Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KHỔ THÁNH TRÍ 3 - BẢN CHẤT CỦA KHỔ

2026-03-03 00:55:46
Kinh Nikāya Giảng Giải

KHỔ THÁNH TRÍ 3

Bản Chất Của Khổ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự vận hành của khổ PAGEREF _Toc143884373 \h 1

II.Cội gốc của khổ đau PAGEREF _Toc143884374 \h 6

III.Bản tánh của khổ PAGEREF _Toc143884375 \h 8

Sự vận hành của khổ

Theo sự vận hành của duyên sanh pháp, từ sự tiếp xúc mới sanh ra cảm thọ. Sở dĩ có khổ là do có tiếp xúc. Sự tiếp xúc có được chính là từ thân này. Trong khi đó bản chất của thân này Đức Phật nói là do bốn đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến đổi, bệnh tật, hoại diệt. Tấm thân do các duyên sanh, do vô thường làm ra thì những cảm giác khổ hay vui trong đó làm sao có thể thường còn, thường hằng được? Đây là một trong những định lý quán chiếu mà chúng ta cần ghi nhớ để thực tập.

Nếu thường xuyên thực tập quán chiếu bản chất của đời sống ngũ uẩn này, ta sẽ thấy thật sự ngao ngán, mỏi mệt! Các trần phía ngoài, cùng các pháp bên trong tâm cứ chi phối, áp đảo ta không ngừng. Hằng ngày đôi mắt này phải nhìn các sắc, hình sắc nào đẹp thì dừng lại thích thú, rồi dính mắc; cảnh nào không vừa lòng thì khó chịu, không vui. Chính do tiếp xúc mới sanh ra những cảm thọ, nghĩ, tưởng; sau đó ta lại dính mắc với những pháp vô thường, tan nát, hủy hoại này. Khi chiêm nghiệm sự thật này, ta thấy vô cùng mệt mỏi với guồng máy của ngũ uẩn, mệt mỏi với bộ máy của các hành. Cơ hội đào sâu vào Khổ Thánh Trí và có những cảm thọ nhàm chán đối với khổ không phải dễ dàng, vì vậy ta phải cố gắng tăng trưởng và phát triển cảm thọ này trong sự tu học.

Thực trạng dịch bệnh Covid hiện này là pháp sống để chúng ta chiêm nghiêm. Giờ đây, chỉ việc thở thôi cũng đã vô cùng khổ. Những đoạn phim quay lại cảnh điều trị Covid trong bệnh viện cho chúng ta thấy một quá trình đấu tranh giành giật từng hơi thở, giành giật sự sống giữa bác sĩ và thần chết. Trong khi đó, chúng ta đang khỏe khoắn, không bị nhiễm bệnh, chỉ ngồi yên nghe pháp cũng đã phải chiến đầu với cơn mỏi lưng, buồn ngủ; khi ngồi thiền bị tê chân, đau nhức, khó chịu thì bên trong đã bức xúc, muốn xả thiền. Thử nghĩ, những người phải giành giật từng hơi thở để được sống còn khó nhọc đến thế nào! Mỗi một hơi thở là một sự tranh đấu giữa sống và chết, giữa sanh và tử… Chiêm nghiệm thật sâu sắc vào đó chúng ta sẽ thấy ngao ngán, ê chề, não nề cho dòng luân hồi này.

Con mắt thấy người nào đẹp, khả ái thì thích. Về nhà rồi mà hình bóng người đó cứ chập chờn trong tâm. Tiếp xúc vài lần thì các tưởng sẽ có chỗ y cứ, được thiết lập, hình bóng đó dần dần đứng vững trong tâm, đến nỗi mình không có khả năng xóa nhòa, phá vỡ hình bóng đó. Hình bóng về người đó sẽ ám ảnh, vững trú trong tâm không phải một đời mà là nhiều đời nhiều kiếp. Thật sự khủng khiếp trước sự vô minh và tham ái của ngũ uẩn; thật là sợ hãi trước sự ám ảnh của những hình bóng trong tâm.

Hình bóng đó có thể là tham ái hoặc là sân hận. Đối với hình bóng tham ái, khi tiếp xúc thì sẽ dính mắc, mất hình bóng ấy thì đau khổ; càng tiếp xúc với hình bóng đó nhiều chừng nào thì thọ, tưởng, hành càng đi sâu vào tâm chừng đó. Do vậy ngũ uẩn tăng trưởng, sắc tưởng lớn mạnh, những cảm giác được nuôi lớn, những suy nghĩ, nhận thức cứ tiếp tục sanh ra. Đối với hình bóng sân hận cũng vậy, càng gặp nhau thì càng tưới tẩm lên những cảm thọ khó chịu, bức xúc, tức giận, thù hận. Những cảm thọ sân hận được tiếp tế, những cái tưởng sân hận được tô đậm và hành uẩn cứ sanh ra nhiều thêm.

Thật là mệt mỏi khi những hình bóng hiền thiện, an lạc thì hiếm có; còn những thọ, tưởng, hành bất thiện thì đầy rẫy trong trong tâm. Chúng ta thật phước lành khi được ở núi tu tập, hằng ngày được thấy mây bay, chim hót, trúc lay, hằng ngày được ngồi thiền, nghe pháp, đây là những hình ảnh hiếm có, khó gặp trong cuộc đời. Thế gian ngoài kia mỗi ngày phải tiếp xúc với nói dối, trộm cắp, tà dâm... Hằng ngày phải sống với những cảm giác thúc giục, những cảm xúc tức giận... những cảm thọ vô minh bao trùm cả sáu xúc. Những tham muốn, nóng giận, yêu thích, thúc giục hành hạ tâm, giày vò tâm. Sự mờ tối, sự bấu víu, nắm chặt, hơn thua làm cho tâm mệt mỏi, đảo điên quay cuồng.

Tai nghe tiếng cũng vậy. Khi ta nghe phải lời nói chạm phải tự ái thì thanh tưởng đó cứ vang vọng trong đầu. Mấy năm sau thanh tưởng đó vẫn còn ở đó; những cảm thọ sân hận cứ ghim trong người, hình bóng của người nói câu đó đứng vững trong ngũ uẩn; gương mặt của người đó cũng làm mình sân hận. Những tiếng nói ngọt ngào, êm ái cũng chất chứa trong tâm, có khi đi tu rồi nhưng vẫn còn nhớ tưởng, ưa thích, khoan khoái, mong muốn được gặp lại hình bóng đó, nghe được âm thanh đó, có được cảm thọ dễ thương đó. Mang một thân tâm đầy tham, sân, si như vậy thật là khổ sở, mỏi mệt. Dù thấy mình đang ở yên nhưng bên trong nội tâm là dục lậu sanh khởi, sáu ái hoạt động.

Thế Tôn đã nói ái tập khởi là khổ tập khởi: “Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi”.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh – tập III , chương I. Tương Ưng Uẩn, bài kinh Khổ)

Nguyên nhân của khổ là do ái. Nói thô là do ái mà chạy đến chỗ này chỗ kia để tìm kiếm cầu sự tham thích. Nói tế là bên trong những cảm giác tham ái cứ dâng trào thúc đẩy để các hình bóng và suy nghĩ chạy quanh quẩn trong đầu, rồi đi tìm dục, tìm ái. Nếu không nhìn sâu vào ngũ uẩn để nhận diện thì mình sẽ không thấy sự vận hành này. Khi nhìn thật sâu vào bên trong, chúng ta sẽ thấy dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, thấy trạng thái hoạt động ngầm của cảm thọ cứ dâng lên để những hình bóng, suy nghĩ sanh khởi, khiến ta ưa thích rồi tìm kiếm những cái dễ nhìn, dễ nghe để tiếp xúc.

Khi tiếp xúc sanh khởi ra những cảm giác vui hay khổ chúng ta cũng thọ nhận, rồi chất chứa vào trong tâm. Nơi cất giữ đó người đời gọi là tiềm thức, tâm khảm, còn Thế Tôn gọi là thọ uẩn, là tổ hợp của các cảm thọ. Có những cảm giác ta cất giấu rất kĩ, rất sâu kín, cho nên có những chuyện “sống để dạ chết đem theo” chứ không nói ra, đó là những tầng sâu lắng của cảm thọ. Những hình ảnh, cảm giác bí mật được cất giữ rất kĩ lưỡng, chỉ có Thánh trí năm uẩn mới mở ra từng lớp để làm sạch những thầm ý bên trong. Có khi dù không nói ra nhưng sâu bên trong lại có một thầm ý mong muốn tìm một cái gì đó để tiếp xúc.

Quy trình tâm cứ hoạt động như vậy hoài làm ta vô cùng đau khổ và mệt mỏi. Dù ở trên núi có cảnh đẹp thanh bình, không khí trong lành, nhưng ở lâu nhiều vị lại thấy chán, muốn thay đổi môi trường, thay đổi cảnh vật. Đó chính là sự thúc giục bên trong, là xúc thực. Việc ưa thích nhớ nghĩ, chìm đắm trong những chuyện vui, chuyện buồn rồi khắc sâu trong tâm – đó là tư niệm thực. Hay khi được học kinh Nikāya rồi nhưng thấy vẫn chưa đủ, vẫn phải tìm cái mới để học thêm, đó là thức thực. Và như thế lại tiếp tục chạy tìm những lời dạy ngoài kinh gốc Thế Tôn, vì những lời dạy khác có ái trong đó, nó tưới tẩm vào tham muốn nên mình ưa thích. Còn lời dạy của Thế Tôn là đánh thẳng vào sự nhiếp phục dục, tham, ái nên mình không thích; chỉ muốn tìm đến những thứ vuốt ve, nuôi dưỡng cho sự. Chính vì vậy tượng pháp sanh ra, Chánh Pháp bị mai một!

Ví như có hai vợ chồng mới cưới, đang rất hạnh phúc, nhưng một người bạn đến thăm cứ nói “đời là khổ, ái luyến là khổ” thì làm sao người ta thích nghe, làm sao chấp nhận. Cũng vậy, tạng kinh Nikāya đánh phá trực tiếp vào dục-ái-tham của con người nên chúng sanh không chịu nổi, không chấp nhận được. Vì muốn được vuốt ve, nâng niu, chiều chuộng nên người ta tạo ra nhiều cách thức tu hành. Đó là lý do tại sao nhiều người không thích kinh Nikāya, gọi đây là Tiểu Thừa. Còn những tư tưởng mê tín, tà kiến lại rất được yêu thích, tín đồ theo rất đông; trong khi Chánh kiến đánh thẳng vào dục-tham-ái lại không ai thích.

---

Những người tu ở chỗ xa vắng thì sự tiếp xúc với bên ngoài rất ít, nhưng nội xúc bên trong, tức là những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ của quá khứ cứ hiện ra không ngừng. Ví dụ các thầy ở chỗ khác lên núi tu tập, lâu lâu hình bóng của ngôi chùa cũ sẽ hiện ra, hay những hình bóng ảo tưởng về tương lai xuất hiện; đó là những sắc quá khứ, hiện tại, vị lai. Những thọ, tưởng của quá khứ, hiện tại, vị lai cứ hiện ra như vậy khiến mình vô cùng mệt mỏi. Có khi suy nghĩ thì thầm trong đầu, thúc giục mình: “Về thôi, ở đây buồn quá!”. Nếu không nhận diện những thọ, tưởng, hành này, có khi ta bị nó dẫn dắt, xuống núi không tu học nữa.

Qua đó ta thấy rằng, do tiếp xúc mà có cảm thọ, do tiếp xúc mới có suy lường, do xúc mới có nhận thức. Sở dĩ tiếp xúc là do có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu thứ trên thân này là sáu chỗ để tiếp xúc, gọi là sáu xúc xứ; là sáu chỗ để trần cảnh đi vào nên còn gọi là lục nhập, hoặc là lục xứ, lục căn. Còn sáu cái bên ngoài tương ứng với sáu giác quan gọi là lục trần, là sáu thứ bụi trần. Những hình sắc, âm thanh, hương, vị, sự tiếp xúc bên ngoài, khiến bụi tâm nổi lên, có sự tham thích hoặc khó chịu, gọi là sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần. Còn bên trong tâm là bụi bẩn của pháp trần. Tất cả những thứ bụi này quấy rối trong tâm làm mình mệt mỏi.

Vì vậy, khi học, ta phải chiêm nghiệm, quán chiếu, suy tư rồi mới thấy càng ngày càng thấm, khi càng thấm lại càng ngán ngẩm. Ngao ngán thấy sắc này dễ vỡ như món đồ gốm, bất cứ lúc nào cũng có thể tan nát. Ngao ngán thấy các cảm cảm thọ tham, sân, si, bản ngã luôn hừng hực nóng cháy như lò lửa. Ngao ngán trước tưởng uẩn như chiếc tivi hiện ra hết hình này đến hình khác, đủ mọi loại màu sắc. Ngao ngán trước hành uẩn như chiếc radio nói mãi không tắt được. Ngao ngán nhận ra thức uẩn là nhà ảo thuật biến hóa trong tâm. Thân này như món đồ gốm dù đã nung hay chưa nung thì tính bể đã nằm trong đó, nghĩa là, cũng như thế, thân chúng sanh dù đã sanh ra hay chưa sanh thì cái chết đã nằm trong sự sống:

“Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết”.

(trích Tương Ưng Bộ kinh tập I, bài kinh Tổ Mẫu) 

Món đồ gốm chỉ là vật đơn giản đơn giản nhưng tính bể đã nằm trong đó, còn tấm thân này chứa đựng biết bao thứ khổ! Nếu không biết tu tập, bước đầu thấy sai, không có chánh kiến sẽ dẫn đến nghĩ sai, rồi làm sai, nói sai, siêng sai, suy xét sai sẽ chỉ lo chuyên tâm gom ý để phát huy danh lợi, tham, sân, si, bản ngã, chứ không biết tập trung tâm ý để đi đến chánh định nhằm ly tham lìa khổ. Đức Thế Tôn dùng từ ác tuệ để chỉ những sai lầm đó, nghĩa là thông minh, lanh lợi nhưng để phục vụ cho cái ác rồi đưa đến khổ đau. Trong thiền môn, người tu hành nếu thấy sai sẽ đưa đến nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, sẽ siêng năng, suy niệm, quán xét trong sai lầm, chỉ tập trung tâm ý để phát huy bản ngã, tham muốn, dính mắc, chấp thủ trong cuộc đời này mà thôi. Theo đó, từ tà kiến dẫn đến tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Vì thế, việc học pháp, thực hành pháp để thành tựu cái thấy đúng của bậc Thánh là rất quan trọng,

Mặt khác, trong sự tu học không nên vội vàng, hấp tấp, vì ta đang học trí tuệ của bậc Thánh, không phải tri thức phàm phu. Cho nên cứ tu học, nghe pháp, suy nghĩ, quán chiếu từng chút một, đến hết cuộc đời ít nhiều cũng có được lợi ích và thành tựu. Tránh để lúc khởi đầu thì đầy nhiệt huyết, sôi nổi, nhưng thời gian sau lại buông trôi, như vậy rất uổng phí. Bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp qua, tâm mê, tâm phàm tục, cùng những tưởng điên đảo đã huân tập sâu dày; bây giờ muốn huân tập Thánh trí huệ thì ta cần phải có thời gian, phải ngấm từ từ cho sâu sắc, chứ không phải ngày một ngày hai mà thành công. Văn, tư, tu phải thật kiên trì, bền chí để trí tuệ về khổ thâm nhập vào thân tâm. Mỗi ngày phải nghe về khổ, hiểu về khổ, thấy khổ, thấm khổ rồi sau đó mới thoát khổ.

Cội gốc của khổ đau

Nhân duyên ở Sàvatthi...

Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết về đau khổ và cội gốc của đau khổ. Hãy lắng nghe...

Này các Tỳ-kheo, thế nào là đau khổ ?

Sắc, này các Tỳ-kheo, là đau khổ; thọ là đau khổ; tưởng là đau khổ; các hành là đau khổ; thức là đau khổ. Đây, này các Tỳ-kheo, gọi là đau khổ.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là cội gốc của đau khổ ?

Chính là khát ái này hướng tới tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

(trích Tương Ưng Bộ tập III, bài kinh Cội Gốc Của Ðau Khổ) 

Khát ái là sự khao khát yêu thương. Ở sâu bên trong cảm thọ là một sự khao khát, tìm kiếm, mong muốn, ưa thích, thúc giục. Ta khát ái thân này, vì không thấy được bản chất của nó, như món đồ gốm kia, là dễ vỡ, dễ tan nát, thế nhưng ta không thấy không biết thân này là trống rỗng.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ là đống nhớp bọc bằng da

Thế mà vỗ ngực ta vầy khác

Kẻ mạo danh nhận rác là ta.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ là đống nhớp bọc bằng da

Chẳng có ai ở trong đây cả

Hỡi tâm mê hãy tỉnh ra mau.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tanh hôi với hôi tanh

Máu mủ bầy nhầy phân nước tiểu

Nhìn kỹ bên trong chẳng có ai.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chẳng có ai trú ở trong đây

Tất cả chỉ toàn hôi với thối

Thế mà cao ngạo nói ta đây.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Thế mà vỗ ngực nói ta đây

Như một bao rác đầy hôi thối

Lại vỗ vào bao nói “ta” “tôi”.

Khi nào thấy thật sự về thân trống rỗng như vậy là thành tựu Thân hành niệm, thành tựu sự quán thân trên thân.

Như vậy, trong bài kinh trên, Đức Phật đã nói chính khát ái đưa đến tái sanh. Khát ái là sự khao khát, thèm thuồng, thèm khát được nhìn cái ưa thích, thèm khát được nghe, thèm khát được nếm, được ngửi, thèm khát được xúc chạm những thứ êm ái, trơn láng, mịn màng. Do thèm thuồng, đòi hỏi những thứ đó mà có không được thỏa mãn thì khổ đau, khi có rồi lại muốn nhiều thêm nữa nên đau khổ. Bản chất của dục là đói khát, là túi không đáy, từ vật chất bên ngoài cho đến những thứ thọ, tưởng, hành bên trong, ta có bỏ vào bao nhiêu cũng không đầy. Thật mệt mỏi, ngao ngán với sự thiếu thốn, khát khao của tâm mê này!

Khát ái cấu kết với ham thích, khiến thân này đi tìm cầu những thú vui ở chỗ này chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Vì yêu thích trong dục nên có ra dục giới. Yêu thích trong hữu nên có cảnh giới của chư Thiên là sắc giới. Yêu thích phi hữu nên có cảnh giới vô sắc giới (nơi không có hiện hữu bởi những sắc tướng, hình dáng, chỉ có tâm tưởng, gồm không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ).

Chúng ta có phước duyên rất lớn mới được nghe Chánh Pháp, không phải dễ được nghe pháp này. Khi quán chiếu theo những lời dạy của Đức Thế Tôn trong kinh tạng, chúng ta sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, từ bàng hoàng này đến chấn động khác. Nếu không học Nikāya thì tu suốt cuộc đời cũng không thể hiểu chính xác khát ái là gì. Thậm chí nhiều người còn tránh dùng từ “khát ái”, mặc dù trong ăn uống, người ta có thể nói là “khát nước”, “đói bụng”, nhưng đối với dục, tham, ái nếu dùng từ “khát ái”, “đói khát” thì họ lại không thích. Tuy nhiên, cần hiểu rằng, con người không chỉ đói khát trong ăn uống, mà còn thiếu thốn, đói khát trong sự tiếp xúc. Như khi dịch bệnh, dù cho có thể nhiễm bệnh, thậm chí chết chóc cũng bị cũng phải đi ra ngoài để tiếp xúc, để đi chơi, để gặp gỡ người này người kia… Tâm này đầy ngập những sự khao khát, ưa thích, muốn được tiếp xúc: mắt với cảnh đẹp, tai với âm thanh, lưỡi với món ngon… Cho nên, chính khát ái này hướng tới tái sanh, cùng với sự vui thích, tham muốn, tìm cầu sung sướng ở chỗ này, chỗ kia. Chính khát ái này dẫn ta vào sanh tử luân hồi, không thoát ra được.

Những bài kinh này vô cùng sâu sắc, đời này được nghe những lời dạy của Đức Phật dù có chết tại đây cũng xứng đáng, như Khổng Tử có nói "Triêu văn đạo, tịch tử khả hỷ", nghĩa là sáng được nghe đạo, chiều chết cũng không hối tiếc. Đó là pháp thế gian mà Khổng Tử còn nói vậy, huống gì chúng ta đang được nghe pháp xuất thế gian. Thế Tôn phải xả thân trong vô lượng kiếp mới thành tựu Chánh giác. Cho nên những lời kinh này phải được nghe thật kĩ và nghiền ngẫm thật sâu!

Bản tánh của khổ

Trong Tương Ưng Bộ, Đức Thế Tôn có dạy:

- Này các Tỳ-kheo, có ba khổ tánh này. Thế nào là ba ? Khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh. Chính vì mục đích thắng tri... liễu tri... đoạn diệt... đoạn tận ba khổ tánh này. Này các Tỳ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập V, bài kinh Khổ Tánh)

“Tánh” nghĩa là bản tánh, là tính chất, là bản chất. Ba tính chất của khổ bao trùm cả thế giới. Chính vì mục đích thấu suốt, triệt để, chấm dứt, đoạn tận ba tính chất này mà chúng ta cần phải tu tập Bát Thánh đạo.

Khổ khổ tánh là tính chất cái khổ này chồng lên cái khổ kia, cái khổ kia chất lên khổ nọ. Chúng tập hợp lại với nhau tạo thành khổ uẩn, tổ hợp của khổ đau. Chẳng hạn, anh em ruột giành nhau vài tấc đất đã khổ, khi ức chế lên lại giết bốn năm mạng người trong gia đình. Vừa rồi có đứa trẻ mới hai tuổi mất tích ở Bình Phước, khiến cha mẹ người thân lo lắng, đau khổ vô cùng, đến khi tìm được chỉ còn cái xác ở dưới mương, khổ lại càng thêm khổ.

Trong thời điểm Covid-19 hoành hành, mọi nơi tràn ngập bất an, sợ hãi, những người bị nhiễm bệnh phải vào khu cách ly, không được tiếp xúc với bên ngoài, cái chết lúc nào cũng cận kề, vậy mà vào đó họ cũng đánh nhau. Trong những giây phút cuối cùng cuộc đời, họ cũng không được thấy mặt người thân. Đến khi ra đi, người nhà phải đội tang quỳ bên đường cầm di ảnh lạy theo chiếc xe cấp cứu chạy ngang qua, có người thân đang nằm trong đó. Giai đoạn dịch bẹnh cao điểm ở Ấn Độ, người ta phải để chung những bộ tro cốt để tưởng niệm vì số lượng người chết quá nhiều không biết ai là ai. Đã buồn khổ vì người thân mất, mà còn không được nhìn mặt lần cuối, rồi lại không biết tro cốt đó của ai. Thật sự là khổ chồng thêm khổ! Có vô số cái khổ trên cuộc đời này: ung thư, thâm những câu chuyện trên đây chỉ là cái khổ thô bên ngoài, cái khổ sâu sắc thì còn khủng khiếp hơn thế nữa…

Trong người mình không phải chỉ một chứng bệnh, mà cái khó chịu này chồng lên khó chịu kia: nhức răng đã gây sốt, còn sưng má, nhức đầu; đau bao tử thì không ăn được, đầy hơi trong người. Sư đệ Minh Thành ở quê tuổi còn trẻ nhưng xương sống bị gãy mấy đốt, phải niềng inox vào trong. Nhiều căn bệnh bắt buộc phải đeo máy trong người mới có thể sống tiếp. Chỗ nào trên cơ thể cũng có thể phát bệnh: mắt, tim, bao tử, ung thư gan, suy thận.v.v. Sau khi bệnh còn có những biến chứng, giống như đã nghèo đói túng thiếu còn bị lừa gạt, đã kinh doanh thua lỗ còn bị trộm cắp.

---

Tiếp theo là hành khổ tánh, hoại khổ tánh, nghĩa là sự đau khổ trước bản chất thay đổi, hoại diệt của các pháp. Thân này vận hành để đi đến suy kiệt, suy vong. Con mắt này không thể sáng tỏ mãi được, một ngày nào đó sẽ bị mờ đục, thậm chí mù. Lỗ tai cũng không bình thường mãi được, đến một ngày nó sẽ lãng tai, hoặc có thể điếc. Bộ não cũng từ từ thay đổi, có thể bị tai biến mạch máu não, suy nhược thần kinh. Các cảm giác cũng vận hành để đi đến thay đổi. Các suy nghĩ vận hành nên mới có sự thay đổi ý định, thay đổi suy nghĩ. Các nhận thức cũng vận hành, vô thường, biến đổi.

Tất cả mọi thứ đều vận hành, đổi dời rồi đi đến hoại diệt. Con người vì không chịu nổi sự vận hành và hoại diệt này nên bị trầm cảm, bị sốc tâm lý. Thậm chí có người điên loạn hoặc kết thúc cuộc đời cũng vì sự biến đổi của các cảm thọ, vì sự tan hoại của các hình dáng mà họ yêu thương, nâng niu. Trong khi bản tánh của thân tâm này là tan nát, hoại diệt, nếu cứ chấp thủ vào đó thì làm sao không khổ đau cho được!

Kinh Niệm Xứ Đức Phật dạy ra nằng: Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy. Bản tánh của thân-tâm này là khổ đau, phiền não; là vô thường, đổi dời, dịch chuyển; là đổ nát, hủy diệt. Như vậy làm sao có được sự vĩnh cửu, vĩnh hằng đối với thân này?! Thế nhưng người đời không chịu nổi khi phải đối mặt với vô thường, tan hoại này, dù họ có biết cũng khó chấp nhận.

Còn người tu nhất định phải thấy và hiểu sâu sắc tính chất này, để thể nhập vào pháp, luôn thấy bản chất thật sự của thân tâm này, đó gọi là mắt pháp, mắt đạo. Người nhìn ra tính chất của vũ trụ, của thân tâm, của sắc, thọ, tưởng, hành, thức và sống với tính chất này thì gọi là thể nhập tri kiến của bậc Thánh, cũng gọi là chánh kiến. Khi tu tập thành tựu Bát Thánh đạo, chúng ta sẽ thoát ra khỏi ba sự khổ này: không còn khổ đối với sự chồng chất, không còn khổ đối với sự tan hoại, đổi khác, vì mình biết bản tính của nó là vậy, không thể khác được. Nhờ vậy ta không còn tham đắm, dính mắc và giải thoát khỏi nó, chứng được cảnh bất tử, thể nhập bất tử giới. Lúc ấy nhìn đâu cũng đều thấy tính chất khổ đau; tính chất dịch chuyển, thay đổi; tính chất tan hoại, đổ nát dù cho đối tượng đó đang hiện hữu. Đó là con mắt pháp, con mắt tuệ, là chánh kiến, là sự thấy đúng, chỉ có như vậy, ta mới không chấp trước một vật gì ở trên đời.

---

Tương tự bài kinh trên, khi được hỏi về khổ, tôn giả Xá Lợi Phất cũng đã nói về ba tánh chất này:

- 'Khổ, khổ', này hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này hiền giả, thế nào là khổ?

- Có ba khổ tánh này, này Hiền giả, khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh. Này hiền giả, đây là ba khổ tánh này.

- Này hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri các khổ tánh ấy?

- Này hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các khổ tánh ấy.

- Này hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.

- Này hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này hiền giả, để không phóng dật.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập IV, chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, bài kinh Khổ)

Thật là vừa đủ để tinh cần, tinh tấn, nỗ lực chứng ngộ được ba tính chất của đau khổ này đối với thế giới, đối với thân tâm ngũ uẩn này. Đó là tính chất khổ chồng lên khổ, tính chất thiên lưu, dịch chuyển, đổi dời, vận hành, tính chất biến đổi và tan hoại, đổ nát và diệt tận cho nên khổ. Ba tính chất khổ này là đề tài thiền quán thâm sâu để tháo gỡ tất cả ham muốn, yêu thích trên cuộc đời. Ba tính chất của khổ cần phải được tu tập, tư duy, nghiền ngẫm.

Chẳng hạn bạn bè đang chơi thân với nhau lâu ngày đột nhiên người kia không muốn nói chuyện, không muốn chơi với mình nữa, mình không hiểu sao họ tự nhiên đối xử với mình như vậy nên buồn khổ vì chuyện này. Tuy nhiên, điều đó thể hiện sự dịch chuyển, thay đổi của các cảm giác, đây là chuyện bình thường. Khi đã biết bản tánh nó là vậy, mình cứ bình tĩnh, hỏi xem có chuyện gì để từ từ giải quyết. Tương tự, vợ chồng hạnh phúc lâu nay nhưng bỗng nhiên chồng hoặc vợ đòi ly hôn, đường ai nấy đi thì chúng ta biết đó là hành khổ, hoại khổ, là sự vận hành, thay đổi, vô thường của những cảm giác, nghĩ, tưởng; bản tánh nó là vậy, không vượt khỏi bản tánh đó. Chúng ta phải biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống như vậy để thật sự thấy pháp.

Hay khi món đồ mình quý chẳng may bị trộm mất, hãy biết rằng nó thuộc về hoại khổ tánh, món đồ ấy đã mất đi, không còn bên mình nữa. Một người bị bệnh nặng, phải nằm một chỗ thì ba khổ tánh có đủ trong đó. Lúc bình thường, chúng ta đã quán chiếu bản chất của thân ngũ uẩn là khổ đau, là ung nhọt, là bệnh tật, là mũi tên, là người lạ, là rỗng không, vô ngã. Giờ đây thân này bệnh tật thì đúng như bản chất của nó. Mang thân ngũ uẩn vốn dĩ đã khổ, vậy mà còn mang thêm bệnh thì đó là khổ chồng thêm khổ. Sự vận hành của thân này rồi cũng sẽ đưa đến biến đổi, hoại diệt. Một mặt mình vẫn cố gắng trị liệu, nhưng mặt khác phải chấp nhận hiện thực về sự tàn hoại của thân này. Quan trọng là giữ tâm bình thản, bệnh không sợ, chết không sợ, chỉ sợ tâm rối loạn, dao động, bất an, không thấy pháp. Tại sao như vậy? Đức Thế Tôn đã tuyên bố:

- Này các Tỳ-kheo, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự an toàn đối với bốn pháp. Thế nào là bốn?

Bản tánh bị già, mong rằng không già…

Bản tánh bị bệnh, mong rằng không bệnh…

Bản tánh bị chết, mong rằng không bị chết…

Khổ quả của những ác nghiệp ấy (những nghiệp) tạp nhiễm, đưa đến tái sanh, đem lại phiền muộn, đem lại khổ quả dị thục sanh, già, chết trong tương lai, kết quả của những nghiệp ấy, mong rằng không có hiện hữu. Không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự an toàn đối với bốn pháp này.

(trích Tăng Chi Bộ Kinh tập II, bài kinh An Toàn)

Như vậy, không một ai có được sự an toàn đối với bốn pháp: già, bệnh, chết và quả báo của nghiệp dị thục trổ ra dù đó là chư thiên, ma, loài người, hay sa môn tu hành. Dù là loài trời thì cũng phải già, bệnh, chết và không thể thoát khỏi nghiệp. Kết quả của nghiệp mình đã gieo tạo, đến khi chín muồi, phải tự mình nhận lấy, không thể trốn tránh, không thể mong nó không hiện hữu, cũng không ai nhận thay được mình nghiệp quả này.

Chúng ta phải nghiền ngẫm thật nhiều để thể nhập sự thấy biết này. Nếu thấy biết vừa vừa thì bớt khổ vừa vừa; thấy biết kha khá thì bớt khổ kha khá; thấy biết trọn vẹn thì chấm dứt khổ đau. Thường quán tính chất khổ đau của hình hài này, hình sắc này, hình tướng này. Thường quán niệm, suy tư, nhắc nhở bản thân nhớ đến tính chất của khổ, quán chiếu tính chất đổi thay, vận hành, dịch chuyển, thiên lưu của mọi vật chất, thân xác, cảm giác, nghĩ, tưởng và nhận thức để đi đến chỗ hoại diệt, tan nát và chấm dứt.

Không bao lâu thân này,

Sẽ nằm dài trên đất,

Bị vất bỏ, vô thức,

Như khúc cây vô dụng.

(trích Kinh Pháp Cú – phẩm Tâm)

Thân này rồi sẽ trở thành một tử thi, một nắm tro tàn, thân này rồi sẽ nằm dưới huyệt mộ, dưới lòng đất. Những cảm giác này dù có vui rồi cũng chấm dứt. Hãy quán các cảm giác vui sướng này là khổ; những cảm giác khổ đau là mũi tên; những cảm giác thường thường này là biến đổi, vô thường. Sự vận hành của các pháp đều đi đến đổi dời. Bước ra sân thấy lá trúc rụng đầy sân, cây ngã đổ thì mình biết tính chất của nó là biến hoại, rơi rụng, gãy đổ. Hãy khắc sâu hình ảnh đó và đưa nó vào cảm thọ để tác động tâm ý, lấy đó làm chủ đề thiền quán, đặt thân này giống lá trúc, như cây trúc. Hãy xem những tai nạn, bệnh tật sẽ đến với mình cũng bất thình lình như cơn bão tố làm gãy đổ, ngã đổ, rơi rụng mọi thứ. Quán chiếu như vậy để giảm thiểu khát ái, dục vọng, ham muốn trên cuộc đời này. Đó là Khổ Thánh trí, là trí tuệ về đau khổ mà bậc Thánh chứng ngộ.

Quý vị hãy cố gắng tác ý, nuôi dưỡng và tưới tẩm những sự suy tư, những cảm thọ, những sự quán chiếu về Khổ Thánh Trí. Hãy rèn luyện, thực tập và hành trì pháp mỗi ngày, đều đặn như mình hít thở, ăn cơm, uống nước. Hãy thường dạy dỗ, huấn luyện ngũ uẩn đi vào trong đạo lộ Khổ Thánh trí. Bên ngoài mặc dù mình cười nói bình thường nhưng bên trong phải thấy khổ tràn ngập mọi ngóc ngách, mọi khía cạnh. Bao trùm cả vũ trụ này là một đống khổ vĩ đại, chúng ta phải hướng đến sự nhàm chán, từ bỏ, thoát ra ngũ uẩn này.

Mặc dù có khi chúng ta vì bổn phận và trách nhiệm, vì lợi ích chung nên phải làm những việc bên ngoài, nhưng phải luôn nhớ rằng, những việc làm đó là để bồi đắp thêm thiện pháp, giúp ta được thuận lợi trong sự thấy biết về sự thật này, từ đó đưa đến viễn ly, xuất ly. Những việc mình làm cũng không phải vì yêu thích, khoan khoái, say đắm, ham muốn để tạo dựng ra các hành, mà việc mình làm có đích đến cuối cùng là chấm dứt các hành. Nghĩa là tất cả mọi việc làm của mình đều hướng đến Niết-bàn, hướng đến dập tắt khổ khổ, hành khổ, hoại khổ này, hướng đến sự chứng nhập, chứng đạt bản tánh đau khổ. Cái biết như vậy là sự thấy biết chân chánh, cao thượng của người tu. Đó là thượng nhân pháp, là pháp của bậc thượng nhân.

Người biết pháp đừng so đo, hơn thua với người phàm phu không nghe Chánh Pháp, như vậy không được lợi ích gì, chỉ đi vào vòng lẩn quẩn của khổ đau, của dục ái. Người tu hãy lấy các bậc Thánh làm gương để nỗ lực, tiến lên, để thể nhập vào Thánh trí. Hãy nhìn vào trí huệ, sự thành tựu, nhìn vào đức hạnh, đạo hạnh của các Ngài để mình tiến lên, hướng về phía trước. Đó mới là người trí, là người thật sự thấy khổ, thấm khổ để thoát khổ.

Hằng ngày quý vị hãy nuôi dưỡng thân tâm này bởi pháp nhũ, hãy tưới nước bất tử của Đức Thế Tôn để mình ngày càng lớn mạnh trong pháp và luật; lớn mạnh trong sự thấy biết; lớn mạnh trong tri kiến; lớn mạnh trong từ tâm. Hãy để lòng thương yêu này rộng mở, thấm nhuần đối với tự thân rồi lan tỏa đến tất cả tha nhân và hữu tình chúng sanh. Nhờ vậy quý vị dần dần giảm bớt tham, sân, si, vô minh, bản ngã; đồng thời tăng trưởng sự thấy biết về thực tướng khổ đau của thân tâm và cuộc đời này.

Chúc quý vị thấy biết thật nhiều về cái khổ, đừng bao giờ quên khổ khổ, hành khổ và hoại khổ!