận vòng sống chết,

Sẽ chấm dứt khổ đau".”

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, II. Phẩm Thứ Hai, IV. Arunavàti)

Hãy đứng dậy tức là đừng buông lung, đừng làm biếng. Hãy dấn thân Phật giáo nghĩa là hãy đem cả thân mạng của mình để thực hành lời dạy của Đức Phật. Chúng ta trở lại bài kinh Abhibhù, ngài Anan thưa rằng chính ngài Anan được nghe Đức Phật nói Tỳ-kheo Abhibhù là đệ tử của Phật Thi Khí đứng giữa cõi trời Phạm Thiên làm cho một ngàn thế giới nghe được tiếng của mình qua bài kệ vừa rồi, sau đó ngài Anan nói tiếp:

“Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?

- Vị ấy chỉ là một đệ tử, này Ananda. Các Như Lai là vô lượng.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 80.- Abhibhù)

Vị ấy chỉ là đệ tử của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thôi còn các Như Lai là vô lượng.

“Lần thứ hai, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Con được nghe trước mặt Thế Tôn, ... có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?

- Vị ấy chỉ là một đệ tử, này Ananda. Các Như Lai là vô lượng.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 80.- Abhibhù)

Ngài Ananda rất tuyệt vời, nhờ có ngài chúng ta mới biết được nhiều thứ. Có việc gì là ngài trình bày, năn nỉ để Đức Thế Tôn giảng thuyết. Bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề là tổ sư của Ni chúng, ngài đã khéo léo năn nỉ, lễ lạy xin xỏ Thế Tôn mọi cách để Thế Tôn chấp nhận dì mẫu gia nhập Tăng đoàn. Đối với vấn đề này cũng vậy, Thế Tôn không muốn nói những chuyện này vì nói những việc này không liên hệ đến mục đích, không khéo thì những người có trí óc tò mò tưởng tượng lại đi hướng ngoại cho nên ngài Anan phải thưa đến ba lần.

“Lần thứ ba, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Con được nghe trước mặt Thế Tôn, ... có thể làm cho nghe tiếng xa như thế nào?

- Này Ananda, Thầy có được nghe nói đến tiểu thiên thế giới không?

- Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn Thiện Thệ, để Thế Tôn nói về vấn đề này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.

- Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

- Xa cho đến mặt trăng, mặt trời chạy trong quỹ đạo của chúng và chói sáng khắp bốn phương với ánh sáng của chúng, xa như vậy là một ngàn thế giới. Trong ấy có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn núi Sineru (Tu-di), một ngàn Jambudìta (Diêm-phù-đề), một ngàn Aparagoyànà (Tây ngưu hóa châu), một ngàn Uttarakurù (Bắc-cu-vô châu), một ngàn Pubbavidehà (Ðông thắng thần châu), bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn đại vương, 1000 cõi trời Bốn thiên vương, 1000 cõi trời ba mươi ba, 1000 Dạ-ma thiên, 1000 Tusità (Ðâu-suất thiên), 1000 Hóa Lạc thiên, 1000 Tha Hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm Thiên. Này Ananda, đây gọi là một tiểu thiên thế giới.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 80.- Abhibhù)

Bốn ngàn đại vương nghĩa là bốn ngàn vị vua lớn. Thật sự là ngoài sức tưởng tượng của con người.

“Này Ananda, cho đến 1000 lần một tiểu thiên thế giới, được gọi là, này Ananda, ba Ðại thiên thế giới. Này Ananda, Như Lai có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 80.- Abhibhù)

Như Lai tự tại đối với các pháp, tất cả vạn vật ngũ uẩn trên thế giới này không có cái nào làm chướng ngại đối với Như Lai, ngài là tự tại, vô chướng ngại.

“- Làm sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn?

- Ở đây, này Ananda, Như Lai chiếu ánh sáng cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới, cho đến khi các chúng sanh nhận thức được ánh sáng ấy. Rồi Thế Tôn phát âm và làm cho tiếng mình được nghe. Như vậy, này Ananda, Như Lai làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 80.- Abhibhù)

Tức là Như Lai phóng hào quang trước rồi mới phát ra âm thanh, ánh sáng hào quang ấy dẫn pháp âm của Đức Phật lan tỏa khắp tam thiên đại thiên thế giới.

“Khi được nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Udàyi:

- Ðược lợi thay cho tôi, khéo được lợi thay cho tôi, có được bậc Ðạo sư có thần lực như vậy, có uy lực như vậy!

Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:

- Này Hiền giả Ananda, ở đây Hiền giả nghĩ có được gì, nếu bậc Đạo sư của Hiền giả có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?

Khi được nghe nói như vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Udàyi:

- Chớ có nói như vậy, này Udàyi; chớ nói vậy, này Udàyi. Này Udàyi, nếu Ananda chưa có đoạn tận tham và mệnh chung, nhưng với tâm tịnh tín của mình, vị ấy có thể bảy lần ngự trị trên thế giới chư Thiên, có thể bảy lần ngự trị trên cõi Jambudìpa này. Nhưng này Udàyi, Ananda ngay trong hiện tại sẽ được Bát-Niết-bàn.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 80.- Abhibhù)

Nghĩa là ngài Ananda tùy hủy, tán thán, khen ngợi, nói rằng lợi ích cho ngài có được vị thầy có thần thông, oai lực vĩ đại như vậy. Tôn giả Udàyi nói rằng ngài Ananda suy nghĩ như vậy thì có được gì đâu, Thế Tôn bảo Udàyi chớ nói như vậy. Vì nếu ngài Ananda chưa đoạn tận tham và mệnh chung, nhưng với tâm tịnh tín của mình, tức là có lòng tin trong sạch vào lời Đức Phật nói thì ngài Ananda có thể bảy lần ngự trị trên thế giới chư Thiên, có thể bảy lần ngự trị trên cõi Diêm-phù-đề này. Ngự trị nghĩa là làm một vị vua thống lãnh nhưng ngài Ananda sẽ nhập Niết-bàn ngay trong đời này, tức là sạch hết lậu hoặc, đoạn tận sanh y, diệt tận kiết sử và chứng Thánh quả A-la-hán. Cho nên khi học Nikāya phải đặt hết lòng tin vào Đức Phật.

./.