Làm An Tâm Người Bệnh 6
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 6
BẰNG TỨ NIỆM XỨ
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư Tăng Ni và quý Phật tử, Minh Thành được hay tin hiện tại có Phật tử bị nhiễm dịch bệnh phải vào bệnh viện điều trị và có nhiều Phật tử khác đang ở trong tâm dịch, các chư Tăng không thể đến thăm viếng, Minh Thành cùng chư Tăng Ni tại Linh Quy từ xa hướng tâm bằng công đức chánh pháp cầu mong cho quý vị chánh niệm tỉnh giác, lắng nghe thật kĩ những lời Phật dạy trong chủ đề "Làm an tâm người bệnh", trong đây sẽ có những bài kinh đi thăm bệnh. Qua những bài kinh đó xem như Minh Thành cùng chư Tăng Ni đến thăm quý vị, trong lời pháp đó sẽ giúp cho quý vị tâm an, trí tỏ, chánh niệm tỉnh giác để thực tập pháp. Tuy rằng quý vị đang bệnh, đang trong những hoàn cảnh khó khăn nhưng quý vị hãy cố gắng theo dõi trực tiếp hoặc gián tiếp những bài kinh trong chủ đề này, đây là thời điểm cần học pháp và hành pháp nhiều hơn bất cứ lúc nào để có sự vững chắc, vững mạnh trong nội tâm. Pháp có công năng rất đặc biệt, chuyển đổi bệnh nặng thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ thành hết bệnh, nếu gặp trường hợp xấu nhất, nghiệp đã mãn thì mình trú trong pháp này sẽ ra đi an lành, vào những cảnh giới tốt đẹp để tiếp tục tu tập, vì thế mọi người cần nhớ trong biển khổ sanh tử này thì pháp là chiếc phao cứu cánh của mình, phải nắm cho chắc, cầm cho chặt, an trú trong pháp dù ở nhà hoặc trong bệnh viện.
Minh Thành xin nhắc lại trong đường lối tu học, chúng ta phải lấy kinh để giải thích kinh chứ không lấy luận giải thích kinh. Chúng ta sẽ dùng những bài kinh tương ứng để giải thích bài kinh chúng ta đang học vì lấy lời Phật để giải thích lời Phật sẽ chắc chắn, còn lời người khác sẽ không bảo đảm. Sau này chư Tăng Ni, các Phật tử tu học, nghiên cứu, hành trì, truyền bá phải lấy lời trong kinh để giải thích kinh chứ đừng lấy lời người khác để giải thích kinh.
"Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Không tác ý đến tất cả tướng nghĩa là nội tâm an tịnh, ví dụ bị nhức răng mà cứ để ý vào chỗ nhức, suy nghĩ về chỗ nhức cộng với thọ; tưởng; hành của mình thì chỗ nhức bị làm cho to lên, phóng đại ra, tưởng tượng ra nhiều thứ nên nhức càng nhiều hơn, như vậy là mình tác ý đến cái tướng nhức răng. Mình bị vấp té nên xây xát, chảy máu chân, vào ngồi thiền mà cứ để ý cảm thọ của cái chân, suy nghĩ về cái đau, những hình bóng cứ chập chờn hiện trong tâm là mình đang tác ý về tướng đau của chân. Mình đang bị bệnh phổi mà cứ suy nghĩ về hình bóng của cái phổi ngay lồng ngực, rồi lo lắng, sợ hãi, những cảm giác, nghĩ tưởng đó phóng đại ra để làm bất an, vẽ ra nhiều cái tưởng không biết có nặng lắm không, có chữa được không, có ảnh hưởng gì sức khỏe sau này không… đó là mình đang tác ý về tướng bệnh của phổi. Khi tác ý về cái nào thì cái pháp đó sẽ sanh khởi, nếu sanh khởi theo chiều bất an, lo lắng thì tâm đau khổ, rối loạn, còn Đức Phật nói không tác ý đến tất cả tướng nghĩa là lúc đó không có hình bóng, suy nghĩ nào sanh khởi, an trú cảm giác toàn thân, không tác ý đến cái tướng đau bệnh, toàn thân an tịnh, lắng dịu. Có khi Minh Thành bị đau họng, cảm thấy mệt nên hơi thở bị yếu, muốn bệnh nhưng lại đến giờ giảng thì tác ý "chết trên pháp tòa cũng thấy hạnh phúc", sau đó lên giảng là hết bệnh, khi không tác ý vào cái bệnh đó mà trú vào pháp thì trong cái pháp đó có sự hỷ lạc vì pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp vị thắng mọi vị.
"Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, dứt mọi khổ!"
(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)
Cái an lạc của pháp có công năng điều trị bệnh của thân, lúc đó tâm trú vào pháp, hỷ lạc trong pháp thì chính hỷ lạc của tâm làm thân an tịnh, lắng dịu, giải tỏa các độc tố tiêu cực, chứng bệnh được sự an lạc, an tịnh, khinh an, phấn khởi điều trị, sau khi giảng xong là Minh Thành hết bệnh và rất nhiều lần như vậy xảy ra, hoặc trong khi đang mệt nhưng đi ngồi thiền an tịnh, lắng dịu, trú vào pháp thì đến khi xả thiền ra là nhẹ nhàng. Ví dụ một người đang cười nói thoải mái bỗng nhiên nghe cuộc gọi báo "má mất rồi", vậy là rớt luôn điện thoại, sụp xuống, tay chân rệu rã, qua đây thấy được tâm mới là chủ thật sự, tâm mới là nguồn điện còn thân chỉ là cánh quạt, là bóng đèn thôi, nguồn điện có vấn đề thì cái đèn chớp tắt, cánh quạt không quay, cũng vậy, tâm là chủ của thân, mình tu bằng cái tâm mà cái tâm an thì thân sẽ ổn. Chính vì vậy trong sự tu điều trị thân phải song hành với điều tâm nhưng trọng tâm cốt lõi vẫn là tâm, chính là thọ; tưởng; hành; thức. Ngày xưa mình nói tâm là nói chung chung, lúc thì nói tâm là cái nhận biết, hoặc tâm là suy nghĩ, tâm là cảm giác, nếu như vậy thì chỉ thấy một góc độ của tâm còn giờ được học ngũ uẩn thì tâm là tập hợp của thọ; tưởng; hành; thức, còn thân là sắc, trong mỗi uẩn đó hoạt động ra sao đều thấy biết và có khả năng điều tiết, chế phục, lèo lái, nếu muốn hỷ thì mình tác ý cho hỷ, muốn cho từ là tác ý nước mắt tràn xuống là từ, đang bực bội, sân hận là tác ý để tâm hiền hòa sẽ an tịnh, lắng dịu, đó là điều tuyệt vời của việc tu tập Thánh trí ngũ uẩn, có rất nhiều lợi lạc, lợi ích, thành tựu thiện pháp rất nhiều. Thứ nhất biết được cấu tạo thân tâm là năm uẩn, thứ hai biết nhân duyên sanh diệt của năm uẩn, tại sao lại sanh khởi, làm sao chấm dứt, vận hành như thế nào, bản chất ra sao mình điều biết, thứ ba chẳng những biết nó như vậy mà mình còn biết được nó đang vận hành như thế nào, thọ dâng lên là biết đó là thọ dục, thọ sân hay cảm thọ mát dịu của hỷ lạc, ly dục, thứ tư chẳng những biết nó vận hành, hiện hữu, hoạt động mà còn có khả năng nhiếp phục và chế ngự, lèo lái theo hướng mình muốn. Mỗi lần tác ý, thiền quán là mình đang lèo lái, dẫn dắt chiều hướng của thọ; tưởng; hành; thức.
Diệt trừ một số cảm thọ là không cho thọ nhận, chẳng những thấy biết cảm thọ đang hiện hữu, đang vận hành, chẳng những nhiếp phục, chế ngự, dẫn dắt, lèo lái mà mình còn có khả năng diệt trừ cảm thọ, đây là chỗ sâu sắc. Ví dụ đang ngồi thiền hoặc đang đọc kinh mà điện thoại vang lên, vậy là thọ; tưởng; hành bắt đầu hoạt động, "không biết ai gọi vậy", "không biết có chuyện gì không", hình bóng điện thoại hiện lên, có cảm giác thúc giục nghe cuộc gọi, có suy nghĩ hiện lên, nhưng cần kiên quyết đó là giờ ngồi thiền không nghe máy, không nói chuyện, trở về an trú cảm giác toàn thân, quán chiếu về đề mục không đi theo thọ; tưởng; hành dẫn dắt. Khi tai nghe tiếng sẽ sanh ra cảm thọ, sau đó sẽ có những suy nghĩ, hình bóng hiện lên nhưng mình không thọ cảm giác này, cắt đứt nó và trở về đề mục tu tập. Các cô, các chú lớn tuổi mở tivi xem tin tức hằng ngày thấy số người nhiễm, người chết nhiều quá đâm ra lo lắng, sợ hãi nên từ giờ cắt ngang, không thọ nhận nữa, không đọc, không nghe, chỉ thực hành pháp thôi, khi mình không tiếp xúc nữa sẽ không sanh ra cảm giác, không có thọ sẽ không có tưởng, hành thì sẽ bớt lo lắng, bất an, chỉ cần lo làm sao để trú được trong pháp là an ổn, không xúc, không thọ nữa. Ví dụ khi nhìn thấy một người nào đó làm tâm bị dao động thì không nhìn nữa, quay qua nhìn cái khác, tâm rộng mở ra khắp hư không, hoặc nhìn người đó làm mình bực bội, khó chịu thì bây giờ không nghe, không nhìn nữa, quay ra nhìn bầu trời rộng lớn, trải tâm rộng ra.
"Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm đầy niềm thương cảm
Tâm đầy nỗi xót thương
Tâm đầy lòng thương tưởng
Tâm đầy tràn tình thương"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Đọc tới đâu là tâm thương mở ra rộng lớn tới đó, trải rộng khắp mười phương, như vậy là mình không thọ cái giận đó.
"Một hôm, đức Phật đang đi bộ ngang qua một ngôi làng. Có một người đàn ông trẻ tuổi thô lỗ nhìn thấy Ngài tỏ vẻ giận dữ và sỉ nhục. Ông la lên: 'Ông biết cái gì mà dạy người khác. Ông cũng ngu dốt như mọi người chứ có gì khác đâu. Chẳng qua ông chỉ khéo giả dối lừa gạt người ta mà thôi!'.
Đức Phật vẫn thản nhiên trước những lời nhục mạ của gã đàn ông này. Ngài từ tốn hỏi lại ông ta: 'Nếu ông đem tặng một món quà cho người khác, người ta không nhận thì món quà đó thuộc về ai?'.
Người đàn ông rất ngạc nhiên khi phải trả lời một câu hỏi kỳ lạ. Ông nói: 'Tất nhiên nó sẽ thuộc về tôi. Vì đó là món quà của tôi!'.
Đức Phật mỉm cười và nói: 'Rất đúng đấy, ông bạn ạ! Nó cũng giống như việc giận dữ của ông khi nãy. Nếu ông sân hận nhục mạ tôi, tôi không nhận thì những lời nhục mạ ấy thuộc về ông. Khi ấy, chính ông là người bất hạnh chứ không phải tôi. Tất cả những hành động xấu mà ông gây ra sẽ trở lại làm tổn hại lấy bản thân mình.
Nếu ông muốn chấm dứt những bất hạnh nơi thân, ông phải từ bỏ sự sân hận và trải rộng tình thương đối với mọi người. Khi ông thù ghét người khác, chính bản thân ông trở thành bất hạnh. Nhưng khi ông thương yêu mọi người thì hạnh phúc sẽ đến cả đôi bên'.
Người đàn ông trẻ tuổi lắng nghe cặn kẽ những lời dạy quý báu của đức Phật, ông nói: 'Bây giờ con đã hiểu. Xin Ngài hãy dạy con cách thức thực hiện tình thương. Con xin được trở thành đệ tử của Ngài!'.
Đức Phật trả lời: 'Rất tốt! Ta sẽ chỉ dạy cho bất cứ ai thật sự muốn nghe!'". (Lược truyện Đức Phật Thích-ca)
Ngay chỗ không nhận quà chính là không thọ, thọ nghĩa là thọ nhận, lúc đó tâm Đức Phật không thọ nhận lời mắng chửi đó, qua đây chúng ta thấy rằng một người tu làm chủ được thân tâm chính họ sẽ rất tuyệt diệu. Người tu đã làm chủ thân tâm, làm chủ cảm thọ nên cái nào người ta muốn nhận sẽ nhận, cái nào không muốn nhận sẽ không nhận, còn người không biết tu tâm cái nào cũng nhận, những lời nói bóng, nói gió ở đâu đâu cũng lắng tai nghe, để buồn để giận, chỉ một lời nói nặng nói hơn mà ôm ấp mãi trong lòng vì vậy mà khổ đau triền miên, giống như cánh cửa không có then cài, ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra. Người có tu tập sẽ xem xét, kiểm tra cái đó có đáng thọ nhận không, còn không cần thiết thì không nhận, dù có dùng cách gì đi nữa cũng không nhận. Thế Tôn nói vị Bà-la-môn đó cho quà mà ngài không nhận thì quà đó phải ở lại với chủ nhân của nó thôi, ông ấy mắng chửi nhưng ngài không thọ nhận những lời nói đó thì những lời đó sẽ thuộc về vị Bà-la-môn đó, qua đây chúng ta thấy được chánh định khủng khiếp và sự nhiếp phục cảm thọ vô cùng tuyệt diệu của Thế Tôn, ngài tiếp xúc nhưng không thọ những lời mắng chửi đó, ngài đóng cửa tâm lại, mình nói như vậy để biết mà tu chứ thật ra lên đến cảnh giới của Đức Phật không còn đóng mở gì nữa vì đâu còn tôi và của tôi gì nữa. Nếu không biết quản lý căn nhà nội tâm, không biết giữ gìn, bảo hộ thân tâm sẽ khổ sở vô cùng, cái gì cũng bị dính mắc cho nên phải tập kiểm tra, soi xét, không phải cái nào cũng thọ. Có những người đến với mình nói những điều ác bất thiện pháp, nói thị phi, nói lời đâm thọc, lời dối trá, phù phiếm thì mình không thọ những lời nói đó, đóng cửa tâm, đóng cửa lỗ tai lại, còn nếu mở toang ra tham sân sẽ theo đó đi vào gây dao động thân tâm. Mình dùng điện thoại để nghe pháp, xem giảng kinh mà bất chợt gặp những hình ảnh quảng cáo tươi mát, ngay đó mà mình thọ là không theo được bài giảng, làm thọ; tưởng; hành sanh khởi khi thấy hình ảnh đó, vì thế cần cắt đứt lập tức. Người thông minh, khéo léo sẽ biết món nào nên ăn, món nào không nên ăn, có bệnh cần kiêng cữ chứ không phải thấy ngon là cứ ăn, nếu bệnh gan mà ăn tương chao, mì gói nhiều thì bệnh càng nặng thêm, nếu mình biết bản thân nặng về dục, về sân thì những cái gì khi tiếp xúc làm sanh khởi dục, sân cần ngăn chặn lại. Bản thân muốn nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận nhưng cứ cho ăn những thứ nuôi dưỡng lòng dục, lòng sân thì làm sao hết dục, hết sân được? Đó gọi là chánh kiến trong sự tu, trong chánh kiến có rất nhiều góc độ, khía cạnh chứ không đơn giản thấy được ngũ uẩn là có chánh kiến, trong việc thấy được ngũ uẩn là có biết bao góc độ, khía cạnh sâu sắc, tùy vào từng trường hợp, tùy sự việc, tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà có nhiều cách nhìn khác nhau. Đức Phật nói "Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ", nghĩa là có đau nhức, mỏi mệt nhưng không thọ nhận cảm giác đau đớn, khó chịu đó, không an trú, đi theo cảm giác đó mà cần diệt trừ cảm thọ đó. "Chứng và an trú vô tướng tâm định", ngài trú vào cái định vô tướng, nghĩa là cái định trống không, trống rỗng không có hình tướng. Vô tướng tâm định là cái pháp thiền định với cái tâm không có hình tướng, không có một sắc tướng nào trong nội tâm, chứng và ở luôn trong đó, không có gì là tôi và của tôi trong đó, không có tim, gan, phèo, phổi, tay chân, mặt mũi nào trong đó mà chỉ là một sự trống không, hoàn toàn an trú trong tâm trống rỗng rộng lớn, an tịnh trong đó, như vậy thân của Như Lai được thoải mái. Những điều này rất thâm sâu, phải có sự tu tập lâu dài, những cái định này đã được Thế Tôn chứng đắc nhuần nhuyễn, thuần thục như việc ăn cơm, uống trà, ngài muốn trú vào tâm nào là ngài trú vào đó không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức. Những kẻ vô văn phàm phu không biết tu hoặc tu còn yếu kém thì chấp ngã còn to tướng, sắc thủ uẩn còn nắm chặt trong nội tâm, không ưa thích tu tập những cái pháp của bậc thượng nhân, còn ngài tu tập những pháp thượng nhân vượt ra khỏi tấm thân này. Không vô biên xứ là trống không không có bờ mé, trú vào đó là không có ai ở đó, không có mắt; tai; mũi; lưỡi gì cả, tâm an định trong đó gọi là không vô biên xứ định, lúc nào mình đau bụng, nhức răng thì hãy thực tập như vậy, đừng chú ý vào cái đau nhức nơi cái bụng và răng miệng, thoát ra khỏi cảm giác đau nhức, khó chịu đó rồi trú vào vô tướng tâm định. Hôm nào đi vấp té hoặc đụng cửa làm trầy xước tấm thân này thì hãy trú vào không thân, vô tướng tâm định, bình thường mình hay bị kẹt trong thân tướng này không thoát ra khỏi nó được vì đã làm hang, làm tổ rồi nên có rất ít ý niệm thoát ra nhưng không thoát ra được sẽ bị hệ lụy, ràng buộc với nó, đau một chút, nhức một chút là nằm đó ôm cái rau rên rỉ, than thở, còn Đức Thế Tôn đã thuần thuận tu tập các định trong thượng nhân pháp nên lúc đó ngài được thoải mái. Có rất nhiều vị Tỳ-kheo Thánh Tăng bị bệnh nhưng trú trong pháp sẽ hết bệnh.
"Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, tại rừng Andha, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Rồi nhiều Tỳ-kheo đi đến Tôn giả Anuruddha và nói với Tôn giả Anuruddha: -- Tôn giả Anuruddha an trú với sự an trú gì, khiến cho khổ thọ về thân khởi lên, lại không có ảnh hưởng gì đến tâm?
-- Thưa chư Hiền, do tôi trú với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, nên các khổ thọ về thân khởi lên không có ảnh hưởng gì đến tâm. Thế nào là bốn?
Ở đây, thưa chư Hiền, tôi trú, quán thân trên thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa chư Hiền, do tôi trú với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, nên các khổ thọ về thân khởi lên không có ảnh hưởng đến tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương VIII. Tương Ưng Anuruddha, I. Phẩm Ðộc Cư, X. Bị Trọng Bệnh, hay Bệnh)
Ngài Anuruddha đang bị bệnh nặng, các vị tôn giả khác đến hỏi an trú như thế nào để cái thân đau đớn nhưng cái tâm không bị ảnh hưởng? Làm thế nào mà thân bệnh đau đớn nhưng không ảnh hưởng gì đến tâm? Ngài Anuruddha trả lời do ngài khéo an trú tâm trong Bốn Niệm Xứ nên cái thân có bệnh nặng vẫn không ảnh hưởng gì đến tâm. Ở đây có hai điều cần chú ý, thứ nhất nếu là mình bị bệnh nặng sẽ cảm thấy khó chịu cả thân tâm, rên rỉ, than thở, để cảm thọ thân xâm chiếm cảm thọ tâm, thứ hai các tôn giả khác đến thăm bệnh nhưng không hỏi thăm như mình thường hỏi là bệnh thế nào rồi, cảm thấy ra sao, cố gắng giữ sức khỏe, còn ở đây các tôn giả đến thăm bệnh nhưng lại hỏi đạo trong khi ngài Anuruddha đang bệnh nặng, điều này cho thấy sức làm chủ của ngài Anuruddha rất khủng khiếp, các vị nào đang bệnh cần học những bài kinh này thật kĩ. Các bậc Thánh Tăng thời Đức Phật người nào cũng tu Tứ Niệm Xứ thuần thục, đó là pháp tu hằng ngày của các ngài giống như mình bây giờ tụng Chú Đại Bi, Chú Vãng Sanh, tất cả các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật đều tu tập Tứ Niệm Xứ vậy mà bây giờ người tu được hỏi Tứ Niệm Xứ chưa chắc trả lời được mà đó là chỉ hỏi trên kiến thức, ngoài ra còn pháp hành nữa. Thứ hai là lúc nào các ngài cũng an trú trên Tứ Niệm Xứ, an trú là thường xuyên ở trong đó hằng ngày, hằng giờ. Thứ ba là chẳng những thường xuyên an trú trong đó rồi mà còn khéo léo, thiện xảo, không phải ở yên trong đó mà còn phải có sự khéo léo, khi thực hành Tứ Niệm Xứ mà không khéo léo thì tuệ không sanh và các lậu hoặc không được nhanh chóng diệt trừ. Khéo là phải biết lúc nào phải quán bất tịnh, biết lúc nào cần an trú trong hơi thở, biết lúc nào cần quán chiếu cảm thọ, biết lúc nào cần quán các pháp, đó là sự khéo, có rất nhiều hoàn cảnh, trường hợp cần sự sắc bén, linh hoạt, uyển chuyển trong sự thực hành Tứ Niệm Xứ, ví dụ tham ái nặng thì phải phát huy quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi, tu tập đến khi nào nhiếp phục được tham ái thì chuyển qua tu tập đề mục khác, nhiều trường hợp bệnh này đang nặng mà không chịu tu tập phá bỏ, trừ diệt, cứ thích tu những cái khác như tâm từ hoặc lạy sám hối, mình phải biết lúc đó cần tu tập pháp cao hay pháp cạn, cho nên phải biết đúng lúc, đúng thời. Tự mình phải nhìn vào nội tâm mới biết mình đang bị bệnh gì, bệnh gì nặng nhất thì tập trung vào pháp Tứ Niệm Xứ để trị bệnh đó trước, cái đó được gọi là khéo, phải trị cho đến khi nào hết bệnh hoặc giảm nhẹ bệnh rồi mới qua tu cái khác chứ không phải tu theo ý thích, thích cái nào là tu cái đó, những cái kia không thích là khỏi tu, đó là tu theo dục, tu theo ái, cũng giống như bác sĩ cho tám loại thuốc trị bệnh mà mình chọn vài loại trong đó uống thôi vì mình thích, loại nào viên nhỏ, ngọt, dễ chịu thì thích nên uống, còn lại đắng không uống, như vậy có hết bệnh không? Bây giờ mình tu học dễ bị vướng vào cái này, tu theo ý thích, nói theo danh từ trong kinh là tu theo dục ái chứ không phải tu để nhiếp phục, diệt tận lậu hoặc, cấu uế. Mình biết bản thân hay sân thì phải tập trung vào quán cảm thọ, trải tâm từ, tập trung quán nguy hại của cơn giận, mình biết bản thân hay buông lung phóng dật thì phải tu tập phòng hộ, hộ trì, bảo hộ thân tâm để trị cho được thì gọi là khéo léo trong tu tập, khéo thấy các pháp, thấy các thọ, thấy được nội tâm. Đó là mình diễn giải chữ khéo như vậy để mình tu học, còn chữ khéo của ngài Anuruddha cao cấp hơn nhiều, nếu bị đau bệnh mà cứ để tâm vào đó hoài, suy nghĩ lo lắng, sợ hãi thì bệnh sẽ nặng thêm, còn khéo là phải quán chiếu tính chất bệnh tật của sắc uẩn này, tính chất tan rã, vô thường, biến hoại của nó, tính chất bất an, bại hoại, mình quán những cảm giác đau đớn này là vô thường, không có gì đáng để tâm trong đây, xả cảm giác ra để trú vào pháp.
"Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Phải chánh niệm tỉnh giác khi bệnh nặng, khi sắp sửa mạng chung. Lúc bình thường cũng phải chánh niệm tỉnh giác nhưng trong lúc sắp ra đi thì chánh niệm tỉnh giác còn cao độ hơn bình thường nữa, vì đây là lúc cận tử nghiệp sẽ quyết định sự ra đi của mình.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Nhìn lại cái thân, để ý oai nghi, hơi thở, hành động là những cái có thể cảm nhận, nhìn thấy được trên thân, ngoài thân, nhìn sâu vào bên trong là tứ đại, là ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn kết thúc của thân này, như vậy gọi là chánh niệm. Sống phải để ý các cảm giác, sống để ý thật kĩ vào nội tâm, sống để ý thật kĩ những pháp thiện và bất thiện trong tâm, sống một cách nhiệt tâm, nhiệt tình, siêng năng để nhiếp phục những tham muốn, lo lắng trong cuộc đời này, đó là chánh niệm. Chánh niệm là chỉ cần nhìn vào thân và tâm mình thôi, một người suốt ngày, suốt tuần, suốt năm và nhiều năm nhìn vào nội tâm để quán chiếu thì tất nhiên người này sẽ tu tập nhuần nhuyễn, thuần thục, tu mấy chục năm như vậy thì cuối cùng phải chứng nhập pháp, rồi người nàu sẽ điêu luyện, thuần thục trong công việc của họ, đó là ngài Anuruddha, ngài tu tập nhiều năm như vậy nên khi cái thân bệnh không hề ảnh hưởng chút nào cái tâm ngài, dù cho bệnh nặng nhưng tâm không bị ảnh hưởng chút nào, như vậy mới là bậc Thánh, tức là cảm thọ thân không làm cho tâm dao động. Mình cứ tu, cứ quán chiếu liên tục đến khi nào gặp bệnh thì tác ý "xả bỏ tấm thân bất tịnh này, tan biến đi", tâm sẽ thoát ra thân một cách nhẹ nhàng, một là hết bệnh, hai là chết, cái nào cũng tốt. Sự tu này đặc biệt ở chỗ không cầu hết bệnh, không cầu trường sanh bất tử mà tu để cầu cái tâm được bình an, bệnh nặng thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ thành hết bệnh nhưng khi nghiệp đã mãn mà mình tu cái này thì ra đi trong sự tốt lành, cát tường, tỉnh giác chánh niệm, trong sự thiện xảo bốn niệm xứ này sẽ lên thiên giới trở thành bậc Thánh đệ tử thiên, như vậy sống cũng tốt mà chết cũng an lành. Quan trọng là bên trong cái bệnh, bên trong cái chết đó là một nội tâm tỉnh giác chánh niệm, một nội tâm rực sáng bốn sự thật Tứ Thánh Đế, một nội tâm an trú khéo léo trong Tứ Niệm Xứ, đó là chỗ đặc biệt của người tu và bậc Đa văn Thánh đệ tử, phàm phu không thể biết được điều này mà chỉ thấy được cái thân nằm bệnh khổ quá, cho nên dù ngài Anuruddha đang bệnh nặng nhưng chẳng hề hấn gì mà ngược lại còn hướng dẫn cho các vị tôn giả khác cách tu chứ không phải tu là không có bệnh gì hết, nghĩa là tu rồi sẽ ít có nhân quả về nghiệp sát sanh nên ít bệnh nhưng nhiều khi ít bệnh rồi dục vọng lại mạnh, có rất nhiều vấn đề xảy ra vì thế tu mà cứ nhìn ra bên ngoài là sai lầm.
"Và như thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Tỉnh giác là khi đi tới đi lui đều rõ biết việc mình đang làm, rõ biết cử chỉ, hành động của mình, nhất cử nhất động đều tỉnh táo. Một người tu như vậy thì không thể buông lung phóng dật, không thể có những vi hành cẩu thả được, đây là pháp tu thường xuyên của người xuất gia, nếu không làm được là xấu hổ, nhục nhã, các bậc Thánh Tăng luôn thực hành Tứ Niệm Xứ. Lúc nào cũng phải tác ý trong tâm nhắc nhở bản thân "đi là phải tỉnh giác", "nói chuyện phải tỉnh giác".
"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: 'Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?'. Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Do thân này là vô thường, là duyên sanh, là thứ được kết hợp để tạo tác ra thì làm sao cảm giác vui đó là thường trú được? Từ thân này mới có ra cảm giác vui nhưng thân lại là nơi rệu rã, tan nát, vô thường, bại hoại thì làm sao có ra được cái nào là thường còn, thường trú được? Bây giờ mình phải tu tập cho thuần thục thì đến khi bệnh mới sử dụng được, khi một người tu có sự tỉnh thức chánh niệm, không buông lung phóng dật, tu nhiệt tâm tinh cần mà có cảm giác vui khởi lên thì lập tức vị này nhìn cảm giác vui đó bằng trí tuệ, kẻ vô văn phàm phu khi có cảm giác vui sướng là tham đắm, khoan khái, thích thú, nhập cuộc chung với nó, thấy món ăn ngon là thích, thấy cảnh đẹp là chụp hình ngay, còn đối với người biết tu có tinh cần, nhiệt tâm, có chánh niệm tỉnh giác khi cảm giác vui sanh khởi lên thì vị đó biết cảm giác vui đó bằng trí tuệ như sau: Sở dĩ có cảm giác vui là từ nơi cái thân, cảm giác vui này lệ thuộc vào thân nhưng thân này là đồ bại hoại, là thứ tan rã, bệnh tật, biến hoại thì khi sanh ra cái vui đó lại không bại hoại được. Đó là ý nghĩa của đoạn kinh trên và đó là pháp hành, pháp quán. Giống như việc xây lâu đài trên bãi cát, nền móng là cát thì làm sao lâu đài đứng vững được, biết rằng chỉ một chút nữa sẽ sụp đổ, vùi lấp trong cát nên không yêu thích lâu đài này. "Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong", cho nên tâm người tu rất tế nhị, sâu sắc, bén nhạy, cảm thọ này sẽ tiêu tan, thân này sẽ tan rã, chỉ với một cảm thọ, cảm xúc thôi mà phải dùng biết bao mũi tên, vũ khí để đánh đuổi, cảm thọ là thứ không có hình tướng nhưng lại nhỏ nhiệm, vi tế, nhanh lẹ nên chúng sanh không thể nhìn được nó, vừa sanh khởi lên là lập tức cuốn mình trôi theo nó cho nên chúng ta phải quán vô thường, quán tiêu vong, quán ly tham, quán đoạn diệt, nó sẽ đi đến đoạn diệt nên xả bỏ nó, không ưa thích, đam mê nó nữa, cảm thọ đó là mây khói, là bong bóng, là chùm bọt nước, không đáng để tham. Đầu tiên cần quán cảm giác vui sướng đó là lạc thọ, tiếp theo quán lạc thọ xuất phát từ thân, kế đó quán vô thường đối với thân và cảm giác, thứ tư là quán tiêu vong, thứ năm là quán ly tham, thứ sáu là quán đoạn diệt, thứ bảy là quán từ bỏ, chỉ với một cảm giác vui thôi mà dùng đến bảy cách quán để trừ diệt, phải tu như vậy mới thành Thánh quả, mới nhiếp phục được cảm giác vui sướng đó, còn mình gặp cảm giác sanh khởi lên là dính mắc với nó cho nên mình không thể xả ly khỏi nó. Chúng ta phải quán chiếu cảm thọ này từ thân có ra nhưng thân này lại vô thường, như vậy cảm thọ vui này có từ cái vô thường thì làm sao nó thường được, sau đó quay lại quán cảm giác vui này, tiến thêm một bước nữa là quán cả thân lẫn cảm giác vui đều vô thường, sau đó quán tiêu vong, thân và cảm giác này rồi cũng tiêu vong tan nát, là thứ không đáng để tham nên quán ly tham, nó sẽ trở thành cát bụi, hư không nên quán đoạn diệt, chấm dứt, sau cùng là từ bỏ cảm giác vui sướng đó và từ bỏ cái thân này nên quán từ bỏ. Trú, quán nghĩa là an trú trong pháp quán đó một thời gian dài, quán vô thường đối với thân và lạc thọ, quán tiêu vong đối thân và lạc thọ, quán không còn tham muốn đối thân và lạc thọ, quán thân và lạc thọ sẽ đoạn diệt, quán từ bỏ cảm giác vui, từ bỏ chấp thủ vào thân, do an trú như vậy nên tham đi theo miên man trong cảm giác và thân được đoạn diệt, chấm dứt mọi ham thích đối với cảm giác vui sướng đó và cái tham thích đối với thân này. Đối với cảm thọ khổ và cảm thọ không vui không khổ cũng giống như vậy, rời xa tham thích đối với thân và đối với các cảm thọ. Đây là bí kíp chánh pháp nhưng vấn đề là đã có bí kíp trong tay mà có thành công hay không thì còn cả một chặng đường dài phía trước chứ không phải ai có bí kíp cũng trở thành Thánh, người có bí kíp có nỗ lực thực tập, có nhiệt tâm, tinh cần, tha thiết, quyết liệt không, có để hết tâm vào tu học không. Phải để tâm vào thân và cảm thọ để quán chiếu liên tục, đây là quán thân, quán thọ nhưng mình phải hiểu là có cả quán tâm, quán pháp nữa, đó là Tứ Niệm Xứ. Có cảm giác đau khổ mới dễ chứng nhập còn cảm giác vui nhiều sẽ khó chứng vì bình sinh chúng sanh thích cảm giác vui sướng, cho nên khổ mới dễ chứng nhập Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế.
"Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Cũng giống như lạc thọ nhưng đây là khổ thọ nên sân đi theo, khi trú quán như vậy thì diệt tận luôn sân tùy miên. Đối với cảm giác không khổ không vui khởi lên cũng giống vậy
"Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Người đó không bị trói buộc đối với ba loại cảm thọ. Còn với chúng ta cảm giác nào sanh khởi lên cũng bị trói buộc, điều đau buồn nhất là khi có cảm giác không vui không khổ khởi lên cũng bị trói buộc mà mình không hề hay biết cho nên mới có vô minh tùy miên đi theo trong bất khổ bất lạc thọ, hằng ngày cứ sống lơ lửng, qua ngày đoạn tháng chứ không biết đó là cảm giác không khổ không vui, không biết vô minh đang xâm chiếm, đang bao phủ. Tu học theo đường lối Nikāya ngày nào cũng nói đến phiền não, lậu hoặc để mình sợ, từ đó cố gắng tu học thì mới được an ổn, còn tu mà muốn nghe những gì êm tai, thuận ý sẽ tăng thêm lạc thọ để tham đắm trong đó, còn cái này tu là xả bỏ cái thọ để thoát ra khỏi nó. Trong thời kì này chúng ta cần cố gắng thực hành Tứ Niệm Xứ, nhất là quán thân và cảm giác để có bình an thật sự trong lúc nguy nan này.
./.
LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 6
BẰNG TỨ NIỆM XỨ
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư Tăng Ni và quý Phật tử, Minh Thành được hay tin hiện tại có Phật tử bị nhiễm dịch bệnh phải vào bệnh viện điều trị và có nhiều Phật tử khác đang ở trong tâm dịch, các chư Tăng không thể đến thăm viếng, Minh Thành cùng chư Tăng Ni tại Linh Quy từ xa hướng tâm bằng công đức chánh pháp cầu mong cho quý vị chánh niệm tỉnh giác, lắng nghe thật kĩ những lời Phật dạy trong chủ đề "Làm an tâm người bệnh", trong đây sẽ có những bài kinh đi thăm bệnh. Qua những bài kinh đó xem như Minh Thành cùng chư Tăng Ni đến thăm quý vị, trong lời pháp đó sẽ giúp cho quý vị tâm an, trí tỏ, chánh niệm tỉnh giác để thực tập pháp. Tuy rằng quý vị đang bệnh, đang trong những hoàn cảnh khó khăn nhưng quý vị hãy cố gắng theo dõi trực tiếp hoặc gián tiếp những bài kinh trong chủ đề này, đây là thời điểm cần học pháp và hành pháp nhiều hơn bất cứ lúc nào để có sự vững chắc, vững mạnh trong nội tâm. Pháp có công năng rất đặc biệt, chuyển đổi bệnh nặng thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ thành hết bệnh, nếu gặp trường hợp xấu nhất, nghiệp đã mãn thì mình trú trong pháp này sẽ ra đi an lành, vào những cảnh giới tốt đẹp để tiếp tục tu tập, vì thế mọi người cần nhớ trong biển khổ sanh tử này thì pháp là chiếc phao cứu cánh của mình, phải nắm cho chắc, cầm cho chặt, an trú trong pháp dù ở nhà hoặc trong bệnh viện.
Minh Thành xin nhắc lại trong đường lối tu học, chúng ta phải lấy kinh để giải thích kinh chứ không lấy luận giải thích kinh. Chúng ta sẽ dùng những bài kinh tương ứng để giải thích bài kinh chúng ta đang học vì lấy lời Phật để giải thích lời Phật sẽ chắc chắn, còn lời người khác sẽ không bảo đảm. Sau này chư Tăng Ni, các Phật tử tu học, nghiên cứu, hành trì, truyền bá phải lấy lời trong kinh để giải thích kinh chứ đừng lấy lời người khác để giải thích kinh.
"Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Không tác ý đến tất cả tướng nghĩa là nội tâm an tịnh, ví dụ bị nhức răng mà cứ để ý vào chỗ nhức, suy nghĩ về chỗ nhức cộng với thọ; tưởng; hành của mình thì chỗ nhức bị làm cho to lên, phóng đại ra, tưởng tượng ra nhiều thứ nên nhức càng nhiều hơn, như vậy là mình tác ý đến cái tướng nhức răng. Mình bị vấp té nên xây xát, chảy máu chân, vào ngồi thiền mà cứ để ý cảm thọ của cái chân, suy nghĩ về cái đau, những hình bóng cứ chập chờn hiện trong tâm là mình đang tác ý về tướng đau của chân. Mình đang bị bệnh phổi mà cứ suy nghĩ về hình bóng của cái phổi ngay lồng ngực, rồi lo lắng, sợ hãi, những cảm giác, nghĩ tưởng đó phóng đại ra để làm bất an, vẽ ra nhiều cái tưởng không biết có nặng lắm không, có chữa được không, có ảnh hưởng gì sức khỏe sau này không… đó là mình đang tác ý về tướng bệnh của phổi. Khi tác ý về cái nào thì cái pháp đó sẽ sanh khởi, nếu sanh khởi theo chiều bất an, lo lắng thì tâm đau khổ, rối loạn, còn Đức Phật nói không tác ý đến tất cả tướng nghĩa là lúc đó không có hình bóng, suy nghĩ nào sanh khởi, an trú cảm giác toàn thân, không tác ý đến cái tướng đau bệnh, toàn thân an tịnh, lắng dịu. Có khi Minh Thành bị đau họng, cảm thấy mệt nên hơi thở bị yếu, muốn bệnh nhưng lại đến giờ giảng thì tác ý "chết trên pháp tòa cũng thấy hạnh phúc", sau đó lên giảng là hết bệnh, khi không tác ý vào cái bệnh đó mà trú vào pháp thì trong cái pháp đó có sự hỷ lạc vì pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp vị thắng mọi vị.
"Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, dứt mọi khổ!"
(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)
Cái an lạc của pháp có công năng điều trị bệnh của thân, lúc đó tâm trú vào pháp, hỷ lạc trong pháp thì chính hỷ lạc của tâm làm thân an tịnh, lắng dịu, giải tỏa các độc tố tiêu cực, chứng bệnh được sự an lạc, an tịnh, khinh an, phấn khởi điều trị, sau khi giảng xong là Minh Thành hết bệnh và rất nhiều lần như vậy xảy ra, hoặc trong khi đang mệt nhưng đi ngồi thiền an tịnh, lắng dịu, trú vào pháp thì đến khi xả thiền ra là nhẹ nhàng. Ví dụ một người đang cười nói thoải mái bỗng nhiên nghe cuộc gọi báo "má mất rồi", vậy là rớt luôn điện thoại, sụp xuống, tay chân rệu rã, qua đây thấy được tâm mới là chủ thật sự, tâm mới là nguồn điện còn thân chỉ là cánh quạt, là bóng đèn thôi, nguồn điện có vấn đề thì cái đèn chớp tắt, cánh quạt không quay, cũng vậy, tâm là chủ của thân, mình tu bằng cái tâm mà cái tâm an thì thân sẽ ổn. Chính vì vậy trong sự tu điều trị thân phải song hành với điều tâm nhưng trọng tâm cốt lõi vẫn là tâm, chính là thọ; tưởng; hành; thức. Ngày xưa mình nói tâm là nói chung chung, lúc thì nói tâm là cái nhận biết, hoặc tâm là suy nghĩ, tâm là cảm giác, nếu như vậy thì chỉ thấy một góc độ của tâm còn giờ được học ngũ uẩn thì tâm là tập hợp của thọ; tưởng; hành; thức, còn thân là sắc, trong mỗi uẩn đó hoạt động ra sao đều thấy biết và có khả năng điều tiết, chế phục, lèo lái, nếu muốn hỷ thì mình tác ý cho hỷ, muốn cho từ là tác ý nước mắt tràn xuống là từ, đang bực bội, sân hận là tác ý để tâm hiền hòa sẽ an tịnh, lắng dịu, đó là điều tuyệt vời của việc tu tập Thánh trí ngũ uẩn, có rất nhiều lợi lạc, lợi ích, thành tựu thiện pháp rất nhiều. Thứ nhất biết được cấu tạo thân tâm là năm uẩn, thứ hai biết nhân duyên sanh diệt của năm uẩn, tại sao lại sanh khởi, làm sao chấm dứt, vận hành như thế nào, bản chất ra sao mình điều biết, thứ ba chẳng những biết nó như vậy mà mình còn biết được nó đang vận hành như thế nào, thọ dâng lên là biết đó là thọ dục, thọ sân hay cảm thọ mát dịu của hỷ lạc, ly dục, thứ tư chẳng những biết nó vận hành, hiện hữu, hoạt động mà còn có khả năng nhiếp phục và chế ngự, lèo lái theo hướng mình muốn. Mỗi lần tác ý, thiền quán là mình đang lèo lái, dẫn dắt chiều hướng của thọ; tưởng; hành; thức.
Diệt trừ một số cảm thọ là không cho thọ nhận, chẳng những thấy biết cảm thọ đang hiện hữu, đang vận hành, chẳng những nhiếp phục, chế ngự, dẫn dắt, lèo lái mà mình còn có khả năng diệt trừ cảm thọ, đây là chỗ sâu sắc. Ví dụ đang ngồi thiền hoặc đang đọc kinh mà điện thoại vang lên, vậy là thọ; tưởng; hành bắt đầu hoạt động, "không biết ai gọi vậy", "không biết có chuyện gì không", hình bóng điện thoại hiện lên, có cảm giác thúc giục nghe cuộc gọi, có suy nghĩ hiện lên, nhưng cần kiên quyết đó là giờ ngồi thiền không nghe máy, không nói chuyện, trở về an trú cảm giác toàn thân, quán chiếu về đề mục không đi theo thọ; tưởng; hành dẫn dắt. Khi tai nghe tiếng sẽ sanh ra cảm thọ, sau đó sẽ có những suy nghĩ, hình bóng hiện lên nhưng mình không thọ cảm giác này, cắt đứt nó và trở về đề mục tu tập. Các cô, các chú lớn tuổi mở tivi xem tin tức hằng ngày thấy số người nhiễm, người chết nhiều quá đâm ra lo lắng, sợ hãi nên từ giờ cắt ngang, không thọ nhận nữa, không đọc, không nghe, chỉ thực hành pháp thôi, khi mình không tiếp xúc nữa sẽ không sanh ra cảm giác, không có thọ sẽ không có tưởng, hành thì sẽ bớt lo lắng, bất an, chỉ cần lo làm sao để trú được trong pháp là an ổn, không xúc, không thọ nữa. Ví dụ khi nhìn thấy một người nào đó làm tâm bị dao động thì không nhìn nữa, quay qua nhìn cái khác, tâm rộng mở ra khắp hư không, hoặc nhìn người đó làm mình bực bội, khó chịu thì bây giờ không nghe, không nhìn nữa, quay ra nhìn bầu trời rộng lớn, trải tâm rộng ra.
"Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm đầy niềm thương cảm
Tâm đầy nỗi xót thương
Tâm đầy lòng thương tưởng
Tâm đầy tràn tình thương"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Đọc tới đâu là tâm thương mở ra rộng lớn tới đó, trải rộng khắp mười phương, như vậy là mình không thọ cái giận đó.
"Một hôm, đức Phật đang đi bộ ngang qua một ngôi làng. Có một người đàn ông trẻ tuổi thô lỗ nhìn thấy Ngài tỏ vẻ giận dữ và sỉ nhục. Ông la lên: 'Ông biết cái gì mà dạy người khác. Ông cũng ngu dốt như mọi người chứ có gì khác đâu. Chẳng qua ông chỉ khéo giả dối lừa gạt người ta mà thôi!'.
Đức Phật vẫn thản nhiên trước những lời nhục mạ của gã đàn ông này. Ngài từ tốn hỏi lại ông ta: 'Nếu ông đem tặng một món quà cho người khác, người ta không nhận thì món quà đó thuộc về ai?'.
Người đàn ông rất ngạc nhiên khi phải trả lời một câu hỏi kỳ lạ. Ông nói: 'Tất nhiên nó sẽ thuộc về tôi. Vì đó là món quà của tôi!'.
Đức Phật mỉm cười và nói: 'Rất đúng đấy, ông bạn ạ! Nó cũng giống như việc giận dữ của ông khi nãy. Nếu ông sân hận nhục mạ tôi, tôi không nhận thì những lời nhục mạ ấy thuộc về ông. Khi ấy, chính ông là người bất hạnh chứ không phải tôi. Tất cả những hành động xấu mà ông gây ra sẽ trở lại làm tổn hại lấy bản thân mình.
Nếu ông muốn chấm dứt những bất hạnh nơi thân, ông phải từ bỏ sự sân hận và trải rộng tình thương đối với mọi người. Khi ông thù ghét người khác, chính bản thân ông trở thành bất hạnh. Nhưng khi ông thương yêu mọi người thì hạnh phúc sẽ đến cả đôi bên'.
Người đàn ông trẻ tuổi lắng nghe cặn kẽ những lời dạy quý báu của đức Phật, ông nói: 'Bây giờ con đã hiểu. Xin Ngài hãy dạy con cách thức thực hiện tình thương. Con xin được trở thành đệ tử của Ngài!'.
Đức Phật trả lời: 'Rất tốt! Ta sẽ chỉ dạy cho bất cứ ai thật sự muốn nghe!'". (Lược truyện Đức Phật Thích-ca)
Ngay chỗ không nhận quà chính là không thọ, thọ nghĩa là thọ nhận, lúc đó tâm Đức Phật không thọ nhận lời mắng chửi đó, qua đây chúng ta thấy rằng một người tu làm chủ được thân tâm chính họ sẽ rất tuyệt diệu. Người tu đã làm chủ thân tâm, làm chủ cảm thọ nên cái nào người ta muốn nhận sẽ nhận, cái nào không muốn nhận sẽ không nhận, còn người không biết tu tâm cái nào cũng nhận, những lời nói bóng, nói gió ở đâu đâu cũng lắng tai nghe, để buồn để giận, chỉ một lời nói nặng nói hơn mà ôm ấp mãi trong lòng vì vậy mà khổ đau triền miên, giống như cánh cửa không có then cài, ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra. Người có tu tập sẽ xem xét, kiểm tra cái đó có đáng thọ nhận không, còn không cần thiết thì không nhận, dù có dùng cách gì đi nữa cũng không nhận. Thế Tôn nói vị Bà-la-môn đó cho quà mà ngài không nhận thì quà đó phải ở lại với chủ nhân của nó thôi, ông ấy mắng chửi nhưng ngài không thọ nhận những lời nói đó thì những lời đó sẽ thuộc về vị Bà-la-môn đó, qua đây chúng ta thấy được chánh định khủng khiếp và sự nhiếp phục cảm thọ vô cùng tuyệt diệu của Thế Tôn, ngài tiếp xúc nhưng không thọ những lời mắng chửi đó, ngài đóng cửa tâm lại, mình nói như vậy để biết mà tu chứ thật ra lên đến cảnh giới của Đức Phật không còn đóng mở gì nữa vì đâu còn tôi và của tôi gì nữa. Nếu không biết quản lý căn nhà nội tâm, không biết giữ gìn, bảo hộ thân tâm sẽ khổ sở vô cùng, cái gì cũng bị dính mắc cho nên phải tập kiểm tra, soi xét, không phải cái nào cũng thọ. Có những người đến với mình nói những điều ác bất thiện pháp, nói thị phi, nói lời đâm thọc, lời dối trá, phù phiếm thì mình không thọ những lời nói đó, đóng cửa tâm, đóng cửa lỗ tai lại, còn nếu mở toang ra tham sân sẽ theo đó đi vào gây dao động thân tâm. Mình dùng điện thoại để nghe pháp, xem giảng kinh mà bất chợt gặp những hình ảnh quảng cáo tươi mát, ngay đó mà mình thọ là không theo được bài giảng, làm thọ; tưởng; hành sanh khởi khi thấy hình ảnh đó, vì thế cần cắt đứt lập tức. Người thông minh, khéo léo sẽ biết món nào nên ăn, món nào không nên ăn, có bệnh cần kiêng cữ chứ không phải thấy ngon là cứ ăn, nếu bệnh gan mà ăn tương chao, mì gói nhiều thì bệnh càng nặng thêm, nếu mình biết bản thân nặng về dục, về sân thì những cái gì khi tiếp xúc làm sanh khởi dục, sân cần ngăn chặn lại. Bản thân muốn nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận nhưng cứ cho ăn những thứ nuôi dưỡng lòng dục, lòng sân thì làm sao hết dục, hết sân được? Đó gọi là chánh kiến trong sự tu, trong chánh kiến có rất nhiều góc độ, khía cạnh chứ không đơn giản thấy được ngũ uẩn là có chánh kiến, trong việc thấy được ngũ uẩn là có biết bao góc độ, khía cạnh sâu sắc, tùy vào từng trường hợp, tùy sự việc, tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà có nhiều cách nhìn khác nhau. Đức Phật nói "Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ", nghĩa là có đau nhức, mỏi mệt nhưng không thọ nhận cảm giác đau đớn, khó chịu đó, không an trú, đi theo cảm giác đó mà cần diệt trừ cảm thọ đó. "Chứng và an trú vô tướng tâm định", ngài trú vào cái định vô tướng, nghĩa là cái định trống không, trống rỗng không có hình tướng. Vô tướng tâm định là cái pháp thiền định với cái tâm không có hình tướng, không có một sắc tướng nào trong nội tâm, chứng và ở luôn trong đó, không có gì là tôi và của tôi trong đó, không có tim, gan, phèo, phổi, tay chân, mặt mũi nào trong đó mà chỉ là một sự trống không, hoàn toàn an trú trong tâm trống rỗng rộng lớn, an tịnh trong đó, như vậy thân của Như Lai được thoải mái. Những điều này rất thâm sâu, phải có sự tu tập lâu dài, những cái định này đã được Thế Tôn chứng đắc nhuần nhuyễn, thuần thục như việc ăn cơm, uống trà, ngài muốn trú vào tâm nào là ngài trú vào đó không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức. Những kẻ vô văn phàm phu không biết tu hoặc tu còn yếu kém thì chấp ngã còn to tướng, sắc thủ uẩn còn nắm chặt trong nội tâm, không ưa thích tu tập những cái pháp của bậc thượng nhân, còn ngài tu tập những pháp thượng nhân vượt ra khỏi tấm thân này. Không vô biên xứ là trống không không có bờ mé, trú vào đó là không có ai ở đó, không có mắt; tai; mũi; lưỡi gì cả, tâm an định trong đó gọi là không vô biên xứ định, lúc nào mình đau bụng, nhức răng thì hãy thực tập như vậy, đừng chú ý vào cái đau nhức nơi cái bụng và răng miệng, thoát ra khỏi cảm giác đau nhức, khó chịu đó rồi trú vào vô tướng tâm định. Hôm nào đi vấp té hoặc đụng cửa làm trầy xước tấm thân này thì hãy trú vào không thân, vô tướng tâm định, bình thường mình hay bị kẹt trong thân tướng này không thoát ra khỏi nó được vì đã làm hang, làm tổ rồi nên có rất ít ý niệm thoát ra nhưng không thoát ra được sẽ bị hệ lụy, ràng buộc với nó, đau một chút, nhức một chút là nằm đó ôm cái rau rên rỉ, than thở, còn Đức Thế Tôn đã thuần thuận tu tập các định trong thượng nhân pháp nên lúc đó ngài được thoải mái. Có rất nhiều vị Tỳ-kheo Thánh Tăng bị bệnh nhưng trú trong pháp sẽ hết bệnh.
"Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, tại rừng Andha, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Rồi nhiều Tỳ-kheo đi đến Tôn giả Anuruddha và nói với Tôn giả Anuruddha: -- Tôn giả Anuruddha an trú với sự an trú gì, khiến cho khổ thọ về thân khởi lên, lại không có ảnh hưởng gì đến tâm?
-- Thưa chư Hiền, do tôi trú với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, nên các khổ thọ về thân khởi lên không có ảnh hưởng gì đến tâm. Thế nào là bốn?
Ở đây, thưa chư Hiền, tôi trú, quán thân trên thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa chư Hiền, do tôi trú với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, nên các khổ thọ về thân khởi lên không có ảnh hưởng đến tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương VIII. Tương Ưng Anuruddha, I. Phẩm Ðộc Cư, X. Bị Trọng Bệnh, hay Bệnh)
Ngài Anuruddha đang bị bệnh nặng, các vị tôn giả khác đến hỏi an trú như thế nào để cái thân đau đớn nhưng cái tâm không bị ảnh hưởng? Làm thế nào mà thân bệnh đau đớn nhưng không ảnh hưởng gì đến tâm? Ngài Anuruddha trả lời do ngài khéo an trú tâm trong Bốn Niệm Xứ nên cái thân có bệnh nặng vẫn không ảnh hưởng gì đến tâm. Ở đây có hai điều cần chú ý, thứ nhất nếu là mình bị bệnh nặng sẽ cảm thấy khó chịu cả thân tâm, rên rỉ, than thở, để cảm thọ thân xâm chiếm cảm thọ tâm, thứ hai các tôn giả khác đến thăm bệnh nhưng không hỏi thăm như mình thường hỏi là bệnh thế nào rồi, cảm thấy ra sao, cố gắng giữ sức khỏe, còn ở đây các tôn giả đến thăm bệnh nhưng lại hỏi đạo trong khi ngài Anuruddha đang bệnh nặng, điều này cho thấy sức làm chủ của ngài Anuruddha rất khủng khiếp, các vị nào đang bệnh cần học những bài kinh này thật kĩ. Các bậc Thánh Tăng thời Đức Phật người nào cũng tu Tứ Niệm Xứ thuần thục, đó là pháp tu hằng ngày của các ngài giống như mình bây giờ tụng Chú Đại Bi, Chú Vãng Sanh, tất cả các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật đều tu tập Tứ Niệm Xứ vậy mà bây giờ người tu được hỏi Tứ Niệm Xứ chưa chắc trả lời được mà đó là chỉ hỏi trên kiến thức, ngoài ra còn pháp hành nữa. Thứ hai là lúc nào các ngài cũng an trú trên Tứ Niệm Xứ, an trú là thường xuyên ở trong đó hằng ngày, hằng giờ. Thứ ba là chẳng những thường xuyên an trú trong đó rồi mà còn khéo léo, thiện xảo, không phải ở yên trong đó mà còn phải có sự khéo léo, khi thực hành Tứ Niệm Xứ mà không khéo léo thì tuệ không sanh và các lậu hoặc không được nhanh chóng diệt trừ. Khéo là phải biết lúc nào phải quán bất tịnh, biết lúc nào cần an trú trong hơi thở, biết lúc nào cần quán chiếu cảm thọ, biết lúc nào cần quán các pháp, đó là sự khéo, có rất nhiều hoàn cảnh, trường hợp cần sự sắc bén, linh hoạt, uyển chuyển trong sự thực hành Tứ Niệm Xứ, ví dụ tham ái nặng thì phải phát huy quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi, tu tập đến khi nào nhiếp phục được tham ái thì chuyển qua tu tập đề mục khác, nhiều trường hợp bệnh này đang nặng mà không chịu tu tập phá bỏ, trừ diệt, cứ thích tu những cái khác như tâm từ hoặc lạy sám hối, mình phải biết lúc đó cần tu tập pháp cao hay pháp cạn, cho nên phải biết đúng lúc, đúng thời. Tự mình phải nhìn vào nội tâm mới biết mình đang bị bệnh gì, bệnh gì nặng nhất thì tập trung vào pháp Tứ Niệm Xứ để trị bệnh đó trước, cái đó được gọi là khéo, phải trị cho đến khi nào hết bệnh hoặc giảm nhẹ bệnh rồi mới qua tu cái khác chứ không phải tu theo ý thích, thích cái nào là tu cái đó, những cái kia không thích là khỏi tu, đó là tu theo dục, tu theo ái, cũng giống như bác sĩ cho tám loại thuốc trị bệnh mà mình chọn vài loại trong đó uống thôi vì mình thích, loại nào viên nhỏ, ngọt, dễ chịu thì thích nên uống, còn lại đắng không uống, như vậy có hết bệnh không? Bây giờ mình tu học dễ bị vướng vào cái này, tu theo ý thích, nói theo danh từ trong kinh là tu theo dục ái chứ không phải tu để nhiếp phục, diệt tận lậu hoặc, cấu uế. Mình biết bản thân hay sân thì phải tập trung vào quán cảm thọ, trải tâm từ, tập trung quán nguy hại của cơn giận, mình biết bản thân hay buông lung phóng dật thì phải tu tập phòng hộ, hộ trì, bảo hộ thân tâm để trị cho được thì gọi là khéo léo trong tu tập, khéo thấy các pháp, thấy các thọ, thấy được nội tâm. Đó là mình diễn giải chữ khéo như vậy để mình tu học, còn chữ khéo của ngài Anuruddha cao cấp hơn nhiều, nếu bị đau bệnh mà cứ để tâm vào đó hoài, suy nghĩ lo lắng, sợ hãi thì bệnh sẽ nặng thêm, còn khéo là phải quán chiếu tính chất bệnh tật của sắc uẩn này, tính chất tan rã, vô thường, biến hoại của nó, tính chất bất an, bại hoại, mình quán những cảm giác đau đớn này là vô thường, không có gì đáng để tâm trong đây, xả cảm giác ra để trú vào pháp.
"Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Phải chánh niệm tỉnh giác khi bệnh nặng, khi sắp sửa mạng chung. Lúc bình thường cũng phải chánh niệm tỉnh giác nhưng trong lúc sắp ra đi thì chánh niệm tỉnh giác còn cao độ hơn bình thường nữa, vì đây là lúc cận tử nghiệp sẽ quyết định sự ra đi của mình.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Nhìn lại cái thân, để ý oai nghi, hơi thở, hành động là những cái có thể cảm nhận, nhìn thấy được trên thân, ngoài thân, nhìn sâu vào bên trong là tứ đại, là ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn kết thúc của thân này, như vậy gọi là chánh niệm. Sống phải để ý các cảm giác, sống để ý thật kĩ vào nội tâm, sống để ý thật kĩ những pháp thiện và bất thiện trong tâm, sống một cách nhiệt tâm, nhiệt tình, siêng năng để nhiếp phục những tham muốn, lo lắng trong cuộc đời này, đó là chánh niệm. Chánh niệm là chỉ cần nhìn vào thân và tâm mình thôi, một người suốt ngày, suốt tuần, suốt năm và nhiều năm nhìn vào nội tâm để quán chiếu thì tất nhiên người này sẽ tu tập nhuần nhuyễn, thuần thục, tu mấy chục năm như vậy thì cuối cùng phải chứng nhập pháp, rồi người nàu sẽ điêu luyện, thuần thục trong công việc của họ, đó là ngài Anuruddha, ngài tu tập nhiều năm như vậy nên khi cái thân bệnh không hề ảnh hưởng chút nào cái tâm ngài, dù cho bệnh nặng nhưng tâm không bị ảnh hưởng chút nào, như vậy mới là bậc Thánh, tức là cảm thọ thân không làm cho tâm dao động. Mình cứ tu, cứ quán chiếu liên tục đến khi nào gặp bệnh thì tác ý "xả bỏ tấm thân bất tịnh này, tan biến đi", tâm sẽ thoát ra thân một cách nhẹ nhàng, một là hết bệnh, hai là chết, cái nào cũng tốt. Sự tu này đặc biệt ở chỗ không cầu hết bệnh, không cầu trường sanh bất tử mà tu để cầu cái tâm được bình an, bệnh nặng thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ thành hết bệnh nhưng khi nghiệp đã mãn mà mình tu cái này thì ra đi trong sự tốt lành, cát tường, tỉnh giác chánh niệm, trong sự thiện xảo bốn niệm xứ này sẽ lên thiên giới trở thành bậc Thánh đệ tử thiên, như vậy sống cũng tốt mà chết cũng an lành. Quan trọng là bên trong cái bệnh, bên trong cái chết đó là một nội tâm tỉnh giác chánh niệm, một nội tâm rực sáng bốn sự thật Tứ Thánh Đế, một nội tâm an trú khéo léo trong Tứ Niệm Xứ, đó là chỗ đặc biệt của người tu và bậc Đa văn Thánh đệ tử, phàm phu không thể biết được điều này mà chỉ thấy được cái thân nằm bệnh khổ quá, cho nên dù ngài Anuruddha đang bệnh nặng nhưng chẳng hề hấn gì mà ngược lại còn hướng dẫn cho các vị tôn giả khác cách tu chứ không phải tu là không có bệnh gì hết, nghĩa là tu rồi sẽ ít có nhân quả về nghiệp sát sanh nên ít bệnh nhưng nhiều khi ít bệnh rồi dục vọng lại mạnh, có rất nhiều vấn đề xảy ra vì thế tu mà cứ nhìn ra bên ngoài là sai lầm.
"Và như thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Tỉnh giác là khi đi tới đi lui đều rõ biết việc mình đang làm, rõ biết cử chỉ, hành động của mình, nhất cử nhất động đều tỉnh táo. Một người tu như vậy thì không thể buông lung phóng dật, không thể có những vi hành cẩu thả được, đây là pháp tu thường xuyên của người xuất gia, nếu không làm được là xấu hổ, nhục nhã, các bậc Thánh Tăng luôn thực hành Tứ Niệm Xứ. Lúc nào cũng phải tác ý trong tâm nhắc nhở bản thân "đi là phải tỉnh giác", "nói chuyện phải tỉnh giác".
"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: 'Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?'. Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Do thân này là vô thường, là duyên sanh, là thứ được kết hợp để tạo tác ra thì làm sao cảm giác vui đó là thường trú được? Từ thân này mới có ra cảm giác vui nhưng thân lại là nơi rệu rã, tan nát, vô thường, bại hoại thì làm sao có ra được cái nào là thường còn, thường trú được? Bây giờ mình phải tu tập cho thuần thục thì đến khi bệnh mới sử dụng được, khi một người tu có sự tỉnh thức chánh niệm, không buông lung phóng dật, tu nhiệt tâm tinh cần mà có cảm giác vui khởi lên thì lập tức vị này nhìn cảm giác vui đó bằng trí tuệ, kẻ vô văn phàm phu khi có cảm giác vui sướng là tham đắm, khoan khái, thích thú, nhập cuộc chung với nó, thấy món ăn ngon là thích, thấy cảnh đẹp là chụp hình ngay, còn đối với người biết tu có tinh cần, nhiệt tâm, có chánh niệm tỉnh giác khi cảm giác vui sanh khởi lên thì vị đó biết cảm giác vui đó bằng trí tuệ như sau: Sở dĩ có cảm giác vui là từ nơi cái thân, cảm giác vui này lệ thuộc vào thân nhưng thân này là đồ bại hoại, là thứ tan rã, bệnh tật, biến hoại thì khi sanh ra cái vui đó lại không bại hoại được. Đó là ý nghĩa của đoạn kinh trên và đó là pháp hành, pháp quán. Giống như việc xây lâu đài trên bãi cát, nền móng là cát thì làm sao lâu đài đứng vững được, biết rằng chỉ một chút nữa sẽ sụp đổ, vùi lấp trong cát nên không yêu thích lâu đài này. "Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong", cho nên tâm người tu rất tế nhị, sâu sắc, bén nhạy, cảm thọ này sẽ tiêu tan, thân này sẽ tan rã, chỉ với một cảm thọ, cảm xúc thôi mà phải dùng biết bao mũi tên, vũ khí để đánh đuổi, cảm thọ là thứ không có hình tướng nhưng lại nhỏ nhiệm, vi tế, nhanh lẹ nên chúng sanh không thể nhìn được nó, vừa sanh khởi lên là lập tức cuốn mình trôi theo nó cho nên chúng ta phải quán vô thường, quán tiêu vong, quán ly tham, quán đoạn diệt, nó sẽ đi đến đoạn diệt nên xả bỏ nó, không ưa thích, đam mê nó nữa, cảm thọ đó là mây khói, là bong bóng, là chùm bọt nước, không đáng để tham. Đầu tiên cần quán cảm giác vui sướng đó là lạc thọ, tiếp theo quán lạc thọ xuất phát từ thân, kế đó quán vô thường đối với thân và cảm giác, thứ tư là quán tiêu vong, thứ năm là quán ly tham, thứ sáu là quán đoạn diệt, thứ bảy là quán từ bỏ, chỉ với một cảm giác vui thôi mà dùng đến bảy cách quán để trừ diệt, phải tu như vậy mới thành Thánh quả, mới nhiếp phục được cảm giác vui sướng đó, còn mình gặp cảm giác sanh khởi lên là dính mắc với nó cho nên mình không thể xả ly khỏi nó. Chúng ta phải quán chiếu cảm thọ này từ thân có ra nhưng thân này lại vô thường, như vậy cảm thọ vui này có từ cái vô thường thì làm sao nó thường được, sau đó quay lại quán cảm giác vui này, tiến thêm một bước nữa là quán cả thân lẫn cảm giác vui đều vô thường, sau đó quán tiêu vong, thân và cảm giác này rồi cũng tiêu vong tan nát, là thứ không đáng để tham nên quán ly tham, nó sẽ trở thành cát bụi, hư không nên quán đoạn diệt, chấm dứt, sau cùng là từ bỏ cảm giác vui sướng đó và từ bỏ cái thân này nên quán từ bỏ. Trú, quán nghĩa là an trú trong pháp quán đó một thời gian dài, quán vô thường đối với thân và lạc thọ, quán tiêu vong đối thân và lạc thọ, quán không còn tham muốn đối thân và lạc thọ, quán thân và lạc thọ sẽ đoạn diệt, quán từ bỏ cảm giác vui, từ bỏ chấp thủ vào thân, do an trú như vậy nên tham đi theo miên man trong cảm giác và thân được đoạn diệt, chấm dứt mọi ham thích đối với cảm giác vui sướng đó và cái tham thích đối với thân này. Đối với cảm thọ khổ và cảm thọ không vui không khổ cũng giống như vậy, rời xa tham thích đối với thân và đối với các cảm thọ. Đây là bí kíp chánh pháp nhưng vấn đề là đã có bí kíp trong tay mà có thành công hay không thì còn cả một chặng đường dài phía trước chứ không phải ai có bí kíp cũng trở thành Thánh, người có bí kíp có nỗ lực thực tập, có nhiệt tâm, tinh cần, tha thiết, quyết liệt không, có để hết tâm vào tu học không. Phải để tâm vào thân và cảm thọ để quán chiếu liên tục, đây là quán thân, quán thọ nhưng mình phải hiểu là có cả quán tâm, quán pháp nữa, đó là Tứ Niệm Xứ. Có cảm giác đau khổ mới dễ chứng nhập còn cảm giác vui nhiều sẽ khó chứng vì bình sinh chúng sanh thích cảm giác vui sướng, cho nên khổ mới dễ chứng nhập Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế.
"Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Cũng giống như lạc thọ nhưng đây là khổ thọ nên sân đi theo, khi trú quán như vậy thì diệt tận luôn sân tùy miên. Đối với cảm giác không khổ không vui khởi lên cũng giống vậy
"Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Người đó không bị trói buộc đối với ba loại cảm thọ. Còn với chúng ta cảm giác nào sanh khởi lên cũng bị trói buộc, điều đau buồn nhất là khi có cảm giác không vui không khổ khởi lên cũng bị trói buộc mà mình không hề hay biết cho nên mới có vô minh tùy miên đi theo trong bất khổ bất lạc thọ, hằng ngày cứ sống lơ lửng, qua ngày đoạn tháng chứ không biết đó là cảm giác không khổ không vui, không biết vô minh đang xâm chiếm, đang bao phủ. Tu học theo đường lối Nikāya ngày nào cũng nói đến phiền não, lậu hoặc để mình sợ, từ đó cố gắng tu học thì mới được an ổn, còn tu mà muốn nghe những gì êm tai, thuận ý sẽ tăng thêm lạc thọ để tham đắm trong đó, còn cái này tu là xả bỏ cái thọ để thoát ra khỏi nó. Trong thời kì này chúng ta cần cố gắng thực hành Tứ Niệm Xứ, nhất là quán thân và cảm giác để có bình an thật sự trong lúc nguy nan này.
./.