Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - Đường Lối Hành Trì Kinh Nikāya

2026-03-03 00:55:45
Kinh Nikāya Giảng Giải

ĐƯỜNG LỐI HÀNH TRÌ KINH NIKĀYA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đối chiếu kinh điển PAGEREF _Toc111906471 \h 1

II. Căn cứ địa thứ hai. PAGEREF _Toc111906472 \h 5

III. Căn cứ địa thứ ba. PAGEREF _Toc111906473 \h 6

IV. Căn cứ địa thứ tư. PAGEREF _Toc111906474 \h 7

V. Thánh trí năm uẩn PAGEREF _Toc111906475 \h 9

I. Đối chiếu kinh điển

Hôm nay Minh Thành muốn gửi đến đại chúng một đạo lộ hành trì coi như là một món là tinh thần, để sau ba tháng an cư tất cả các vị đều là hướng dự lưu và nhập lưu. Hôm nay có đủ duyên Minh Thành sẽ chia sẽ cho quý huynh đệ bốn đại căn cứ địa của giáo pháp trong Tăng Chi Bộ Kinh Tập 2.

“1. Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ànanda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: « Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư » ". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo tốt đẹp". Này các Tỷkheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ trì.”

(Tăng Chi Bộ kinh tập II – bài kinh Căn Cứ Địa)

Có một vị Tỷ-kheo nói rằng, tôi đối diện với Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn dạy như vậy. Nhưng mà Đức Phật khuyên rằng, tuy là thầy nói là trực tiếp gặp Đức Thế Tôn, Đức Phật dạy như vậy. Nhưng các thầy khi mà nghe rồi không nên tán thán, không nên quỷ bán. Mà mỗi câu, mỗi chữ học hỏi kĩ lưỡng. Rồi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật. Nhớ kinh này là bốn bộ Nikāya, nhớ luật này là luật vị Tỷ-kheo ở trong nam truyền, mà được truyền thừa ba ngàn năm nay. Mình hãy đối chiếu với ở trong đó.

Nếu mà không phù hợp với kinh, không tương xứng với luật, thì các thầy kết luật chắc chắn, đây không phải là lời của Thế Tôn, bậc Alahan chánh đẳng giác. Các vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm.

Minh Thành cũng nhắc quý vị là bốn bộ Nikāya là thánh kinh, thánh điển của Phật giáo thế giới, được cả toàn cầu Phật giáo công nhận. Đó là được truyền thừa từ Đức Thế Tôn. Và hiện nay các vị tam tạng pháp sư ở Myanmar là thuộc lòng hết ba tạng kinh Nikāya. Nhưng ở đây mình chỉ nói hai tạng thôi là tạng kinh và tạng luận.

Thành ra mình phải thấy hai bộ đó làm chuẩn tắc trong sự tu học. Đây là kinh nghiệm sau ba chục năm đi khắp thế giới cầu học, phát hiện ra.

Nếu như mà chúng phù hợp với kinh, tương xứng với luật thì các thầy có thể kết luật chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc Alahan Chánh Đẳng Giác. Và các Tỷ-kheo ấy thọ giáo tốt đẹp. Này các Tỷ-kheo đây là đại căn cứ địa thứ nhất mà các thầy cần phải thọ trì.

Sau khi mình đối chiếu, mình thấy đúng như vậy, đúng là giáo pháp li tham, đúng là sự đoạn tận tất cả tham sân si, bản ngã, vô minh, chấp thủ. Đúng như vậy, thì các thầy biết rằng chắc chắn đây là những lời dạy của Đức Thế Tôn. Đây là đại căn cứ địa thứ nhất mà các thầy các cô cần phải thọ trì.

Phải đối chiếu, chứ không phải nghe nói là tin liền.

Ngay cả thời đó, thời Đức Phật còn, mà Đức Phật còn dặn như vậy đó. Mà bây giờ chúng ta không cẩn thận, mạnh ai nấy nói là loạn Pháp.

Quý vị có biết rằng, một định lí, một công thức. Mà chỉ cần sai một chút xíu thôi mà sai hết tất cả.

Bây giờ người ta phát hiện ra máy bay bị tai nạn, bị một lỗi rất là nhỏ, cực nhỏ. Mà mấy người ở phía dưới, người ta cho rằng đây là lỗi nhỏ không đáng để báo cáo nên xảy ra tai nạn làm mấy trăm người chết.

Cho nên phải cẩn thận khi học pháp. Nếu mình sai một chút xíu thôi mà toàn bộ công trình của mình đi xuống biển hết.

Đó là thời Đức Phật đó, mà Đức Phật còn nói vậy đó. Tức là có một Tỷ-kheo nói rằng gặp Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn dạy như vậy. Mình đừng vội huỷ bán, đừng vội khen ngợi, mình đối chiếu lại.

Mình học mà mình không có vi tế, không có sự nhỏ nhiệm, không có sự miên mật sâu sắc, mình lệch chút xíu thôi là xong.

Cho nên thời kì chúng ta đang ở đây là thời kì cuối của tượng pháp. Năm trăm năm đầu là thời kì của chánh pháp, và chúng ta đây là cuối của thời kì tượng pháp sắp qua mạc pháp. Mà tượng là gì? Tượng là mường tượng giống giống, tương tự. Đây là thời kì tưởng pháp.

Cho nên mình để ý mình sẽ nhìn thấy một người ở trong chùa làm việc mà tính tình cẩu thả, làm việc qua loa. Thì mình có giám dao công việc quan trọng cho người đó không?

Mình nói những cái nhỏ nhất thôi mà như vậy, mà muốn hồ chi là sự truyền thừa chánh pháp ba ngàn năm. Thì phải là những bậc thánh giả, những bậc chứng ngộ truyền thừa mới chính xác. Còn bây giờ mình thì cái gì cũng đọc, cái gì cũng tốt thì chưa chắc chính xác. Sao cũng được thì mình thuộc dạng ba phải, thì làm mình đi tới thánh đạo, thánh quả.

Quý vị nhớ rằng, nếu mà không chính xác trên thánh đạo thì không đến thánh quả. Nó phải là thánh đạo mới đi đến thánh quả. Giống như trong bài kinh Đức Phật có ví dụ về con gà ấp trứng. Mà con gà đó ấp sai cách, mà nó cứ mong muốn con gà con sẽ mổ ra trở thành con gà con. Nó cứ mong muốn như vậy hoài mà nó ấp sai cách thì có con gà con không? Mà nếu như nó ấp đúng cách, mà không cầu nguyện van xin, không hi vọng, không mong chờ, thì có ra gà con không? Đó là bài kinh rất quan trọng.

Tức là khi mình làm một việc gì, mình phải nắm vững lý thuyết của nó. Giống như bát chánh đạo là chánh tri kiến, thì phải thấy đúng trước. Rồi mình làm giống như vậy thì mới có kết quả.

Bây giờ quý vị là những nhà giai chánh, là giai chánh dưới bếp chùa của mình. Làm bánh bông lang, nấu phở, nấu bún, nấu chè. Mà một hồi bốc cục xôi lên, thì không biết kêu bằng chè hay bằng cháo. Tại sao vậy? Tại không đúng quy cách, phải đúng quy cách.

Mình nấu cháo mà không đúng cách thì không phải cháo bình thường, cháo để cho ai ăn không biết. Đó là không đúng cách. Tại sao vậy? Tại vì mình không bám sát theo cách thức người đi trước chỉ cho mình, mình muốn làm theo cách của mình. Như vậy thì mình không có kết quả, tu không đi đến thánh quả. Ngoài đời thì có nhiều loại thánh lắm, có khi thánh chửi cũng có nữa.

II. Căn cứ địa thứ hai.

“4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Đối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc Ala-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.

5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Đối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ trì.”

(Tăng Chi Bộ kinh tập II – bài kinh Căn Cứ Địa)

Có một Tỷ-kheo nói như sau, tại trú xứ kia có tăng chúng ở với vị thượng toạ, với vị thủ chúng. Đối diện với tăng chúng ta nghe như vậy, đối diện với tăng chúng tôi lãnh thọ như vậy. Đây là pháp, đây là luật của bậc đạo sư,

Khi mình nghe như vậy, mình cũng không khen ngợi tán thán, cũng không huỷ bán chỉ trích. Mà so sánh, đối chiếu với kinh, so sanh với luật. Nếu không đúng thì đây chắc chắn là không phải là lời dạy của Thế Tôn, các thầy hãy từ bỏ chúng.

Vị đó nói đây là lời của Đức Phật, nhưng mình lấy lời của vị đó nói, mình đối chiếu với kinh và luật.

Hồi nãy là một vị Tỷ-kheo nói rằng gặp trực tiếp với Phật, còn bây giờ là một vị thượng toạ. Thượng toạ ở đây là chỉ những bậc trưởng lão, những bậc tu hành lâu năm, nhưng vị đứng đầu trong đại chúng.

Khi mình nghe mình phải đối chiếu. Mình đối chiếu mà thấy phù hợp tương ưng thì chắc chắn những lời này là lời dạy của Đức Thế Tôn, bậc Alahan chánh đẳng giác. Các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chân chánh, này các Tỷ-kheo đây là đại căn cứ địa thứ hai các vị cần phải thọ trì.

Đó là vị thượng toạ thủ chúng.

III. Căn cứ địa thứ ba.

“7. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷkheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷkheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Đối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo Sư"". Này các Tỷ kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ trì.”

(Tăng Chi Bộ kinh tập II – bài kinh Căn Cứ Địa)

Đây ở kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở và những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì pháp, trì luật, trì toát yếu.

Khi mình nghe những vị này nói rồi, mà những vị này nói đây là pháp, đây là luật của Phật của đạo sư mình phải đối chiếu. Mình khôn vội tán thán, cũng không vội chỉ trích, nghe tiếp nhận rồi mình đối chiếu. Nếu như đối chiếu, mình thấy đúng với pháp và luật thì mình tiếp nhận, thọ trì. Đây là đại căn cứ địa thứ ba.

Quý vị nghĩ những vị trưởng lão, pháp sư, những vị này nổ tiếng tôn túc lớn là những vị nói đúng hết chánh pháp hả? Chưa chắc.

Nếu mà người không nhập lưu chánh quả của bậc tu đạo hoàng, mà họ không bám sát vô kinh luật thì nói một hồi sẽ bị lẫn lộn vô ngũ uẩn. Sẽ lẫn lộn qua thấy biết cá nhân. Lẫn lộn một chút, mà truyền cho người kia lại lẫn lộn một chút, thì cuối cùng thì không phải một chút. Và chánh pháp bị diệt vong.

Cho nên mình cả tin, mình dễ nghe, dễ tin lắm. Cái nào êm êm tai, hợp ý là nghe, thì đó là ái. Hợp với cái ái của mình, hợp với cái gu của mình là mình đi theo. Như vậy là chết ngay.

Cho nên giáo pháp ngược đời, nghịch lưu là gì? Tất cả chúng sanh tham, mà giáo pháp là li tham. Mà người nào nghe cái nghịch nhĩ đó, thì người này thể nhập thánh trí.

IV. Căn cứ địa thứ tư.

Những vị trưởng lão, vị này được nghe nhiều, được trao truyền kinh điển.

Dù là trưởng lão mình cũng phải đối chiếu.

Sau bốn căn cứ địa, Minh Thành sẽ chia sẽ cho quý vị đạo lộ tu tập. Cái này quan trọng lắm, cái này là suốt cuộc đời mình tu.

Thực hành ba pháp, chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Đây là quan trọng, cực kì quan trọng, đây là bước thứ nhất.

Ba pháp này là bước căn bản, quan trọng để giúp cho mình nhìn lại thân tâm của mình. Để mình có chỗ trú. Còn nếu không khi mắt mình tiếp xúc sắc, lưỡi tiếp xúc với vị, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, thân xúc chạm là mình quên hết, mình hướng ngoại, phóng theo cảnh hết. Nếu mình không thực hành ba pháp là tâm mình không có chỗ trú. Tâm của mình là tâm mong lung, không có chỗ trụ. Mà một cái tâm mong lung không có chỗ trụ thì cũng giống như bông gòn bỏ ở ngã tư bị gió thổi tứ tung vậy. Còn tâm có chỗ trú thì giống như cột trụ bằng đá. Cho nên thực hành ba pháp không phải khi ngồi thiền mà mọi lúc đều chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân.

Đó là định tâm ở trên thân vững chắc, kiên định, kiên trú, trú vững. Khi những cái khác đi đến với mình thì không dễ dàng xâm nhập nổi, không dễ dàng xâm chiếm thâm tâm của mình. Vì mình có chỗ trú vững chắc. Bên trong của mình là nội tâm tỉnh giác.

Rồi đây tới một bước cực kì quan trọng là nhận diện năm uẩn, mọi lúc, mọi nơi.

Xin thưa quý huynh đệ, nếu mình tu mà không thấy năm uẩn thì tất cả sự tu của mình đều ở ngoài da hết. Tại sao? Tại chính tự thân, thân tâm mình không rõ, không biết thì sao mà mình tu.

Bằng trí huệ, thánh trí của Đức Phật, Đức Phật nhìn thấy tất cả vũ trụ này là trong năm uẩn. Thì còn người có sắc uẩn, cảm thọ, tưởng, hành, thức là năm yếu tố cấu tạo thành thân tâm của một chúng sanh. Mà mình không thấy năm yếu tố cấu tạo thành mình, mình không thấy, không biết thì làm sao mình tu sửa, làm sao mình điều chỉnh, làm sao mình nhiếp phục.

Mà quý huynh đệ có biết rằng tham sân si, bản ngã, những cái vô minh, tham ái, chấp thủ, phiền não là nằm lẫn lộn trong năm uẩn. Nếu không nhìn thấy được thì không thể nào mình biết được chỗ ở căn cứ địa nữa. Căn cứ địa của tham sân si bản ngã là ở trong cảm giác, ở trong những cái nghĩ tưởng, nó nằm trong đó. Nếu mình không thấy, không biết thì mình làm sao nhiếp phục chuyển hoá nó. Cũng như hồi đó giờ, mình học mấy chục năm nay mình có biết rằng tham sân si nằm trong cảm giác không? Nếu mình không học tạng kinh Nikāya thì sao mình biết.

V. Thánh trí năm uẩn

Thành ra sự nhận diện năm uẩn này không phải bình thường đâu. Thấy năm uẩn là thấy Phật, thấy năm uẩn là thấy pháp, thấy năm uẩn là thấy được thánh trí. Không phải chuyện bình thường.

Đức Phật giác ngộ là Đức Phật thành tựu bốn thánh trí về năm uẩn này. Thánh trí thứ nhất về năm uẩn là gì? Là sự vô minh tham ái chấm thủ đối với năm uẩn là phiền não khổ đau. Đó là thánh trí thứ nhất Đức Phật đã chứng ngộ.

Từ đâu mà có ra năm uẩn này? Từ sự vô minh tham ái và chấp thủ. Thứ nhất là khổ trí, thứ hai là tập trí.

Sự tập khởi của năm uẩn này là do đâu? Là do vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn.

Và làm thế nào để chấm dứt sự vô minh tham ái chấp thủ đối với năm uẩn? Bát thánh đạo là con đường chấm dứt tất cả vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn. Đó là bốn thánh trí về năm uẩn. Khổ trí, tập trí, nhiệt trí và đạo trí đối với năm uẩn.

Quan trọng nhất là chánh tri kiến, chánh chi kiến là thấy năm uẩn là năm uẩn, không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi.

Muốn thấy được năm uẩn như vậy thì phải luôn luôn nhìn để thấu hiểu bản chất thật sự của năm uẩn.

Cho nên mình nhìn lại sẽ thấy cảm giác này là vô thường, trống rỗng. Một cảm giác thúc dục, đòi hỏi, tìm kiếm, truy tầm, khao khát, khát ái, luôn luôn xúi dục mình đi hưởng thụ đi kiếm, đi ăn, đi chơi, đi tìm cái này cái kia để cung phụng cho nó. Đó là cảm giác.

Cho nên mình thường thường nhìn lại năm uẩn sẽ phát hiện ra dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Nếu mình không nhìn thấy năm uẩn, mình không thành tựu trí năm uẩn, mình không thể nhập trí năm uẩn thì có hai điều xảy ra. Thứ nhất là không bao giờ phá được chấp ngã vô minh và tham ái đối với năm uẩn.

Nếu mình không thành tựu trí năm uẩn thì mình cho rằng thân này là tôi, cảm giác là tôi, nghĩ tưởng là tôi, nhận thức là tôi. Luôn luôn là như vậy hết. Cho nên mình thường nhìn lại thì thấy đây là năm cục, năm nhóm. Nhìn thấy một nhóm về sắc đòi hỏi, tối ngày kiếm ăn, sáng ăn, trưa ăn, chiều ăn, tối ăn. Đó là cái gì? Đó là dục nằm trong sắc uẩn.

Nó luôn đòi phải mặc đẹp, ở chỗ sang, chùa cho rộng cho lớn. Đó là dục trong sắc uẩn đó. Ở trong cảm giác là một cảm giác thúc dục, yêu thích, ham muốn.

Khi mình nhìn lại năm uẩn thì trí tuệ của mình sẽ xuyên thấu vô lớp thâm sâu của cảm giác, cảm thọ, cảm xúc. Đó là một cảm xúc thúc dục, đòi hòi, khao khát, truy tầm, tìm kiếm, nó làm cho mình mệt mỏi. Mình chạy hoài, từ lúc nhỏ, đến thiếu niên, trung niên vẫn còn chạy, vì chưa thoả mãn. Tại vì sao? Tại vì bản chất của dục là không có thoả mãn mà nó trống rỗng. Bản chất của dục là trống rỗng, mà mình không thấy được nó thì rất nguy hiểm.

Nếu mình không nhìn thấy được cái dục, mình không hiểu về nó, mình không biết tính chất, cấu tạo, sự tập khởi của dục, sự đoạn tận của dục, những vị ngọt của dục, sự nguy hiểm của dục, sự xuất li của dục. Thì mình không thể nào nhiếp phục và đoạn tận được dục hết.

Mà mình không nhiếp phục, đoạn tận dục ái tham thì sầu bi khổ ưu não, nước mắt vẫn còn đầm đìa, đau khổ vẫn tiếp diễn dài dài, không có cũng tận.

Chúng ta ở đây là nạn nhân của dục tham và ái, chúng ta là nạn nhân của sân hận si mê vô minh và chấp thủ. Chúng ta là mù mờ tăm tối trong vô minh, không thấy được năm uẩn. Mà đi đâu cũng vác một cái ngã chình ình, to tướng. Ai chạm vô một cái là phực lửa, cháy, làm tan hết tất cả tình nghĩa cha con, thầy trò, huynh đệ. Đụng chạm vô cái tôi của nó là tan tành hết.

Khi mình nhìn năm uẩn này tuyệt diệu lắm. Những suy nghĩ đang nghĩ những gì? Có nghĩ mình là giỏi, mình là hay, mình là hơn. Khen mình chê người, ta đây, cống cao, ngã mạn.

Xin thưa quý huynh đệ là ở trên Linh Quy Pháp Ấn là có một phương pháp xám hối diệt ngã học từ cái hạnh của ngài Xá-lợi-Phất. Mấy chục bài kệ để lạy diệt ngã, quán chiếu để diệt bản ngã.

Có một chú mới xuất gia lạy bài này là khóc ràn rụa luôn, vì bài đó chạm tới cảm giác thâm sâu. Đánh thức được trí tuệ vô ngã ở bên trong.

Mình phải nhìn lại năm uẩn, luôn luôn nhìn lại thân thể này, nhìn lại các cảm giác này, nhìn lại nội tâm, thọ tưởng hành thức. Nhìn lại các pháp đang diễn ra bên trong như thế nào mình phải thấy, mình phải biết, biết những cái gì đang diễn ra trong nội tâm của mình. Tại vì sao? Vì các rác bẩn, những lậu quặc, những phiền não, những tham sân si bản ngã vô minh chấp thủ trà trộn trong năm uẩn, chỗ nào cũng có nó hết. Giống như mình lấy tấm cám trộn lại rồi bắt ngồi đó lựa vậy. Nó trà trộn như vậy mà nếu không có thánh trí năm uẩn thì làm sao mình thấy được. Tại vì mình đã cho rằng những cái đó là mình rồi, mình cho rằng sắc là tôi, thọ là tôi, tưởng là tôi, hành là tôi, thức là tôi. Sắc này là của tôi, thọ là của tôi, tưởng là của tôi, hành là của tôi, thức là của tôi. Mình cho rằng như vậy thì làm sao mình thấy được.

Cho nên bước rất quan trọng là bước nhận diện năm uẩn. Bất cứ lúc nào, nhất là lúc mình giận, mình tham lên là phải nhìn lại năm uẩn ngay lập tức. Nếu như mình không biết, không thấy thì cảm giác sân hận hay tức giận sẽ xâm chiếm toàn bộ thân mình.

Có một vị Tỷ-kheo lại hỏi Thế Tôn thế nào là ma. Đức Phật nói: sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma. Chính những cái đó làm cho mình khổ, nó che lấp hết trí huệ của mình.

Một sự đau đớn nhất của một người tu là không thấy được năm uẩn.

Là không bao giờ mình thể nhập được trí huệ của Đức Phật hết.

Mình phải thực hành nhận diện năm uẩn liên tục. Nếu mình thường mình không nhận diện được thì lúc giận lên mình không nhận diện nổi.

Phải nhìn vô trong cảm giác, nhìn vô nghĩ tưởng trong nội tâm coi đó là cái gì, tại sao lại suy nghĩ như vậy, tại sao lại có những hình bóng như vậy, tại sao lại có cảm giác rạo rực như vậy. Mình nhìn thấy là thấy cái thọ ở dưới nung lên, làm cho các tưởng sanh khởi, các ý hành nói. Cảm giác của mình không lắng dịu, muốn thúc dục liên tục, là cái thọ nung lên.

Cho nên sự tu tập là quay lại nhìn lại, phản tỉnh, nội soi, chiếu kiến ngũ uẩn. Để làm gì? Để mình thâm sâu những lớp dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu ở phía dưới. Những cái tham sân si mà thô thì không cần học ai cũng biết, đó gọi là rác thô. Rác vừa vừa là ăn uống, ngủ nghĩ, nói, đi lại.

Mình nhìn kỹ là mình thấy hết, dục tham sân si bản ngã là thấy hết. Mình để ý nhìn lại thì mình biết câu này nói là có cái ngã trong đó, nói ra mình sẽ hối hận. Còn không để ý, mình không nhìn lại là mình nói ào ào, người ta thấy mà mình không thấy.

Rác tế là cái gì? Là một trạng thái, tâm mê nó bị nhiễm lâu ngày, lâu đời. Một trạng thái tâm mê, bị tiêm nhiễm lậu quặc lâu đời. Nó suy nghĩ theo chiều mê, là luôn luôn đi tìm cầu những cái dục, cái ái, cái tham. Nó ngấm ngầm ở hoạt động ở dưới chỉ huy điều khiển hết. Mà nó âm thầm, mình không thấy không biết nó cho nên gọi là lậu. Lậu ở đây là lậu quặc. Một sự mê rất là sâu lắng, vi tế, nhỏ nhiệm, mình không thấy biết được. Phải trí huệ của bậc thánh mới nhìn ra được những cái rác vi tế. Khi mình tẩy được những cái rác vi tế này rồi mình mới thể nhập được thánh trí viên mãn. Cho nên phần nhận diện năm uẩn rồi mình sẽ phát hiện ra những cái rác bẩn thô, vừa và vi tế.

Ví dụ: có một người từ khi sanh ra đã mù loà bốn mươi lăm năm, người này ở trong một căn nhà đầy rác bẩn, cấu uế và người này không thấy không biết. Từ khi sanh ra đã mù, ở một mình trong một căn nhà bốn mươi lăm năm. Và một hôm người này gặp một thầy thuốc cực kì giỏi. Vị thầy thuốc đó cho người này thuốc, điều trị cho người này, cuối cùng người này sáng mắt lên. Khi người này sáng mắt lên, mắt được tỏ sáng thì người này thấy rác bẩn, cấu uế, sự dơ bẩn suốt bốn mươi mấy năm. Từ trên xuống dưới toàn rác bẩn, cấu uế không.

Sau khi thấy rác như vậy rồi người này hốt, rồi dọn. Có loại rác thì hốt dọn, có những nhơ nhớp phải chà, có loại dơ phải tẩy, phải chà. Thậm chí phải dùng nhiều phương pháp để tẩy những loại rác khác nhau. Và cuối cùng căn nhà đó sạch sẽ, mát mẻ, thơn tho.

Xin thưa quý huynh đệ đó là toàn bộ hành trình tu tập của chúng ta đó.

Nó không có nhiều, chỉ bao nhiêu đó thôi. Mù là ai? Người mù mấy chục năm đó là ai? Là chúng sanh, là vô văn phàm phu, là chính bản thân mình. Khi con mắt mình sáng ra, được trị liệu, được cho thần dược, mình thấy được rác là thấy được rác trong năm thủ uẩn. Nhìn thấy được bản ngã, vô minh, chấp thủ đầy rẫy hết, trà trộn trong năm uẩn, đó là người này mở con mắt trí huệ ra rồi đó. Đây gọi là đắc pháp nhãn tịnh, đây gọi là nhập lưu, đây gọi là thành tựu trí về năm uẩn.

Bốn thành trí về lậu quặc mà Đức Phật chứng ngộ dưới cội bồ đề là gì? Là phải thấy biết các lậu quặc, thấy biết được sự tập khởi nguyên nhân sanh khởi các lậu quặc và thấy được sự chấp dứt các lậu quặc và con đường đưa đến sự đoạn tận chấp dứt các lậu quặc đó. Là thành tựu bốn thánh trí về lậu quặc, và bốn thánh trí về năm uẩn. Tám thánh trí này là đưa bồ tát tất đạt đa thành tựu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Tám thánh trí này, hồi đó giờ mình học mình chưa từng nghe, chưa từng nghiền ngẫm suy tư, quán chiếu.

Khi con mắt mở ra là mình nhìn thấy năm uẩn, mình nhìn thấy rác bẩn trên năm uẩn, là lúc đó đắc pháp nhãn tịnh. Con mắt trí huệ của mình bắt đầu mở ra, pháp nhãn của mình bất đầu sáng ra, trí huệ của mình bắt đầu thành tựu. Là trí huệ của thánh pháp bắt đầu khởi động trong nội tâm của mình.

Sau khi mình thấy rác rồi, dọn rác quét rác là thánh quả thứ hai. Và hốt hết rác thô bỏ rồi, dọn dẹp các rác vi tế là thánh quả thứ ba. Khi mình làm sạch hết tất cả, thơm tho, sạch sẽ, mát mẻ rồi thì là vô thượng cứu cánh phạm hạnh. Vượt khởi tất cả các khổ ách, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, đây là đời sống cuối cùng. Đó là toàn bộ đạo lộ tu tập thánh quả của Đức Thế Tôn truyền trao trong kinh Nikāya đó, phải nắm kĩ điều này.

Người mà ngồi lại toàn nói cái hay, cái tốt của mình không thì người này còn nguy hiểm lắm. Đó là bản ngã nó nói đó, cái tôi đang thể hiện đó. Còn người mà dám phơi bày những cái tật, những cái dở, cái cấu nhiễm, những cái vô minh, tham ái, chấp thủ của mình ra là người này thánh trí bắt đầu tỏ sáng rồi đó.

Cho nên quý huynh đệ đừng tưởng thánh trí, bậc thánh nhân là cái gì cao siêu. Thánh giả, thánh trí, những bậc thánh nhân là những người nhìn thấy một cách chính xác, trọn vẹn, thấu suốt tất cả mọi khía cạnh thân và tâm của họ.

Thấy rõ tất cả những cái ô nhiễm, những cái phiền não, những vô minh, chấp thủ, tham ái, lậu quặc ở trong con người của họ. Đó là bậc thánh nhân, bậc thượng nhân.

Mình là mình không nhìn vào trong, mình nhìn người ta không thôi. Ngồi lại là nói về chị kia, cô nọ, bà kia, ông nọ. Đó là phàm phu, đó là thị phi, đó là hướng ngoại, đó là còn mê, còn mù.

Cho nên Minh Thành mong rằng con mắt tất cả mọi người sáng lên để nhìn thấy tất cả những cáu bẩn, dơ bẩn nhất. Mình phải nhìn thấy hết bao nhiêu tham ái, sân si ngã mạng trong đống thịt này. Bắt bản ngã thấp đầu, lạy hết mọi người. Phải khiêm hạ đập tan vỡ bản ngã hết.

Cho nên Minh Thành sắp ra bộ xuất gia bảo tạng.

Quý huynh đệ thứ nhất phải có một thái độ cầu học với một cái tâm thoáng, đừng khăng khăng giữ chặt những thấy biết riêng tư cá nhân của mình, thì mình mới học tiến bộ, mới đến chỗ rộng lớn. Đừng vội phản ứng nhanh với bất cứ một cái nào mà không hợp với suy nghĩ sở thích, cái thấy biết của mình. Hãy suy tư cho sâu sắc, quán chiếu.

Tiếp theo là bốn căn cứ địa của giáo pháp, đối chiếu với kinh tạng Nikāya và đối chiếu với tạng luật. Lấy đó làm lời dạy, lấy lời thánh kinh, thánh điển đó hành trì.

Bước sang cái thứ ba là cái đạo lộ của tạng kinh Nikāya: Mình phải thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, phát hiện rác bẩn thô vừa và tế. Và có những phương pháp thiện xảo tẩy sạch, làm cho nó sạch, trừ diệt, đoạn diệt, chấp dứt những rác bẩn đó. Giống như mình mở được con mắt ra lau dọn nhà cửa sạch sẽ. Như vậy sự tu thành nói nhiều những không có nhiều. Đó là toàn bộ đạo lộ, tổng cương lĩnh của tạng kinh Nikāya. Nắm được cái này rồi quý huynh đệ mở kinh ra đọc thì dễ dàng, rất là dễ dàng.