Nuông Chiều & Bênh Vực Mình - Vì Sao Ái Tăng Trưởng & Đoạn Diệt
Nuông Chiều & Bênh Vực Mình
Vì Sao Ái Tăng Trưởng & Đoạn Diệt
Thích Minh Thành
Ngày 01 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sanh thú PAGEREF _Toc134167549 \h 1
II. Ái là nhiên liệu của tái sanh PAGEREF _Toc134167550 \h 5
III. Quán sự nguy hiểm PAGEREF _Toc134167551 \h 13
I. Sanh thú
Kính bạch chư tôn hiền đức, các bậc hiền trí.
Mình phải suy nghĩ đây là giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình. Khi từ thiền thất bước ra đây, Minh Thành nghĩ rằng đây là thời pháp cuối cùng, mình không còn có cơ hội để chiêm nghiệm, thiền quán, chia sẻ pháp lần sau nữa. Duyên trầm này sẽ đi đến sự tàn diệt trong phút chốc nữa thôi. Sự an trú trong pháp của chúng ta rồi cũng hết nếu sau thời pháp mình không biết tu tập, mình không biết tác ý thì khi giải tán rồi thì mình vẫn quay về vị trí vô minh, vị trí của thân kiến, chấp thủ nên mình trân trọng giây phút được tu, được học, được hành pháp.
Khi mình làm việc thì mình cũng làm bằng tất cả tấm lòng của mình để rồi lát nữa mìn không làm được nữa, mình sẽ nằm xuống, không biết nằm xuống ở đâu, nằm ngoài đường hay là nằm ở bờ khe, vực thẳm hay là ở trong phòng? Sớm muộn gì thân này cũng ngã xuống, đổ xuống, sập xuống. Mình phải thường an trú trong sự thấy biết, sanh diệt tàn hoại của các pháp.
Chúng ta có từ nuông chiều rất hay, nuông chiều tấm thân này là ái, tiếng Việt có chữ nuông chiều. Ở chùa Bửu Liên hôm trước các vị trình pháp sử dụng chữ nuông chiều. Từ này là một khía cạnh của ái. Mình nuông chiều thân này, mình nuông chiều thọ, tưởng, hành, thức này. Mình không dám thẳng tay với nó. Có những lỗi lầm, sai quấy mà mình bị nhắc nhở, bị khiển trách thì mình phải coi thọ, tưởng, hành của mình vận hành thế nào, nó có bênh vực không?
Nhiều khi chúng ta sử dụng từ trong kinh Hán Việt thì trừu tượng, chúng ta sử dụng từ tiếng Việt thì rõ hơn, là xem nó có bênh vực mình không? Nuông chiều và bênh vực. Đó là nói ngoài tác động, mình tự ở bên trong suy nghĩ của mình cũng nuông chiều, cũng bênh vực nó.
Hai từ này là đề mục quán chiếu: nuông chiều và bênh vực. Là những khía cạnh của tham ái, tự ngã, mình làm sai thì mình phải đi ra sám hối, như đôi dép đã nhắc nhở không biết bao lần, người nào sai phạm thì phải đi ra chúng sám hối. Tại sao mình không ra sám hối khi mình thấy mình sai? Mình nuông chiều tự ngã của mình, mình bênh vực, mình phải lôi nó ra, bắt nó sám hối cho nó nhớ, nó nhục để nó không làm vậy nữa.
Chúng ta chiêm nghiệm hai từ nuông chiều và bênh vực thiền quán, trạng thái thiền quán ra sao, mình cần nhận diện trạng thái đó.
Bài kinh Luận nghị đường, Tương Ưng Bộ kinh tập 4:
2) Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-lamôn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên:
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Ý nói những ngày trước có nhiều vị tu sĩ, sa-môn tụ tập trong Luận Nghị Đường này để nói chuyện, bàn vấn đề.
"Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng". Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Sanh xứ là chỗ người đó thọ sanh, người đó chết thì đi về đâu. Rồi ông ấy kể tiếp: có rất nhiều những vị nói về thọ sanh của những người đệ tử đã chết sanh đi về đâu.
4-9) Makkhali Gosàla... Nigantha Nàtaputta... Sanjaya Belatthiputta... Pakuddha Kaccàyana... vị Ajita Kesakambala này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
10) Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Samôn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau: "Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau".
11) Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau: "Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?"
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Các vị thầy lớn ở các tông phái khác, khi đệ tử của người ta chết thì người ta sẽ tuyên bố người này sanh về cảnh giới nào? Sanh xứ là chỗ thọ sanh. Khi ông này chết được lên trời, ông kia chết thì trở lại làm người, người nọ chết sẽ đọa vào ba đường ác. Còn đối với các vị thành tựu cao trong giáo pháp thì người ta cũng nói là sanh chỗ này chỗ kia nhưng riêng Sa-môn Gotama lại nói khác: Những người thông thường thì Ngài nói sanh chỗ này chỗ kia nhưng những vị gọi là thượng nhân, tối thắng nhân, đạt được địa vị tối thượng mà khi họ từ trần, mạng chung thì Sa-môn Gotama lại nói là vị ấy chặt đứt khát ái, phá hủy các kiết phượt. nhờ chân chánh, thấy rõ kiêu mạng, đoạn tận khổ đau chứ Ngài không nói sanh về đâu, như vậy thì làm sao hiểu.
Minh Thành khởi lên phân vân, nghi ngờ, không biết phải hiểu như thế nào? Vị tối thượng nhân chết sẽ sanh về đâu? Mình tu để chấm dứt sanh nhưng người ngoại đạo không hiểu, nói phải sanh về. Đức Phật không nói sanh về đâu mà Ngài chỉ nói là vị này chặt đứt ái, phá hủy mọi sự trói buộc, cắt đứt mọi sự trói cột, chặt đứt khát ái.
12) -- Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên. Ta tuyên bố sự sanh khởi, này Vaccha, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.
13) Ví như, này Vaccha, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu (saupàdàna), không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ.
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Ví dụ này ý nói ngọn lửa cháy đỏ là do nó có nhiên liệu, tức là những thứ làm cho nó cháy. Đức Phật tuyên bố sự sanh của một người nào đó là tuyên bố đối với người còn có chấp thủ, sanh y, chỗ dựa của tái sanh. Còn những người không còn chấp thủ trong ngũ uẩn nữa, người đã thấy được bản chất của ngũ uẩn, thấy nhàm chán, ly tham, từ bỏ, những người không còn chấp thủ trong ngũ uẩn thì Đức Phật không tuyên bố sự thọ sanh của họ.
14) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
-- Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
15) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
-- Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Những câu đối đáp của Đức Phật với các vị đạo khác, chúng ta gọi là ngoại đạo thì chúng ta sẽ càng sáng tỏ lên nhiều khía cạnh, phương diện này, đây là giải thích nguyên nhân của luân hồi, của tái sanh. Và cái gì làm cho chúng sanh có mặt trong các hình thù khác nhau trong ngũ thú lục đạo. Vậy cái gì làm cho mình có mặt?
Nên chữ ái này có nghĩa rất rộng lớn và thâm sâu. Khi nãy chúng ta có nói hai từ nuông chiều và bênh vực, là một khía cạnh khác của ái, còn yêu thích là một khía cạnh khác của ái. Khi tâm mình bênh vực mình, khi có một sự việc ra là mình không thấy được sự thật. Khi có một việc gì xảy ra hoặc ở bên ngoài tác động, ở bên trong sanh khởi lên thì lúc đó mình có một sự bênh vực mình thì lúc đó mình sẽ không thấy được sự thật. Đó là triền cái, tham ái.
Khi nhận diện ngũ uẩn thì đi càng ngày càng sâu hơn. Yêu thích, tham muốn thì dễ hiểu, muốn thêm nữa thì dễ hiểu nhưng những trạng thái là bênh vực, nuông chiều thì vi tế, mình phải tập nhận diện.
II. Ái là nhiên liệu của tái sanh
Ông đó hỏi Đức Phật là:
14) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
-- Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Nói trên phương diện đi xa thì Đức Phật nói đó là gió, gió thổi làm lửa lan đi xa. Mình hiểu rộng ra là một người được lên cõi người, cõi trời, phước đức. Tuy là họ làm nhiều thiện pháp nhưng ái trong đó vẫn còn, nên họ làm nhiều việc thiện, làm phước thì giống như họ được ngọn gió thổi lên, còn một người có ái nhưng họ làm những điều ác, điều tội lỗi thì giống như một tảng đá bị chìm xuống.
15) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
-- Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Khi bỏ một thân này đi qua một thân khác, mình yêu thích, mình mong muốn, khao khát, cùng với nghiệp lực thọ, tưởng, hành đó nó sẽ dẫn đi tìm một thân mới. Giống như mình lúc xưa bỏ tình cảm của cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Mình đi vào tu thì mình có sư huynh, sư đệ rất nhiều. Nếu mình không khéo chánh niệm tỉnh giác thì có phải mình bỏ ái này đi đổi ái mới không? Giống như vậy.
Giờ mình bỏ nhà của mình rồi đi tu ở chỗ khác và mình nói chỗ đó giống như nhà của mình, vậy có phải từ ái này biến qua ái khác không? Là bỏ nhà này đi vào nhà khác, nó chỉ là một hình thức biến thể của virut ái thôi. Cái đột biến của những con virut, tham ái, mình không có chánh kiến, không có nhận diện sâu sắc, mình không biết, mình tưởng là mình đang tu nhưng thật sự vẫn là ái.
Ở nhà mình, giường mình, phòng mình không ai đụng vào được, khi mình đi xuất gia rồi thì giường của mình cũng không ai được đụng tới. “Đây là chỗ của tôi! Áo của tôi! Cuốn sách của tôi!” Đó là bên ngoài, sâu vào bên trong là thọ, tưởng, hành, thức của tôi còn khiếp đảm hơn.
Chỉ cần một giấc ngủ của mình, đang chập chờn chuẩn bị vào giấc ngủ thì có người nào la lớn hay mở cửa rầm là bên trong rần rần rồi. Đó không riêng gì ai mà tất cả hữu tình đều vậy. Vì nó đang ái trong cái thọ đó, cảm giác im im đi vào giấc ngủ mà nghe tiếng rầm thì mất cảm giác dễ chịu đó, đổi lại thành khó chịu. Vậy nên tất cả đều ái trong đó. Cái ái này mới có ra cái sân và gốc của ái là vô minh, không thấy ngũ uẩn. Chúng ta thấy sự nhận diện này bắt đầu thâm sâu, lúc đó không thấy ngũ uẩn, chỉ thấy người này phá giấc ngủ của tôi thôi. Như có bốn miếng chả lụa, mỗi người một miếng nhưng người chồng đã ăn hết hai miếng.
Vậy nên tự thể ái này sâu sắc, tự ngã ái này. Nên vì sao ái tăng trưởng, làm sao để ái đoạn diệt? Vấn đề đó được Đức Phật giảng trong rất nhiều bài kinh. Đức Phật giảng trong chuyên đề Con đường đoạn tận tham ái chúng ta đã giải rồi nhưng bây giờ mình phải học lại nữa.
Trong Tương Ưng Bộ kinh tập 2, bài kinh Thủ:
Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniya dhammà), ái được tăng trưởng.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Ý nói, ai sống thấy vị ngọt trong những thứ mà mình nắm giữ thì ái trong người đó lớn mạnh, sự yêu thích trong người đó sẽ lớn mạnh. Những cái mình cầm, nắm, giữ và mình thấy vị ngọt trong đó, hoan hỷ trong đó, thích thú trong đó, khi đó tham ái trong mình sẽ lớn mạnh, lòng yêu thích của mình sẽ lớn mạnh. Ngược lại, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt.
Thường quán cái nguy hại trong những cái mình ưa, thích, nắm giữ thì mình phải thấy cái nguy hiểm trong đó. Thường sống như vậy, thấy sự nguy hiểm trong các pháp mà mình nắm giữ thì khi đó ái sẽ được đoạn diệt. Ví như Minh Thành nói nếu Minh Thành quyết định không dựng nhà tổ, chánh điện là cả một sự chiến đấu trong tâm. Minh Thành đã chọn xong, làm nền thì mở quán cà phê ở ngay dưới chân. Vị trí để Chánh điện là việc quan trọng nhất của ngôi chùa, họ tới mở đường sâu xuống bốn mét. Minh Thành có nói vài câu thì họ sân hận, nổi nóng lên. Nên Minh Thành nói trong tâm là “Xả bỏ đi, không làm nữa!”
Nhưng lâu lâu vẫn gợi trở lại, thọ, tưởng, hành đều gợi trở lại, lại phải diệt, chiến đấu rồi lâu lâu gợi trở lại thì phải chiến đấu. Cuối cùng mình chiến đấu xong thì mình khỏe, mình hạnh phúc. Nhờ vậy mới đi vào dòng pháp Nikāya, nếu xây xong thì chắc đã rồi, suốt ngày chỉ tiếp khách du lịch. Khi xây lên thì đẹp cỡ nào?
Trong chùa thì có nhà tổ và chánh điện quan trọng nhất mà còn dám bỏ là cả một sự tác ý. Đã mười tám năm chưa có chánh điện với nhà tổ, nhưng vẫn hạnh phúc như thường, an lạc, vi diệu.
Mình không có vật chất mà có siêu vật chất, mình không có chánh điện mà mình có Thánh pháp. Mình không có nhà tổ để thờ nhưng mình gặp Thánh nhân. Đó là cả một sự chiến đấu.
Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniya dhammà), ái được tăng trưởng.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Những cái mình có, những cái mình sở hữu, nắm giữ mà mình yêu thích trong đó, khoan khoái trong đó, mình tự mãn, vui sướng, hỷ lạc, dục hỷ trong đó thì lòng tham, lòng ái, lòng yêu thích của mình đối với những cái đó sẽ lớn mạnh hơn thêm. Gọi là ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng do duyên ái nên thủ có mặt. Mình yêu thích thì trong tâm mình sẽ có sự nắm giữ, khi trong tâm mình đã có sự nắm giữ rồi thì sự hiện hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt, do duyên sanh nên có già chết, sầu bi, khổ, ưu não. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Mình yêu thích thì mình nắm giữ, mình nắm giữ thì nó sẽ có, nó phải có cái để nắm giữ, lúc đó có tâm nắm giữ, có cái để mình nắm giữ, khi nó đã có rồi thì có sanh, già, bệnh, chết, có lo lắng, buồn đau, khổ sầu. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập hợp sanh khởi.
Giờ nói vào bên trong, thân này là cái mình đang chấp thủ, nếu mình thấy vị ngọt ở trong đó thì ái sẽ tăng trưởng. Khi nãy là nói bên ngoài thân, ngoài thân còn bỏ không nổi, thì thân này sao bỏ nổi? Bỏ ở đây không phải là tự thiêu, hay là mình đi uống thuốc ngủ mà bỏ là bỏ thọ, tưởng, hành, thức. Vì sắc này vô tri, không có gì, thọ, tưởng, hành, thức mới làm tổ, làm ổ, làm căn cứ địa, sào huyệt trong sắc này. Còn sắc thì vô số sắc, ví như giờ nó làm tổ trong tượng Phật này là khổ.
Như câu chuyện đốt trầm cúng Phật mà người ta để một dãy bảy, tám ông, phòng ni xá ở chung người nào cũng để một tượng Phật một đầu đơn 37:52 Có một cô đốt nhang trầm cúng cho tượng Phật ổng và nghĩ là cúng vậy rồi các ông kia được hưởng rồi sao hay cúng có một chút mà bay qua nhiều ông quá thì cô ta làm một cái ống đưa thẳng lên mũi của tượng Phật của cô ấy, để cho ông Phật của cô ấy hưởng mùi thôi, không để cho mấy ông khác. Thời gian sau mũi tượng Phật bị đen. Không rõ câu chuyện ẩn dụ hay có thật nhưng đều mang tính chất giáo dục rất sâu sắc. Là tâm mình yêu thích cái nào, thì nó sẽ nắm giữ vào cái đó, dù bên ngoài hay bên trong.
Như câu chuyện một cậu ngồi nói chuyện với một người anh, gọi là thành niên với nhau. Một ông chê ông kia là không biết đẻ, đẻ con gái không, không có con trai, nói qua nói lại rồi nổi nóng lên, xảy ra án mạng. Nói là “Ông không biết đẻ, đẻ con gái không, không có con trai.” Nói qua nói lại rồi lại đâm nhau chết. Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Đó là từ chỗ mình chấp thủ những cái mình yêu thích. Như vậy thì mình quay ngược lại nói là, nãy giờ chỉ nói ở ngoài, bây giờ mình quay ngược lại trong thân này. Thân này là cái bị chấp thủ, tâm yêu thích, ý nghĩ là tôi, là của tôi, cảm thọ. Giờ chỉ cần một người nào đứng lên nói mình dở thậm tệ, chỉ trích mình thì thọ, tưởng, hành trong mình sanh khởi liên tục. Vì ở trong này là một sự nắm giữ như vậy. Nếu người ta đứng chửi một cục đá thì mình im re, mình không nói gì, kệu cục đá, không có gì. Người ta chửi khúc cây thì có gì đâu. Nhưng nếu người ta kêu đúng tên ví như Pháp Cần người ta nói thì hết ngủ, hết thiền, về bệnh luôn, không ăn không ngủ được.
Vì chấp thủ không những trong thân này mà còn chấp thủ vào danh từ đó, giả danh đó cũng chấp thủ luôn. Chỉ cần nói tên ra thôi, ví dụ như Pháp Không, Pháp Trúc, Pháp Mây thì không sao nhưng nói Pháp Cần là không ngủ được. Không những chấp thủ trong thân mà còn chấp thủ trong danh từ, giả danh. Nhưng nói chung chung không sao, nói thẳng ra đúng tên mình như nói “Sư cô thân tàn ma dại!” thì về là ba ngày không tu được “Con vầy sao nói con thân tàn ma dại?”
Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniya dhammà), ái được tăng trưởng.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Chúng ta phải thấy được tiến trình vận hành, cấu trúc của tâm, hệ điều hành của tâm mình. Đầu tiên là vô minh, là không thấy ngũ uẩn, kế đó là tham ái rồi mới yêu thích ngũ uẩn. Sau khi tham ái rồi thì nó sống trong vị ngọt, nên mỗi ngày tham ái này tăng trưởng, tăng trưởng, lớn mạnh.
Ví dụ người đó mù, không thấy đường, người ta đưa cho một miếng và nói đây là vàng thì người này vì không thấy đường nên tưởng là vàng thật, cứ cầm, giữ hoài và càng ngày họ cứ sờ, ngày nào họ cũng lấy cục đó ra sờ và tấm tắt khen “Ôi vàng, quý quá!” Thứ nhất, họ không biết đó chỉ là một cục bằng meca, nhựa… Họ không biết, tức là vô minh. Họ thích cái đó, tưởng đó là vàng là họ tham ái. Mà càng ngày, mỗi tuần, mỗi tháng cứ đem sờ vậy họ tưởng tượng cái này quý lắm thì ái tăng trưởng. Khi tăng trưởng vậy thì trong tâm họ có cục vàng không? Đó là thủ.
Đến khi một ngày nào họ được sáng mắt và nhìn nhau thì nhận ra đó là đồ giả, không phải vàng thì lúc đó họ đau khổ không? Sân hận không?
Từ chỗ mình không thấy nên ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng, do duyên ái nên ái có mặt, do duyên thủ nên thủ có mặt, do duyên hữu nên sanh có mặt, do duyên sanh nên già, chết, sầu bi, khổ, ưu não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Đức Phật ví dụ:
Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, và ném củi khô vào. Này các Tỷ-kheo, như vậy đống lửa lớn ấy được nuôi dưỡng, được tiếp tế, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Một đống lửa làm từ bốn năm chục xe củi thì nó lớn cỡ nào? Như vậy rồi thỉnh thoảng ném cỏ khô, củi khô vào thêm nữa.
Như vậy đống lửa đó được nuôi dưỡng, được tiếp tế và có thể cháy đỏ trong thời gian dài. Vậy mình có nuôi dưỡng, có tiếp tế cho ái không? Hằng ngày mìh nuôi dưỡng, tiếp tế cho ái rất nhiều. Khi ăn mình không có chánh niệm thì mình nuôi dưỡng không? Khi ăn mà không có chánh niệm thì mình có thưởng thức không? Khoan khoái, thích thú không? Nhìn cảnh thôi thì có thích thú không? Có thấy ái tăng trưởng không? Thấy vị ngọt là ái lớn mạnh hoài lên, khi nào nó đi đến chỗ tàn diệt, đoạn diệt mà mình không tác ý gì thì tới chừng nào ái tận giải thoát.
Vậy nên sự quán bất tịnh của mình, sự quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trượt, quán chín giai đoạn tử thi, sự quán bạch cốt tưởng của mình là hết sức quan trọng, đó là phá tự thể ái.
Mình còn yêu thích thân này nhiều lắm. Những sai lầm, những tập khí, thói quen, tánh tình của mình có yêu thích nó không? Nếu không yêu thích thì tự thấy sai là bỏ ngay, còn đây là mình nuông chiều, bênh vực “Thôi tu từ từ thôi, còn nhỏ mà! Tôi mới mà!” Chính vì ý nghĩ đó nên mình không tiến bộ được trong Thánh pháp, mình không muốn bỏ vì mình nuông chiều.
Vậy mình có nuông chiều, có bênh vực không? Nói bệnh thôi để từ từ trị, còn trẻ mà, giờ còn sức khỏe. Nhiều khía cạnh, ở đây mình chỉ nêu ra một vài khía cạnh ở đây mình chỉ nêu ra một vài khía cạnh để mình thấy ái rất khủng khiếp. Cái nhìn của mình mà mình không tác ý thì ái ngay. Ví dụ giờ mình nhìn cây tùng này khen “Đẹp quá ta!” Cứ như vậy là ái tăng trưởng, mình không có sự tác ý, dẹp thọ, tưởng, hành, thức đó qua thì như vậy là mình đang nuôi dưỡng và tiếp tế cho ngọn lửa lớn đó. Là nuôi dưỡng ái, tiếp tế cho ái.
Có khi mình học pháp rồi mình hiểu, mình nuôi dưỡng cho ái, cho bản ngã “Tôi biết, mấy người kia không biết! Tôi thấy, mấy người kia không thấy. Tôi đúng mấy người kia sai!” Nên đó là đặt tâm sai hướng là nó đi lệch hết dù cho học Chánh pháp, bản ngã không diệt, ái không giảm, thân kiến tăng trưởng thêm, ngã kiến tăng trưởng thêm, tức là “Tôi thấy, tôi biết, tôi giỏi, tôi tu hay, các người không thực hành gì hết. Tôi mới là hành, mấy người học không!” Đó rất nguy hiểm, những cái đó đều là than củi, nhiên liệu.
Hãy nhìn cho thật kĩ những ý niệm đó, những suy nghĩ đó. Nên thật sự mình tu đúng, nghiêm cẩn là lúc nào mình cũng cúi đầu xuống, lúc nào mình cũng thấy hổ thẹn, lúc nào cũng thấy ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, ngao ngán trong con người mình và mình thấy ở ngoài mình ngao ngán vô cùng. Mình nhìn thấy những cái đẹp đó thì mình nói “Trời ơi, tai hại không, ác độc, đắng cay, bẫy mồi, móc câu, lưỡi mồi này, bẫy sập giăng lộn xộn, nhìn thấy lo sợ, ngao ngán mà mình thấy mình cúi đầu. Nhiều khi lâu lâu mình có ta đây một chút là nhìn lại thấy rất xấu hổ.
Như tối qua Minh Thành nhắc nhở thầy Pháp Lực một chút và nhìn lại thấy xấu hổ, biết rằng các vị làm không đúng nhưng mà mình thấy tâm của mình chưa được ngọt ngào, thấy xấu hổ nên giờ không muốn nhắc ai cả. Giờ chỉ có gặp nhau trong thời pháp, còn bây giờ thấy rất khó, khó nhắc, khó đẽo, đẽo, đục không nổi vì mình chưa đục người ta thì đục mình trước, tâm bây giờ rất khó. Vì cô Mai Đỗ muốn đục đá thì Minh Thành kêu “Thôi đục tâm trước đi! Khó”
Càng thấy vậy thì Minh Thành càng biết ơn bậc đạo sư của Minh Thành, thật là khó để một người học mà có thể đi vào dòng pháp này, là khủng khiếp lắm, chịu đựng lắm, gian khổ lắm, phải đau đớn, đại phẫu người không có tâm chịu đựng, dám từ bỏ những cái yêu thích nhất bên trong con người của mình là mình không thể nhập được Thánh pháp này.
Những cái bên trong làm mình yêu thích nhiều, đụng tới mình là mình dẫy lên, giống như tâm mình như vết thương, đụng tới là mình giẫy lên, giẫy đong đỏng lên dù chưa có gì. Nên thật khó, không phải dễ, phải là người với tâm xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo thì mới được, có thể bỏ cả sinh mạng này để cầu pháp thì mới học được, cầu được, mới đi nhanh, đi mạnh, đi mau, thể nhập được vào dòng pháp này. Phần lớn còn lại hiểu biết chút chút thôi.
III. Quán sự nguy hiểm
Tham ái này rất thâm sâu, mình không thấy. Nó ngược lại với sự yêu thích của mình, làm mình sân si lên ngay, mình không chịu. Phải phá được tham ái này.
Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Thấy sự nguy hiểm trong những thứ mình nắm giữ thì lòng yêu thích của mình sẽ được chấm dứt. Luôn luôn thấy được nguy hiểm và tác hại trong những cái mà mình đang có, những cái mình đang nắm giữ, đó là nguy hiểm trong đó, tác hại trong đó, tai họa trong đó. Người nào sống như vậy thì ái, lòng yêu thích của mình sẽ đi đến chấm dứt.
Mình thấy cái thân này là có nguy hiểm, có thân này là có tai họa, có thân này là có lo lắng, sợ hãi. Thấy có cảm thọ này là có sân si, tham dục, bản ngã. Mình thấy có tưởng này là mình có si mê. Có những cái hành này là còn những thứ rù quến cho mình, nó dẫn dụ, dẫn dắt, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than rồi nó đưa mình vào hố sâu, vực sâu, hố than hừng.
Mình phải tách mình ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức ác độc này. Khi nó nói lên một lời gì thì mình phải rất trầm tĩnh, tỉnh táo để lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ để thấy sự nguy hiểm ở trong đó. Ví dụ mình ở trong phòng, mình biết trong phòng có con rắn hổ mang bên trong thì mình có cẩn thận không? Mình có canh phòng không? Mình có dè chừng, để ý không? Cũng vậy, người thấy pháp là người thấy được những con rắn hổ mang ở trong tâm này, giống như người biết trong phòng mình có một con rắn độc vậy. Người này sẽ hết sức cẩn thận khi chưa đuổi nó ra được. Cứ tìm cách hoài, nhìn hoài, moi móc, đi kiếm hoài, chừng nào thấy đuổi nó ra được rồi, đi xa mà thật sự mình thấy là lúc đó mình mới yên tâm mình về ngủ.
Năm con rắn hổ mang đang ở trong mình. Thật đắng cay, ác độc, tai họa đối với những sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Cho đến khi nào nó khởi lên thì mình thấy chán ngán, sợ hãi, không ưa, không thích, không chấp nhận, tiếp tế, nuôi dưỡng, tăng trưởng cho nó nữa.
Mình thấy các vị chân tu, trong núi trong rừng, các Ngài chân tu. Trong giáo pháp nguyên chất của Đức Phật thì mình nhìn thấy các Ngài ốm o, tiều tụy lắm. Ăn một ngày có một bữa, ngủ không bao nhiêu, mình không thọ dụng năm dục trưởng dưỡng rất ít, đời sống rất đơn giản, thanh cao, cao thượng, mình phải hướng tới chỗ đó. Mình đang bị vây hãm trong những ma trận của năm dục trưởng dưỡng ác độc, nguy hiểm.
Vậy nên buổi sáng mình tu học để mình tập ăn trễ, các Ngài thì không ăn hoặc chỉ ăn một bữa, các Ngài tu quyết liệt đúng theo tinh thần của Đức Phật nên mình trễ chút cũng không có gì, mình tác ý như vậy, mình tu học an lạc, hạnh phúc. Nếu mình có thiếu gì chút, mình có mất ngủ một chút, mình có thiếu ăn một chút cũng không sao. Đây là cơ hội để mình sống đời ít muốn, biết đủ, mình phải tác ý như vậy. Khi những khó khăn tới, khi những trục trặc tới, khi những chướng ngại tới thì mình lấy đó làm cơ hội, bài tập, lấy đó làm động lực, bài thi, lấy cái đó làm đà để mình tiến lên.
Mình lấy bệnh hoạn để làm cơ hội cho mình thể nhập vào được Khổ Thánh Trí, dốc hết tâm lực của mình vào để mình thể nhập được trí tuệ. Mình không ưa thích đời sống này, mình thấy chỉ là sự phiền phức, phiền nhọc, phiền bực, phiền não, phiền toái. Mình không ưa thích đời sống này, mình sống chỉ là để diệt tận lậu hoặc, làm sạch căn nhà nội tâm, để tẩy rửa, để tổng vệ sinh những thứ cấu nhiễm, ô uế, bẩn thỉu bên trong. Mình không thấy gì thích thú, khoan khoái trong sự sống này hết, sống chỉ thêm mệt mỏi. Để thêm sự khao khát, nô lệ cho tham ái.
Mình Thành giờ cũng ngại tiếp xúc, trừ các vị trong đạo tràng cùng chung chí hướng với nhau, gặp chia sẻ pháp như vầy thì có an lạc. Còn nếu gặp những người tham, sân, si ở ngoài đời thì Minh Thành thật sự mệt, suốt ngày chỉ đóng cửa trong phòng, chỉ khi nào ra khỏi thì chia sẻ pháp, vì thấy sợ, thấy mệt, thấy ngao ngán làm sao. Giống như người nào lại gần mình thì cũng thấy lửa cháy đầy mình, họ lại rồi nói những chuyện sân si, hơn thua, bản ngã.
Nên về tới núi rừng thấy khỏe, sáng thức dậy thấy mây trời thênh thang nên thấy nó cũng khỏe, nhẹ hơn. Nhìn thấy người ta tham, sân, si thấy rất mệt.
Khi thấy được sự nguy hiểm trong các pháp chấp thủ thì ái mới được tiêu diệt.
Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, hay phân khô, hay củi khô vào. Như vậy, này các Tỷ kheo, đống lửa lớn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Không tiếp tế nhiên liệu, những nhiên liệu cũ bị cháy hết mà không đem thêm hay tiếp tế nhiên liệu mới. Đức Phật đã dùng từ chính xác như củi khô, mình đọc sẽ thấy cách dùng từ của Đức Phật, văn nghĩa trong đó:
Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Nên mình sẽ thấy được đống lửa của mình rất khủng khiếp. Đống lửa đó là của khát ái, của tham ái, của dục ái. Tiếp tế nhiên liệu trong đó, giờ mình không tiếp tế nữa, nhiên liệu cũ cháy tàn hết mà không tiếp tế nhiên liệu mới, không đem thêm cỏ khô, phân khô, củi khô. Đống lửa đó không được nuôi dưỡng thì sẽ bị tắt.
Này các Tỷ kheo, đống lửa lớn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt... (như trên) ... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Ý nói, này các Tỳ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ. Ai sống thấy những thứ mà mình đang có, thứ mà mình đang nắm giữ từ bên trong tới bên ngoài là nguy hiểm, là tai họa, thì lòng yêu thích của người đó được chấm dứt.
Những cái mình đang có, bất cứ là cái gì, dù là trong hay ngoài, mình phải thấy nó là nguy hiểm, tác hại, tai họa trong đó, đừng thấy vị ngọt trong đó thì lòng yêu thích của mình đối với những thứ đó sẽ giảm dần dần, đi đến chỗ chấm dứt, đoạn diệt.
Nguy hiểm, tai họa, khốn khổ, khổ đau, bất an, lo lắng và sợ hãi. Có cái ghế này thì có nguy hiểm trong cái ghế này. Có chuông này là có nguy hiểm trong cái chuông này. Có chỗ ngồi lót dưới này là có nguy hiểm trong chỗ ngồi lót ở chỗ này. Có căn nhà này là có nguy hiểm trong căn nhà này, nếu tâm mình dính mắc, tham ái, chấp thủ vào đó. Có thân này có nhiều lo lắng, khổ sầu trong đó.
Tập nhàm chán đối với sắc, sống nhiều nhàm chán đối với sắc, sống nhiều nhàm chán đối với các cảm thọ, đối với hình bóng trong tâm, các tưởng, đối với những suy nghĩ, các hành, đối với những nhận thức, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết. Nên tập sanh khởi sự nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ đều phải chuẩn bị ra đi bất cứ lúc nào và ở đâu. Những thứ vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, những thứ tai họa, bất an, thống khổ, lửa đỏ này, mình đem nó vào trong người mình để làm gì? Trong khi mình không muốn khổ, mình chỉ muốn thoát mau, thoát lẹ, thoát nhanh khỏi chốn này thôi? Đừng hai lòng, vừa lòng, bằng lòng, an lòng với chỗ hiện tại như bây giờ. Đừng thấy trên núi trong lành, mát mẻ, cảnh đẹp yên lành, thầy trò, huynh đệ yêu thương, hiền hòa vậy là xong.
Đó là tai họa, tai nạn, mình không thể an lành được mãi, sự an lành này chỉ là trộm an đôi chút. Chỉ một chút rồi không biết điều gì xảy ra, nhiều khi đang ngồi nhưng ngã quỵ xỉu. Phải nhìn như vậy hoài, nhớ tai họa trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Nó nhả ra tất cả mọi sự tham ái, chấp thủ, không yêu thích sự hiện hữu này nữa. Chỉ có như vậy mình mới khỏe nhất. Bất cứ hiện hữu trong hình thái nào rồi cũng sẽ có chuyện. Cũng sầu bi, khổ, ưu não trong hình thái đó.
Nên khi mình học được pháp này, mình ứng dụng nó rất hay, tuyệt diệu. Có nhiều người khuyên Minh Thành nên trồng cỏ Nhật cho đẹp thì Minh Thành nói: “Giờ cỏ này không đã mệt, đừng nói là cỏ Nhật!” Nên trồng tre cho lá tre rơi xuống, không cần làm cỏ. Vừa có tre, vừa có măng, vừa có cảnh, vừa trở về Trúc Lâm Tinh Xá mà vừa không cần làm cỏ, đỡ tốn công, tốn tiền, đỡ tốn sức, đỡ tốn thời gian mà còn không bị sát sanh.
Vậy nên mình ứng dụng trong trí Nikāya này rồi thì mình có một cuộc sống rất kỳ diệu, siêu nhân, có những cái nhìn vượt ra khỏi cái nhìn của tầm thường, của thế gian. Một cái nhìn vô tranh, một cái nhìn không so sánh với ai, không cần hơn thua với ai. Nhẹ nhàng, thanh thoát để mình tập trung tất cả thời gian để mình tu học, quán cho diệt tận sạch.
Giờ sống chỉ để chờ chết. Như một ngày Minh Thành đi đến thăm Ngài trưởng lão. Minh Thành thấy khổ vô cùng, từ ngày cảm cảm đến tận bây giờ nên Minh Thành mới tính đến phương án nhanh nhanh để vào rừng tu, để không kịp là chết. Ngày đó cúng dường Trai tăng ở tăng xá, Minh Thành cầm một túi đồ người ta cho đi về thất để xuống. Lúc sau lại đi tìm hết trong thất mà không tìm được, nên tức ở trong người vì mình để ở chỗ nào mình phải biết chỗ để, đi trở ra ở ngoài đường gần bên tăng xá tìm cũng không có. Nhưng trở vào phòng thì mở cửa ra nó nằm ở chỗ góc cửa.
Minh Thành thấy “Vầy không được rồi! Tai họa tới rồi! Đây là niềm báo! Lúc xưa trí của mình rất sắc bén, thiền quán cả Thánh chiến hùng ca như vậy mà bây giờ chỉ một cái nhỏ như vậy mà không đủ trí tuệ nhận thức như vậy là nguy hiểm, là tai họa, là không kịp nữa rồi!” Nên thật ra đã thực hành tu tập chuyên sâu này từ lâu lắm, nhưng duyên cứ kéo kéo như vậy thì nó quên. Nhưng chỉ có hai mũi vắc-xin thôi, không dám nhiều, như bốn mũi thì thôi rồi.
Như vậy là nó quên nhiều, khi ngồi thiền quán, quán chiếu thì nó không bằng lúc trước. Minh Thành tính đi vào rừng một năm mới có thể phục hồi công lực, trí nhớ, độ sắc bén, bén nhạy để mình thiền quán. Giờ nó bị mất khoảng hai mươi – ba mươi phần trăm so với độ sắc bén ghi nhớ lúc trước.
Đi thăm hòa thượng … 74:55, ngài hộ pháp, lúc trước Minh Thành không hiểu Ngài nói là lỗi của sư là chưa chết. Lúc đó Minh Thành còn chưa vào dòng pháp này nên không hiểu, tự nhiên tới thì nghe nói là lỗi sư là chưa chết. Bây giờ mình vào Nikāya thì mình thấy đúng quá, mình làm cho xong công chuyện thì mình đi, mình không ở đây làm gì.
Chỗ này không phải là chỗ của mình, đây là chỗ tranh giành của người ta, của những ngũ uẩn, của giành giựt, tranh đấu, xâu xé. Mình không phải ở chỗ này, mình không phải trong thân này, mình chỉ một bề duy nhất là chấm dứt sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đi đến chỗ hoàn toàn tịch tịnh, diệt Thánh đế, diệt hết tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Chỗ đó mới là chỗ của mình.
Còn mấy chỗ này là mầm của tai họa. Chúng ta thấy ở Kon Tum có động đất mấy trăm trận mà đó giờ chưa từng có. Bây giờ Thổ Nhĩ Kỳ động đất thêm hai ba trận làm chết người, không phải như trận trước là mấy chục ngàn, trận thứ hai chết mấy trăm người, giờ có trận thứ ba làm chết nữa. Không chỉ Thổ Nhĩ Kỳ mà nhiều nước trên thế giới, như Trung Quốc vừa động đất bảy chấm mấy rồi các nước Châu Âu nữa. Xem như Trái Đất này như người già lụ khụ.
Mất mù là hàng chục ngàn hécta, gây ra có khả năng đói, rồi đến đại hạn, như ở Sài Gòn thiếu nước, bị cúp nước. Thiên tai, mất mùa, hạn hán, động đất, sóng thần, dịch bệnh, chiến tranh… Tràn ngập mọi thứ, vậy mà còn chưa định lên núi tu?
Minh Thành làm ra là để cho mọi người. Giờ đúng như trong kinh nói, con người hung ác, đầy rẫy những sung mãn, ác và bất thiện pháp. Nghiệp sát nặng, tâm hung hăn, hung bạo, hung dữ, hung tàn, hung tợn tràn ngập thế gian thì những người hiền lành sẽ đi vào núi rừng sống ẩn dật, tu hành. Những người này sẽ hiền thiện, giữ giới, tuổi thọ sẽ tăng trưởng trở lại.
Sau này có người sống có mười tuổi đã chết. Như giờ có những đứa trẻ chỉ học lớp năm, lớp bảy đã đẻ con trong nhà vệ sinh. Khủng khiếp như vậy.
Minh Thành đi về vùng sâu, vùng xa, gặp những người đồng bào dân tộc chỉ mười bảy mười tám tuổi đã có con, thậm chí hai đứa con. Nên đó là những gì Đức Phật nói giờ đã biểu hiện ra hết. Sau này năm bảy tuổi có chồng có vợ, mười tuổi là khi thọ mạng con người, là khi ác bất thiện pháp giảm giảm thì tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi. Năm tuổi là có vợ có chồng.
Sau này tuổi thọ con người có thể thua cả tuổi thọ con chó. Vì ác bất thiện pháp sanh khởi, tăng trưởng thêm. Nên chúng ta cần tu nhanh kẻo không kịp. Sắp tới còn nhiều thứ không thể lường trước được. Giờ an ổn như vầy không lo tu, đến khi có những chuyện mà Đức Phật nói phi thời thầy quậy 80:46 nói về những lúc mình không còn thể tu tập được nữa.
Đói khát, mất mùa, chiến tranh, tăng chúng bất hòa rồi trộm cướp nổi lên đầy đường hết, trong kinh nói như vậy. Nên mình phải tận dụng thời gian này thật sát sao, giờ giờ, phút phút tập trung vào sự nhận diện ngũ uẩn và như lý tác ý, thiền định, thiền quán thật nhanh kẻo không kịp. Đừng hững hờ, vật vờ, đừng sống phờ phĩnh. Phải chịu đựng nhau để mà sống.
Chúng ta thật sự không có thời gian để sân si, để hơn thua với nhau, chỉ có người ngu mới để thời gian vào đó. Thấy không kịp thời gian để lo tu hành, lo học pháp, lo hành pháp. Mình còn không biết mình còn được sống bao nhiêu ngày, đừng nói tính tháng tính năm. Bác sĩ người ta còn tính năm còn mình đừng tính, chỉ tính ngày thôi. Miễn sao mình thể nhập được vào Thánh trí huệ này là mình bất tử. Còn dù cho mình có sống được năm chục năm nữa thì mình cũng sanh sanh tử tử trong vô minh, khát ái, không có gì khác. Miễn sao mình nhập được Thánh trí là mình bất tử.
Cần triển khai thiền quán liên tục, chừng nào mệt không tu nổi nữa thì mới nằm xuống nghỉ. Bất kể đi đứng ngồi nằm, lúc nào nhìn cái gì, thấy cái gì, nghe cái gì đều triển khai thiền quán.
Như ngày Minh Thành đi máy bay, nhắm mắt lại là xả ngủ uẩn, xả sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Làm sao để mình nhớ hoài, đừng quên trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã. Lúc nào nhìn thấy đâu cũng là nguy hiểm, tai họa, nhả tâm ái luyến, tâm chấp thủ ra.
Nên khi quán chiếu có nhiều điều thú vị, khi Minh Thành bước về tới núi là cảm thấy “Mừng quá, thoát chết!” hoặc “Mình còn sống, về núi! Mình không ngờ là mình còn sống!” Vì cái chết đến là bình thường, còn sống thì đó mới là bất thường. Mình nghĩ ngược như vậy.
Về tới núi, trên xe bước xuống thì mình nói “Mừng quá! Mình còn được sống vì đúng ra mình chết rồi!” Người ta thì nghĩ rằng tai họa, chết là bất thường. Minh Thành nghĩ là tai họa chết là bình thường. Còn được sống mới là bất thường. Vì vậy nên tối qua về nửa đêm, sáng nay đúng ra là nghỉ nhưng sợ chết nên phải cố gắng. Nghĩ như vậy nên mình có nhiều thú vị rất đặc biệt, lạ, tuyệt vời. Còn sống là bất thường, chết là bình thường. Bệnh là bình thường, khỏe là bất thường nên phải trân trọng, trân quý cái bất thường này.
Khổ mà vằn vặt mình đủ thứ là bình thường, nhưng nó tạm an được giây phút thì đó là bất thường. Nên lúc tạm an là vận dụng hết, trân quý hết tài hết tên để vận dụng khả năng của mình nếu không khổ sẽ tới, tai họa tới. Nên người trí trong cái an phải nhìn thấy cái nguy.
Minh Thành ở đâu cũng nhìn thấy nguy hiểm, trong lúc an ổn là Minh Thành thấy chỗ nào cũng nguy hiểm, còn lúc nguy hiểm thì Minh Thành thấy bình thường. Nên đi ngang đường nhìn thấy người ta gặp tai nạn chết thì Minh Thành nói “Đừng nhìn, cái này là bình thường, đi đi! Nhìn một lúc là bất bình thường đó!” Đứng lại nhìn rồi xảy ra tai nạn nữa. Cái bình thường là bất thường còn cái bất thường lại là cái bình thường, người ta thấy thường thì Minh Thành thấy vô thường, còn người ta thấy vô thường thì Minh Thành lại thấy bình thường. Trí huệ ở trong thiền quán dạy mình như vậy, người ta thấy vui thì mình thấy khổ, người ta thấy khổ thì mình thấy cái này phải rồi, là vậy, là lẽ đương nhiên. Người ta thấy cái đó là có thì mình phải thấy cái đó là không. Người ta thấy cái đó là không thì mình lại vui với cái không đó.
Cũng như mình đi đến chỗ rừng rú gần biên giới thì người khác nói “Trời ơi sao lại vào đây ở?” Mình ở nhà của người dân tộc người ta bỏ không xài nữa thì người ta cất nhà tường thì mình đi kiếm những nhà sàn cũ, người ta bỏ hoặc không xài nữa thì mình nhặt cái người ta bỏ về xài, còn cái người ta muốn thì mình bỏ, cái người ta bỏ thì mình xài. Cái mà người ta chạy theo tìm kiếm thì mình phải từ bỏ, cái người ta từ bỏ thì mình nhặt xài đỡ.
Như mấy cây trúc này có ai để ý, mình xài và đem nó lên cả bàn thờ. Sau này chúng ta qua làng tu sẽ thấy, đều là xài đồ phế liệu, đồ người ta bỏ không xài thì mình xài cái đó, khỏi cần ai coi chùa, giữ gìn, cứ tu khi nào chết thì thôi.
Vậy nên Nikāya dạy cho mình một nghệ thuật sống tối thượng thừa, tâm an, thân ổn, lòng nhẹ như mây, không có gì trên cuộc đời này, khai tử rồi. Cũng không biết nhân duyên ra sao mà tờ giấy khai tử của hòa thượng để trên đầu giường của Minh Thành, cứ ngủ thức dậy sẽ nhìn thấy và tác ý “Khai tử nha! Mày phải khai tử nha! Mày chết rồi đó. Khai tử đó con, con phải nhớ là con chết rồi đó, chết danh chết lợi nha, chết tài chết sắc nha. Con phải chết tham, chết dục nha. Chết hết nha con.”
Bây giờ mình tu rất đặc biệt, như ngày nào tiệc dọn đồ ăn nhiều thì trong bụng lo rầu “Có thể bệnh nữa đó! Lát vào uống thuốc tiêu hóa!” Còn ngày nào cho ăn đơn sơ, rau thì nói “Hôm nay khỏe! Nhẹ, mừng.”
Nên Minh Thành vào rừng ở rất khỏe, không lo gì. Nấu một lần là ăn cả ngày, ăn với rau như vậy. Còn nếu dọn lên rất nhiều thì tai nạn, tai họa tới. Vậy nên bây giờ khó nuôi là vì vậy, những cái người ta thích thì mình thấy sợ, mình phải tập những cái người ta tranh giành, ưa thích thì mình từ bỏ. Những cái người ta từ bỏ thì mình lấy xài đỡ. Chờ ngày chết thôi.
Sống như vậy rất khỏe, nhẹ, không có gì. Tại sao mình không thử cái Đức Phật truyền lại, ngài Maha Kassapa truyền lại mà mình đi thử cái gì? Nếu duyên đủ thì nếu quý vị cạo tóc, xuất gia là cho đắp y bá nạp hết. Đây là đồ người ta bỏ, mình nhặt lại xài, còn nếu là tấm vải nguyên đi cắt, đi may thì đã khác. Nói chung là mình cố gắng để gần với Đức Phật nhất có thể vì vài ngày sau là mình chết, mình không làm rồi mai mốt mình chết lại hối hận “Sao lúc đó mình muốn đắp bá nạp mà mình không đắp? Giờ nằm trên giường bị covid, vị ung thư rồi, chết rồi, chưa kịp đắp y bá nạp!” Mình sẽ tiếc, giờ mình làm được thì cứ làm hết mình, chừng nào chết thì chết, lúc đó mình khỏi tiếc.
Đây là vải vụn của người ta, các cô ở quê khâu lại, giống như mền mà bà nội Minh Thành từng làm, xong rồi thì chú Phật tử đem đi nhuộm, nhưng có những vải không thấm, cũng còn hoa văn hơi nhiều.
…
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Vì Sao Ái Tăng Trưởng & Đoạn Diệt
Thích Minh Thành
Ngày 01 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sanh thú PAGEREF _Toc134167549 \h 1
II. Ái là nhiên liệu của tái sanh PAGEREF _Toc134167550 \h 5
III. Quán sự nguy hiểm PAGEREF _Toc134167551 \h 13
I. Sanh thú
Kính bạch chư tôn hiền đức, các bậc hiền trí.
Mình phải suy nghĩ đây là giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình. Khi từ thiền thất bước ra đây, Minh Thành nghĩ rằng đây là thời pháp cuối cùng, mình không còn có cơ hội để chiêm nghiệm, thiền quán, chia sẻ pháp lần sau nữa. Duyên trầm này sẽ đi đến sự tàn diệt trong phút chốc nữa thôi. Sự an trú trong pháp của chúng ta rồi cũng hết nếu sau thời pháp mình không biết tu tập, mình không biết tác ý thì khi giải tán rồi thì mình vẫn quay về vị trí vô minh, vị trí của thân kiến, chấp thủ nên mình trân trọng giây phút được tu, được học, được hành pháp.
Khi mình làm việc thì mình cũng làm bằng tất cả tấm lòng của mình để rồi lát nữa mìn không làm được nữa, mình sẽ nằm xuống, không biết nằm xuống ở đâu, nằm ngoài đường hay là nằm ở bờ khe, vực thẳm hay là ở trong phòng? Sớm muộn gì thân này cũng ngã xuống, đổ xuống, sập xuống. Mình phải thường an trú trong sự thấy biết, sanh diệt tàn hoại của các pháp.
Chúng ta có từ nuông chiều rất hay, nuông chiều tấm thân này là ái, tiếng Việt có chữ nuông chiều. Ở chùa Bửu Liên hôm trước các vị trình pháp sử dụng chữ nuông chiều. Từ này là một khía cạnh của ái. Mình nuông chiều thân này, mình nuông chiều thọ, tưởng, hành, thức này. Mình không dám thẳng tay với nó. Có những lỗi lầm, sai quấy mà mình bị nhắc nhở, bị khiển trách thì mình phải coi thọ, tưởng, hành của mình vận hành thế nào, nó có bênh vực không?
Nhiều khi chúng ta sử dụng từ trong kinh Hán Việt thì trừu tượng, chúng ta sử dụng từ tiếng Việt thì rõ hơn, là xem nó có bênh vực mình không? Nuông chiều và bênh vực. Đó là nói ngoài tác động, mình tự ở bên trong suy nghĩ của mình cũng nuông chiều, cũng bênh vực nó.
Hai từ này là đề mục quán chiếu: nuông chiều và bênh vực. Là những khía cạnh của tham ái, tự ngã, mình làm sai thì mình phải đi ra sám hối, như đôi dép đã nhắc nhở không biết bao lần, người nào sai phạm thì phải đi ra chúng sám hối. Tại sao mình không ra sám hối khi mình thấy mình sai? Mình nuông chiều tự ngã của mình, mình bênh vực, mình phải lôi nó ra, bắt nó sám hối cho nó nhớ, nó nhục để nó không làm vậy nữa.
Chúng ta chiêm nghiệm hai từ nuông chiều và bênh vực thiền quán, trạng thái thiền quán ra sao, mình cần nhận diện trạng thái đó.
Bài kinh Luận nghị đường, Tương Ưng Bộ kinh tập 4:
2) Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-lamôn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên:
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Ý nói những ngày trước có nhiều vị tu sĩ, sa-môn tụ tập trong Luận Nghị Đường này để nói chuyện, bàn vấn đề.
"Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng". Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Sanh xứ là chỗ người đó thọ sanh, người đó chết thì đi về đâu. Rồi ông ấy kể tiếp: có rất nhiều những vị nói về thọ sanh của những người đệ tử đã chết sanh đi về đâu.
4-9) Makkhali Gosàla... Nigantha Nàtaputta... Sanjaya Belatthiputta... Pakuddha Kaccàyana... vị Ajita Kesakambala này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
10) Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Samôn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau: "Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau".
11) Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau: "Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?"
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Các vị thầy lớn ở các tông phái khác, khi đệ tử của người ta chết thì người ta sẽ tuyên bố người này sanh về cảnh giới nào? Sanh xứ là chỗ thọ sanh. Khi ông này chết được lên trời, ông kia chết thì trở lại làm người, người nọ chết sẽ đọa vào ba đường ác. Còn đối với các vị thành tựu cao trong giáo pháp thì người ta cũng nói là sanh chỗ này chỗ kia nhưng riêng Sa-môn Gotama lại nói khác: Những người thông thường thì Ngài nói sanh chỗ này chỗ kia nhưng những vị gọi là thượng nhân, tối thắng nhân, đạt được địa vị tối thượng mà khi họ từ trần, mạng chung thì Sa-môn Gotama lại nói là vị ấy chặt đứt khát ái, phá hủy các kiết phượt. nhờ chân chánh, thấy rõ kiêu mạng, đoạn tận khổ đau chứ Ngài không nói sanh về đâu, như vậy thì làm sao hiểu.
Minh Thành khởi lên phân vân, nghi ngờ, không biết phải hiểu như thế nào? Vị tối thượng nhân chết sẽ sanh về đâu? Mình tu để chấm dứt sanh nhưng người ngoại đạo không hiểu, nói phải sanh về. Đức Phật không nói sanh về đâu mà Ngài chỉ nói là vị này chặt đứt ái, phá hủy mọi sự trói buộc, cắt đứt mọi sự trói cột, chặt đứt khát ái.
12) -- Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên. Ta tuyên bố sự sanh khởi, này Vaccha, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.
13) Ví như, này Vaccha, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu (saupàdàna), không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ.
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Ví dụ này ý nói ngọn lửa cháy đỏ là do nó có nhiên liệu, tức là những thứ làm cho nó cháy. Đức Phật tuyên bố sự sanh của một người nào đó là tuyên bố đối với người còn có chấp thủ, sanh y, chỗ dựa của tái sanh. Còn những người không còn chấp thủ trong ngũ uẩn nữa, người đã thấy được bản chất của ngũ uẩn, thấy nhàm chán, ly tham, từ bỏ, những người không còn chấp thủ trong ngũ uẩn thì Đức Phật không tuyên bố sự thọ sanh của họ.
14) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
-- Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
15) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
-- Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Những câu đối đáp của Đức Phật với các vị đạo khác, chúng ta gọi là ngoại đạo thì chúng ta sẽ càng sáng tỏ lên nhiều khía cạnh, phương diện này, đây là giải thích nguyên nhân của luân hồi, của tái sanh. Và cái gì làm cho chúng sanh có mặt trong các hình thù khác nhau trong ngũ thú lục đạo. Vậy cái gì làm cho mình có mặt?
Nên chữ ái này có nghĩa rất rộng lớn và thâm sâu. Khi nãy chúng ta có nói hai từ nuông chiều và bênh vực, là một khía cạnh khác của ái, còn yêu thích là một khía cạnh khác của ái. Khi tâm mình bênh vực mình, khi có một sự việc ra là mình không thấy được sự thật. Khi có một việc gì xảy ra hoặc ở bên ngoài tác động, ở bên trong sanh khởi lên thì lúc đó mình có một sự bênh vực mình thì lúc đó mình sẽ không thấy được sự thật. Đó là triền cái, tham ái.
Khi nhận diện ngũ uẩn thì đi càng ngày càng sâu hơn. Yêu thích, tham muốn thì dễ hiểu, muốn thêm nữa thì dễ hiểu nhưng những trạng thái là bênh vực, nuông chiều thì vi tế, mình phải tập nhận diện.
II. Ái là nhiên liệu của tái sanh
Ông đó hỏi Đức Phật là:
14) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
-- Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Nói trên phương diện đi xa thì Đức Phật nói đó là gió, gió thổi làm lửa lan đi xa. Mình hiểu rộng ra là một người được lên cõi người, cõi trời, phước đức. Tuy là họ làm nhiều thiện pháp nhưng ái trong đó vẫn còn, nên họ làm nhiều việc thiện, làm phước thì giống như họ được ngọn gió thổi lên, còn một người có ái nhưng họ làm những điều ác, điều tội lỗi thì giống như một tảng đá bị chìm xuống.
15) -- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
-- Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).
(Tương Ưng Bộ Kinh - Tập IV Thiên Sáu Xứ - Chương Tương Ưng Không Thuyết - Bài kinh Luận nghị đường)
Khi bỏ một thân này đi qua một thân khác, mình yêu thích, mình mong muốn, khao khát, cùng với nghiệp lực thọ, tưởng, hành đó nó sẽ dẫn đi tìm một thân mới. Giống như mình lúc xưa bỏ tình cảm của cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Mình đi vào tu thì mình có sư huynh, sư đệ rất nhiều. Nếu mình không khéo chánh niệm tỉnh giác thì có phải mình bỏ ái này đi đổi ái mới không? Giống như vậy.
Giờ mình bỏ nhà của mình rồi đi tu ở chỗ khác và mình nói chỗ đó giống như nhà của mình, vậy có phải từ ái này biến qua ái khác không? Là bỏ nhà này đi vào nhà khác, nó chỉ là một hình thức biến thể của virut ái thôi. Cái đột biến của những con virut, tham ái, mình không có chánh kiến, không có nhận diện sâu sắc, mình không biết, mình tưởng là mình đang tu nhưng thật sự vẫn là ái.
Ở nhà mình, giường mình, phòng mình không ai đụng vào được, khi mình đi xuất gia rồi thì giường của mình cũng không ai được đụng tới. “Đây là chỗ của tôi! Áo của tôi! Cuốn sách của tôi!” Đó là bên ngoài, sâu vào bên trong là thọ, tưởng, hành, thức của tôi còn khiếp đảm hơn.
Chỉ cần một giấc ngủ của mình, đang chập chờn chuẩn bị vào giấc ngủ thì có người nào la lớn hay mở cửa rầm là bên trong rần rần rồi. Đó không riêng gì ai mà tất cả hữu tình đều vậy. Vì nó đang ái trong cái thọ đó, cảm giác im im đi vào giấc ngủ mà nghe tiếng rầm thì mất cảm giác dễ chịu đó, đổi lại thành khó chịu. Vậy nên tất cả đều ái trong đó. Cái ái này mới có ra cái sân và gốc của ái là vô minh, không thấy ngũ uẩn. Chúng ta thấy sự nhận diện này bắt đầu thâm sâu, lúc đó không thấy ngũ uẩn, chỉ thấy người này phá giấc ngủ của tôi thôi. Như có bốn miếng chả lụa, mỗi người một miếng nhưng người chồng đã ăn hết hai miếng.
Vậy nên tự thể ái này sâu sắc, tự ngã ái này. Nên vì sao ái tăng trưởng, làm sao để ái đoạn diệt? Vấn đề đó được Đức Phật giảng trong rất nhiều bài kinh. Đức Phật giảng trong chuyên đề Con đường đoạn tận tham ái chúng ta đã giải rồi nhưng bây giờ mình phải học lại nữa.
Trong Tương Ưng Bộ kinh tập 2, bài kinh Thủ:
Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniya dhammà), ái được tăng trưởng.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Ý nói, ai sống thấy vị ngọt trong những thứ mà mình nắm giữ thì ái trong người đó lớn mạnh, sự yêu thích trong người đó sẽ lớn mạnh. Những cái mình cầm, nắm, giữ và mình thấy vị ngọt trong đó, hoan hỷ trong đó, thích thú trong đó, khi đó tham ái trong mình sẽ lớn mạnh, lòng yêu thích của mình sẽ lớn mạnh. Ngược lại, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt.
Thường quán cái nguy hại trong những cái mình ưa, thích, nắm giữ thì mình phải thấy cái nguy hiểm trong đó. Thường sống như vậy, thấy sự nguy hiểm trong các pháp mà mình nắm giữ thì khi đó ái sẽ được đoạn diệt. Ví như Minh Thành nói nếu Minh Thành quyết định không dựng nhà tổ, chánh điện là cả một sự chiến đấu trong tâm. Minh Thành đã chọn xong, làm nền thì mở quán cà phê ở ngay dưới chân. Vị trí để Chánh điện là việc quan trọng nhất của ngôi chùa, họ tới mở đường sâu xuống bốn mét. Minh Thành có nói vài câu thì họ sân hận, nổi nóng lên. Nên Minh Thành nói trong tâm là “Xả bỏ đi, không làm nữa!”
Nhưng lâu lâu vẫn gợi trở lại, thọ, tưởng, hành đều gợi trở lại, lại phải diệt, chiến đấu rồi lâu lâu gợi trở lại thì phải chiến đấu. Cuối cùng mình chiến đấu xong thì mình khỏe, mình hạnh phúc. Nhờ vậy mới đi vào dòng pháp Nikāya, nếu xây xong thì chắc đã rồi, suốt ngày chỉ tiếp khách du lịch. Khi xây lên thì đẹp cỡ nào?
Trong chùa thì có nhà tổ và chánh điện quan trọng nhất mà còn dám bỏ là cả một sự tác ý. Đã mười tám năm chưa có chánh điện với nhà tổ, nhưng vẫn hạnh phúc như thường, an lạc, vi diệu.
Mình không có vật chất mà có siêu vật chất, mình không có chánh điện mà mình có Thánh pháp. Mình không có nhà tổ để thờ nhưng mình gặp Thánh nhân. Đó là cả một sự chiến đấu.
Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniya dhammà), ái được tăng trưởng.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Những cái mình có, những cái mình sở hữu, nắm giữ mà mình yêu thích trong đó, khoan khoái trong đó, mình tự mãn, vui sướng, hỷ lạc, dục hỷ trong đó thì lòng tham, lòng ái, lòng yêu thích của mình đối với những cái đó sẽ lớn mạnh hơn thêm. Gọi là ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng do duyên ái nên thủ có mặt. Mình yêu thích thì trong tâm mình sẽ có sự nắm giữ, khi trong tâm mình đã có sự nắm giữ rồi thì sự hiện hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt, do duyên sanh nên có già chết, sầu bi, khổ, ưu não. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Mình yêu thích thì mình nắm giữ, mình nắm giữ thì nó sẽ có, nó phải có cái để nắm giữ, lúc đó có tâm nắm giữ, có cái để mình nắm giữ, khi nó đã có rồi thì có sanh, già, bệnh, chết, có lo lắng, buồn đau, khổ sầu. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập hợp sanh khởi.
Giờ nói vào bên trong, thân này là cái mình đang chấp thủ, nếu mình thấy vị ngọt ở trong đó thì ái sẽ tăng trưởng. Khi nãy là nói bên ngoài thân, ngoài thân còn bỏ không nổi, thì thân này sao bỏ nổi? Bỏ ở đây không phải là tự thiêu, hay là mình đi uống thuốc ngủ mà bỏ là bỏ thọ, tưởng, hành, thức. Vì sắc này vô tri, không có gì, thọ, tưởng, hành, thức mới làm tổ, làm ổ, làm căn cứ địa, sào huyệt trong sắc này. Còn sắc thì vô số sắc, ví như giờ nó làm tổ trong tượng Phật này là khổ.
Như câu chuyện đốt trầm cúng Phật mà người ta để một dãy bảy, tám ông, phòng ni xá ở chung người nào cũng để một tượng Phật một đầu đơn 37:52 Có một cô đốt nhang trầm cúng cho tượng Phật ổng và nghĩ là cúng vậy rồi các ông kia được hưởng rồi sao hay cúng có một chút mà bay qua nhiều ông quá thì cô ta làm một cái ống đưa thẳng lên mũi của tượng Phật của cô ấy, để cho ông Phật của cô ấy hưởng mùi thôi, không để cho mấy ông khác. Thời gian sau mũi tượng Phật bị đen. Không rõ câu chuyện ẩn dụ hay có thật nhưng đều mang tính chất giáo dục rất sâu sắc. Là tâm mình yêu thích cái nào, thì nó sẽ nắm giữ vào cái đó, dù bên ngoài hay bên trong.
Như câu chuyện một cậu ngồi nói chuyện với một người anh, gọi là thành niên với nhau. Một ông chê ông kia là không biết đẻ, đẻ con gái không, không có con trai, nói qua nói lại rồi nổi nóng lên, xảy ra án mạng. Nói là “Ông không biết đẻ, đẻ con gái không, không có con trai.” Nói qua nói lại rồi lại đâm nhau chết. Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Đó là từ chỗ mình chấp thủ những cái mình yêu thích. Như vậy thì mình quay ngược lại nói là, nãy giờ chỉ nói ở ngoài, bây giờ mình quay ngược lại trong thân này. Thân này là cái bị chấp thủ, tâm yêu thích, ý nghĩ là tôi, là của tôi, cảm thọ. Giờ chỉ cần một người nào đứng lên nói mình dở thậm tệ, chỉ trích mình thì thọ, tưởng, hành trong mình sanh khởi liên tục. Vì ở trong này là một sự nắm giữ như vậy. Nếu người ta đứng chửi một cục đá thì mình im re, mình không nói gì, kệu cục đá, không có gì. Người ta chửi khúc cây thì có gì đâu. Nhưng nếu người ta kêu đúng tên ví như Pháp Cần người ta nói thì hết ngủ, hết thiền, về bệnh luôn, không ăn không ngủ được.
Vì chấp thủ không những trong thân này mà còn chấp thủ vào danh từ đó, giả danh đó cũng chấp thủ luôn. Chỉ cần nói tên ra thôi, ví dụ như Pháp Không, Pháp Trúc, Pháp Mây thì không sao nhưng nói Pháp Cần là không ngủ được. Không những chấp thủ trong thân mà còn chấp thủ trong danh từ, giả danh. Nhưng nói chung chung không sao, nói thẳng ra đúng tên mình như nói “Sư cô thân tàn ma dại!” thì về là ba ngày không tu được “Con vầy sao nói con thân tàn ma dại?”
Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniya dhammà), ái được tăng trưởng.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Chúng ta phải thấy được tiến trình vận hành, cấu trúc của tâm, hệ điều hành của tâm mình. Đầu tiên là vô minh, là không thấy ngũ uẩn, kế đó là tham ái rồi mới yêu thích ngũ uẩn. Sau khi tham ái rồi thì nó sống trong vị ngọt, nên mỗi ngày tham ái này tăng trưởng, tăng trưởng, lớn mạnh.
Ví dụ người đó mù, không thấy đường, người ta đưa cho một miếng và nói đây là vàng thì người này vì không thấy đường nên tưởng là vàng thật, cứ cầm, giữ hoài và càng ngày họ cứ sờ, ngày nào họ cũng lấy cục đó ra sờ và tấm tắt khen “Ôi vàng, quý quá!” Thứ nhất, họ không biết đó chỉ là một cục bằng meca, nhựa… Họ không biết, tức là vô minh. Họ thích cái đó, tưởng đó là vàng là họ tham ái. Mà càng ngày, mỗi tuần, mỗi tháng cứ đem sờ vậy họ tưởng tượng cái này quý lắm thì ái tăng trưởng. Khi tăng trưởng vậy thì trong tâm họ có cục vàng không? Đó là thủ.
Đến khi một ngày nào họ được sáng mắt và nhìn nhau thì nhận ra đó là đồ giả, không phải vàng thì lúc đó họ đau khổ không? Sân hận không?
Từ chỗ mình không thấy nên ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng, do duyên ái nên ái có mặt, do duyên thủ nên thủ có mặt, do duyên hữu nên sanh có mặt, do duyên sanh nên già, chết, sầu bi, khổ, ưu não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Đức Phật ví dụ:
Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, và ném củi khô vào. Này các Tỷ-kheo, như vậy đống lửa lớn ấy được nuôi dưỡng, được tiếp tế, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Một đống lửa làm từ bốn năm chục xe củi thì nó lớn cỡ nào? Như vậy rồi thỉnh thoảng ném cỏ khô, củi khô vào thêm nữa.
Như vậy đống lửa đó được nuôi dưỡng, được tiếp tế và có thể cháy đỏ trong thời gian dài. Vậy mình có nuôi dưỡng, có tiếp tế cho ái không? Hằng ngày mìh nuôi dưỡng, tiếp tế cho ái rất nhiều. Khi ăn mình không có chánh niệm thì mình nuôi dưỡng không? Khi ăn mà không có chánh niệm thì mình có thưởng thức không? Khoan khoái, thích thú không? Nhìn cảnh thôi thì có thích thú không? Có thấy ái tăng trưởng không? Thấy vị ngọt là ái lớn mạnh hoài lên, khi nào nó đi đến chỗ tàn diệt, đoạn diệt mà mình không tác ý gì thì tới chừng nào ái tận giải thoát.
Vậy nên sự quán bất tịnh của mình, sự quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trượt, quán chín giai đoạn tử thi, sự quán bạch cốt tưởng của mình là hết sức quan trọng, đó là phá tự thể ái.
Mình còn yêu thích thân này nhiều lắm. Những sai lầm, những tập khí, thói quen, tánh tình của mình có yêu thích nó không? Nếu không yêu thích thì tự thấy sai là bỏ ngay, còn đây là mình nuông chiều, bênh vực “Thôi tu từ từ thôi, còn nhỏ mà! Tôi mới mà!” Chính vì ý nghĩ đó nên mình không tiến bộ được trong Thánh pháp, mình không muốn bỏ vì mình nuông chiều.
Vậy mình có nuông chiều, có bênh vực không? Nói bệnh thôi để từ từ trị, còn trẻ mà, giờ còn sức khỏe. Nhiều khía cạnh, ở đây mình chỉ nêu ra một vài khía cạnh ở đây mình chỉ nêu ra một vài khía cạnh để mình thấy ái rất khủng khiếp. Cái nhìn của mình mà mình không tác ý thì ái ngay. Ví dụ giờ mình nhìn cây tùng này khen “Đẹp quá ta!” Cứ như vậy là ái tăng trưởng, mình không có sự tác ý, dẹp thọ, tưởng, hành, thức đó qua thì như vậy là mình đang nuôi dưỡng và tiếp tế cho ngọn lửa lớn đó. Là nuôi dưỡng ái, tiếp tế cho ái.
Có khi mình học pháp rồi mình hiểu, mình nuôi dưỡng cho ái, cho bản ngã “Tôi biết, mấy người kia không biết! Tôi thấy, mấy người kia không thấy. Tôi đúng mấy người kia sai!” Nên đó là đặt tâm sai hướng là nó đi lệch hết dù cho học Chánh pháp, bản ngã không diệt, ái không giảm, thân kiến tăng trưởng thêm, ngã kiến tăng trưởng thêm, tức là “Tôi thấy, tôi biết, tôi giỏi, tôi tu hay, các người không thực hành gì hết. Tôi mới là hành, mấy người học không!” Đó rất nguy hiểm, những cái đó đều là than củi, nhiên liệu.
Hãy nhìn cho thật kĩ những ý niệm đó, những suy nghĩ đó. Nên thật sự mình tu đúng, nghiêm cẩn là lúc nào mình cũng cúi đầu xuống, lúc nào mình cũng thấy hổ thẹn, lúc nào cũng thấy ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, ngao ngán trong con người mình và mình thấy ở ngoài mình ngao ngán vô cùng. Mình nhìn thấy những cái đẹp đó thì mình nói “Trời ơi, tai hại không, ác độc, đắng cay, bẫy mồi, móc câu, lưỡi mồi này, bẫy sập giăng lộn xộn, nhìn thấy lo sợ, ngao ngán mà mình thấy mình cúi đầu. Nhiều khi lâu lâu mình có ta đây một chút là nhìn lại thấy rất xấu hổ.
Như tối qua Minh Thành nhắc nhở thầy Pháp Lực một chút và nhìn lại thấy xấu hổ, biết rằng các vị làm không đúng nhưng mà mình thấy tâm của mình chưa được ngọt ngào, thấy xấu hổ nên giờ không muốn nhắc ai cả. Giờ chỉ có gặp nhau trong thời pháp, còn bây giờ thấy rất khó, khó nhắc, khó đẽo, đẽo, đục không nổi vì mình chưa đục người ta thì đục mình trước, tâm bây giờ rất khó. Vì cô Mai Đỗ muốn đục đá thì Minh Thành kêu “Thôi đục tâm trước đi! Khó”
Càng thấy vậy thì Minh Thành càng biết ơn bậc đạo sư của Minh Thành, thật là khó để một người học mà có thể đi vào dòng pháp này, là khủng khiếp lắm, chịu đựng lắm, gian khổ lắm, phải đau đớn, đại phẫu người không có tâm chịu đựng, dám từ bỏ những cái yêu thích nhất bên trong con người của mình là mình không thể nhập được Thánh pháp này.
Những cái bên trong làm mình yêu thích nhiều, đụng tới mình là mình dẫy lên, giống như tâm mình như vết thương, đụng tới là mình giẫy lên, giẫy đong đỏng lên dù chưa có gì. Nên thật khó, không phải dễ, phải là người với tâm xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo thì mới được, có thể bỏ cả sinh mạng này để cầu pháp thì mới học được, cầu được, mới đi nhanh, đi mạnh, đi mau, thể nhập được vào dòng pháp này. Phần lớn còn lại hiểu biết chút chút thôi.
III. Quán sự nguy hiểm
Tham ái này rất thâm sâu, mình không thấy. Nó ngược lại với sự yêu thích của mình, làm mình sân si lên ngay, mình không chịu. Phải phá được tham ái này.
Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Thấy sự nguy hiểm trong những thứ mình nắm giữ thì lòng yêu thích của mình sẽ được chấm dứt. Luôn luôn thấy được nguy hiểm và tác hại trong những cái mà mình đang có, những cái mình đang nắm giữ, đó là nguy hiểm trong đó, tác hại trong đó, tai họa trong đó. Người nào sống như vậy thì ái, lòng yêu thích của mình sẽ đi đến chấm dứt.
Mình thấy cái thân này là có nguy hiểm, có thân này là có tai họa, có thân này là có lo lắng, sợ hãi. Thấy có cảm thọ này là có sân si, tham dục, bản ngã. Mình thấy có tưởng này là mình có si mê. Có những cái hành này là còn những thứ rù quến cho mình, nó dẫn dụ, dẫn dắt, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than rồi nó đưa mình vào hố sâu, vực sâu, hố than hừng.
Mình phải tách mình ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức ác độc này. Khi nó nói lên một lời gì thì mình phải rất trầm tĩnh, tỉnh táo để lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ để thấy sự nguy hiểm ở trong đó. Ví dụ mình ở trong phòng, mình biết trong phòng có con rắn hổ mang bên trong thì mình có cẩn thận không? Mình có canh phòng không? Mình có dè chừng, để ý không? Cũng vậy, người thấy pháp là người thấy được những con rắn hổ mang ở trong tâm này, giống như người biết trong phòng mình có một con rắn độc vậy. Người này sẽ hết sức cẩn thận khi chưa đuổi nó ra được. Cứ tìm cách hoài, nhìn hoài, moi móc, đi kiếm hoài, chừng nào thấy đuổi nó ra được rồi, đi xa mà thật sự mình thấy là lúc đó mình mới yên tâm mình về ngủ.
Năm con rắn hổ mang đang ở trong mình. Thật đắng cay, ác độc, tai họa đối với những sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Cho đến khi nào nó khởi lên thì mình thấy chán ngán, sợ hãi, không ưa, không thích, không chấp nhận, tiếp tế, nuôi dưỡng, tăng trưởng cho nó nữa.
Mình thấy các vị chân tu, trong núi trong rừng, các Ngài chân tu. Trong giáo pháp nguyên chất của Đức Phật thì mình nhìn thấy các Ngài ốm o, tiều tụy lắm. Ăn một ngày có một bữa, ngủ không bao nhiêu, mình không thọ dụng năm dục trưởng dưỡng rất ít, đời sống rất đơn giản, thanh cao, cao thượng, mình phải hướng tới chỗ đó. Mình đang bị vây hãm trong những ma trận của năm dục trưởng dưỡng ác độc, nguy hiểm.
Vậy nên buổi sáng mình tu học để mình tập ăn trễ, các Ngài thì không ăn hoặc chỉ ăn một bữa, các Ngài tu quyết liệt đúng theo tinh thần của Đức Phật nên mình trễ chút cũng không có gì, mình tác ý như vậy, mình tu học an lạc, hạnh phúc. Nếu mình có thiếu gì chút, mình có mất ngủ một chút, mình có thiếu ăn một chút cũng không sao. Đây là cơ hội để mình sống đời ít muốn, biết đủ, mình phải tác ý như vậy. Khi những khó khăn tới, khi những trục trặc tới, khi những chướng ngại tới thì mình lấy đó làm cơ hội, bài tập, lấy đó làm động lực, bài thi, lấy cái đó làm đà để mình tiến lên.
Mình lấy bệnh hoạn để làm cơ hội cho mình thể nhập vào được Khổ Thánh Trí, dốc hết tâm lực của mình vào để mình thể nhập được trí tuệ. Mình không ưa thích đời sống này, mình thấy chỉ là sự phiền phức, phiền nhọc, phiền bực, phiền não, phiền toái. Mình không ưa thích đời sống này, mình sống chỉ là để diệt tận lậu hoặc, làm sạch căn nhà nội tâm, để tẩy rửa, để tổng vệ sinh những thứ cấu nhiễm, ô uế, bẩn thỉu bên trong. Mình không thấy gì thích thú, khoan khoái trong sự sống này hết, sống chỉ thêm mệt mỏi. Để thêm sự khao khát, nô lệ cho tham ái.
Mình Thành giờ cũng ngại tiếp xúc, trừ các vị trong đạo tràng cùng chung chí hướng với nhau, gặp chia sẻ pháp như vầy thì có an lạc. Còn nếu gặp những người tham, sân, si ở ngoài đời thì Minh Thành thật sự mệt, suốt ngày chỉ đóng cửa trong phòng, chỉ khi nào ra khỏi thì chia sẻ pháp, vì thấy sợ, thấy mệt, thấy ngao ngán làm sao. Giống như người nào lại gần mình thì cũng thấy lửa cháy đầy mình, họ lại rồi nói những chuyện sân si, hơn thua, bản ngã.
Nên về tới núi rừng thấy khỏe, sáng thức dậy thấy mây trời thênh thang nên thấy nó cũng khỏe, nhẹ hơn. Nhìn thấy người ta tham, sân, si thấy rất mệt.
Khi thấy được sự nguy hiểm trong các pháp chấp thủ thì ái mới được tiêu diệt.
Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, hay phân khô, hay củi khô vào. Như vậy, này các Tỷ kheo, đống lửa lớn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Không tiếp tế nhiên liệu, những nhiên liệu cũ bị cháy hết mà không đem thêm hay tiếp tế nhiên liệu mới. Đức Phật đã dùng từ chính xác như củi khô, mình đọc sẽ thấy cách dùng từ của Đức Phật, văn nghĩa trong đó:
Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Nên mình sẽ thấy được đống lửa của mình rất khủng khiếp. Đống lửa đó là của khát ái, của tham ái, của dục ái. Tiếp tế nhiên liệu trong đó, giờ mình không tiếp tế nữa, nhiên liệu cũ cháy tàn hết mà không tiếp tế nhiên liệu mới, không đem thêm cỏ khô, phân khô, củi khô. Đống lửa đó không được nuôi dưỡng thì sẽ bị tắt.
Này các Tỷ kheo, đống lửa lớn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt... (như trên) ... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2. Thiên Nhân Duyên - Chương 1 Tương Ưng Nhân Duyên – Phẩm Cây – Bài kinh Thủ)
Ý nói, này các Tỳ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ. Ai sống thấy những thứ mà mình đang có, thứ mà mình đang nắm giữ từ bên trong tới bên ngoài là nguy hiểm, là tai họa, thì lòng yêu thích của người đó được chấm dứt.
Những cái mình đang có, bất cứ là cái gì, dù là trong hay ngoài, mình phải thấy nó là nguy hiểm, tác hại, tai họa trong đó, đừng thấy vị ngọt trong đó thì lòng yêu thích của mình đối với những thứ đó sẽ giảm dần dần, đi đến chỗ chấm dứt, đoạn diệt.
Nguy hiểm, tai họa, khốn khổ, khổ đau, bất an, lo lắng và sợ hãi. Có cái ghế này thì có nguy hiểm trong cái ghế này. Có chuông này là có nguy hiểm trong cái chuông này. Có chỗ ngồi lót dưới này là có nguy hiểm trong chỗ ngồi lót ở chỗ này. Có căn nhà này là có nguy hiểm trong căn nhà này, nếu tâm mình dính mắc, tham ái, chấp thủ vào đó. Có thân này có nhiều lo lắng, khổ sầu trong đó.
Tập nhàm chán đối với sắc, sống nhiều nhàm chán đối với sắc, sống nhiều nhàm chán đối với các cảm thọ, đối với hình bóng trong tâm, các tưởng, đối với những suy nghĩ, các hành, đối với những nhận thức, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết. Nên tập sanh khởi sự nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ đều phải chuẩn bị ra đi bất cứ lúc nào và ở đâu. Những thứ vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, những thứ tai họa, bất an, thống khổ, lửa đỏ này, mình đem nó vào trong người mình để làm gì? Trong khi mình không muốn khổ, mình chỉ muốn thoát mau, thoát lẹ, thoát nhanh khỏi chốn này thôi? Đừng hai lòng, vừa lòng, bằng lòng, an lòng với chỗ hiện tại như bây giờ. Đừng thấy trên núi trong lành, mát mẻ, cảnh đẹp yên lành, thầy trò, huynh đệ yêu thương, hiền hòa vậy là xong.
Đó là tai họa, tai nạn, mình không thể an lành được mãi, sự an lành này chỉ là trộm an đôi chút. Chỉ một chút rồi không biết điều gì xảy ra, nhiều khi đang ngồi nhưng ngã quỵ xỉu. Phải nhìn như vậy hoài, nhớ tai họa trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Nó nhả ra tất cả mọi sự tham ái, chấp thủ, không yêu thích sự hiện hữu này nữa. Chỉ có như vậy mình mới khỏe nhất. Bất cứ hiện hữu trong hình thái nào rồi cũng sẽ có chuyện. Cũng sầu bi, khổ, ưu não trong hình thái đó.
Nên khi mình học được pháp này, mình ứng dụng nó rất hay, tuyệt diệu. Có nhiều người khuyên Minh Thành nên trồng cỏ Nhật cho đẹp thì Minh Thành nói: “Giờ cỏ này không đã mệt, đừng nói là cỏ Nhật!” Nên trồng tre cho lá tre rơi xuống, không cần làm cỏ. Vừa có tre, vừa có măng, vừa có cảnh, vừa trở về Trúc Lâm Tinh Xá mà vừa không cần làm cỏ, đỡ tốn công, tốn tiền, đỡ tốn sức, đỡ tốn thời gian mà còn không bị sát sanh.
Vậy nên mình ứng dụng trong trí Nikāya này rồi thì mình có một cuộc sống rất kỳ diệu, siêu nhân, có những cái nhìn vượt ra khỏi cái nhìn của tầm thường, của thế gian. Một cái nhìn vô tranh, một cái nhìn không so sánh với ai, không cần hơn thua với ai. Nhẹ nhàng, thanh thoát để mình tập trung tất cả thời gian để mình tu học, quán cho diệt tận sạch.
Giờ sống chỉ để chờ chết. Như một ngày Minh Thành đi đến thăm Ngài trưởng lão. Minh Thành thấy khổ vô cùng, từ ngày cảm cảm đến tận bây giờ nên Minh Thành mới tính đến phương án nhanh nhanh để vào rừng tu, để không kịp là chết. Ngày đó cúng dường Trai tăng ở tăng xá, Minh Thành cầm một túi đồ người ta cho đi về thất để xuống. Lúc sau lại đi tìm hết trong thất mà không tìm được, nên tức ở trong người vì mình để ở chỗ nào mình phải biết chỗ để, đi trở ra ở ngoài đường gần bên tăng xá tìm cũng không có. Nhưng trở vào phòng thì mở cửa ra nó nằm ở chỗ góc cửa.
Minh Thành thấy “Vầy không được rồi! Tai họa tới rồi! Đây là niềm báo! Lúc xưa trí của mình rất sắc bén, thiền quán cả Thánh chiến hùng ca như vậy mà bây giờ chỉ một cái nhỏ như vậy mà không đủ trí tuệ nhận thức như vậy là nguy hiểm, là tai họa, là không kịp nữa rồi!” Nên thật ra đã thực hành tu tập chuyên sâu này từ lâu lắm, nhưng duyên cứ kéo kéo như vậy thì nó quên. Nhưng chỉ có hai mũi vắc-xin thôi, không dám nhiều, như bốn mũi thì thôi rồi.
Như vậy là nó quên nhiều, khi ngồi thiền quán, quán chiếu thì nó không bằng lúc trước. Minh Thành tính đi vào rừng một năm mới có thể phục hồi công lực, trí nhớ, độ sắc bén, bén nhạy để mình thiền quán. Giờ nó bị mất khoảng hai mươi – ba mươi phần trăm so với độ sắc bén ghi nhớ lúc trước.
Đi thăm hòa thượng … 74:55, ngài hộ pháp, lúc trước Minh Thành không hiểu Ngài nói là lỗi của sư là chưa chết. Lúc đó Minh Thành còn chưa vào dòng pháp này nên không hiểu, tự nhiên tới thì nghe nói là lỗi sư là chưa chết. Bây giờ mình vào Nikāya thì mình thấy đúng quá, mình làm cho xong công chuyện thì mình đi, mình không ở đây làm gì.
Chỗ này không phải là chỗ của mình, đây là chỗ tranh giành của người ta, của những ngũ uẩn, của giành giựt, tranh đấu, xâu xé. Mình không phải ở chỗ này, mình không phải trong thân này, mình chỉ một bề duy nhất là chấm dứt sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đi đến chỗ hoàn toàn tịch tịnh, diệt Thánh đế, diệt hết tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Chỗ đó mới là chỗ của mình.
Còn mấy chỗ này là mầm của tai họa. Chúng ta thấy ở Kon Tum có động đất mấy trăm trận mà đó giờ chưa từng có. Bây giờ Thổ Nhĩ Kỳ động đất thêm hai ba trận làm chết người, không phải như trận trước là mấy chục ngàn, trận thứ hai chết mấy trăm người, giờ có trận thứ ba làm chết nữa. Không chỉ Thổ Nhĩ Kỳ mà nhiều nước trên thế giới, như Trung Quốc vừa động đất bảy chấm mấy rồi các nước Châu Âu nữa. Xem như Trái Đất này như người già lụ khụ.
Mất mù là hàng chục ngàn hécta, gây ra có khả năng đói, rồi đến đại hạn, như ở Sài Gòn thiếu nước, bị cúp nước. Thiên tai, mất mùa, hạn hán, động đất, sóng thần, dịch bệnh, chiến tranh… Tràn ngập mọi thứ, vậy mà còn chưa định lên núi tu?
Minh Thành làm ra là để cho mọi người. Giờ đúng như trong kinh nói, con người hung ác, đầy rẫy những sung mãn, ác và bất thiện pháp. Nghiệp sát nặng, tâm hung hăn, hung bạo, hung dữ, hung tàn, hung tợn tràn ngập thế gian thì những người hiền lành sẽ đi vào núi rừng sống ẩn dật, tu hành. Những người này sẽ hiền thiện, giữ giới, tuổi thọ sẽ tăng trưởng trở lại.
Sau này có người sống có mười tuổi đã chết. Như giờ có những đứa trẻ chỉ học lớp năm, lớp bảy đã đẻ con trong nhà vệ sinh. Khủng khiếp như vậy.
Minh Thành đi về vùng sâu, vùng xa, gặp những người đồng bào dân tộc chỉ mười bảy mười tám tuổi đã có con, thậm chí hai đứa con. Nên đó là những gì Đức Phật nói giờ đã biểu hiện ra hết. Sau này năm bảy tuổi có chồng có vợ, mười tuổi là khi thọ mạng con người, là khi ác bất thiện pháp giảm giảm thì tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi. Năm tuổi là có vợ có chồng.
Sau này tuổi thọ con người có thể thua cả tuổi thọ con chó. Vì ác bất thiện pháp sanh khởi, tăng trưởng thêm. Nên chúng ta cần tu nhanh kẻo không kịp. Sắp tới còn nhiều thứ không thể lường trước được. Giờ an ổn như vầy không lo tu, đến khi có những chuyện mà Đức Phật nói phi thời thầy quậy 80:46 nói về những lúc mình không còn thể tu tập được nữa.
Đói khát, mất mùa, chiến tranh, tăng chúng bất hòa rồi trộm cướp nổi lên đầy đường hết, trong kinh nói như vậy. Nên mình phải tận dụng thời gian này thật sát sao, giờ giờ, phút phút tập trung vào sự nhận diện ngũ uẩn và như lý tác ý, thiền định, thiền quán thật nhanh kẻo không kịp. Đừng hững hờ, vật vờ, đừng sống phờ phĩnh. Phải chịu đựng nhau để mà sống.
Chúng ta thật sự không có thời gian để sân si, để hơn thua với nhau, chỉ có người ngu mới để thời gian vào đó. Thấy không kịp thời gian để lo tu hành, lo học pháp, lo hành pháp. Mình còn không biết mình còn được sống bao nhiêu ngày, đừng nói tính tháng tính năm. Bác sĩ người ta còn tính năm còn mình đừng tính, chỉ tính ngày thôi. Miễn sao mình thể nhập được vào Thánh trí huệ này là mình bất tử. Còn dù cho mình có sống được năm chục năm nữa thì mình cũng sanh sanh tử tử trong vô minh, khát ái, không có gì khác. Miễn sao mình nhập được Thánh trí là mình bất tử.
Cần triển khai thiền quán liên tục, chừng nào mệt không tu nổi nữa thì mới nằm xuống nghỉ. Bất kể đi đứng ngồi nằm, lúc nào nhìn cái gì, thấy cái gì, nghe cái gì đều triển khai thiền quán.
Như ngày Minh Thành đi máy bay, nhắm mắt lại là xả ngủ uẩn, xả sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Làm sao để mình nhớ hoài, đừng quên trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã. Lúc nào nhìn thấy đâu cũng là nguy hiểm, tai họa, nhả tâm ái luyến, tâm chấp thủ ra.
Nên khi quán chiếu có nhiều điều thú vị, khi Minh Thành bước về tới núi là cảm thấy “Mừng quá, thoát chết!” hoặc “Mình còn sống, về núi! Mình không ngờ là mình còn sống!” Vì cái chết đến là bình thường, còn sống thì đó mới là bất thường. Mình nghĩ ngược như vậy.
Về tới núi, trên xe bước xuống thì mình nói “Mừng quá! Mình còn được sống vì đúng ra mình chết rồi!” Người ta thì nghĩ rằng tai họa, chết là bất thường. Minh Thành nghĩ là tai họa chết là bình thường. Còn được sống mới là bất thường. Vì vậy nên tối qua về nửa đêm, sáng nay đúng ra là nghỉ nhưng sợ chết nên phải cố gắng. Nghĩ như vậy nên mình có nhiều thú vị rất đặc biệt, lạ, tuyệt vời. Còn sống là bất thường, chết là bình thường. Bệnh là bình thường, khỏe là bất thường nên phải trân trọng, trân quý cái bất thường này.
Khổ mà vằn vặt mình đủ thứ là bình thường, nhưng nó tạm an được giây phút thì đó là bất thường. Nên lúc tạm an là vận dụng hết, trân quý hết tài hết tên để vận dụng khả năng của mình nếu không khổ sẽ tới, tai họa tới. Nên người trí trong cái an phải nhìn thấy cái nguy.
Minh Thành ở đâu cũng nhìn thấy nguy hiểm, trong lúc an ổn là Minh Thành thấy chỗ nào cũng nguy hiểm, còn lúc nguy hiểm thì Minh Thành thấy bình thường. Nên đi ngang đường nhìn thấy người ta gặp tai nạn chết thì Minh Thành nói “Đừng nhìn, cái này là bình thường, đi đi! Nhìn một lúc là bất bình thường đó!” Đứng lại nhìn rồi xảy ra tai nạn nữa. Cái bình thường là bất thường còn cái bất thường lại là cái bình thường, người ta thấy thường thì Minh Thành thấy vô thường, còn người ta thấy vô thường thì Minh Thành lại thấy bình thường. Trí huệ ở trong thiền quán dạy mình như vậy, người ta thấy vui thì mình thấy khổ, người ta thấy khổ thì mình thấy cái này phải rồi, là vậy, là lẽ đương nhiên. Người ta thấy cái đó là có thì mình phải thấy cái đó là không. Người ta thấy cái đó là không thì mình lại vui với cái không đó.
Cũng như mình đi đến chỗ rừng rú gần biên giới thì người khác nói “Trời ơi sao lại vào đây ở?” Mình ở nhà của người dân tộc người ta bỏ không xài nữa thì người ta cất nhà tường thì mình đi kiếm những nhà sàn cũ, người ta bỏ hoặc không xài nữa thì mình nhặt cái người ta bỏ về xài, còn cái người ta muốn thì mình bỏ, cái người ta bỏ thì mình xài. Cái mà người ta chạy theo tìm kiếm thì mình phải từ bỏ, cái người ta từ bỏ thì mình nhặt xài đỡ.
Như mấy cây trúc này có ai để ý, mình xài và đem nó lên cả bàn thờ. Sau này chúng ta qua làng tu sẽ thấy, đều là xài đồ phế liệu, đồ người ta bỏ không xài thì mình xài cái đó, khỏi cần ai coi chùa, giữ gìn, cứ tu khi nào chết thì thôi.
Vậy nên Nikāya dạy cho mình một nghệ thuật sống tối thượng thừa, tâm an, thân ổn, lòng nhẹ như mây, không có gì trên cuộc đời này, khai tử rồi. Cũng không biết nhân duyên ra sao mà tờ giấy khai tử của hòa thượng để trên đầu giường của Minh Thành, cứ ngủ thức dậy sẽ nhìn thấy và tác ý “Khai tử nha! Mày phải khai tử nha! Mày chết rồi đó. Khai tử đó con, con phải nhớ là con chết rồi đó, chết danh chết lợi nha, chết tài chết sắc nha. Con phải chết tham, chết dục nha. Chết hết nha con.”
Bây giờ mình tu rất đặc biệt, như ngày nào tiệc dọn đồ ăn nhiều thì trong bụng lo rầu “Có thể bệnh nữa đó! Lát vào uống thuốc tiêu hóa!” Còn ngày nào cho ăn đơn sơ, rau thì nói “Hôm nay khỏe! Nhẹ, mừng.”
Nên Minh Thành vào rừng ở rất khỏe, không lo gì. Nấu một lần là ăn cả ngày, ăn với rau như vậy. Còn nếu dọn lên rất nhiều thì tai nạn, tai họa tới. Vậy nên bây giờ khó nuôi là vì vậy, những cái người ta thích thì mình thấy sợ, mình phải tập những cái người ta tranh giành, ưa thích thì mình từ bỏ. Những cái người ta từ bỏ thì mình lấy xài đỡ. Chờ ngày chết thôi.
Sống như vậy rất khỏe, nhẹ, không có gì. Tại sao mình không thử cái Đức Phật truyền lại, ngài Maha Kassapa truyền lại mà mình đi thử cái gì? Nếu duyên đủ thì nếu quý vị cạo tóc, xuất gia là cho đắp y bá nạp hết. Đây là đồ người ta bỏ, mình nhặt lại xài, còn nếu là tấm vải nguyên đi cắt, đi may thì đã khác. Nói chung là mình cố gắng để gần với Đức Phật nhất có thể vì vài ngày sau là mình chết, mình không làm rồi mai mốt mình chết lại hối hận “Sao lúc đó mình muốn đắp bá nạp mà mình không đắp? Giờ nằm trên giường bị covid, vị ung thư rồi, chết rồi, chưa kịp đắp y bá nạp!” Mình sẽ tiếc, giờ mình làm được thì cứ làm hết mình, chừng nào chết thì chết, lúc đó mình khỏi tiếc.
Đây là vải vụn của người ta, các cô ở quê khâu lại, giống như mền mà bà nội Minh Thành từng làm, xong rồi thì chú Phật tử đem đi nhuộm, nhưng có những vải không thấm, cũng còn hoa văn hơi nhiều.
…
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.