4 Khổ ách đè nặng - Trà đạo kết khóa
Tinh Hoa Nikāya
BỐN KHỔ ÁCH ĐÈ NẶNG
TRÀ ĐẠO KẾT KHOÁ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dục ách PAGEREF _Toc104203038 \h 1
II. Hữu ách PAGEREF _Toc104203039 \h 2
III. Kiến ách PAGEREF _Toc104203040 \h 4
IV. Vô minh ách PAGEREF _Toc104203041 \h 7
V. Ly dục ách PAGEREF _Toc104203042 \h 11
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc104203043 \h 14
I. Dục ách
Chúng ta hãy nhìn vào trong cảm thọ để thấy được cảm giác này bị đè nặng bởi dục, ham muốn bị đè nặng trên vai, đè nặng trên đầu chúng ta từ vô lượng vô biên kiếp, thúc giục tham muốn, vui thích, thích thú, luyến ái, đam mê, khát khao, đau buồn, nắm chặt trong những tham muốn, tham ái đó. Yêu thích và tham muốn trong các dục đóng chiếm, chiếm đóng và tồn tại trong thân tâm của chúng ta. Tham dục làm hang làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, vì lòng tham muốn, tham ái, vì lòng đam mê, khao khát, thèm thuồng đóng chiếm, làm dinh, làm thự, làm hang ổ, sào huyệt, làm căn cứ địa trong thân xác này.
Cứ muốn hoài, hết muốn cái này tới muốn cái kia, cứ tham hoài, được một đòi hai, được hai đòi ba, tới bao giờ mới vừa lòng đây. Tham dục này, tham ái này là một cái ách đè nặng trên đôi vai chúng ta, đè nặng trên đầu trên cổ, trong cảm thọ tâm tư chúng ta. Tham ái đối với con mắt này, gương mặt này, đầu tóc này, tay chân mình mẩy này, yêu thích, luyến ái, tham đắm, ham muốn, vui thích trong này, lưu luyến trong đây, đam mê trong dục này. Khao khát, đau khổ, ưu não trong đây, nắm chặt, bám chặt, ghì chặt, bấu chặt, siết chặt, buộc chặt trong đây. Dục ái này chiếm đóng và tồn tại trong thân xác này.
Trong đây là một sự đòi hỏi, tìm kiếm, hy vọng, mơ mộng, ước ao, chạy đuổi, truy cầu, thèm thuồng, khao khát. Chính cái thèm thuồng, khao khát, ham muốn này là một cái ách, một ách nặng đè lên thân tâm của chúng ta. Đến bao giờ chúng ta mới gỡ ra hết cái ách này? Đến chừng nào chúng ta mới đặt cái ách này xuống? Đòi nhìn, đòi thấy, đòi nghe, đòi tiếp xúc, đòi ăn, đòi chiếm hữu, đòi sở hữu. Kết quả của chúng ta, kết quả của dục là một thân già nua, bệnh tật, si lão và chết chóc. Kết quả của dục là một nội tâm đầy dẫy bất thiện pháp, đầy sân hận, đầy ta đây, đầy phiền muộn, lo lắng, sợ hãi, đầy bất an. Vì ái mà sanh ưu, vì ái mà ưu sầu, sợ hãi.
Nếu lìa tham ái thì đâu lo đâu sợ, xót xa cho một đời sống phải chạy hoài, tìm hoài, kiếm hoài, khát hoài. Thật là mệt mỏi, mòn mỏi, nhọc nhằn, vất vả cho chúng ta. Hết chạy theo cái này tới chạy theo cái khác, hết tìm cái này tới tìm cái khác, hết kiếm cái này tới kiếm cái khác. Một thân xác đầy bệnh hoạn, đầy những máu mủ, phèo phổi, gan ruột, phân và nước tiểu, mỡ, mủ, máu, nước miếng, mồ hôi, nước tiểu. Hằng ngày phải bài tiết ra những chất hôi dơ, tanh tưởi, vậy mà cứ say đắm, tham đắm dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê dục khát, dục não, dục chấp ngã, dục ái trong các dục chiếm đóng và tồn tại trong thân tâm của chúng ta. Đây gọi là dục ách – một cái ách của dục nó đè nặng nội tâm tới chừng nào, tới bao giờ mới dừng lại? Đến khi bạc mái đầu? Hay đến khi thân thể này suy lão, cạn kiệt và tiều tụy?
Hãy nhìn kỹ sự sanh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt và sự nguy hiểm của nó để có thể có một con đường thoát ra khỏi dục này. Hãy nhàm, yểm ly, chán lìa, xa lìa đối với các dục. Mình đã chảy bao nhiêu dòng nước mắt với các dục này? Mình đã khổ bao nhiêu lần với các dục này? Mình đã lo lắng, sợ hãi bao nhiêu ngàn lần với những đống dục vọng này? Nó vùi dập mình, hành hạ mình, đè đầu cưỡi cổ mình, sai khiến mình, lôi đầu mình hết đời này tới đời khác, hết kiếp này tới kiếp khác, hết thân con này tới thân con kia. Bao nhiêu sự đau khổ vì dục này sanh ra, bao nhiêu sự cay đắng vì dục này có mặt? Hãy tác ý, tác ý và tác động tâm ý mình thoát ra, bước ra, đi ra khỏi nó.
II. Hữu ách
Ách thứ hai Đức Phật dạy chúng ta là hữu ách – tham đắm trong sự hiện hữu này, vui thích, luyến lưu, đam mê, khao khát, phiền não, nắm chặt, yêu thích trong cái hiện hữu này. Và sự hiện hữu này chiếm đóng, làm đồn trú tồn tại trong thân tâm của chúng ta. Sự hiện hữu này là sự khổ đau! Ngài Xá Lợi Phất nói rằng: “Tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc”. (Trích Tăng chi bộ kinh - tập 1, bài kinh Lạc và khổ)
Chúng ta chỉ biết lo thiếu gạo, thiếu tiền, thiếu nhà, thiếu áo, thiếu ăn. Chúng ta chỉ biết lo những tai nạn xe cộ, máy bay, bệnh hoạn là khổ nhưng chúng ta không biết rằng cái khổ thật sự chính là tái sanh. Vì sao? Vì sự tái sanh là chỗ dựa của tất cả các nỗi khổ. Có sanh nên mới có già, bệnh, chết. Có sanh nên mới có lạnh, nóng, đói khát, đại tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với cây gậy, với kiếm, gặp những người yêu thương, chia lìa, ân ái, ly biệt. Chúng ta không thấy được rằng nỗi khổ thật sự là tái sanh, và chính cái hữu ách, sự ưa thích, khoan khoái, lưu luyến đam mê, khao khát trong hiện hữu này là động cơ để tái sanh. Và không tái sanh là lạc, Niết-bàn, là bất tử. Đây là chỗ cực kỳ thâm sâu, là Thánh Trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ.
Quý vị có thấy tái sanh này là khổ không? Đời sống này có vô vàn nỗi thứ khổ nhưng chúng ta chỉ thấy những cái khổ nhỏ nhặt trước mắt mà không thấy cái khổ lớn bao trùm hết tất cả, đó chính là sự tái sanh. Cho nên sự tu hành chúng ta là thoát ly sanh tử, không còn trở lui trạng thái này nữa. Trạng thái này là trạng thái của dục, của lòng khao khát, thèm thuồng, ưa thích, ham muốn. Không còn trở lui trạng thái của sự hiện hữu, say đắm trong hiện hữu. Tất cả mọi hiện hữu đều đau khổ trong ngũ uẩn này, vì nó vô thường, tan hoại. Chúng ta ưu thích thân này, nhưng thân này làm cho mình khổ. Có cái nhà là phải lo cho cái nhà, có chiếc xe phải giữ chiếc xe, có tiền ở trong nhà băng là phải lo, có cái két sắt để trong đó nhiều thứ là phải sợ. Người không có nghĩ rằng có sẽ được hạnh phúc, đó là ảo tưởng. Người có mới biết rằng trong đó có nhiều vấn đề, lo lắng và sợ hãi. Những người trúng số xong phải mướn vệ sĩ, ngủ không được. Cho nên làm sao thoát ra khỏi dòng lẩn quẩn này, thoát ra khỏi hữu ách này, cái ách đè nặng, sự ưa thích say đắm trong hiện hữu.
Chúng ta rất ưa thích sự có mặt của mình. Khi nhìn vào gương, thấy hình bóng mình hiện hữu trong đó thì thấy ái luyến, yêu thích mà không biết rằng cái mặt này là bệnh hoạn, là viêm xoang, là ung thư vòm họng. Lỗ tai này là mủ đầy trong đó, con mắt này phải đi mổ, não này phải thường thường kiểm tra, ung thư não, tai biến mạch máu não, không biết rằng thân này là căn cứ địa của tật bệnh, khổ đau. Còn ưa thích thân này là còn ưa thích bệnh hoạn, già chết, khổ đau. Còn ưa thích bàn tay này là còn thích gân guốc, da thịt, máu mủ, xương tủy, còn yêu thích sự tan hoại, biến hoại, tàn hoại của nó. Đến cuối cùng chỉ còn lại nước mắt, sự tiếc nuối, lo lắng và sợ hãi cho gương mặt này, thân xác này, cánh tay này. Quẹt chút là chảy máu, đứt tay, vô ý một chút là dập cả một bàn tay. Chúng ta không biết được sự nguy hiểm của cái hiện hữu này, chúng ta không biết sự hiện hữu này là một sự nguy hiểm, giống như một món đồ gốm rất có giá trị, mình rất quý nhưng bản chất của nó rất dễ vỡ, dễ tan, dễ nát, dễ hoại.
Thân này là của nợ, là cục nợ này, là gánh nặng sắc thủ uẩn, vì đống da đống thịt này mà mình thủ trong đó, nắm chặt trong đó, ra không được. Vì ưa thích đống da thịt này nên đời sau nếu là nghiệp lành nghiệp thiện thì được làm người, phước lành hơn nữa thì lên trời. Còn nếu không phải nghiệp lành nghiệp thiện, mà là nghiệp ác thì làm chó, làm mèo, gà vịt, giòi, bọ…. dẫu vậy nhưng mình vẫn ưa thích thân con giòi đó. Con giòi đó được ăn phân thì thấy ngon lắm, đống phân đó là đại tiệc của nó, con chó ăn những đống phân đó là một buổi tiệc ngon lành, đó là những hình thức của hiện hữu. Đến những cô hồn đói khát, vất vơ vất vưởng, ngạ quỷ… cũng là những hình thái của hiện hữu, và tất cả sự hiện hữu là bất an, ung nhọt, là mũi tên, là tai họa.
Cho nên, hãy từ bỏ sự tham muốn, vui mừng, ái luyến đối với hiện hữu này; từ bỏ sự đam mê trong hiện hữu này, từ bỏ sự khát khao, sự ưu não trong hiện hữu này. Phải phá tan, phá vỡ, phá nát chấp thủ trong hiện hữu này. Hữu ái trong các hữu này chiếm đóng và tồn tại, mình phải phá vỡ dinh đồn, phá vỡ sào huyệt, hang ổ của nó. Nếu nó là đẹp đẽ, sạch sẽ, đáng quý, đáng trọng, đáng thương thì tại sao khi bên trong này nó đổ ra người ta hoảng hồn kinh hãi hết? Tại sao gan ruột phèo phổi mình đổ ra là ai cũng hoảng loạn, kinh hãi và khiếp sợ, khiếp đảm? Tại sao đi ra những phân bẩn thỉu như vậy phải bấm nút dội ngay lập tức? Tại sao nó chảy nước mũi ra thì mình xấu hổ, chùi liền, chùi nhanh, chùi mau, chùi lẹ? Tại sao nó đổ ghèn ra mình phải xấu hổ? Sự bất tịnh, không sạch sẽ, sự hôi dơ mà vì vô minh, vì khát ái chúng ta lại đam mê, say sưa, thích thú trong cái hiện hữu này. Cứ như vậy mà chúng ta cứ khổ hết hình thái này đến hình thái khác, hết dạng thức này đến dạng thức khác, hết kiểu cách này đến kiểu cách khác.
Các cô chưa có gia đình khổ không? Khổ, muốn tìm được một người thương, nương tựa. Khi có gia đình rồi khổ không? Khổ theo kiểu khác. Mà nếu người thân thương trong gia đình mình ra đi hay ly thân, ly dị hay có tai nạn qua đời có khổ không? Tất cả ba thời đều khổ. Mặt khác, không có tiền khổ không? Mong muốn có nhiều tiền, đến khi có tiền nhiều thì khổ không? Không may tiền mất hết, trắng tay, túi không, phá sản thì khổ không? Như vậy, tất cả mọi hình thái của hiện hữu là khổ đau, phiền não, lo lắng, bất an. Vậy mà vẫn không biết nến cứ ham thích, đam mê, khao khát, chấp thủ cho rằng mọi thứ đó là tôi, là của tôi!
III. Kiến ách
Ách thứ ba là kiến ách, nghĩa là thân kiến, kiến chấp, kiến thủ, định kiến, thành kiến, tư kiến cá nhân đè lên đầu lên cổ mình, đè lên vai mình. Yêu thích, tham muốn, luyến ái, đam mê, khao khát, phiền não trong kiến chấp đó, nắm chặt chấp thủ trong kiến chấp đó, yêu thích kiến chấp đó trong các kiến chấp đó xâm chiếm và tồn tại. Đau khổ chúng ta đây là ách thứ ba, nãy giờ ba cái ách đè lên đầu. Có một cái ách mà con trâu nó gần chết rồi mà mình bốn ách mà cứ cười vui rồi ăn chơi phè phỡn rồi vô hòm. Đó là vô minh. Kiến này sâu sắc nhất là thân kiến, cái đau khổ nhất hạng, cái kiến chấp nặng nề nhất làm chúng ta khổ nhất chính là thân kiến, kiến chấp về thân.
Cái nào cũng tôi, cái nào cũng của tôi, nó chụp vô đống da rồi nói đây là của tôi. Nó sanh ra cảm giác rồi cảm giác nào cũng chụp vô nói đây là tôi, là của tôi, tôi vui, tôi mừng, tôi bực, tôi quạu, tôi khổ, tôi thấy bình thường. Cái nào cũng gắn cái tôi vô, những hình bóng trong tâm, tôi nghĩ, tôi tưởng. Suy nghĩ là tôi suy nghĩ, suy nghĩ đó là tôi, hành đó là tôi, thọ đó là tôi, tưởng đó là tôi, sắc đó là tôi, trong thấy biết là tôi, tôi thấy, tôi biết, quan điểm của tôi như vầy nè, tôi thấy như vầy, tôi biết như vầy, tôi giỏi như vầy, tôi hiểu được như vầy.
Kiến ách đè lên, ngũ uẩn đè lên, nguyên bàn tay như vầy chụp xuống như Ngũ Hành Sơn, nó đè năm trăm năm. Tức ngũ uẩn này vô lượng kiếp, phải gỡ lá bùa mê thuốc lú trong ngũ uẩn này ra, phải có minh sư, phải có bậc Chánh Kiến, phải có bậc thiện tri thức mới chỉ cho mình, mở cho mình lá bùa mê đó, bùa mê kiến chấp, thân kiến, ngã kiến ta, đè xuống. Sắc này là tôi, là của tôi, tôi trong sắc này, sắc này ở trong tôi, giống gì nó cũng nói là tôi, là của tôi. Ham muốn, tham muốn trong thấy biết sai lầm, vui thích, luyến ái, đam mê, khao khát, buồn phiền, bực bội trong thấy biết sai lầm đó. Nắm chặt, bám chặt, chấp chặt, ghì chặt, buộc chặt, kiến chấp, chấp thủ trong thấy biết sai lầm đó. Yêu thích trong cái thấy sai lầm đó, cái thấy sai lầm đó nó xâm chiếm và bây giờ đang tồn tại trong ngũ uẩn này.
Hãy tập dùng Như Lý Tác Ý phá vỡ kiến chấp này, soi vô gương, nhìn vô gương, thấy bóng mặt trong đó. Đây là sắc uẩn, sắc pháp, là tứ đại, là xương với da, đầu lâu, nắm tóc mà do vô minh và khát ái kết thành, do nghiệp mình biểu hiện. Đuổi suy nghĩ tôi, của tôi ra khỏi tâm mình. Khi có một cảm giác sanh khởi lên nghĩ rằng tôi sướng quá, lập tức đuổi liền, dùng Như Lý Tác Ý, dùng suy nghĩ của Chánh Kiến. Không có cái tôi nào ở đây, đây chỉ là duyên sanh pháp, những cảm giác sanh diệt hư ảo này phồng lên xẹp xuống, nổi lên rồi tan biến, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh. Những cảm giác vô thường này, không có gì là tôi, là của tôi trong đây. Đây là tổ hợp của các cảm giác vô thường, đây là sự tổ hợp của các pháp duyên sanh, đây là sự tổ hợp của những trạng thái bọt bèo.
Những hình bóng, những suy nghĩ, suy nghĩ nào có tôi, của tôi trong đó là mình đuổi nó ra ngay lập tức, diệt tận, đánh vỡ suy nghĩ đó. Không có cái nào tôi trong đây, chỉnh nó liền ngay trong suy nghĩ. Như vậy mình mới từ từ tháo được kiến ách này, cái ách nặng của thân kiến, kiến chấp, chấp thủ này. Tất cả những suy nghĩ mà nó liên hệ đến tôi, của tôi phải lập tức được tẩy sạch, tẩy não, đánh đuổi, truy sát và diệt tận nó bằng chổi thần Như Lý Tác Ý, cây chổi thần để quét căn nhà nội tâm. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi.
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽđưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
- Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông”.
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ không phải là của mình. Bộ xương da này không phải là mình, là của mình, đừng nhận nó là mình. Nhận mình là nguy hiểm, tai họa, ung nhọt, trúng tên, đau khổ. Nhận nó là mình, mình gặp nạn trong thân, mình sẽ gặp tai nạn nặng, hiểm họa. Mình nhận đồ dễ vỡ, dễ tan, dễ hoại, dễ nát, dễ diệt; mình nhận đồ tật bệnh, bất tịnh, nhơ nhớp, hôi thối, bẩn thỉu này; mình nhận đồ sanh diệt, vô thường, tạm bợ, mong manh, tan vỡ này là mình thì mình gặp đại họa, đại thảm họa.
Một cậu thanh niên còn rất trẻ, mới có hai mươi mấy tuổi, leo lên nóc nhà để quay phim Tiktok, rớt xuống nát ra, chết tại chỗ. Một trăm bốn mươi ngàn lượt người theo dõi, lọt xuống một cái là tan nát. Như vậy thân xác đó bây giờ là ai, là của ai? Mong manh, dễ tan, dễ nát, dễ vỡ, dễ hoại, dễ diệt. Và con xin đại chúng phải nhớ ráng ba chữ “hàng dễ vỡ”, phải nhớ đừng bao giờ quên, dán trong tim, trong đầu, trong tâm, dán trong suy nghĩ, cảm thọ của mình, phải dán đồ gốm, đồ này làm bằng gốm, món đồ gốm. Phải phá phải diệt thân kiến này, kiến chấp ngu mê về thân xác này, phải đoạn tận nó, đập vỡ, đập tan nó, phải phá cho nó thành cát bụi, mây khói. Chính cái kiến này là ách nặng đè mình, mà mình không đi ra khỏi, không ra khỏi cục thịt này. Rồi rước thêm một cục thịt khác, buộc vô, rồi có thêm những cục thịt tiếp tục, rồi sầu bi, khổ ưu não, rồi buộc, trói, hệ lụy.
Đây là con đường xuất ly tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nguy hiểm nhất trong tất cả sự nguy hiểm chính là thân kiến, một khi suy nghĩ là tôi, của tôi là bao nhiêu dây mơ rễ má, bao nhiêu những tham dục, sân hận, vô minh, những bản ngã kéo dài lê thê bất tận trong dòng luân hồi. Chúng ta sáng nay sám hối diệt ngã, từng lời từng câu phải thâm sâu, ngấm vào trong tim, trong xương trong tủy mình. Nó đi từ trong tai, vào trong nhĩ thức, vào trong cảm thọ, cất giữ trong đó, cất giữ trong cảm thọ đó là một hình bóng vô ngã; hình bóng của Chín Giai Đoạn Tử Thi và Ba Mươi Hai Thể Trược đó phải cất giữ. Dùng cái tưởng này để phá cái tưởng kia, dùng Chánh Kiến phá thân kiến, diệt tà kiến. Dùng sắc hoại để đánh vỡ sắc thủ uẩn.
IV. Vô minh ách
Ách thứ tư là vô minh ách. “Này, ở đây này các Tỳ-kheo, có hạng người không như thật, quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xuất xứ, do không như thật quán tri tập khởi. Sự xuất ly của sáu xuất xứ cho nên vô minh, vô trí trong sáu xuất xứ xâm chiếm và tồn tại. Này, các vị, đây gọi là vô minh ách, dục ách, hữu ách, kiến ách. Bốn cái ách nặng này bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, các quả khổ bị dị thục trong tương lai bởi sanh già chết. Do vậy được gọi là không an ổn khỏi các khổ ách”.
(Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, chương Bốn Pháp, phẩm Bhandagàma, bài kinh Các ách)
Vô minh ách là như thế nào? Vừa rồi trên chuyến bay từ Sài Gòn ra đây, con ngồi đọc kinh trên chuyến bay. Trong khi đọc tới đoạn đó, nó bừng sáng ra ý nghĩa của vô minh và hành. do mình không thấy ngũ uẩn, không biết ngũ uẩn, mình tưởng đâu nó có một cái tôi, một cái của tôi cho nên do mình không thấy sắc là sắc, không thấy tổ hợp của sắc là một đống sắc. Do mình không thấy một đống cảm thọ, những suy nghĩ, hình bóng, suy tưởng đó. Do mình không thấy một đống nhận thức đó cho nên mình nghĩ rằng có một cái nguyên khối tưởng là có một cái tôi tròn vẹn như vậy.
Khi suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức đó là vô minh, từ chỗ vô minh đó tất cả những suy nghĩ, lời nói và hành động được vô minh dẫn dắt, những gì suy nghĩ là suy nghĩ của vô minh, những gì nói ra là nói ra từ vô minh, những gì hành động, hoạt động là hoạt động từ vô minh. Cho nên tâm hành, ngữ hành, tâm hành hay ý hành, khẩu hành, thân hành là vô minh. Chính vì vậy mà chúng sanh có suy nghĩ gì cũng suy nghĩ vòng quanh vô minh. Có nói gì, tất cả ngôn ngữ, lời nói đi lòng vòng, vòng quanh trong vô minh. Có làm gì thì tất cả những hành động đó vòng quanh vô minh, chạy xung quanh vô minh, không ra khỏi. Thật đáng sợ, tất cả suy nghĩ của chúng ta mà nếu không gặp minh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác khai thị, hiển thị, diễn thuyết thì không có bất cứ một ai có thể dùng minh để phá vô minh nổi nên tất cả những suy nghĩ của chúng ta là suy nghĩ trong bóng đêm do vô minh dẫn dắt.
Từ vô minh sanh ra hành, hành gồm ba cái gồm thân hành, khẩu hành, ý hành, duyên vô minh nên mới có ra hành. Những suy nghĩ đó gọi là ý hành. Cái mình đang nhận diện ngũ uẩn, nhận diện ý hành là đang suy nghĩ gì, những suy nghĩ nào không liên hệ đến pháp, không an trú trong pháp thì suy nghĩ đó là vô minh. Chỗ sâu sắc mà chúng ta cần chiêm nghiệm là hằng ngày chúng ta suy nghĩ về pháp được bao tiếng đồng hồ? Hay suy nghĩ nằm trong bóng đêm của tham, sân, si và bản ngã. Suy nghĩ tôi giỏi hơn người kia, tôi đúng người kia sai, suy nghĩ là thôi tu làm chi xa xôi quá, ở nhà tu cũng được rồi, vô Linh Quy xa quá, ra Hà Nội xa quá, thôi ở nhà mở cuốn nghi thức ra đọc cũng được rồi. Cho nên, cần cẩn thận trước những suy nghĩ giãi đãi, không nhiệt tâm, tinh cần, không tinh tấn, thiết tha, chân thành, khát khao.
Thay vì chúng ta tham trong dục hỷ, dục luyến ái, dục đam mê, khát khao trong dục thì mình hãy tham trong pháp, hỷ trong pháp, luyến trong pháp, đam mê trong pháp, khát khao được thực hành pháp, được nghe pháp, được đồng học, được bạn đồng tu nên mỗi chủ nhật phải đến chùa tu, càng nhiều càng tốt. Những thời khóa có thể đi được nhất định phải về rừng thiền Linh Quy, phải về đạo tràng Nikāya. Dù còn hai người cũng tu mà còn một mình mình cũng tu, chết cũng tu mà sống mình cũng tu. Ngoài pháp này ra không còn gì nữa thì mình làm gì? Cái gì đáng làm? Chính vì vậy, hãy nắm chặt pháp này.
Cái vô minh ghê lắm, suốt ngày chúng ta luôn suy nghĩ trong vô minh. Ví dụ, khi ăn chánh quán thọ thực, nhiều người cứ suy nghĩ “ăn cái gì tôi thấy tôi mệt quá, khó khăn quá” thì những suy nghĩ đó là không hành pháp, tùy pháp. Lúc đó, cần rèn luyện tâm mình nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, thời khóa nào phải làm y thời khóa đó. Hoặc khi nười ta đang hướng dẫn bất tịnh thì có người lại không chịu thực hành, cứ thích trải tâm từ, đó là không hành pháp, tùy pháp, tâm không nhu nhuyến, không mềm mại, không dễ sử dụng.Tuy là thiện pháp nhưng vẫn chưa phải là thiện xảo, nó còn sự chống đối, còn sự cứng cỏi, ương ngạnh. Phải trị nó cho đến khi nào nó mềm mại dễ sử dụng, muốn vô sơ thiền là vô sơ thiền, muốn vô nhị là vô nhị, vô tam vô tứ, muốn vô hỷ lạc, từ bi hỷ xả vô lượng tâm, muốn vô đến đâu là vô chỗ đó. Như vậy mới gọi là tâm nhu nhuyến. Bây giờ những cái nhỏ này mình không huấn luyện mai mốt những cái lớn làm sao mình vô được mà từ vô lượng tâm? Nên phải huấn luyện, cái vô minh này ghê lắm, những suy nghĩ, lời nói, hành động nó trong vô minh, nó trùm chiếm, xâm chiếm hết ngũ uẩn của mình. Mình không thấy, không biết các pháp đang có mặt như thế nào, đang hiện khởi trong tâm mình như thế nào?
Trong Căn bản trí, bài Niệm Chánh niệm tỉnh giác 2 có nói, thọ sanh khởi lên, an trú và chấm dứt như thế nào; tưởng sanh khởi lên, an trú chấm dứt như thế nào; những tầm, tức những ý hành, những suy nghĩ hướng tâm về cái gì đó thì chúng ta đều phải thấy tất cả những thứ đó an trú như thế nào, chấm dứt như thế nào. Như vậy mới hết vô minh và có sự chánh Niệm tỉnh giác. Khi chiêm nghiệm chúng ta mới thấy vô minh là cái ách nặng đè lên mình. Những suy nghĩ, lời nói, hành động chỉ theo tham, sân, si, bản ngã thì đó là vô minh, lậu hoặc. Lậu hoặc làm cho vô minh sanh khởi, hai thứ này tương tác với nhau, vô minh và lậu hoặc làm tăng trưởng phát triển, thêm một đống đại khổ uẩn này cho nên cần phải soi sáng trong suy nghĩ.
Trước khi suy nghĩ phải soi xét, nhìn ngũ uẩn trong lúc nó suy nghĩ như thế nào. Lúc nó đang suy nghĩ mình phải soi xét, sau khi suy nghĩ xong rồi phải soi xét nữa, như chuyên gia nội soi. Trước khi nói, xem xét lời nói này có phát xuất từ bản ngã, từ sân, từ tham không? Nói để người ta cho đồ, thích món đó nên nói để người ta cho, coi nó phát xuất từ tham không? Phải nội soi, rồi sau khi nói rồi, soi lần nữa. chúng ta thấy không? Trước khi làm soi xét, suy xét, khi đang làm suy xét, soi xét, làm xong rồi suy xét, soi xét, từ từ mới phá vô minh. Cái bóng mờ, bóng tối đó dần dần tan ra.
Lâu lâu mình được ánh chớp lóe lên, ánh chớp của Chánh Kiến một ngày lóe lên được chừng mấy lần. Khi tụng, tập trung tâm ý vô tụng, những bài trong Nghi thức Nikāya lúc đó là ánh chớp lóe lên, nhớ là tập trung trọn vẹn tâm ý, tha thiết chân thành trong sự tu học thì ánh chớp mới lóe lên. Còn lúc đó miệng đọc như vậy nhưng trong tâm không thọ, không tập trung tâm ý, không thọ nhận pháp đó thì lúc đó vô minh vẫn xâm chiếm. Nó vẫn còn, không trong sáng nhưng lúc đó trong sáng rõ ràng thì Năm Triền Cái bị phá vỡ, trí tuệ sanh, minh sanh, quang sanh, giác sanh. Năm Triền Cái hoàn toàn vắng mặt, lúc đó không có hình bóng của dục tham, sân, trạo cử, hôn trầm, hoài nghi, không có. Tâm thuần khiết, trong sáng, pháp hiển lộ rõ ràng và chúng ta thọ nhận trọn vẹn như vậy là minh sanh, trí sanh, quang sanh, giác sanh, tuệ sanh.
Mỗi khi tham dự khóa tu hay ngồi thiền mà mình ngủ gục, như vậy là không được, đánh đuổi nó mạnh cho nên trong sự vô minh này, vô minh ách này nó ghê lắm. Vô minh này hồi xưa chúng ta học nó lờ mờ, chúng ta cứ nghĩ nó là một cái gì hồi xa xưa lắm, vô minh này của quá khứ. Vô minh hành là của quá khứ, thức dẫn đi đầu thai. Nhưng bây giờ chúng ta học kỹ rồi nhận diện ngũ uẩn chúng ta thấy vô minh trong từng giờ, từng phút có mặt.
Lúc nào sự nhìn năm uẩn của mình không rõ, nó lờ mờ là lúc đó vô minh. Lúc hoàn toàn không thấy năm uẩn là lúc đó đại vô minh, nó thấy được nhưng thấy lờ mờ, kiểu vô minh cũng khấm khá, mà tới thấy rõ ràng thì thực ra chúng ta biết vô minh này tới quả thứ mấy mới phá hết? Đến Thánh quả A-la-hán mới hết vô minh. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Thành ra mình còn chưa được vào cửa, chưa nhập lưu mà ở đây dám xem thường vô minh, là chết ngay thôi, chết không kịp nói, chết không kịp chối, chết tức chết tưởi, chết bất thình lình, vô minh trùm chiếm hết, nó xâm chiếm, điều khiển mình hết, mình tưởng đâu mình thông minh lắm, ai dè đâu là vô minh. Chính cái tưởng là thông minh đó là vô minh, mà biết mình vô minh còn đỡ, gần tới minh, chọn cái nào? Thấy được cái vô minh của mình là gần tới minh, mà nghĩ mình thông minh thì lúc đó vô minh, cho rằng mình thông minh là vô minh.
Cho nên, chúng ta phải biết được sự sanh khởi và chấm dứt của vô minh, vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của vô minh mình phải quán chiếu thường xuyên, sự nguy hiểm và tác hại của vô minh. Khi làm gì cũng phải tập trung tâm ý, phải tỏ sáng tinh minh, minh đạt trong lúc nói, lúc suy nghĩ, trong khi mình làm. Không làm cái lờ mờ, thà là không làm, từ từ rồi làm, không vội chứ không làm trong vô minh, làm trong vô minh một hồi hối hận không kịp. Lúc đó tâm mình không minh đạt, không sáng tỏ, những suy nghĩ trong đó vận hành là những suy nghĩ của cấu uế, của lậu hoặc, của bóng đêm.
Do không biết được sự sanh khởi và chấm dứt của vô minh, không thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của vô minh nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ này xâm chiếm và tồn tại. Sáu xúc xứ là sự tiếp xúc của căn và trần nhưng khi đó mình không có trí, không sáng tỏ trong khi sáu xúc. Bên trong xúc chạm với vô minh, những thọ, tưởng, hành xúc chạm với vô minh. Những điều này chúng ta cần phải tu học nhiều hơn để nhận diện năm uẩn thật sâu sắc, thấy được những cảm thọ sanh khởi khi xúc chạm với vô minh.
Ví dụ trong nhà chúng ta sinh hoạt, nấu nướng, quét dọn thì thấy bình thường, không quán chiếu, không nhìn thấu. Chúng ta an lòng, có một cảm giác an toàn trong căn nhà của mình là vô minh. Không thấy sự nguy hiểm của sắc, của thân kiến, không thấy sự nguy hại của nó. Lúc đó là sự nguy hại của Chánh quán, không Chánh Trí nên lúc đó mình phải tác ý. Ngôi nhà mình đang ở là nhà trọ, xác thân đang mang này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, bệnh hoạn, tan nát, hủy hoại, hoại diệt.
Khi tác ý theo như vậy, cái vô minh sẽ bị cái minh, cái trí của Chánh tri kiến, của Thánh pháp soi vào, bóng tối của vô minh bị tan biến, ngay lúc đó ngọn đèn trí tuệ được thắp sáng lên. Khi thắp sáng ngọn đèn lên thì tham, ái, hỷ đối với đời sống, đối với thân kiến, đối với dục, với sắc bị nhiếp phục, đánh gục, sụp đổ ngay lúc đó. Cần phải tác ý, quán chiếu thường xuyên và liên tục như vậy. Mỗi khi thấy cái gì, nghe gì, cảm thọ gì đều phải dùng thánh tri kiến, chánh kiến, dùng minh, giác, trí để soi vào, từ đó phá vô minh, phá tham ái, chấp thủ. Mỗi một lần phá như vậy, minh mới sanh thêm, từ từ trở thành Thánh tuệ uẩn – là một tổ hợp trí huệ của bậc Thánh.
Như vậy, Thánh tuệ uẩn được hình thành trong sự quán chiếu, tác ý và tu tập, đòi hỏi phải chất chứa rất nhiều trí tuệ chứ không phải đơn giản học phớt qua là đủ. Cũng không phải chỉ học trong một buổi nghe pháp, hay học trong bài kinh là xong, đến khi ra ngoài là mất tiêu hết. Cũng không phải là trí tuệ bắp vế, nghĩa là để bánh kẹo vào bắp vế, đứng lên đi ra mất hết. Mà trong từng phút từng giây, mỗi khi thấy gì, nghe gì, cảm xúc gì đều đem trí tuệ này soi chiếu, như vậy mới nuôi lớn minh, nuôi lớn trí, thắp sáng đèn tuệ. Không còn giống như lúc trước cứ suy nghĩ, nói năng, làm việc một cách tự do theo thói quen, theo nghiệp, theo dục, theo bản ngã.
V. Ly dục ách
Đức Phật nói: “Này, các Tỳ-kheo, thế nào là ly dục ách. Ở, đây có hạng người như thật, quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, nguy hại và sự xuất ly của các dục. Do như vậy, trong các dục không xâm chiếm và tồn tại được”.
(Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, chương Bốn Pháp, phẩm Bhandagàma, bài kinh Các ách)
Ly hữu ách, ly kiến ách và ly vô minh ách cũng vậy. Tức là vị này luôn quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của những thứ này. Quán hoài, nhớ hoài, tác động tâm ý hoài, nguy hiểm nghe không, đọc đừng ngủ nghe không, vị này có độc bên trong, thuốc độc trong này đừng uống. Dầu cho khát thiệt khát nhưng biết nó có độc, dám uống không? Tại sao vậy? Vì biết được sự nguy hiểm và tác hại của thuốc độc, thân kiến là thuốc độc, dục là thuốc độc, hữu ái, vô minh là thuốc độc nên vị này tránh né.
Đức Phật dùng rất nhiều phương pháp cho mình tu, chẳng hạn như bảy cách đoạn trừ phiền não, mình tránh né, tu tập, đoạn trừ. Tùy theo hoàn cảnh lúc đó như thế nào mà mình vận dụng thiện xảo, thích ứng, thích hợp thì lúc đó nó có hiệu quả. Ví dụ ngôi nhà thật là dơ như vậy, mình muốn chùi lau mình dùng cái gì? Không đơn giản chỉ dùng cây chổi quét quét, sao nó dính trong đó ba năm chưa chùi. Hay trong bồn cầu dơ như vậy mà nó dính trong đó, hôi, dơ, thối, bây giờ đâu chỉ đơn giản là bấm nút hay dội được không? Phải diệt trùng rất nhiều phương tiện, nên mình phải học Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Có đủ phương tiện, đủ công cụ, dụng cụ để mình làm tổng vệ sinh cái tâm vô lượng vô biên kiếp cấu nhiễm này.
Tâm này là tâm cấu nhiễm, nhìn thấy ghê lắm, thấy muốn ói, ngao ngán, chán chê, ê chề, não nề, gớm ghê, viễn ly, yểm ly, nhàm chán. Quý vị tu đi rồi sẽ thấy tâm này ớn quá, chán quá, riết cũng không muốn tiếp xúc với ai nữa. Vì xung quanh toàn thấy tham, sân, si với bản ngã và dục, ái. Cả thế giới này vận hành bằng dục, nên mới gọi là dục giới – thế giới của dục. Bậc Chánh Đẳng Giác, ngài gọi thế giới này là dục giới, và thân này vô thường, biến đổi, vô chủ như trong bài Niệm Thân Vô Chủ:
“Thân này là vô thường, đi đến hoại diệt.
Thân này là vô hộ, vô chủ.
Thân này là vô sở hữu ra đi bỏ lại tất cả.
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái”.
(Trung Bộ Kinh, Kinh Ratthapala)
Thân này là thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái, bản chất của thân này là vậy nên mình thấy ra được sự thật phũ phàng. Chính điều đó làm mình khổ, là động cơ của khổ vì lúc nào nó cũng thiếu thốn, người giàu nhất thế giới cũng chưa thấy đủ. Lời của bậc Chánh Đẳng Giác nói tới bao giờ mà sai khác được, thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái. Phải niệm câu này mỗi lần ái sanh, dục sanh, tham sanh, ta nhàm chán ngươi quá rồi, ngươi làm ta mệt mỏi lắm rồi, bây giờ ta thân tàn ma dại gần xuống lỗ rồi ngươi còn chưa để yên cho ta hay sao? Ngươi ác độc vừa phải thôi, ta quỳ ta lạy ngươi, ngươi đi khỏi thân tâm ta đi, hoàn toàn tan biến thành mây thành khói thành hư không.
Trong sự tu, sự tác ý của chúng ta là phải trên tất cả mọi khía cạnh. Trong mọi trường hợp, mọi sự tiếp xúc mà thấy rác bẩn là phải quét ngay lập tức. Còn bằng không, cứ để đó nó tích tụ, chất chứa mà nó làm cho chúng ta nước mắt đầy mặt, sầu bi khổ não mãi mãi hoài hoài không có ngày cùng tận. Và Đức Phật dạy mình ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách và ly vô minh ách. Gỡ bốn ách đó xuống, đập vỡ nó ra, nghiền nát nó ra, đốt cháy nó thành tro bụi, đổ nó xuống biển xuống sông cho gió thổi bốn phương tám hướng, mười phương cho nó bay thành hư không.
Ly những ách đó, lìa những thứ đó, dục ưu thích trong sự hiện hữu, thân kiến, kiến chấp về thân và sự vô minh, không bị trói buộc bởi các ác và bất thiện pháp, bởi các phiền não và các pháp bị tái sanh phiền nhiễu. Không bị trói buộc bởi các quả khổ mà nó chín muồi, nó biến đổi, dị thục trong tương lai. Không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, do vậy được gọi là an ổn khỏi các khổ ách. Quý vị muốn an ổn không? Muốn khỏi các khổ ách không? Gỡ bốn ách này xuống, từ từ mỗi một ý niệm của mình mình phải dùng trí để phá suy nghĩ vô minh, tham ái và chấp thủ trong mỗi suy nghĩ và cảm thọ, trong mỗi tư tưởng, tư duy. Cái nào suy nghĩ tôi, của tôi, cái nào suy nghĩ dục, tham, ái, sân si là gỡ suy nghĩ đó, tác ý, đánh đuổi, diệt tận, truy sát liền.
Như vậy quý vị nghĩ đó là đại hùng đại lực, đại tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh. Nếu mình tu một cách lơ tơ mơ, sơ sơ, mình tu có hình thức, có bề ngoài, còn bên trong nó làm gì mình không biết làm sao thành tựu minh trí để phá vô minh. Như vậy, chiều nay cũng định cho quý vị những câu hỏi, bài kinh này là bài Các ách, chúng ta vừa thực tập và thiền vừa chiêm nghiệm những nguyên nhân làm cho chúng ta khổ đau và hằng ngày để chúng ta thành tựu được trí tuệ và nguyên nhân đau khổ để chúng ta bắt đầu chặn đứng những nguyên nhân đó và tự chúng ta làm cho mình giảm khổ, bớt khổ và đi đến hết khổ, đạt được an ổn khỏi các khổ ách. Bây giờ tiếp theo quý vị nào có hỏi gì thì chúng ta hỏi, còn nếu không có thì sẽ tu tập.
VI. Trình pháp
Phật tử 1: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con xin cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Con xin cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng, Bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng và ruộng phước vô thượng trên đời. Thật hy hữu thay, thật kỳ diệu thay, chiều nay là một bài pháp mà sư phụ, người đã nói lên tiếng nói của Thế Tôn, bậc toàn tri, toàn kiến, bậc Chánh Đẳng Giác. Sư phụ đã nói trọn vẹn lại tất cả những điều mà Thế Tôn muốn nhắn gửi thế gian. Thật hy hữu, thật lành thay cho mảnh đất này, xin thấu đến các tầng trời, các Chư Thiên, tất cả những con người đang ở đây từ vô hình đến hữu hình. Nếu ai chấn động thân tâm bài pháp hôm nay sẽ thành tựu được những điều cần thành tựu, viên mãn được những điều cần viên mãn.
Sư phụ là sứ giả của Thế Tôn, đã nói tất cả những điều mà Thế Tôn đã chỉ dạy, không sai sót dù là một âm từ. Đây là tiếng sư tử rống, làm chấn động thân tâm cũng như đại điện nơi này. Thật may mắn và hy hữu cho chúng con, con xin tri ân mà điều hôm nay con được thọ nhận. Đây là bài pháp giúp mọi người đưa đến điều thế nào là chấm dứt sanh tử luân hồi, một bài pháp trọn vẹn vì tất cả các ý, pháp hành và giải đáp tất cả những điều mà mọi người đang hướng đến, tu sao cho giác ngộ, chấm dứt luân hồi.
Con xin tri ân sư phụ đã hiện thân nơi đây, nói lên bài pháp này. Con có một lời thỉnh cầu tới tất cả các vị ở đây, nơi này đang có sự hiện diện của Thế Tôn, đang có bậc minh sư thay mặt Thế Tôn nói những điều cần nói. Tất cả hãy đi ra khỏi ghế của mình, quỳ xuống và đảnh lễ, đây là phước lành hy hữu, hiếm có, khó gặp trong vòng luân hồi này của tất cả mọi người ở đây. Hãy làm ngay khi còn có thể. Bạch Thế Tôn, bạch bậc minh sư, người đã đem ánh sáng, không sai một chút nào, chúng con tri ân người đã hiện hữu nơi đây. Tất cả chư thiên, hộ pháp, long thần, thổ địa mười phương chư Phật đang ở nơi đây chứng giám cho sự cung kính đảnh lễ này để hộ pháp cho chúng ta trên chặng đường sắp tới. Chúng con nghiêng mình thân, khẩu, ý thanh tịnh hướng về Chánh Trí, hướng về tuệ giác, về Thế Tôn. Xin sư phụ Minh Thành cho phép chúng con đảnh lễ.
Sư phụ: Tất cả chúng ta hướng tâm về Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, hướng tâm về Chánh Pháp ly tham, giải thoát tối thượng, hướng tâm về Bốn đôi tám chúng, hiền Thánh tăng và ruộng phước vô thượng trên đời. Thầy mời quý Phật tử nào có chia sẻ cảm thọ tu học của mình. Mời cô.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch sư phụ, sư thầy và sư cô và các bạn đồng tu. Hôm nay là buổi thứ hai con được nghe sư thầy triển pháp này, lần này cũng là lần đầu tiên và cũng là sơ khai trong việc thiết tín Phật pháp này. Những lời nói để diễn đạt hết ý nghĩa trong con còn rất ít, con chưa hiểu để diễn đạt được bằng lời nhưng thật sự từ trong thâm tâm con, con thấy qua mỗi lời sư thầy giảng con rất xúc động và con nhận biết được rằng tất cả những điều đó đều rất thiết thực với cuộc sống và trong thâm tâm của chính bản thân con. Nó diễn ra hằng ngày trong cuộc sống và chính bản thân con từ ý thức, từ cái tưởng dẫn đến ý thức và hành động đấy thì con thấy rằng tất cả những điều mà sư phụ truyền đạt cho chúng con, con cảm thấy tất cả đều đúng. Và con thấy được sự khổ đau trong đó, con cảm nhận được sự khổ đau trong đó từng ngày từng giờ, qua mỗi việc con nghĩ, qua mỗi việc con làm, qua những hành động và con thấy tất cả những điều đó vô cùng khổ, đem đến sự khổ đau cho con người. Và thật sự con rất biết ơn sư phụ đã soi ngọn lửa sáng đấy trong tâm con để con có thể… Và con nhận biết được tất cả những điều đó là vô minh, khi con đã nhận biết được vậy rồi, và có ngọn đuốc mà sư phụ đã soi sáng thì con xin nguyện sẽ gạt được mọi vô minh, mọi khổ đau trong chính tâm mình. Con xin cảm ơn.
Phật tử 2: Kính bạch trên quý thầy, con kính bạch quý sư cô cùng tất cả những quý đại biểu đang ngồi đây. Giờ phút này con vô cùng xúc động và hạnh phúc khi được có mặt ở nơi đây, được nghe những lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn qua lời chỉ dạy của quý thầy là sứ giả của Đức Thế Tôn đã truyền dạy cho chúng con những lời thật sự là những điều mà bản thân con khao khát từ rất lâu. Con cũng đã nghe nhiều, đọc nhiều, nhưng từ hôm qua cho đến buổi hôm nay con thật sự thấy trong con bừng tỉnh, từ trước đến giờ con cứ mê muội. Đến giờ con đã hiểu vì sao mình khổ, con biết nguyên nhân là từ trước đến giờ con đi ra ngoài, hướng ra ngoài mà không quay lại chính bản thân mình. Và sau buổi hôm qua là đầu tiên con chính thức hiểu rõ về nhận diện ngũ uẩn, con vô cùng sung sướng. Trước đây con cũng đã thực hành các pháp để buông xả bằng cách này cách kia nhưng con vẫn thấy nó cứ bị lùng nhùng và chưa nhận diện được rõ. Sau buổi hôm qua con thấy tỏ tường vô cùng và đến buổi chiều hôm nay cũng vậy. Con cảm giác con vô cùng sung sướng, vỡ òa, chúng con tuy rằng không may mắn sống rất xa thời của Đức Thế Tôn nhưng chúng con lại may mắn vô cùng hơn bảy tỷ người trên hành tinh này là được nghe những lời của Đức Thế Tôn qua quý thầy, là một bậc minh sư, chân tu, đã chỉ cho chúng con những con đường có thể nói là chính xác nhất, đúng nhất và ngắn nhất để đạt được đến sự giải thoát viên mãn. Con chắc chắn rằng niềm tin đối với Đức Thế Tôn và vào pháp, đặc biệt là pháp môn này, nó sẽ là một niềm tin bất hoại. Và chắc chắn con sẽ thực hành và thực hiện theo những điều mà thầy ngày hôm nay đã chỉ bảo cho chúng con. Con xin kính tri ân thầy, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
./.
BỐN KHỔ ÁCH ĐÈ NẶNG
TRÀ ĐẠO KẾT KHOÁ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dục ách PAGEREF _Toc104203038 \h 1
II. Hữu ách PAGEREF _Toc104203039 \h 2
III. Kiến ách PAGEREF _Toc104203040 \h 4
IV. Vô minh ách PAGEREF _Toc104203041 \h 7
V. Ly dục ách PAGEREF _Toc104203042 \h 11
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc104203043 \h 14
I. Dục ách
Chúng ta hãy nhìn vào trong cảm thọ để thấy được cảm giác này bị đè nặng bởi dục, ham muốn bị đè nặng trên vai, đè nặng trên đầu chúng ta từ vô lượng vô biên kiếp, thúc giục tham muốn, vui thích, thích thú, luyến ái, đam mê, khát khao, đau buồn, nắm chặt trong những tham muốn, tham ái đó. Yêu thích và tham muốn trong các dục đóng chiếm, chiếm đóng và tồn tại trong thân tâm của chúng ta. Tham dục làm hang làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, vì lòng tham muốn, tham ái, vì lòng đam mê, khao khát, thèm thuồng đóng chiếm, làm dinh, làm thự, làm hang ổ, sào huyệt, làm căn cứ địa trong thân xác này.
Cứ muốn hoài, hết muốn cái này tới muốn cái kia, cứ tham hoài, được một đòi hai, được hai đòi ba, tới bao giờ mới vừa lòng đây. Tham dục này, tham ái này là một cái ách đè nặng trên đôi vai chúng ta, đè nặng trên đầu trên cổ, trong cảm thọ tâm tư chúng ta. Tham ái đối với con mắt này, gương mặt này, đầu tóc này, tay chân mình mẩy này, yêu thích, luyến ái, tham đắm, ham muốn, vui thích trong này, lưu luyến trong đây, đam mê trong dục này. Khao khát, đau khổ, ưu não trong đây, nắm chặt, bám chặt, ghì chặt, bấu chặt, siết chặt, buộc chặt trong đây. Dục ái này chiếm đóng và tồn tại trong thân xác này.
Trong đây là một sự đòi hỏi, tìm kiếm, hy vọng, mơ mộng, ước ao, chạy đuổi, truy cầu, thèm thuồng, khao khát. Chính cái thèm thuồng, khao khát, ham muốn này là một cái ách, một ách nặng đè lên thân tâm của chúng ta. Đến bao giờ chúng ta mới gỡ ra hết cái ách này? Đến chừng nào chúng ta mới đặt cái ách này xuống? Đòi nhìn, đòi thấy, đòi nghe, đòi tiếp xúc, đòi ăn, đòi chiếm hữu, đòi sở hữu. Kết quả của chúng ta, kết quả của dục là một thân già nua, bệnh tật, si lão và chết chóc. Kết quả của dục là một nội tâm đầy dẫy bất thiện pháp, đầy sân hận, đầy ta đây, đầy phiền muộn, lo lắng, sợ hãi, đầy bất an. Vì ái mà sanh ưu, vì ái mà ưu sầu, sợ hãi.
Nếu lìa tham ái thì đâu lo đâu sợ, xót xa cho một đời sống phải chạy hoài, tìm hoài, kiếm hoài, khát hoài. Thật là mệt mỏi, mòn mỏi, nhọc nhằn, vất vả cho chúng ta. Hết chạy theo cái này tới chạy theo cái khác, hết tìm cái này tới tìm cái khác, hết kiếm cái này tới kiếm cái khác. Một thân xác đầy bệnh hoạn, đầy những máu mủ, phèo phổi, gan ruột, phân và nước tiểu, mỡ, mủ, máu, nước miếng, mồ hôi, nước tiểu. Hằng ngày phải bài tiết ra những chất hôi dơ, tanh tưởi, vậy mà cứ say đắm, tham đắm dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê dục khát, dục não, dục chấp ngã, dục ái trong các dục chiếm đóng và tồn tại trong thân tâm của chúng ta. Đây gọi là dục ách – một cái ách của dục nó đè nặng nội tâm tới chừng nào, tới bao giờ mới dừng lại? Đến khi bạc mái đầu? Hay đến khi thân thể này suy lão, cạn kiệt và tiều tụy?
Hãy nhìn kỹ sự sanh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt và sự nguy hiểm của nó để có thể có một con đường thoát ra khỏi dục này. Hãy nhàm, yểm ly, chán lìa, xa lìa đối với các dục. Mình đã chảy bao nhiêu dòng nước mắt với các dục này? Mình đã khổ bao nhiêu lần với các dục này? Mình đã lo lắng, sợ hãi bao nhiêu ngàn lần với những đống dục vọng này? Nó vùi dập mình, hành hạ mình, đè đầu cưỡi cổ mình, sai khiến mình, lôi đầu mình hết đời này tới đời khác, hết kiếp này tới kiếp khác, hết thân con này tới thân con kia. Bao nhiêu sự đau khổ vì dục này sanh ra, bao nhiêu sự cay đắng vì dục này có mặt? Hãy tác ý, tác ý và tác động tâm ý mình thoát ra, bước ra, đi ra khỏi nó.
II. Hữu ách
Ách thứ hai Đức Phật dạy chúng ta là hữu ách – tham đắm trong sự hiện hữu này, vui thích, luyến lưu, đam mê, khao khát, phiền não, nắm chặt, yêu thích trong cái hiện hữu này. Và sự hiện hữu này chiếm đóng, làm đồn trú tồn tại trong thân tâm của chúng ta. Sự hiện hữu này là sự khổ đau! Ngài Xá Lợi Phất nói rằng: “Tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc”. (Trích Tăng chi bộ kinh - tập 1, bài kinh Lạc và khổ)
Chúng ta chỉ biết lo thiếu gạo, thiếu tiền, thiếu nhà, thiếu áo, thiếu ăn. Chúng ta chỉ biết lo những tai nạn xe cộ, máy bay, bệnh hoạn là khổ nhưng chúng ta không biết rằng cái khổ thật sự chính là tái sanh. Vì sao? Vì sự tái sanh là chỗ dựa của tất cả các nỗi khổ. Có sanh nên mới có già, bệnh, chết. Có sanh nên mới có lạnh, nóng, đói khát, đại tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với cây gậy, với kiếm, gặp những người yêu thương, chia lìa, ân ái, ly biệt. Chúng ta không thấy được rằng nỗi khổ thật sự là tái sanh, và chính cái hữu ách, sự ưa thích, khoan khoái, lưu luyến đam mê, khao khát trong hiện hữu này là động cơ để tái sanh. Và không tái sanh là lạc, Niết-bàn, là bất tử. Đây là chỗ cực kỳ thâm sâu, là Thánh Trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ.
Quý vị có thấy tái sanh này là khổ không? Đời sống này có vô vàn nỗi thứ khổ nhưng chúng ta chỉ thấy những cái khổ nhỏ nhặt trước mắt mà không thấy cái khổ lớn bao trùm hết tất cả, đó chính là sự tái sanh. Cho nên sự tu hành chúng ta là thoát ly sanh tử, không còn trở lui trạng thái này nữa. Trạng thái này là trạng thái của dục, của lòng khao khát, thèm thuồng, ưa thích, ham muốn. Không còn trở lui trạng thái của sự hiện hữu, say đắm trong hiện hữu. Tất cả mọi hiện hữu đều đau khổ trong ngũ uẩn này, vì nó vô thường, tan hoại. Chúng ta ưu thích thân này, nhưng thân này làm cho mình khổ. Có cái nhà là phải lo cho cái nhà, có chiếc xe phải giữ chiếc xe, có tiền ở trong nhà băng là phải lo, có cái két sắt để trong đó nhiều thứ là phải sợ. Người không có nghĩ rằng có sẽ được hạnh phúc, đó là ảo tưởng. Người có mới biết rằng trong đó có nhiều vấn đề, lo lắng và sợ hãi. Những người trúng số xong phải mướn vệ sĩ, ngủ không được. Cho nên làm sao thoát ra khỏi dòng lẩn quẩn này, thoát ra khỏi hữu ách này, cái ách đè nặng, sự ưa thích say đắm trong hiện hữu.
Chúng ta rất ưa thích sự có mặt của mình. Khi nhìn vào gương, thấy hình bóng mình hiện hữu trong đó thì thấy ái luyến, yêu thích mà không biết rằng cái mặt này là bệnh hoạn, là viêm xoang, là ung thư vòm họng. Lỗ tai này là mủ đầy trong đó, con mắt này phải đi mổ, não này phải thường thường kiểm tra, ung thư não, tai biến mạch máu não, không biết rằng thân này là căn cứ địa của tật bệnh, khổ đau. Còn ưa thích thân này là còn ưa thích bệnh hoạn, già chết, khổ đau. Còn ưa thích bàn tay này là còn thích gân guốc, da thịt, máu mủ, xương tủy, còn yêu thích sự tan hoại, biến hoại, tàn hoại của nó. Đến cuối cùng chỉ còn lại nước mắt, sự tiếc nuối, lo lắng và sợ hãi cho gương mặt này, thân xác này, cánh tay này. Quẹt chút là chảy máu, đứt tay, vô ý một chút là dập cả một bàn tay. Chúng ta không biết được sự nguy hiểm của cái hiện hữu này, chúng ta không biết sự hiện hữu này là một sự nguy hiểm, giống như một món đồ gốm rất có giá trị, mình rất quý nhưng bản chất của nó rất dễ vỡ, dễ tan, dễ nát, dễ hoại.
Thân này là của nợ, là cục nợ này, là gánh nặng sắc thủ uẩn, vì đống da đống thịt này mà mình thủ trong đó, nắm chặt trong đó, ra không được. Vì ưa thích đống da thịt này nên đời sau nếu là nghiệp lành nghiệp thiện thì được làm người, phước lành hơn nữa thì lên trời. Còn nếu không phải nghiệp lành nghiệp thiện, mà là nghiệp ác thì làm chó, làm mèo, gà vịt, giòi, bọ…. dẫu vậy nhưng mình vẫn ưa thích thân con giòi đó. Con giòi đó được ăn phân thì thấy ngon lắm, đống phân đó là đại tiệc của nó, con chó ăn những đống phân đó là một buổi tiệc ngon lành, đó là những hình thức của hiện hữu. Đến những cô hồn đói khát, vất vơ vất vưởng, ngạ quỷ… cũng là những hình thái của hiện hữu, và tất cả sự hiện hữu là bất an, ung nhọt, là mũi tên, là tai họa.
Cho nên, hãy từ bỏ sự tham muốn, vui mừng, ái luyến đối với hiện hữu này; từ bỏ sự đam mê trong hiện hữu này, từ bỏ sự khát khao, sự ưu não trong hiện hữu này. Phải phá tan, phá vỡ, phá nát chấp thủ trong hiện hữu này. Hữu ái trong các hữu này chiếm đóng và tồn tại, mình phải phá vỡ dinh đồn, phá vỡ sào huyệt, hang ổ của nó. Nếu nó là đẹp đẽ, sạch sẽ, đáng quý, đáng trọng, đáng thương thì tại sao khi bên trong này nó đổ ra người ta hoảng hồn kinh hãi hết? Tại sao gan ruột phèo phổi mình đổ ra là ai cũng hoảng loạn, kinh hãi và khiếp sợ, khiếp đảm? Tại sao đi ra những phân bẩn thỉu như vậy phải bấm nút dội ngay lập tức? Tại sao nó chảy nước mũi ra thì mình xấu hổ, chùi liền, chùi nhanh, chùi mau, chùi lẹ? Tại sao nó đổ ghèn ra mình phải xấu hổ? Sự bất tịnh, không sạch sẽ, sự hôi dơ mà vì vô minh, vì khát ái chúng ta lại đam mê, say sưa, thích thú trong cái hiện hữu này. Cứ như vậy mà chúng ta cứ khổ hết hình thái này đến hình thái khác, hết dạng thức này đến dạng thức khác, hết kiểu cách này đến kiểu cách khác.
Các cô chưa có gia đình khổ không? Khổ, muốn tìm được một người thương, nương tựa. Khi có gia đình rồi khổ không? Khổ theo kiểu khác. Mà nếu người thân thương trong gia đình mình ra đi hay ly thân, ly dị hay có tai nạn qua đời có khổ không? Tất cả ba thời đều khổ. Mặt khác, không có tiền khổ không? Mong muốn có nhiều tiền, đến khi có tiền nhiều thì khổ không? Không may tiền mất hết, trắng tay, túi không, phá sản thì khổ không? Như vậy, tất cả mọi hình thái của hiện hữu là khổ đau, phiền não, lo lắng, bất an. Vậy mà vẫn không biết nến cứ ham thích, đam mê, khao khát, chấp thủ cho rằng mọi thứ đó là tôi, là của tôi!
III. Kiến ách
Ách thứ ba là kiến ách, nghĩa là thân kiến, kiến chấp, kiến thủ, định kiến, thành kiến, tư kiến cá nhân đè lên đầu lên cổ mình, đè lên vai mình. Yêu thích, tham muốn, luyến ái, đam mê, khao khát, phiền não trong kiến chấp đó, nắm chặt chấp thủ trong kiến chấp đó, yêu thích kiến chấp đó trong các kiến chấp đó xâm chiếm và tồn tại. Đau khổ chúng ta đây là ách thứ ba, nãy giờ ba cái ách đè lên đầu. Có một cái ách mà con trâu nó gần chết rồi mà mình bốn ách mà cứ cười vui rồi ăn chơi phè phỡn rồi vô hòm. Đó là vô minh. Kiến này sâu sắc nhất là thân kiến, cái đau khổ nhất hạng, cái kiến chấp nặng nề nhất làm chúng ta khổ nhất chính là thân kiến, kiến chấp về thân.
Cái nào cũng tôi, cái nào cũng của tôi, nó chụp vô đống da rồi nói đây là của tôi. Nó sanh ra cảm giác rồi cảm giác nào cũng chụp vô nói đây là tôi, là của tôi, tôi vui, tôi mừng, tôi bực, tôi quạu, tôi khổ, tôi thấy bình thường. Cái nào cũng gắn cái tôi vô, những hình bóng trong tâm, tôi nghĩ, tôi tưởng. Suy nghĩ là tôi suy nghĩ, suy nghĩ đó là tôi, hành đó là tôi, thọ đó là tôi, tưởng đó là tôi, sắc đó là tôi, trong thấy biết là tôi, tôi thấy, tôi biết, quan điểm của tôi như vầy nè, tôi thấy như vầy, tôi biết như vầy, tôi giỏi như vầy, tôi hiểu được như vầy.
Kiến ách đè lên, ngũ uẩn đè lên, nguyên bàn tay như vầy chụp xuống như Ngũ Hành Sơn, nó đè năm trăm năm. Tức ngũ uẩn này vô lượng kiếp, phải gỡ lá bùa mê thuốc lú trong ngũ uẩn này ra, phải có minh sư, phải có bậc Chánh Kiến, phải có bậc thiện tri thức mới chỉ cho mình, mở cho mình lá bùa mê đó, bùa mê kiến chấp, thân kiến, ngã kiến ta, đè xuống. Sắc này là tôi, là của tôi, tôi trong sắc này, sắc này ở trong tôi, giống gì nó cũng nói là tôi, là của tôi. Ham muốn, tham muốn trong thấy biết sai lầm, vui thích, luyến ái, đam mê, khao khát, buồn phiền, bực bội trong thấy biết sai lầm đó. Nắm chặt, bám chặt, chấp chặt, ghì chặt, buộc chặt, kiến chấp, chấp thủ trong thấy biết sai lầm đó. Yêu thích trong cái thấy sai lầm đó, cái thấy sai lầm đó nó xâm chiếm và bây giờ đang tồn tại trong ngũ uẩn này.
Hãy tập dùng Như Lý Tác Ý phá vỡ kiến chấp này, soi vô gương, nhìn vô gương, thấy bóng mặt trong đó. Đây là sắc uẩn, sắc pháp, là tứ đại, là xương với da, đầu lâu, nắm tóc mà do vô minh và khát ái kết thành, do nghiệp mình biểu hiện. Đuổi suy nghĩ tôi, của tôi ra khỏi tâm mình. Khi có một cảm giác sanh khởi lên nghĩ rằng tôi sướng quá, lập tức đuổi liền, dùng Như Lý Tác Ý, dùng suy nghĩ của Chánh Kiến. Không có cái tôi nào ở đây, đây chỉ là duyên sanh pháp, những cảm giác sanh diệt hư ảo này phồng lên xẹp xuống, nổi lên rồi tan biến, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh. Những cảm giác vô thường này, không có gì là tôi, là của tôi trong đây. Đây là tổ hợp của các cảm giác vô thường, đây là sự tổ hợp của các pháp duyên sanh, đây là sự tổ hợp của những trạng thái bọt bèo.
Những hình bóng, những suy nghĩ, suy nghĩ nào có tôi, của tôi trong đó là mình đuổi nó ra ngay lập tức, diệt tận, đánh vỡ suy nghĩ đó. Không có cái nào tôi trong đây, chỉnh nó liền ngay trong suy nghĩ. Như vậy mình mới từ từ tháo được kiến ách này, cái ách nặng của thân kiến, kiến chấp, chấp thủ này. Tất cả những suy nghĩ mà nó liên hệ đến tôi, của tôi phải lập tức được tẩy sạch, tẩy não, đánh đuổi, truy sát và diệt tận nó bằng chổi thần Như Lý Tác Ý, cây chổi thần để quét căn nhà nội tâm. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi.
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽđưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
- Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông”.
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ không phải là của mình. Bộ xương da này không phải là mình, là của mình, đừng nhận nó là mình. Nhận mình là nguy hiểm, tai họa, ung nhọt, trúng tên, đau khổ. Nhận nó là mình, mình gặp nạn trong thân, mình sẽ gặp tai nạn nặng, hiểm họa. Mình nhận đồ dễ vỡ, dễ tan, dễ hoại, dễ nát, dễ diệt; mình nhận đồ tật bệnh, bất tịnh, nhơ nhớp, hôi thối, bẩn thỉu này; mình nhận đồ sanh diệt, vô thường, tạm bợ, mong manh, tan vỡ này là mình thì mình gặp đại họa, đại thảm họa.
Một cậu thanh niên còn rất trẻ, mới có hai mươi mấy tuổi, leo lên nóc nhà để quay phim Tiktok, rớt xuống nát ra, chết tại chỗ. Một trăm bốn mươi ngàn lượt người theo dõi, lọt xuống một cái là tan nát. Như vậy thân xác đó bây giờ là ai, là của ai? Mong manh, dễ tan, dễ nát, dễ vỡ, dễ hoại, dễ diệt. Và con xin đại chúng phải nhớ ráng ba chữ “hàng dễ vỡ”, phải nhớ đừng bao giờ quên, dán trong tim, trong đầu, trong tâm, dán trong suy nghĩ, cảm thọ của mình, phải dán đồ gốm, đồ này làm bằng gốm, món đồ gốm. Phải phá phải diệt thân kiến này, kiến chấp ngu mê về thân xác này, phải đoạn tận nó, đập vỡ, đập tan nó, phải phá cho nó thành cát bụi, mây khói. Chính cái kiến này là ách nặng đè mình, mà mình không đi ra khỏi, không ra khỏi cục thịt này. Rồi rước thêm một cục thịt khác, buộc vô, rồi có thêm những cục thịt tiếp tục, rồi sầu bi, khổ ưu não, rồi buộc, trói, hệ lụy.
Đây là con đường xuất ly tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nguy hiểm nhất trong tất cả sự nguy hiểm chính là thân kiến, một khi suy nghĩ là tôi, của tôi là bao nhiêu dây mơ rễ má, bao nhiêu những tham dục, sân hận, vô minh, những bản ngã kéo dài lê thê bất tận trong dòng luân hồi. Chúng ta sáng nay sám hối diệt ngã, từng lời từng câu phải thâm sâu, ngấm vào trong tim, trong xương trong tủy mình. Nó đi từ trong tai, vào trong nhĩ thức, vào trong cảm thọ, cất giữ trong đó, cất giữ trong cảm thọ đó là một hình bóng vô ngã; hình bóng của Chín Giai Đoạn Tử Thi và Ba Mươi Hai Thể Trược đó phải cất giữ. Dùng cái tưởng này để phá cái tưởng kia, dùng Chánh Kiến phá thân kiến, diệt tà kiến. Dùng sắc hoại để đánh vỡ sắc thủ uẩn.
IV. Vô minh ách
Ách thứ tư là vô minh ách. “Này, ở đây này các Tỳ-kheo, có hạng người không như thật, quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xuất xứ, do không như thật quán tri tập khởi. Sự xuất ly của sáu xuất xứ cho nên vô minh, vô trí trong sáu xuất xứ xâm chiếm và tồn tại. Này, các vị, đây gọi là vô minh ách, dục ách, hữu ách, kiến ách. Bốn cái ách nặng này bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, các quả khổ bị dị thục trong tương lai bởi sanh già chết. Do vậy được gọi là không an ổn khỏi các khổ ách”.
(Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, chương Bốn Pháp, phẩm Bhandagàma, bài kinh Các ách)
Vô minh ách là như thế nào? Vừa rồi trên chuyến bay từ Sài Gòn ra đây, con ngồi đọc kinh trên chuyến bay. Trong khi đọc tới đoạn đó, nó bừng sáng ra ý nghĩa của vô minh và hành. do mình không thấy ngũ uẩn, không biết ngũ uẩn, mình tưởng đâu nó có một cái tôi, một cái của tôi cho nên do mình không thấy sắc là sắc, không thấy tổ hợp của sắc là một đống sắc. Do mình không thấy một đống cảm thọ, những suy nghĩ, hình bóng, suy tưởng đó. Do mình không thấy một đống nhận thức đó cho nên mình nghĩ rằng có một cái nguyên khối tưởng là có một cái tôi tròn vẹn như vậy.
Khi suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức đó là vô minh, từ chỗ vô minh đó tất cả những suy nghĩ, lời nói và hành động được vô minh dẫn dắt, những gì suy nghĩ là suy nghĩ của vô minh, những gì nói ra là nói ra từ vô minh, những gì hành động, hoạt động là hoạt động từ vô minh. Cho nên tâm hành, ngữ hành, tâm hành hay ý hành, khẩu hành, thân hành là vô minh. Chính vì vậy mà chúng sanh có suy nghĩ gì cũng suy nghĩ vòng quanh vô minh. Có nói gì, tất cả ngôn ngữ, lời nói đi lòng vòng, vòng quanh trong vô minh. Có làm gì thì tất cả những hành động đó vòng quanh vô minh, chạy xung quanh vô minh, không ra khỏi. Thật đáng sợ, tất cả suy nghĩ của chúng ta mà nếu không gặp minh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác khai thị, hiển thị, diễn thuyết thì không có bất cứ một ai có thể dùng minh để phá vô minh nổi nên tất cả những suy nghĩ của chúng ta là suy nghĩ trong bóng đêm do vô minh dẫn dắt.
Từ vô minh sanh ra hành, hành gồm ba cái gồm thân hành, khẩu hành, ý hành, duyên vô minh nên mới có ra hành. Những suy nghĩ đó gọi là ý hành. Cái mình đang nhận diện ngũ uẩn, nhận diện ý hành là đang suy nghĩ gì, những suy nghĩ nào không liên hệ đến pháp, không an trú trong pháp thì suy nghĩ đó là vô minh. Chỗ sâu sắc mà chúng ta cần chiêm nghiệm là hằng ngày chúng ta suy nghĩ về pháp được bao tiếng đồng hồ? Hay suy nghĩ nằm trong bóng đêm của tham, sân, si và bản ngã. Suy nghĩ tôi giỏi hơn người kia, tôi đúng người kia sai, suy nghĩ là thôi tu làm chi xa xôi quá, ở nhà tu cũng được rồi, vô Linh Quy xa quá, ra Hà Nội xa quá, thôi ở nhà mở cuốn nghi thức ra đọc cũng được rồi. Cho nên, cần cẩn thận trước những suy nghĩ giãi đãi, không nhiệt tâm, tinh cần, không tinh tấn, thiết tha, chân thành, khát khao.
Thay vì chúng ta tham trong dục hỷ, dục luyến ái, dục đam mê, khát khao trong dục thì mình hãy tham trong pháp, hỷ trong pháp, luyến trong pháp, đam mê trong pháp, khát khao được thực hành pháp, được nghe pháp, được đồng học, được bạn đồng tu nên mỗi chủ nhật phải đến chùa tu, càng nhiều càng tốt. Những thời khóa có thể đi được nhất định phải về rừng thiền Linh Quy, phải về đạo tràng Nikāya. Dù còn hai người cũng tu mà còn một mình mình cũng tu, chết cũng tu mà sống mình cũng tu. Ngoài pháp này ra không còn gì nữa thì mình làm gì? Cái gì đáng làm? Chính vì vậy, hãy nắm chặt pháp này.
Cái vô minh ghê lắm, suốt ngày chúng ta luôn suy nghĩ trong vô minh. Ví dụ, khi ăn chánh quán thọ thực, nhiều người cứ suy nghĩ “ăn cái gì tôi thấy tôi mệt quá, khó khăn quá” thì những suy nghĩ đó là không hành pháp, tùy pháp. Lúc đó, cần rèn luyện tâm mình nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, thời khóa nào phải làm y thời khóa đó. Hoặc khi nười ta đang hướng dẫn bất tịnh thì có người lại không chịu thực hành, cứ thích trải tâm từ, đó là không hành pháp, tùy pháp, tâm không nhu nhuyến, không mềm mại, không dễ sử dụng.Tuy là thiện pháp nhưng vẫn chưa phải là thiện xảo, nó còn sự chống đối, còn sự cứng cỏi, ương ngạnh. Phải trị nó cho đến khi nào nó mềm mại dễ sử dụng, muốn vô sơ thiền là vô sơ thiền, muốn vô nhị là vô nhị, vô tam vô tứ, muốn vô hỷ lạc, từ bi hỷ xả vô lượng tâm, muốn vô đến đâu là vô chỗ đó. Như vậy mới gọi là tâm nhu nhuyến. Bây giờ những cái nhỏ này mình không huấn luyện mai mốt những cái lớn làm sao mình vô được mà từ vô lượng tâm? Nên phải huấn luyện, cái vô minh này ghê lắm, những suy nghĩ, lời nói, hành động nó trong vô minh, nó trùm chiếm, xâm chiếm hết ngũ uẩn của mình. Mình không thấy, không biết các pháp đang có mặt như thế nào, đang hiện khởi trong tâm mình như thế nào?
Trong Căn bản trí, bài Niệm Chánh niệm tỉnh giác 2 có nói, thọ sanh khởi lên, an trú và chấm dứt như thế nào; tưởng sanh khởi lên, an trú chấm dứt như thế nào; những tầm, tức những ý hành, những suy nghĩ hướng tâm về cái gì đó thì chúng ta đều phải thấy tất cả những thứ đó an trú như thế nào, chấm dứt như thế nào. Như vậy mới hết vô minh và có sự chánh Niệm tỉnh giác. Khi chiêm nghiệm chúng ta mới thấy vô minh là cái ách nặng đè lên mình. Những suy nghĩ, lời nói, hành động chỉ theo tham, sân, si, bản ngã thì đó là vô minh, lậu hoặc. Lậu hoặc làm cho vô minh sanh khởi, hai thứ này tương tác với nhau, vô minh và lậu hoặc làm tăng trưởng phát triển, thêm một đống đại khổ uẩn này cho nên cần phải soi sáng trong suy nghĩ.
Trước khi suy nghĩ phải soi xét, nhìn ngũ uẩn trong lúc nó suy nghĩ như thế nào. Lúc nó đang suy nghĩ mình phải soi xét, sau khi suy nghĩ xong rồi phải soi xét nữa, như chuyên gia nội soi. Trước khi nói, xem xét lời nói này có phát xuất từ bản ngã, từ sân, từ tham không? Nói để người ta cho đồ, thích món đó nên nói để người ta cho, coi nó phát xuất từ tham không? Phải nội soi, rồi sau khi nói rồi, soi lần nữa. chúng ta thấy không? Trước khi làm soi xét, suy xét, khi đang làm suy xét, soi xét, làm xong rồi suy xét, soi xét, từ từ mới phá vô minh. Cái bóng mờ, bóng tối đó dần dần tan ra.
Lâu lâu mình được ánh chớp lóe lên, ánh chớp của Chánh Kiến một ngày lóe lên được chừng mấy lần. Khi tụng, tập trung tâm ý vô tụng, những bài trong Nghi thức Nikāya lúc đó là ánh chớp lóe lên, nhớ là tập trung trọn vẹn tâm ý, tha thiết chân thành trong sự tu học thì ánh chớp mới lóe lên. Còn lúc đó miệng đọc như vậy nhưng trong tâm không thọ, không tập trung tâm ý, không thọ nhận pháp đó thì lúc đó vô minh vẫn xâm chiếm. Nó vẫn còn, không trong sáng nhưng lúc đó trong sáng rõ ràng thì Năm Triền Cái bị phá vỡ, trí tuệ sanh, minh sanh, quang sanh, giác sanh. Năm Triền Cái hoàn toàn vắng mặt, lúc đó không có hình bóng của dục tham, sân, trạo cử, hôn trầm, hoài nghi, không có. Tâm thuần khiết, trong sáng, pháp hiển lộ rõ ràng và chúng ta thọ nhận trọn vẹn như vậy là minh sanh, trí sanh, quang sanh, giác sanh, tuệ sanh.
Mỗi khi tham dự khóa tu hay ngồi thiền mà mình ngủ gục, như vậy là không được, đánh đuổi nó mạnh cho nên trong sự vô minh này, vô minh ách này nó ghê lắm. Vô minh này hồi xưa chúng ta học nó lờ mờ, chúng ta cứ nghĩ nó là một cái gì hồi xa xưa lắm, vô minh này của quá khứ. Vô minh hành là của quá khứ, thức dẫn đi đầu thai. Nhưng bây giờ chúng ta học kỹ rồi nhận diện ngũ uẩn chúng ta thấy vô minh trong từng giờ, từng phút có mặt.
Lúc nào sự nhìn năm uẩn của mình không rõ, nó lờ mờ là lúc đó vô minh. Lúc hoàn toàn không thấy năm uẩn là lúc đó đại vô minh, nó thấy được nhưng thấy lờ mờ, kiểu vô minh cũng khấm khá, mà tới thấy rõ ràng thì thực ra chúng ta biết vô minh này tới quả thứ mấy mới phá hết? Đến Thánh quả A-la-hán mới hết vô minh. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Thành ra mình còn chưa được vào cửa, chưa nhập lưu mà ở đây dám xem thường vô minh, là chết ngay thôi, chết không kịp nói, chết không kịp chối, chết tức chết tưởi, chết bất thình lình, vô minh trùm chiếm hết, nó xâm chiếm, điều khiển mình hết, mình tưởng đâu mình thông minh lắm, ai dè đâu là vô minh. Chính cái tưởng là thông minh đó là vô minh, mà biết mình vô minh còn đỡ, gần tới minh, chọn cái nào? Thấy được cái vô minh của mình là gần tới minh, mà nghĩ mình thông minh thì lúc đó vô minh, cho rằng mình thông minh là vô minh.
Cho nên, chúng ta phải biết được sự sanh khởi và chấm dứt của vô minh, vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của vô minh mình phải quán chiếu thường xuyên, sự nguy hiểm và tác hại của vô minh. Khi làm gì cũng phải tập trung tâm ý, phải tỏ sáng tinh minh, minh đạt trong lúc nói, lúc suy nghĩ, trong khi mình làm. Không làm cái lờ mờ, thà là không làm, từ từ rồi làm, không vội chứ không làm trong vô minh, làm trong vô minh một hồi hối hận không kịp. Lúc đó tâm mình không minh đạt, không sáng tỏ, những suy nghĩ trong đó vận hành là những suy nghĩ của cấu uế, của lậu hoặc, của bóng đêm.
Do không biết được sự sanh khởi và chấm dứt của vô minh, không thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của vô minh nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ này xâm chiếm và tồn tại. Sáu xúc xứ là sự tiếp xúc của căn và trần nhưng khi đó mình không có trí, không sáng tỏ trong khi sáu xúc. Bên trong xúc chạm với vô minh, những thọ, tưởng, hành xúc chạm với vô minh. Những điều này chúng ta cần phải tu học nhiều hơn để nhận diện năm uẩn thật sâu sắc, thấy được những cảm thọ sanh khởi khi xúc chạm với vô minh.
Ví dụ trong nhà chúng ta sinh hoạt, nấu nướng, quét dọn thì thấy bình thường, không quán chiếu, không nhìn thấu. Chúng ta an lòng, có một cảm giác an toàn trong căn nhà của mình là vô minh. Không thấy sự nguy hiểm của sắc, của thân kiến, không thấy sự nguy hại của nó. Lúc đó là sự nguy hại của Chánh quán, không Chánh Trí nên lúc đó mình phải tác ý. Ngôi nhà mình đang ở là nhà trọ, xác thân đang mang này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, bệnh hoạn, tan nát, hủy hoại, hoại diệt.
Khi tác ý theo như vậy, cái vô minh sẽ bị cái minh, cái trí của Chánh tri kiến, của Thánh pháp soi vào, bóng tối của vô minh bị tan biến, ngay lúc đó ngọn đèn trí tuệ được thắp sáng lên. Khi thắp sáng ngọn đèn lên thì tham, ái, hỷ đối với đời sống, đối với thân kiến, đối với dục, với sắc bị nhiếp phục, đánh gục, sụp đổ ngay lúc đó. Cần phải tác ý, quán chiếu thường xuyên và liên tục như vậy. Mỗi khi thấy cái gì, nghe gì, cảm thọ gì đều phải dùng thánh tri kiến, chánh kiến, dùng minh, giác, trí để soi vào, từ đó phá vô minh, phá tham ái, chấp thủ. Mỗi một lần phá như vậy, minh mới sanh thêm, từ từ trở thành Thánh tuệ uẩn – là một tổ hợp trí huệ của bậc Thánh.
Như vậy, Thánh tuệ uẩn được hình thành trong sự quán chiếu, tác ý và tu tập, đòi hỏi phải chất chứa rất nhiều trí tuệ chứ không phải đơn giản học phớt qua là đủ. Cũng không phải chỉ học trong một buổi nghe pháp, hay học trong bài kinh là xong, đến khi ra ngoài là mất tiêu hết. Cũng không phải là trí tuệ bắp vế, nghĩa là để bánh kẹo vào bắp vế, đứng lên đi ra mất hết. Mà trong từng phút từng giây, mỗi khi thấy gì, nghe gì, cảm xúc gì đều đem trí tuệ này soi chiếu, như vậy mới nuôi lớn minh, nuôi lớn trí, thắp sáng đèn tuệ. Không còn giống như lúc trước cứ suy nghĩ, nói năng, làm việc một cách tự do theo thói quen, theo nghiệp, theo dục, theo bản ngã.
V. Ly dục ách
Đức Phật nói: “Này, các Tỳ-kheo, thế nào là ly dục ách. Ở, đây có hạng người như thật, quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, nguy hại và sự xuất ly của các dục. Do như vậy, trong các dục không xâm chiếm và tồn tại được”.
(Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, chương Bốn Pháp, phẩm Bhandagàma, bài kinh Các ách)
Ly hữu ách, ly kiến ách và ly vô minh ách cũng vậy. Tức là vị này luôn quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của những thứ này. Quán hoài, nhớ hoài, tác động tâm ý hoài, nguy hiểm nghe không, đọc đừng ngủ nghe không, vị này có độc bên trong, thuốc độc trong này đừng uống. Dầu cho khát thiệt khát nhưng biết nó có độc, dám uống không? Tại sao vậy? Vì biết được sự nguy hiểm và tác hại của thuốc độc, thân kiến là thuốc độc, dục là thuốc độc, hữu ái, vô minh là thuốc độc nên vị này tránh né.
Đức Phật dùng rất nhiều phương pháp cho mình tu, chẳng hạn như bảy cách đoạn trừ phiền não, mình tránh né, tu tập, đoạn trừ. Tùy theo hoàn cảnh lúc đó như thế nào mà mình vận dụng thiện xảo, thích ứng, thích hợp thì lúc đó nó có hiệu quả. Ví dụ ngôi nhà thật là dơ như vậy, mình muốn chùi lau mình dùng cái gì? Không đơn giản chỉ dùng cây chổi quét quét, sao nó dính trong đó ba năm chưa chùi. Hay trong bồn cầu dơ như vậy mà nó dính trong đó, hôi, dơ, thối, bây giờ đâu chỉ đơn giản là bấm nút hay dội được không? Phải diệt trùng rất nhiều phương tiện, nên mình phải học Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Có đủ phương tiện, đủ công cụ, dụng cụ để mình làm tổng vệ sinh cái tâm vô lượng vô biên kiếp cấu nhiễm này.
Tâm này là tâm cấu nhiễm, nhìn thấy ghê lắm, thấy muốn ói, ngao ngán, chán chê, ê chề, não nề, gớm ghê, viễn ly, yểm ly, nhàm chán. Quý vị tu đi rồi sẽ thấy tâm này ớn quá, chán quá, riết cũng không muốn tiếp xúc với ai nữa. Vì xung quanh toàn thấy tham, sân, si với bản ngã và dục, ái. Cả thế giới này vận hành bằng dục, nên mới gọi là dục giới – thế giới của dục. Bậc Chánh Đẳng Giác, ngài gọi thế giới này là dục giới, và thân này vô thường, biến đổi, vô chủ như trong bài Niệm Thân Vô Chủ:
“Thân này là vô thường, đi đến hoại diệt.
Thân này là vô hộ, vô chủ.
Thân này là vô sở hữu ra đi bỏ lại tất cả.
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái”.
(Trung Bộ Kinh, Kinh Ratthapala)
Thân này là thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái, bản chất của thân này là vậy nên mình thấy ra được sự thật phũ phàng. Chính điều đó làm mình khổ, là động cơ của khổ vì lúc nào nó cũng thiếu thốn, người giàu nhất thế giới cũng chưa thấy đủ. Lời của bậc Chánh Đẳng Giác nói tới bao giờ mà sai khác được, thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái. Phải niệm câu này mỗi lần ái sanh, dục sanh, tham sanh, ta nhàm chán ngươi quá rồi, ngươi làm ta mệt mỏi lắm rồi, bây giờ ta thân tàn ma dại gần xuống lỗ rồi ngươi còn chưa để yên cho ta hay sao? Ngươi ác độc vừa phải thôi, ta quỳ ta lạy ngươi, ngươi đi khỏi thân tâm ta đi, hoàn toàn tan biến thành mây thành khói thành hư không.
Trong sự tu, sự tác ý của chúng ta là phải trên tất cả mọi khía cạnh. Trong mọi trường hợp, mọi sự tiếp xúc mà thấy rác bẩn là phải quét ngay lập tức. Còn bằng không, cứ để đó nó tích tụ, chất chứa mà nó làm cho chúng ta nước mắt đầy mặt, sầu bi khổ não mãi mãi hoài hoài không có ngày cùng tận. Và Đức Phật dạy mình ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách và ly vô minh ách. Gỡ bốn ách đó xuống, đập vỡ nó ra, nghiền nát nó ra, đốt cháy nó thành tro bụi, đổ nó xuống biển xuống sông cho gió thổi bốn phương tám hướng, mười phương cho nó bay thành hư không.
Ly những ách đó, lìa những thứ đó, dục ưu thích trong sự hiện hữu, thân kiến, kiến chấp về thân và sự vô minh, không bị trói buộc bởi các ác và bất thiện pháp, bởi các phiền não và các pháp bị tái sanh phiền nhiễu. Không bị trói buộc bởi các quả khổ mà nó chín muồi, nó biến đổi, dị thục trong tương lai. Không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, do vậy được gọi là an ổn khỏi các khổ ách. Quý vị muốn an ổn không? Muốn khỏi các khổ ách không? Gỡ bốn ách này xuống, từ từ mỗi một ý niệm của mình mình phải dùng trí để phá suy nghĩ vô minh, tham ái và chấp thủ trong mỗi suy nghĩ và cảm thọ, trong mỗi tư tưởng, tư duy. Cái nào suy nghĩ tôi, của tôi, cái nào suy nghĩ dục, tham, ái, sân si là gỡ suy nghĩ đó, tác ý, đánh đuổi, diệt tận, truy sát liền.
Như vậy quý vị nghĩ đó là đại hùng đại lực, đại tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh. Nếu mình tu một cách lơ tơ mơ, sơ sơ, mình tu có hình thức, có bề ngoài, còn bên trong nó làm gì mình không biết làm sao thành tựu minh trí để phá vô minh. Như vậy, chiều nay cũng định cho quý vị những câu hỏi, bài kinh này là bài Các ách, chúng ta vừa thực tập và thiền vừa chiêm nghiệm những nguyên nhân làm cho chúng ta khổ đau và hằng ngày để chúng ta thành tựu được trí tuệ và nguyên nhân đau khổ để chúng ta bắt đầu chặn đứng những nguyên nhân đó và tự chúng ta làm cho mình giảm khổ, bớt khổ và đi đến hết khổ, đạt được an ổn khỏi các khổ ách. Bây giờ tiếp theo quý vị nào có hỏi gì thì chúng ta hỏi, còn nếu không có thì sẽ tu tập.
VI. Trình pháp
Phật tử 1: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con xin cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Con xin cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng, Bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng và ruộng phước vô thượng trên đời. Thật hy hữu thay, thật kỳ diệu thay, chiều nay là một bài pháp mà sư phụ, người đã nói lên tiếng nói của Thế Tôn, bậc toàn tri, toàn kiến, bậc Chánh Đẳng Giác. Sư phụ đã nói trọn vẹn lại tất cả những điều mà Thế Tôn muốn nhắn gửi thế gian. Thật hy hữu, thật lành thay cho mảnh đất này, xin thấu đến các tầng trời, các Chư Thiên, tất cả những con người đang ở đây từ vô hình đến hữu hình. Nếu ai chấn động thân tâm bài pháp hôm nay sẽ thành tựu được những điều cần thành tựu, viên mãn được những điều cần viên mãn.
Sư phụ là sứ giả của Thế Tôn, đã nói tất cả những điều mà Thế Tôn đã chỉ dạy, không sai sót dù là một âm từ. Đây là tiếng sư tử rống, làm chấn động thân tâm cũng như đại điện nơi này. Thật may mắn và hy hữu cho chúng con, con xin tri ân mà điều hôm nay con được thọ nhận. Đây là bài pháp giúp mọi người đưa đến điều thế nào là chấm dứt sanh tử luân hồi, một bài pháp trọn vẹn vì tất cả các ý, pháp hành và giải đáp tất cả những điều mà mọi người đang hướng đến, tu sao cho giác ngộ, chấm dứt luân hồi.
Con xin tri ân sư phụ đã hiện thân nơi đây, nói lên bài pháp này. Con có một lời thỉnh cầu tới tất cả các vị ở đây, nơi này đang có sự hiện diện của Thế Tôn, đang có bậc minh sư thay mặt Thế Tôn nói những điều cần nói. Tất cả hãy đi ra khỏi ghế của mình, quỳ xuống và đảnh lễ, đây là phước lành hy hữu, hiếm có, khó gặp trong vòng luân hồi này của tất cả mọi người ở đây. Hãy làm ngay khi còn có thể. Bạch Thế Tôn, bạch bậc minh sư, người đã đem ánh sáng, không sai một chút nào, chúng con tri ân người đã hiện hữu nơi đây. Tất cả chư thiên, hộ pháp, long thần, thổ địa mười phương chư Phật đang ở nơi đây chứng giám cho sự cung kính đảnh lễ này để hộ pháp cho chúng ta trên chặng đường sắp tới. Chúng con nghiêng mình thân, khẩu, ý thanh tịnh hướng về Chánh Trí, hướng về tuệ giác, về Thế Tôn. Xin sư phụ Minh Thành cho phép chúng con đảnh lễ.
Sư phụ: Tất cả chúng ta hướng tâm về Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, hướng tâm về Chánh Pháp ly tham, giải thoát tối thượng, hướng tâm về Bốn đôi tám chúng, hiền Thánh tăng và ruộng phước vô thượng trên đời. Thầy mời quý Phật tử nào có chia sẻ cảm thọ tu học của mình. Mời cô.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch sư phụ, sư thầy và sư cô và các bạn đồng tu. Hôm nay là buổi thứ hai con được nghe sư thầy triển pháp này, lần này cũng là lần đầu tiên và cũng là sơ khai trong việc thiết tín Phật pháp này. Những lời nói để diễn đạt hết ý nghĩa trong con còn rất ít, con chưa hiểu để diễn đạt được bằng lời nhưng thật sự từ trong thâm tâm con, con thấy qua mỗi lời sư thầy giảng con rất xúc động và con nhận biết được rằng tất cả những điều đó đều rất thiết thực với cuộc sống và trong thâm tâm của chính bản thân con. Nó diễn ra hằng ngày trong cuộc sống và chính bản thân con từ ý thức, từ cái tưởng dẫn đến ý thức và hành động đấy thì con thấy rằng tất cả những điều mà sư phụ truyền đạt cho chúng con, con cảm thấy tất cả đều đúng. Và con thấy được sự khổ đau trong đó, con cảm nhận được sự khổ đau trong đó từng ngày từng giờ, qua mỗi việc con nghĩ, qua mỗi việc con làm, qua những hành động và con thấy tất cả những điều đó vô cùng khổ, đem đến sự khổ đau cho con người. Và thật sự con rất biết ơn sư phụ đã soi ngọn lửa sáng đấy trong tâm con để con có thể… Và con nhận biết được tất cả những điều đó là vô minh, khi con đã nhận biết được vậy rồi, và có ngọn đuốc mà sư phụ đã soi sáng thì con xin nguyện sẽ gạt được mọi vô minh, mọi khổ đau trong chính tâm mình. Con xin cảm ơn.
Phật tử 2: Kính bạch trên quý thầy, con kính bạch quý sư cô cùng tất cả những quý đại biểu đang ngồi đây. Giờ phút này con vô cùng xúc động và hạnh phúc khi được có mặt ở nơi đây, được nghe những lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn qua lời chỉ dạy của quý thầy là sứ giả của Đức Thế Tôn đã truyền dạy cho chúng con những lời thật sự là những điều mà bản thân con khao khát từ rất lâu. Con cũng đã nghe nhiều, đọc nhiều, nhưng từ hôm qua cho đến buổi hôm nay con thật sự thấy trong con bừng tỉnh, từ trước đến giờ con cứ mê muội. Đến giờ con đã hiểu vì sao mình khổ, con biết nguyên nhân là từ trước đến giờ con đi ra ngoài, hướng ra ngoài mà không quay lại chính bản thân mình. Và sau buổi hôm qua là đầu tiên con chính thức hiểu rõ về nhận diện ngũ uẩn, con vô cùng sung sướng. Trước đây con cũng đã thực hành các pháp để buông xả bằng cách này cách kia nhưng con vẫn thấy nó cứ bị lùng nhùng và chưa nhận diện được rõ. Sau buổi hôm qua con thấy tỏ tường vô cùng và đến buổi chiều hôm nay cũng vậy. Con cảm giác con vô cùng sung sướng, vỡ òa, chúng con tuy rằng không may mắn sống rất xa thời của Đức Thế Tôn nhưng chúng con lại may mắn vô cùng hơn bảy tỷ người trên hành tinh này là được nghe những lời của Đức Thế Tôn qua quý thầy, là một bậc minh sư, chân tu, đã chỉ cho chúng con những con đường có thể nói là chính xác nhất, đúng nhất và ngắn nhất để đạt được đến sự giải thoát viên mãn. Con chắc chắn rằng niềm tin đối với Đức Thế Tôn và vào pháp, đặc biệt là pháp môn này, nó sẽ là một niềm tin bất hoại. Và chắc chắn con sẽ thực hành và thực hiện theo những điều mà thầy ngày hôm nay đã chỉ bảo cho chúng con. Con xin kính tri ân thầy, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
./.