SOI THẤU NĂM UẨN 1
NHẬP THẤT CHIA SẺ 3 - SOI THẤU NĂM UẨN 1
-Thích Minh Thành-
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa đại chúng, lần này, có được thời gian yên tĩnh nhiều ở trong thất, Minh Thành chiêm nghiệm những lời Đức Phật dạy trong kinh tạng Pāli, cũng như được sự chia sẻ của bậc thiện tri thức nên phát hiện ra được nhiều điều từ xưa tới giờ mình chưa hiểu, chưa thấy cũng như cái hiểu, cái thấy của mình chưa tới nơi, chưa trọn vẹn. Minh Thành sẽ đem những gì mình tu học được, hết lòng chia sẻ cho huynh đệ, mong rằng chúng ta hãy nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác trong những ngày này. Nếu trong khóa tu, các huynh đệ dốc sức, tinh cần, quyết tâm, nỗ lực thì có thể mình sẽ có được cái thấy biết chân chánh cho sự tu học mãi về sau này trong cuộc đời xuất gia của mình.
Đức Thế Tôn nói rằng, có một pháp làm cho người xuất gia đi đến chỗ chánh trí, giác ngộ, giải thoát Niết-bàn, đó là pháp không phóng dật. Ngày xưa, Minh Thành đọc qua cũng chỉ hiểu nghĩa nôm na, nghĩ buông lung, phóng dật là cười, nói, nói lớn, cười to hay đi đứng không có oai nghi. Nhưng bây giờ, khi tìm hiểu sâu sắc vào trong tạng kinh, nỗ lực trong sự thực tập thì không phải như vậy. Phóng dật là một trong những kiết sử, nó trói buộc nội tâm của mình, lúc nào mình không trú trong pháp, lúc đó tâm mình phóng dật. Ví dụ phương pháp về niệm thân, là người thực tập niệm hơi thở. Lúc mình bỏ qua việc niệm hơi thở, mình có những cái duyên ở bên ngoài, thì lúc đó gọi là phóng dật. Trong tạng kinh, Đức Phật nói Tỳ-kheo rằng: “luôn luôn sống với giới bổn, luôn luôn tinh tấn chánh niệm, thiền định không gián đoạn thì mới đạt đến chánh trí giải thoát.” Cho nên, ba chữ “không phóng dật” này là một bài học sâu sắc mà chính mình rất hổ thẹn, ngay ở trong thất, ngồi thiền bốn, năm thời mà vẫn thấy mình phóng dật. Ngồi xong, đi thiền hành, nghe pháp liên tục, thậm chí ngày chỉ ăn một bữa mà vẫn thấy phóng dật rất nhiều, và cảm thấy một cảm giác xấu hổ, hổ thẹn. Vì tâm mình không trụ vô pháp, mình để cho cái tưởng dẫn đi, nó phóng tâm mà mình không nhiếp lại liền, đó là mình đang buông lung, phóng dật. Cho nên, tại sao mình tu mãi mà không thành tựu, lý do là vì mình không nhiệt tâm, tinh cần. Trong kinh Pháp Cú:
Khi cần, không nỗ lực,
Tuy trẻ mạnh, nhưng lười
Chí nhu nhược, biếng nhác.
Với trí tuệ thụ động,
Sao tìm được chánh đạo?
(Kinh Pháp Cú – phẩm Đạo)
Đức Phật có nói:
Cần phải làm, nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Địa Ngục)
Ở trong thất, chiêm nghiệm những câu này mới thấy. Tuy tuổi trẻ mạnh, rất sung mãn về thể lực, tâm lực, sức lực nhưng lại lười, "chí nhu nhược biếng nhác". Lười đối với thiện pháp, đối với sự hộ trì các căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Phương pháp này rất quan trọng, nếu người tu không có phương pháp này thì không thể định, không thể chánh niệm được. Mình phải hộ trì căn. Hôm trước, Minh Thành đã có chia sẻ vấn đề về bốn sự tinh tấn, tinh cần, phải hộ trì các căn, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình; luôn luôn thường trực, chánh niệm tỉnh giác. Sự tu sẽ thấy tiến bộ không ngờ nếu mình thực hành đúng theo lời Phật dạy. Cho nên, nếu tuổi trẻ mạnh mẽ mà lười, "chí nhu nhược biếng nhác", "trí tuệ thụ động" như vậy sẽ không đạt được Chánh đạo. Chỗ lười này nhìn sâu sắc mới thấy xót, thấy thương, thấy tủi nhục cho chính bản thân mình. Những thiện pháp, sự giữ gìn, chánh niệm tỉnh giác nội tâm, quán chiếu thiền định tu tập thì lười, nhưng chuyện thế gian thì mình không lười, rất hăng hái, xông xáo, rất nỗ lực. Lạ vậy đó!
Đây là những bài Đức Phật nhắc nhở mình trong kinh Pháp Cú, để mình chiêm nghiệm và nhìn lại nội tâm. Chí thì nhu nhược, nhu nhược là yếu đuối, không có ý chí. Như khi nghe pháp, thực hành cái này là thực hành ở trong, nó nói liền, “Khó vậy sao mà làm?” Chính cái này là giết mình chết. Cái tâm ý đó khởi lên mà mình không diệt tận, không tẩy sạch, không từ bỏ nó, không làm cho nó đứt ngang (giống như cây sala, không cho nó sanh lên nữa), thì nó sẽ giết mình chết. Mình không thể nào thành tựu sự nghiệp tu hành của mình. Cho nên một ý niệm như đang nghe pháp mà suy nghĩ, “Thực hành nhiều quá vậy, sao mà thực hành? Khó lắm!” Phải diệt ý niệm đó liền, tẩy sạch liền. Mình quay lại nói với nó, “Chí nhu nhược biếng nhác – Sao tìm được chánh đạo?” Đó gọi là Như lý tác ý. Phương pháp này rất quan trọng. Bản thân Minh Thành đang thực tập điều này nhiều lắm! Tại sao các huynh đệ có chia sẻ về cái dục, cái tham, cái sân mình, khi nó khởi lên rồi, mình chỉ nhìn thấy nó, rằng không đủ gì cả.., mình phải Như lý tác ý. Điều này rất quan trọng. Như lý tác ý là mình phải cầm cây roi, đánh nó túi bụi như đánh con trâu. Mình nói, “Chính mi, cái tâm tham dục này đưa ta vào vòng luân hồi, sanh tử, khổ đau. Chính ngươi là ác ma, là rắn độc, là kẻ thù ngàn năm; chính ngươi là thủ phạm lôi ta vào vòng vô minh, si mê, khổ đau triền miên bất tận. Hôm nay ta thấy được ngươi rồi, đừng hòng dẫn dắt ta nữa, ta phải diệt tận, tẩy sạch mi, ta phải đập mi tan nát ra thành cho bụi. Mi đừng mong câu dẫn, dụ dỗ ta, lôi kéo ta.” Phải tác ý thật mạnh mẽ. Lúc đầu nó yếu, có thể cái kia sẽ thắng, nhưng dần dần thì hai cái bắt đầu cân bằng 50/50; sau nữa mình quật lên 70/30. Rồi cuối cùng là mình hoàn toàn chiến thắng, diệt tận nó, thành tựu A-la-hán.
Những câu trong kinh tức là pháp lệnh. Lúc xưa chỉ đọc qua thôi, mình nghĩ không có gì hết, nhưng đó là pháp lệnh. Một khi trong tâm khởi lên sự sân hận, tham dục, sự ganh tỵ, tật đố hơn thua v.v.., mình đọc câu pháp lệnh này lên: “Ta tẩy sạch mi, diệt tận mi, làm cho mi không còn tái sanh trong tâm ta được nữa, ta chặt mi giống như cây dừa, cây sala.” Lúc đó, câu pháp lệnh của Đức Phật được khởi lên thì cảm giác kia sẽ sợ, cái tham dục, sân hận, si mê, tật đố… nghe câu này sẽ sợ. Vì cái tham dục, sân hận, tật đố cũng là một pháp ở trong tâm mình. Mình dùng pháp này trị thì tự nhiên cái kia sau này sẽ sợ, mỗi lần khởi lên là bị bên đây đánh. Đó là trí của mình, trí quán chiếu, trí Như lý tác ý. Ngày xưa, mình ngồi chỉ thấy biết vậy thôi, không làm gì hết, để nó quật mình, sức nó là cổ thụ ngàn năm, cái tham dục, sân hận, si mê, cái vô minh chấp thủ là cổ thụ ngàn năm, nhưng mình chỉ nhìn rồi lấy cây khều khều thì đâu có động đậy gì, làm sao bứng nổi gốc của nó. Nên mới thấy Đức Phật thương mình vô cùng, mới thấy 37 Phẩm Trợ Đạo, Bát Chánh Đạo, mình lạy mà nước mắt chảy ra, vì khi yên tĩnh, mình nhìn sâu vô trong phiền não, thấy trong đó đầy nghẹt, đó là bốn phương tám hướng, bát diện mai phục, thập phương du kích…, nhưng sự tu của mình chỉ có một chút nên không bao giờ đầy đủ. Hình ảnh thiên thủ thiên nhãn, mười tám tay, mỗi tay cầm một bửu bối là những pháp khí để trị sáu căn, sáu trần, sáu thức. Nếu sự tu mình cứ lơ là, “ừ, khởi lên biết, biết rồi”, thì sẽ không có gì hết, 10 năm cũng y như vậy. Phải dập nó tơi bời, không còn manh giáp, giết tan xương nát thịt. Đó là sức tinh tấn lực của người tu. Điều này rất tuyệt vời.
Trong bài kinh Song tầm, Đức Phật kể lại khi Ngài tu, Ngài chia làm hai, những niệm nào thuộc tham sân si, tật đố ganh tị, bất thiện v.v.. cho qua một bên; niệm khởi không tham, không sân, không si, thiện pháp.., Ngài để qua một bên. Niệm nào bất thiện thì Ngài diệt, tẩy sạch, diệt tận nó. Những cái thiện thì Ngài cho phát huy. Ví dụ là những ý niệm tương ưng với trí huệ, cuộc đời này là vô thường, thân này là ảo mộng, thấy rõ các pháp là vô ngã. Những ý niệm đó thì phát huy, vô thường tưởng, vô ngã tưởng. Những niệm về sân, si, phẫn hận v.v... thì diệt tận, từ bỏ và không chấp nhận nó. Như vậy mình sẽ thấy sức mạnh của mình, tinh tấn lực của mình lúc đó rất mạnh. Tu tập pháp này chánh kiến của mình sẽ sáng tỏ, sẽ thấy được những điều gian dối, Đức Phật nói:
Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu.
Ở đây già và chết,
Mạn lừa đảo chất chứa.
(Kinh Pháp Cú, phẩm Già)
Mạn là kiêu mạn, ta đây, lừa đảo, nó lừa mình kinh khiếp lắm. Chính tâm mình lừa đảo mình, học rồi mình sẽ thấy, cái tưởng và hành của mình lừa đảo mình. Cách tu trước nay của mình là cứ ngồi yên, thấy điều gì khởi lên là thấy biết, vậy thôi, nên mình ngồi mấy chục năm cũng vậy, không động đậy gì hết. Ví dụ, ngồi trong nhà, ăn trộm vô, mình thấy, mình biết có ăn trộm là mình biết vậy thôi, nhưng mình không đuổi, không rượt, không dùng cách gì hết. Thấy lửa cháy, mình nhìn, mình biết lửa cháy, vậy là được rồi. Thấy lửa cháy thì phải tìm đủ mọi cách dập tắt ngay tức khắc, đó gọi là nhiệt tâm tinh cần, đó mới gọi là tinh tấn, nỗ lực, quyết liệt trong sự tu tập. Lần này, phát hiện ra điều này thật tuyệt vời. Từ trước đến giờ, mình đọc kinh nhưng mình không thấy những câu đó là pháp lệnh, hiệu lệnh của Chánh pháp, hiệu lệnh của trí huệ. Đọc câu đó, một lát ngồi thiền, mình ứng dụng, sẽ thấy. Nếm đi sẽ thấy sức công phá của nó. Mình nói vậy chỉ là nói thôi, trấn áp nó thôi, sau đó mình sẽ dùng sức quán chiếu. Ví dụ, ngồi thiên được một lát, nghĩ, “Mệt quá, giờ này về nằm ngủ chắc khỏe,” bên trong đó nói vậy; mình nói, “Ngủ mấy chục năm rồi chưa đủ hay sao? Tới giờ này vẫn còn trong giấc ngủ dài của vô minh, tham ái. Tại sao si mê quá vậy? Tại sao lười nhát, nhu nhược như vậy? Không biết xấu hổ.” Mình đánh mạnh như vậy thì tự nhiên nó trấn tỉnh lại, sửa cách ngồi lại, mở mắt lớn ra, sẽ đánh tan cơn buồn ngủ giải đãi, lười biếng đó. Còn nếu mình thấy nó rồi, mình chỉ nhướng lên thôi, lần hai, lần ba nhướng không nổi nữa thì sụp xuống luôn. Quý vị thấy rõ không? Đó là Như lý tác ý.
Mình còn phải quán chiếu thêm, trong vòng luân hồi sinh tử, chính cái ngủ này là si mê, giống như Trư Bát Giới, ngủ rồi theo con đường bàng sanh. Trí quán Như lý tác ý càng mạnh chừng nào thì đập cái kia càng mau tan. Nhưng đó không phải bằng tâm sân hận mà là trí huệ tỉnh sáng của một sức mạnh, gọi là tinh tấn lực, niệm lực, sức mạnh của chánh niệm. Đó là pháp vô thường, sắc thọ tưởng hành thức là tưởng, si tưởng, nên không có gì phải sân, nhưng nếu cần sân thì nó cũng sân được, sân này gọi là phẫn nộ kim cương, tức là sự phẫn nộ của trí huệ. Cho nên Bồ Tát Tịch Thiên nói, “Tại sao mình lại giận người đánh mình mà mình không giận cơn giận” Có nhớ đã tụng bài kinh không? Có ứng dụng không? Giận cơn giận tức là mình dùng cái sân để trị cái sân. Bây giờ, có người cầm cây gậy đánh mình, mình trách người đó hay trách cây gậy? Cơn giận mới chính là thủ phạm sâu xa, còn cái tay, cái chân, cái mặt… giống như công cụ, giống như cây gậy thôi, nhưng mà không ai giận cơn giận cả, mà giận cây gậy. Đó là chỗ trí huệ sâu sắc. Rõ chỗ này hết chưa? Nhất là cách tu của mình trước giờ, chỗ nãy Như lý tác ý rất quan trọng.
Minh Thành mong các huynh đệ ý thức sâu sắc, sự tu tập này là siêu phàm nhập Thánh, chuyển hóa những si mê trở thành trí huệ, thay đổi tăm tối trở thành sáng suốt, đập vỡ khối u mê, cứng chắc của mình, bừng ra trí giác. Đó không phải là chuyện dễ dàng, đơn giản. Bởi vì, phiền não là tứ phương tám hướng, bát diện mai phục, thập phương du kích, nó tiềm ẩn trong tâm mình không biết bao lâu đời rồi. Bây giờ chỉ dùng một trí huệ thụ động, một cái hiểu sơ sơ, mình nghĩ hành như vậy mà mong được kết quả thì chuyện đó không thể nào. Đức Phật nói, “Ta ngồi dưới cội Tát-bạt-la này, dầu cho máu khô, có thành xương, xương tan thịt nát, ta quyết chứng chánh đẳng chánh giác, không rời cây này.” Không phải người thường thường có thể làm được. Đó là cả một sự quyết tâm của việc tu hành. Mình thấy điều đó là cả một tâm cung kính, chân thành, tôn trọng, một tâm mạnh mẽ, nhiệt thành để mình thực tập, hành trì. Ngoài đời, mấy người giàu có, làm ăn lớn, người ta gắng sức, nỗ lực lắm, chứ không phải đơn giản mà trở thành tỷ phú, hoặc nhà bác học, khoa học, nhà nghiên cứu, hay người thợ giỏi.., người ta phải dốc cả sức lực, quên ăn bỏ ngủ để phát minh ra những định lý, định luật đóng góp cho cuộc đời này. Cho nên, giống như lời nói đầu của khoá tu, mong là các huynh đệ phải hiểu, ý thức sâu sắc việc mình đang làm là rất cao thượng, rất thiêng liêng. Không thể đem tâm thái bình phàm để mong đạt tới được trí huệ siêu việt, phải luôn luôn nhớ là không phóng dật. Bài này Minh Thành chiêm nghiệm rất nhiều lần khi mình thực tập.
Vui thích không phóng dật
Tỳ-kheo sợ phóng dật
Bước tới như lửa hừng
Thiêu kiết sử lớn nhỏ.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Không phóng dật)
Vui thích trong sự tinh tấn, hoan hỉ trong sự nhiệt tâm, mình sợ sự buông lung, sự phóng túng, phóng dật. “Bước tới như lửa hừng – Thiêu kiết sử lớn nhỏ”, bước tới là sự tu của mình phải đi tới, không thể đứng một chỗ, càng không thể lùi, phải bước tới ở mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng trong sự tu. Nhiều khi mình than thở, “Tui xuất gia mấy năm trời không thấy gì hết”, không thấy gì hết là do chính mình không nỗ lực. Xuất gia mười năm mà không thấy gì là do mình không tinh cần, không nhiệt tâm, không quyết chí gắng sức, rồi mình đổ cho cái này, đổ cho cái kia.., tất cả những điều đó đều là không thấy được sự thật. Chính điều đó càng làm cho mình tăng thêm lậu hoặc, mê lầm vô minh.
Cho nên, tu là phải tiến, phải bước tới, bước tới giống như lửa hừng, thiêu hết kiết sử lớn nhỏ, như đám lửa cháy rừng rực, đốt hết, cái gì bỏ vô cũng cháy hết. Niệm định huệ phải liên tục trong thân hành niệm. Luôn luôn niệm bất tịnh, luôn luôn quán chiếu vô thường, suy nghiệm về cái chết, nhìn thấy được tính chất tạm bợ mong manh của cuộc đời này. Đó là mình đang bước tới, quán chiếu tuệ quán giống như đống lửa, những cái được mất hơn thua, danh lợi..., những loại này đến với mình không hề hấn gì hết, đốt hết, chỉ chuyên chú vô trong pháp tu của mình. Thiêu hết kiết sử lớn nhỏ, đây là một sức mạnh.
Minh Thành muốn khích lệ, động viên, muốn để các huynh đệ phát thêm một sự tinh tấn, nỗ lực, như là tiếp thêm nguồn năng lượng để cho mình hành trì, nhất là trong những ngày tu, mình cố gắng thực tập. Trong kiếp người của mình, không phải dễ dàng có được cơ hội ở núi rừng thiền định, quán chiếu trong tăng đoàn tăng thân, có thầy có bạn, có pháp.
***
Sư thầy: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Bạch thầy, con xin có câu hỏi, con đang phân vân từ “quán”. Pháp của Đức Phật có dạy thực tại hành thiền, những đối tượng mà mình quán chiếu phải có thực tính, thực tánh, thực thấy. Ví dụ, như trong tâm mình, mình ngồi im quán, thì đối tượng đó có phải là thực hay là do tưởng của mình ra?
Sư phụ: Đó gọi là quán tưởng, là những phương pháp định mà Đức Phật dạy, là Thánh chánh định.
Sư thầy: Ý con ở đây, con xin hỏi một câu nữa, quán tưởng đó đưa đến cái định. Như thầy dạy, cái định nếu đúng thì đưa đến sự chánh định. Con muốn hỏi cái quán tưởng dựa trên chánh định ấy thì cái quán tưởng đó có đưa đến chánh trí tuệ, thấy các pháp như thật đối với bản chất của nó không, hay chỉ là dựa trên trí tuệ trên tưởng?
Sư phụ: Tất cả các pháp tu của đạo Phật lấy chánh kiến làm căn cứ địa, phải thành tựu được chánh kiến, vì thế mình mới tu. Tất cả cái tu của mình đều đúng theo thánh đạo, nếu không có chánh kiến mà tu, ví dụ, mình tu được tới tầng thiền thứ tư, cho đến cửu định, bát định.., vậy nhưng cái đó cũng vẫn là tà định thôi, tại vì không có chánh kiến của Phật giáo. Mà, chánh kiến là gì, trong khoá tu này, trong mấy ngày này mình sẽ làm sáng tỏ hết. Chánh kiến này phải cho mình thực thấy bằng trí huệ, không phải như lúc trước mình tưởng, tưởng nó vô thường thì là vô thường, là chết v.v... Không phải. Mình sẽ thấy được vô thường trong thân tâm của mình, trong thọ tưởng hành thức của mình, trong cảm giác, suy tưởng và nhận thức, thấy được rõ từng giây từng phút ngay lúc này, ngồi thực tập rõ thấy. Lúc chiều mình nói về thọ, về tưởng hành, lát nữa mình thực tập ngay tại chỗ. Là cảm giác, tưởng là những hình ảnh, những hình bóng trong nội tâm của mình.
Ví dụ thầy nói“lâu quá mình không đi ngang quán phở Hội Ngộ”, khi nói vậy thì Pháp Từ thấy mình có cái gì?
Thầy Pháp Từ: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ và toàn thể đại chúng, khi sư phụ hỏi về quán phở lâu quá không ghé, khi nghe vậy thì riêng con thấy, trong cái tưởng xuất hiện trước là hình bóng của bảng hiệu quán phở có chữ Hội Ngộ, khung cảnh của quán đó cũng ẩn hiện trong cái tưởng của con, và cái hành là những lời nói âm thầm bên trong của con, là cái quán nó như vậy.., và sư phụ sẽ tới đó. Cái thức của con biết rõ hai cái pháp đó, còn cảm thọ của con lúc thực tại, con chưa thấy cái cảm giác lạc hay là khổ trong đó, con nhận biết đó là xả. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Tốt, tốt lắm! Hỏi cái tưởng mà trả lời luôn hành thức, tốt lắm! Vì nó đi theo nhau, dính chùm. Pháp Nhân trình bày cái thọ tưởng hành thức như thế nào?
Thầy Pháp Nhân: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch sư thầy, các quý thầy và toàn thể đại chúng. Thưa thầy, cái tưởng là khi nghe về người mẹ thì trong tâm con hiện lên hình ảnh của mẹ, cái hành là nghĩ có một lời nói “mẹ như thế nào”; về thức là con rõ biết về cái tưởng và hành đó.
Sư phụ: Rất tốt. Còn Hoàng?
Hoàng: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, các thầy các huynh. Trong giây phút hiện tại, con có cảm giác khổ thọ vì cái chân đang đau, cái tưởng của con là được đứng lên và đi, cái hành của con là được đứng lên và đi kinh hành. Và thức của con là thấy rõ được thọ tưởng hành đang vận hành.
Sư phụ: Tốt, tốt lắm, rất là rõ. Tới Thi, có thọ tưởng hành thức như thế nào?
Thầy Pháp Thi: Nam mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch sư phụ và các huynh đệ, khi đi kinh hành, con thấy cái sắc là mình đang đi, có những cảm thọ là thích và vui. Cái tưởng là con nghe con gì kêu, và con tưởng tượng ra. Cái hành nói là không biết mấy con này nó to hay nó nhỏ, còn cái thức là có biết. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư thầy: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ và toàn thể đại chúng. Vừa rồi đi kinh hành, cái sắc của con là biết thân đang đi, chân bước theo hơi thở, cái thọ của con là cảm giác ở bàn chân đối với nền nhà thì bên đây là lạnh, bên đây nó ấm hơn. Mình cảm thấy được chuyển đổi của cơ thể khi cái chân đặt xuống nền nhà, có hai cảm thọ lạnh và nóng; khi đổi mặt sau và mặt trước thì cái tưởng bắt đầu khởi sinh, ví dụ khi đi lên đây, tâm con nghĩ về lời thầy. Vừa rồi thầy nói “pin có đầy bộ đàm hay không?”, con nghĩ “thầy giảng thời gian một buổi pháp vậy có đủ hay không”, thì cái tưởng nghĩ, bắt đầu cái hành nghĩ, âm thầm nói “chắc không sao, chắc là đủ.”
Sư phụ: lúc đó nó tưởng sao, hành sao, nói rõ lại một chút.
Sư thầy: Tức là cái tưởng của con nghĩ câu thầy nói “pin có đủ không?”
Sư phụ: Câu nói đó là hành, còn cái tưởng là gì?
Sư thầy: Cái tưởng của con là nghĩ đến câu nói của thầy.
Sư phụ: Lúc đó có hình bóng không?
Sư thầy: Dạ có.
Sư phụ: Hình bóng gì?
Sư thầy: Con nhớ tới miệng của thầy lúc nói. Còn cái hành thì nói, “không sao, chắc đủ.” Trong i tư tưởng đó thì cái thức của con biết cảm giác bàn chân, hơi thở, sự tưởng về cái hành ở trong tâm. Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Lúc mình biết bàn chân bên đây lạnh, bên kia ấm, vậy có biết mấy cái khác không, hay chỉ biết bàn chân thôi? Hay có biết toàn thân không?
Sư thầy: Dạ biết!
Thầy Pháp Từ: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch toàn thể đại chúng. Khi đi kinh hành, giai đoạn đầu thì con tập trung vào ba pháp như sư phụ chỉ dạy: đặt niệm trước mặt, biết toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Khi con thấy được mình chú tâm tỉnh giác trong ba pháp đó, thân hành niệm của con có sự vững chải được một lúc, những bước đi của con, con nhận biết rõ những cảm giác, khi đặt lòng bàn chân xuống, con biết rõ, sau đó khoảng một lúc, con thấy cái tưởng cái hành, cái thức hoạt động liên miên. Chẳng hạn như con tưởng đến lúc đi ngủ, chỗ ngủ như thế nào, mọi người ngủ có thoải mái, đầy đủ hay không? Những hình bóng đó hiện ra ở trong thất, hình ảnh mọi người đang hiện ra trong con và những lời nói thầm của hành cũng xuất phát. Nó nói thầm “Không biết mọi người ngủ như vậy có thoải mái hay không? Mền gối có đủ không?” Sau đó con biết nên con tác ý cái hành, tác ý rằng là mình đang thất niệm, đang bị tưởng hành chi phối, phải quay trở về cái pháp thì con quay trở về được. Sau một lúc thì nó trở lại, nghĩ tới lời nói của sư huynh Pháp Minh khi đặt câu hỏi với sư phụ, ngay lúc đó con biết rõ là cái tưởng và hành đang hoạt động. Cái thức con cũng biết rõ hai pháp đó, hành uẩn tác ý như vậy là không đúng, như vậy là buông lung, phóng dật, không tốt, phải quay trở về pháp, cư trú trong ba pháp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Tốt.
***
Trong lòng Minh Thành biết ơn rất sâu sắc đối với tất cả các huynh đệ. Các huynh đệ đã bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết gia đình của mình, bỏ hết những thân thương nhất trong đời sống này mà trở về chỗ hiu quạnh, vắng vẻ của núi rừng để tu tập cũng như hỗ trợ đạo tràng với một niềm tin tưởng đối với Minh Thành. Các huynh đệ quý mến Minh Thành có khi còn hơn cha mẹ, và Minh Thành tự thấy mình rất hổ thẹn, cho nên cố gắng nỗ lực tu học, làm công quả. Khi sự tu học có được những thành quả tốt, Minh Thành muốn đem đáp lại tấm lòng của các huynh đệ đã quý mến Minh Thành. Mong rằng chúng ta hãy cùng nhau trân trọng những giây phút này, hãy biết được giá trị quý báu của sự học Chánh pháp, nhất là trong thời đại này.
Trước nay, mình cứ nói vô thường, vô ngã, chỉ là nói trên lý thuyết, trên sự giải thích. Bây giờ, Minh Thành muốn cho các huynh đệ chứng minh, thấy bằng mắt, bằng tâm của mình, chứ không phải nói bằng ngôn ngữ, giải thích suôn ở trên môi. Các huynh đệ nhìn lại nội tâm của mình, khi thiền hành, mọi người đã phát biểu rồi, tự thân các huynh đệ nhìn thấy được cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình. Có thấy nó biến đổi vô thường không, thấy rõ không? Có thấy vô ngã không? Không có một cái nào là cái tôi của mình trong đó. Năm cái đó, có thấy rõ không? Các huynh đệ thấy rằng đây là cái thật pháp của Đức Phật. Ngày nào mình cũng tụng "Quán tự tại Bồ Tát hành tâm bát nhã ...chiếu kiến ngũ uẩn giai không..." mà mình không thấy ngũ uẩn là gì hết. Bây giờ mình đang thực tập để thấy rõ chính mình, để thấy được thân và tự tâm của chính mình. Đó là đến để mà thấy. Cho nên, mong các huynh đệ hãy nỗ lực trong sự thực tập này, để chúng ta nếm được, cảm nhận được. Bây giờ mình ngồi thiền 15 phút rồi sau đó mình xem ngũ uẩn như thế nào.
Thầy Pháp Nhân:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng. Khi ngồi tĩnh tọa, con đặt niệm trước mặt, trước mặt con là hình họa của chú chim công trên tấm chiếu, đó là sắc. Khi con nhìn chú chim công trên tấm chiếu trước mặt thì cho con cảm thọ, con cảm thấy là cảm thọ không dễ chịu và cũng không khó chịu. Tưởng của con là lúc này con liên tưởng đến hình ảnh của chú chim công. Cái hành của con là lời nói “phải chi mà có một chú chim công thật ở trong khoá tu này thì hay biết mấy”. Thức là sự rõ biết của sắc, thọ, tưởng và của hành.
Phật tử:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy và quý hữu đồng tu.
Trong lúc ngồi thiền thì con cảm nhận trước mặt mình là con đang ngồi xếp bằng kiểu bán già, nghe hơi thở mình, kiểm soát được hơi thở và kiểm soát cái thân mình có cảm giác như thế nào. Ngồi được một lúc thì đầu gối chân trái đau nhức, con tưởng tượng, bây giờ con đổi lại chân phải, đổi chân phải ngồi một lúc cũng nhức, con nghĩ phải đổi lại thế ngồi của Ngài Quán Tự Tại. Lúc đó con suy nghĩ “Mình phải làm như vậy mới được, phải làm sao cho nó hết nhức”, thì con bấm bấm cái chân cho bớt nhức. Đó là cái hành của con. Cái thức của con là cảm nhận được, biết được cái thân tướng này đang ngồi đó, và đang chịu sự cảm thọ của đau khổ, rồi tưởng tượng tư thế này, tư thế nọ.
***
Các huynh đệ biết tại sao Đức Phật dạy phải quán chiếu về năm uẩn không? Vì ở trong nhận thức của mình, mình là một nguyên khối, mình là một cái trọn vẹn. Bằng trí huệ, Đức Phật tách ra cho mình thấy cái sự tập hợp của năm nhóm, trong năm nhóm đó không có cái nào là chắc, cái nào là lõi hết, mà nó thay đổi liên miên. Nãy giờ huynh đệ đã thấy, cái thọ, tưởng, hành và thức của mình thay đổi liên miên, không có cái nào cố định vậy hoài. Phân tách cho mình thấy, như trái quýt, bóc ra rồi tách từng múi cho mình thấy, để phá cái thân kiến, tức là kiến chấp sai lầm về thân, về tâm. Thường thực tập quán chiếu như vậy, từ từ mình sẽ tách khỏi ý niệm cho rằng, cái sắc, cái thọ tưởng hành thức này là mình. Thấy rõ nó là năm uẩn. Người thấy rõ nó, thành tựu trí đó tức là đoạn được thân kiến hoài nghi và giới cấm thủ, người đó sẽ dự vào Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn.
Mình phá cái thân kiến là mình thấy đó chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chứ không phải mình, mà là chính mình thấy. Hoài nghi là nghĩ, không biết ngày xưa mình ra sao, sau này mình sẽ ra sao? Phá hoài nghi là mình thấy, ngày xưa là năm uẩn, bây giờ là năm uẩn, và sau này nếu theo mê cái tâm thì cũng là năm uẩn, đâu có còn gì mà hoài nghi. Giới cấm thủ là những giới điều không đúng Chánh pháp. Hoặc, tuy là mình giữ giới đúng Chánh pháp, nhưng giữ giới vì mình sợ, sợ phạm, sợ Phật bắt tội mình, đó cũng là giới cấm thủ. Mình ý thức, giới đây là nhân quả, đem tới tốt lành cho mình. Như người lớn, ý thức được bờ vực thẳm là nguy hiểm, nên không bước ra, còn con nít phải đợi la rầy, làm hàng rào v.v... Mình ý thức được nhân quả nên mình giữ giới chứ không phải vì mình sợ Phật phạt rầy, có tội. Như vậy, mình phá thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ là dự vào dòng thứ nhất trong Bốn Thánh quả. Phá thân kiến, nhưng phải chính mình thấy, mình mới phá được. Và mình đang thực tập để thấy. Lúc trước chỉ nghe, chỉ tưởng tượng “À, là vô thường”, tưởng mai mốt mình chết này nọ, cái đó là mượn pháp quán tưởng để dẹp bớt cái chấp quá nặng. Còn bây giờ, từ cái mình quán thân hành niệm, một phần của sáu pháp đó, mình nhìn thấy thọ, tưởng, hành liên tục vận hành, liên tục chuyển biến, liên tục đổi thay, nó liên tục vô thường như vậy, mình sẽ phá cái thấy, cho rằng cái thân này là một nguyên khối tưởng. Chính mình phá được thân kiến hoài nghi, giới cấm thủ đó là mình dự vào dòng trí huệ.
Đây là điều cực kỳ quan trọng. Suốt cuộc đời tu hành, nhiều khi trăm đời ngàn kiếp, chưa chắc mình gặp được Chánh pháp như vậy, cho nên mình phải thực tập siêng năng, nhận diện năm uẩn.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.
-Thích Minh Thành-
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa đại chúng, lần này, có được thời gian yên tĩnh nhiều ở trong thất, Minh Thành chiêm nghiệm những lời Đức Phật dạy trong kinh tạng Pāli, cũng như được sự chia sẻ của bậc thiện tri thức nên phát hiện ra được nhiều điều từ xưa tới giờ mình chưa hiểu, chưa thấy cũng như cái hiểu, cái thấy của mình chưa tới nơi, chưa trọn vẹn. Minh Thành sẽ đem những gì mình tu học được, hết lòng chia sẻ cho huynh đệ, mong rằng chúng ta hãy nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác trong những ngày này. Nếu trong khóa tu, các huynh đệ dốc sức, tinh cần, quyết tâm, nỗ lực thì có thể mình sẽ có được cái thấy biết chân chánh cho sự tu học mãi về sau này trong cuộc đời xuất gia của mình.
Đức Thế Tôn nói rằng, có một pháp làm cho người xuất gia đi đến chỗ chánh trí, giác ngộ, giải thoát Niết-bàn, đó là pháp không phóng dật. Ngày xưa, Minh Thành đọc qua cũng chỉ hiểu nghĩa nôm na, nghĩ buông lung, phóng dật là cười, nói, nói lớn, cười to hay đi đứng không có oai nghi. Nhưng bây giờ, khi tìm hiểu sâu sắc vào trong tạng kinh, nỗ lực trong sự thực tập thì không phải như vậy. Phóng dật là một trong những kiết sử, nó trói buộc nội tâm của mình, lúc nào mình không trú trong pháp, lúc đó tâm mình phóng dật. Ví dụ phương pháp về niệm thân, là người thực tập niệm hơi thở. Lúc mình bỏ qua việc niệm hơi thở, mình có những cái duyên ở bên ngoài, thì lúc đó gọi là phóng dật. Trong tạng kinh, Đức Phật nói Tỳ-kheo rằng: “luôn luôn sống với giới bổn, luôn luôn tinh tấn chánh niệm, thiền định không gián đoạn thì mới đạt đến chánh trí giải thoát.” Cho nên, ba chữ “không phóng dật” này là một bài học sâu sắc mà chính mình rất hổ thẹn, ngay ở trong thất, ngồi thiền bốn, năm thời mà vẫn thấy mình phóng dật. Ngồi xong, đi thiền hành, nghe pháp liên tục, thậm chí ngày chỉ ăn một bữa mà vẫn thấy phóng dật rất nhiều, và cảm thấy một cảm giác xấu hổ, hổ thẹn. Vì tâm mình không trụ vô pháp, mình để cho cái tưởng dẫn đi, nó phóng tâm mà mình không nhiếp lại liền, đó là mình đang buông lung, phóng dật. Cho nên, tại sao mình tu mãi mà không thành tựu, lý do là vì mình không nhiệt tâm, tinh cần. Trong kinh Pháp Cú:
Khi cần, không nỗ lực,
Tuy trẻ mạnh, nhưng lười
Chí nhu nhược, biếng nhác.
Với trí tuệ thụ động,
Sao tìm được chánh đạo?
(Kinh Pháp Cú – phẩm Đạo)
Đức Phật có nói:
Cần phải làm, nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Địa Ngục)
Ở trong thất, chiêm nghiệm những câu này mới thấy. Tuy tuổi trẻ mạnh, rất sung mãn về thể lực, tâm lực, sức lực nhưng lại lười, "chí nhu nhược biếng nhác". Lười đối với thiện pháp, đối với sự hộ trì các căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Phương pháp này rất quan trọng, nếu người tu không có phương pháp này thì không thể định, không thể chánh niệm được. Mình phải hộ trì căn. Hôm trước, Minh Thành đã có chia sẻ vấn đề về bốn sự tinh tấn, tinh cần, phải hộ trì các căn, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình; luôn luôn thường trực, chánh niệm tỉnh giác. Sự tu sẽ thấy tiến bộ không ngờ nếu mình thực hành đúng theo lời Phật dạy. Cho nên, nếu tuổi trẻ mạnh mẽ mà lười, "chí nhu nhược biếng nhác", "trí tuệ thụ động" như vậy sẽ không đạt được Chánh đạo. Chỗ lười này nhìn sâu sắc mới thấy xót, thấy thương, thấy tủi nhục cho chính bản thân mình. Những thiện pháp, sự giữ gìn, chánh niệm tỉnh giác nội tâm, quán chiếu thiền định tu tập thì lười, nhưng chuyện thế gian thì mình không lười, rất hăng hái, xông xáo, rất nỗ lực. Lạ vậy đó!
Đây là những bài Đức Phật nhắc nhở mình trong kinh Pháp Cú, để mình chiêm nghiệm và nhìn lại nội tâm. Chí thì nhu nhược, nhu nhược là yếu đuối, không có ý chí. Như khi nghe pháp, thực hành cái này là thực hành ở trong, nó nói liền, “Khó vậy sao mà làm?” Chính cái này là giết mình chết. Cái tâm ý đó khởi lên mà mình không diệt tận, không tẩy sạch, không từ bỏ nó, không làm cho nó đứt ngang (giống như cây sala, không cho nó sanh lên nữa), thì nó sẽ giết mình chết. Mình không thể nào thành tựu sự nghiệp tu hành của mình. Cho nên một ý niệm như đang nghe pháp mà suy nghĩ, “Thực hành nhiều quá vậy, sao mà thực hành? Khó lắm!” Phải diệt ý niệm đó liền, tẩy sạch liền. Mình quay lại nói với nó, “Chí nhu nhược biếng nhác – Sao tìm được chánh đạo?” Đó gọi là Như lý tác ý. Phương pháp này rất quan trọng. Bản thân Minh Thành đang thực tập điều này nhiều lắm! Tại sao các huynh đệ có chia sẻ về cái dục, cái tham, cái sân mình, khi nó khởi lên rồi, mình chỉ nhìn thấy nó, rằng không đủ gì cả.., mình phải Như lý tác ý. Điều này rất quan trọng. Như lý tác ý là mình phải cầm cây roi, đánh nó túi bụi như đánh con trâu. Mình nói, “Chính mi, cái tâm tham dục này đưa ta vào vòng luân hồi, sanh tử, khổ đau. Chính ngươi là ác ma, là rắn độc, là kẻ thù ngàn năm; chính ngươi là thủ phạm lôi ta vào vòng vô minh, si mê, khổ đau triền miên bất tận. Hôm nay ta thấy được ngươi rồi, đừng hòng dẫn dắt ta nữa, ta phải diệt tận, tẩy sạch mi, ta phải đập mi tan nát ra thành cho bụi. Mi đừng mong câu dẫn, dụ dỗ ta, lôi kéo ta.” Phải tác ý thật mạnh mẽ. Lúc đầu nó yếu, có thể cái kia sẽ thắng, nhưng dần dần thì hai cái bắt đầu cân bằng 50/50; sau nữa mình quật lên 70/30. Rồi cuối cùng là mình hoàn toàn chiến thắng, diệt tận nó, thành tựu A-la-hán.
Những câu trong kinh tức là pháp lệnh. Lúc xưa chỉ đọc qua thôi, mình nghĩ không có gì hết, nhưng đó là pháp lệnh. Một khi trong tâm khởi lên sự sân hận, tham dục, sự ganh tỵ, tật đố hơn thua v.v.., mình đọc câu pháp lệnh này lên: “Ta tẩy sạch mi, diệt tận mi, làm cho mi không còn tái sanh trong tâm ta được nữa, ta chặt mi giống như cây dừa, cây sala.” Lúc đó, câu pháp lệnh của Đức Phật được khởi lên thì cảm giác kia sẽ sợ, cái tham dục, sân hận, si mê, tật đố… nghe câu này sẽ sợ. Vì cái tham dục, sân hận, tật đố cũng là một pháp ở trong tâm mình. Mình dùng pháp này trị thì tự nhiên cái kia sau này sẽ sợ, mỗi lần khởi lên là bị bên đây đánh. Đó là trí của mình, trí quán chiếu, trí Như lý tác ý. Ngày xưa, mình ngồi chỉ thấy biết vậy thôi, không làm gì hết, để nó quật mình, sức nó là cổ thụ ngàn năm, cái tham dục, sân hận, si mê, cái vô minh chấp thủ là cổ thụ ngàn năm, nhưng mình chỉ nhìn rồi lấy cây khều khều thì đâu có động đậy gì, làm sao bứng nổi gốc của nó. Nên mới thấy Đức Phật thương mình vô cùng, mới thấy 37 Phẩm Trợ Đạo, Bát Chánh Đạo, mình lạy mà nước mắt chảy ra, vì khi yên tĩnh, mình nhìn sâu vô trong phiền não, thấy trong đó đầy nghẹt, đó là bốn phương tám hướng, bát diện mai phục, thập phương du kích…, nhưng sự tu của mình chỉ có một chút nên không bao giờ đầy đủ. Hình ảnh thiên thủ thiên nhãn, mười tám tay, mỗi tay cầm một bửu bối là những pháp khí để trị sáu căn, sáu trần, sáu thức. Nếu sự tu mình cứ lơ là, “ừ, khởi lên biết, biết rồi”, thì sẽ không có gì hết, 10 năm cũng y như vậy. Phải dập nó tơi bời, không còn manh giáp, giết tan xương nát thịt. Đó là sức tinh tấn lực của người tu. Điều này rất tuyệt vời.
Trong bài kinh Song tầm, Đức Phật kể lại khi Ngài tu, Ngài chia làm hai, những niệm nào thuộc tham sân si, tật đố ganh tị, bất thiện v.v.. cho qua một bên; niệm khởi không tham, không sân, không si, thiện pháp.., Ngài để qua một bên. Niệm nào bất thiện thì Ngài diệt, tẩy sạch, diệt tận nó. Những cái thiện thì Ngài cho phát huy. Ví dụ là những ý niệm tương ưng với trí huệ, cuộc đời này là vô thường, thân này là ảo mộng, thấy rõ các pháp là vô ngã. Những ý niệm đó thì phát huy, vô thường tưởng, vô ngã tưởng. Những niệm về sân, si, phẫn hận v.v... thì diệt tận, từ bỏ và không chấp nhận nó. Như vậy mình sẽ thấy sức mạnh của mình, tinh tấn lực của mình lúc đó rất mạnh. Tu tập pháp này chánh kiến của mình sẽ sáng tỏ, sẽ thấy được những điều gian dối, Đức Phật nói:
Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu.
Ở đây già và chết,
Mạn lừa đảo chất chứa.
(Kinh Pháp Cú, phẩm Già)
Mạn là kiêu mạn, ta đây, lừa đảo, nó lừa mình kinh khiếp lắm. Chính tâm mình lừa đảo mình, học rồi mình sẽ thấy, cái tưởng và hành của mình lừa đảo mình. Cách tu trước nay của mình là cứ ngồi yên, thấy điều gì khởi lên là thấy biết, vậy thôi, nên mình ngồi mấy chục năm cũng vậy, không động đậy gì hết. Ví dụ, ngồi trong nhà, ăn trộm vô, mình thấy, mình biết có ăn trộm là mình biết vậy thôi, nhưng mình không đuổi, không rượt, không dùng cách gì hết. Thấy lửa cháy, mình nhìn, mình biết lửa cháy, vậy là được rồi. Thấy lửa cháy thì phải tìm đủ mọi cách dập tắt ngay tức khắc, đó gọi là nhiệt tâm tinh cần, đó mới gọi là tinh tấn, nỗ lực, quyết liệt trong sự tu tập. Lần này, phát hiện ra điều này thật tuyệt vời. Từ trước đến giờ, mình đọc kinh nhưng mình không thấy những câu đó là pháp lệnh, hiệu lệnh của Chánh pháp, hiệu lệnh của trí huệ. Đọc câu đó, một lát ngồi thiền, mình ứng dụng, sẽ thấy. Nếm đi sẽ thấy sức công phá của nó. Mình nói vậy chỉ là nói thôi, trấn áp nó thôi, sau đó mình sẽ dùng sức quán chiếu. Ví dụ, ngồi thiên được một lát, nghĩ, “Mệt quá, giờ này về nằm ngủ chắc khỏe,” bên trong đó nói vậy; mình nói, “Ngủ mấy chục năm rồi chưa đủ hay sao? Tới giờ này vẫn còn trong giấc ngủ dài của vô minh, tham ái. Tại sao si mê quá vậy? Tại sao lười nhát, nhu nhược như vậy? Không biết xấu hổ.” Mình đánh mạnh như vậy thì tự nhiên nó trấn tỉnh lại, sửa cách ngồi lại, mở mắt lớn ra, sẽ đánh tan cơn buồn ngủ giải đãi, lười biếng đó. Còn nếu mình thấy nó rồi, mình chỉ nhướng lên thôi, lần hai, lần ba nhướng không nổi nữa thì sụp xuống luôn. Quý vị thấy rõ không? Đó là Như lý tác ý.
Mình còn phải quán chiếu thêm, trong vòng luân hồi sinh tử, chính cái ngủ này là si mê, giống như Trư Bát Giới, ngủ rồi theo con đường bàng sanh. Trí quán Như lý tác ý càng mạnh chừng nào thì đập cái kia càng mau tan. Nhưng đó không phải bằng tâm sân hận mà là trí huệ tỉnh sáng của một sức mạnh, gọi là tinh tấn lực, niệm lực, sức mạnh của chánh niệm. Đó là pháp vô thường, sắc thọ tưởng hành thức là tưởng, si tưởng, nên không có gì phải sân, nhưng nếu cần sân thì nó cũng sân được, sân này gọi là phẫn nộ kim cương, tức là sự phẫn nộ của trí huệ. Cho nên Bồ Tát Tịch Thiên nói, “Tại sao mình lại giận người đánh mình mà mình không giận cơn giận” Có nhớ đã tụng bài kinh không? Có ứng dụng không? Giận cơn giận tức là mình dùng cái sân để trị cái sân. Bây giờ, có người cầm cây gậy đánh mình, mình trách người đó hay trách cây gậy? Cơn giận mới chính là thủ phạm sâu xa, còn cái tay, cái chân, cái mặt… giống như công cụ, giống như cây gậy thôi, nhưng mà không ai giận cơn giận cả, mà giận cây gậy. Đó là chỗ trí huệ sâu sắc. Rõ chỗ này hết chưa? Nhất là cách tu của mình trước giờ, chỗ nãy Như lý tác ý rất quan trọng.
Minh Thành mong các huynh đệ ý thức sâu sắc, sự tu tập này là siêu phàm nhập Thánh, chuyển hóa những si mê trở thành trí huệ, thay đổi tăm tối trở thành sáng suốt, đập vỡ khối u mê, cứng chắc của mình, bừng ra trí giác. Đó không phải là chuyện dễ dàng, đơn giản. Bởi vì, phiền não là tứ phương tám hướng, bát diện mai phục, thập phương du kích, nó tiềm ẩn trong tâm mình không biết bao lâu đời rồi. Bây giờ chỉ dùng một trí huệ thụ động, một cái hiểu sơ sơ, mình nghĩ hành như vậy mà mong được kết quả thì chuyện đó không thể nào. Đức Phật nói, “Ta ngồi dưới cội Tát-bạt-la này, dầu cho máu khô, có thành xương, xương tan thịt nát, ta quyết chứng chánh đẳng chánh giác, không rời cây này.” Không phải người thường thường có thể làm được. Đó là cả một sự quyết tâm của việc tu hành. Mình thấy điều đó là cả một tâm cung kính, chân thành, tôn trọng, một tâm mạnh mẽ, nhiệt thành để mình thực tập, hành trì. Ngoài đời, mấy người giàu có, làm ăn lớn, người ta gắng sức, nỗ lực lắm, chứ không phải đơn giản mà trở thành tỷ phú, hoặc nhà bác học, khoa học, nhà nghiên cứu, hay người thợ giỏi.., người ta phải dốc cả sức lực, quên ăn bỏ ngủ để phát minh ra những định lý, định luật đóng góp cho cuộc đời này. Cho nên, giống như lời nói đầu của khoá tu, mong là các huynh đệ phải hiểu, ý thức sâu sắc việc mình đang làm là rất cao thượng, rất thiêng liêng. Không thể đem tâm thái bình phàm để mong đạt tới được trí huệ siêu việt, phải luôn luôn nhớ là không phóng dật. Bài này Minh Thành chiêm nghiệm rất nhiều lần khi mình thực tập.
Vui thích không phóng dật
Tỳ-kheo sợ phóng dật
Bước tới như lửa hừng
Thiêu kiết sử lớn nhỏ.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Không phóng dật)
Vui thích trong sự tinh tấn, hoan hỉ trong sự nhiệt tâm, mình sợ sự buông lung, sự phóng túng, phóng dật. “Bước tới như lửa hừng – Thiêu kiết sử lớn nhỏ”, bước tới là sự tu của mình phải đi tới, không thể đứng một chỗ, càng không thể lùi, phải bước tới ở mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng trong sự tu. Nhiều khi mình than thở, “Tui xuất gia mấy năm trời không thấy gì hết”, không thấy gì hết là do chính mình không nỗ lực. Xuất gia mười năm mà không thấy gì là do mình không tinh cần, không nhiệt tâm, không quyết chí gắng sức, rồi mình đổ cho cái này, đổ cho cái kia.., tất cả những điều đó đều là không thấy được sự thật. Chính điều đó càng làm cho mình tăng thêm lậu hoặc, mê lầm vô minh.
Cho nên, tu là phải tiến, phải bước tới, bước tới giống như lửa hừng, thiêu hết kiết sử lớn nhỏ, như đám lửa cháy rừng rực, đốt hết, cái gì bỏ vô cũng cháy hết. Niệm định huệ phải liên tục trong thân hành niệm. Luôn luôn niệm bất tịnh, luôn luôn quán chiếu vô thường, suy nghiệm về cái chết, nhìn thấy được tính chất tạm bợ mong manh của cuộc đời này. Đó là mình đang bước tới, quán chiếu tuệ quán giống như đống lửa, những cái được mất hơn thua, danh lợi..., những loại này đến với mình không hề hấn gì hết, đốt hết, chỉ chuyên chú vô trong pháp tu của mình. Thiêu hết kiết sử lớn nhỏ, đây là một sức mạnh.
Minh Thành muốn khích lệ, động viên, muốn để các huynh đệ phát thêm một sự tinh tấn, nỗ lực, như là tiếp thêm nguồn năng lượng để cho mình hành trì, nhất là trong những ngày tu, mình cố gắng thực tập. Trong kiếp người của mình, không phải dễ dàng có được cơ hội ở núi rừng thiền định, quán chiếu trong tăng đoàn tăng thân, có thầy có bạn, có pháp.
***
Sư thầy: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Bạch thầy, con xin có câu hỏi, con đang phân vân từ “quán”. Pháp của Đức Phật có dạy thực tại hành thiền, những đối tượng mà mình quán chiếu phải có thực tính, thực tánh, thực thấy. Ví dụ, như trong tâm mình, mình ngồi im quán, thì đối tượng đó có phải là thực hay là do tưởng của mình ra?
Sư phụ: Đó gọi là quán tưởng, là những phương pháp định mà Đức Phật dạy, là Thánh chánh định.
Sư thầy: Ý con ở đây, con xin hỏi một câu nữa, quán tưởng đó đưa đến cái định. Như thầy dạy, cái định nếu đúng thì đưa đến sự chánh định. Con muốn hỏi cái quán tưởng dựa trên chánh định ấy thì cái quán tưởng đó có đưa đến chánh trí tuệ, thấy các pháp như thật đối với bản chất của nó không, hay chỉ là dựa trên trí tuệ trên tưởng?
Sư phụ: Tất cả các pháp tu của đạo Phật lấy chánh kiến làm căn cứ địa, phải thành tựu được chánh kiến, vì thế mình mới tu. Tất cả cái tu của mình đều đúng theo thánh đạo, nếu không có chánh kiến mà tu, ví dụ, mình tu được tới tầng thiền thứ tư, cho đến cửu định, bát định.., vậy nhưng cái đó cũng vẫn là tà định thôi, tại vì không có chánh kiến của Phật giáo. Mà, chánh kiến là gì, trong khoá tu này, trong mấy ngày này mình sẽ làm sáng tỏ hết. Chánh kiến này phải cho mình thực thấy bằng trí huệ, không phải như lúc trước mình tưởng, tưởng nó vô thường thì là vô thường, là chết v.v... Không phải. Mình sẽ thấy được vô thường trong thân tâm của mình, trong thọ tưởng hành thức của mình, trong cảm giác, suy tưởng và nhận thức, thấy được rõ từng giây từng phút ngay lúc này, ngồi thực tập rõ thấy. Lúc chiều mình nói về thọ, về tưởng hành, lát nữa mình thực tập ngay tại chỗ. Là cảm giác, tưởng là những hình ảnh, những hình bóng trong nội tâm của mình.
Ví dụ thầy nói“lâu quá mình không đi ngang quán phở Hội Ngộ”, khi nói vậy thì Pháp Từ thấy mình có cái gì?
Thầy Pháp Từ: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ và toàn thể đại chúng, khi sư phụ hỏi về quán phở lâu quá không ghé, khi nghe vậy thì riêng con thấy, trong cái tưởng xuất hiện trước là hình bóng của bảng hiệu quán phở có chữ Hội Ngộ, khung cảnh của quán đó cũng ẩn hiện trong cái tưởng của con, và cái hành là những lời nói âm thầm bên trong của con, là cái quán nó như vậy.., và sư phụ sẽ tới đó. Cái thức của con biết rõ hai cái pháp đó, còn cảm thọ của con lúc thực tại, con chưa thấy cái cảm giác lạc hay là khổ trong đó, con nhận biết đó là xả. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Tốt, tốt lắm! Hỏi cái tưởng mà trả lời luôn hành thức, tốt lắm! Vì nó đi theo nhau, dính chùm. Pháp Nhân trình bày cái thọ tưởng hành thức như thế nào?
Thầy Pháp Nhân: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch sư thầy, các quý thầy và toàn thể đại chúng. Thưa thầy, cái tưởng là khi nghe về người mẹ thì trong tâm con hiện lên hình ảnh của mẹ, cái hành là nghĩ có một lời nói “mẹ như thế nào”; về thức là con rõ biết về cái tưởng và hành đó.
Sư phụ: Rất tốt. Còn Hoàng?
Hoàng: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, các thầy các huynh. Trong giây phút hiện tại, con có cảm giác khổ thọ vì cái chân đang đau, cái tưởng của con là được đứng lên và đi, cái hành của con là được đứng lên và đi kinh hành. Và thức của con là thấy rõ được thọ tưởng hành đang vận hành.
Sư phụ: Tốt, tốt lắm, rất là rõ. Tới Thi, có thọ tưởng hành thức như thế nào?
Thầy Pháp Thi: Nam mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch sư phụ và các huynh đệ, khi đi kinh hành, con thấy cái sắc là mình đang đi, có những cảm thọ là thích và vui. Cái tưởng là con nghe con gì kêu, và con tưởng tượng ra. Cái hành nói là không biết mấy con này nó to hay nó nhỏ, còn cái thức là có biết. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư thầy: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ và toàn thể đại chúng. Vừa rồi đi kinh hành, cái sắc của con là biết thân đang đi, chân bước theo hơi thở, cái thọ của con là cảm giác ở bàn chân đối với nền nhà thì bên đây là lạnh, bên đây nó ấm hơn. Mình cảm thấy được chuyển đổi của cơ thể khi cái chân đặt xuống nền nhà, có hai cảm thọ lạnh và nóng; khi đổi mặt sau và mặt trước thì cái tưởng bắt đầu khởi sinh, ví dụ khi đi lên đây, tâm con nghĩ về lời thầy. Vừa rồi thầy nói “pin có đầy bộ đàm hay không?”, con nghĩ “thầy giảng thời gian một buổi pháp vậy có đủ hay không”, thì cái tưởng nghĩ, bắt đầu cái hành nghĩ, âm thầm nói “chắc không sao, chắc là đủ.”
Sư phụ: lúc đó nó tưởng sao, hành sao, nói rõ lại một chút.
Sư thầy: Tức là cái tưởng của con nghĩ câu thầy nói “pin có đủ không?”
Sư phụ: Câu nói đó là hành, còn cái tưởng là gì?
Sư thầy: Cái tưởng của con là nghĩ đến câu nói của thầy.
Sư phụ: Lúc đó có hình bóng không?
Sư thầy: Dạ có.
Sư phụ: Hình bóng gì?
Sư thầy: Con nhớ tới miệng của thầy lúc nói. Còn cái hành thì nói, “không sao, chắc đủ.” Trong i tư tưởng đó thì cái thức của con biết cảm giác bàn chân, hơi thở, sự tưởng về cái hành ở trong tâm. Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Lúc mình biết bàn chân bên đây lạnh, bên kia ấm, vậy có biết mấy cái khác không, hay chỉ biết bàn chân thôi? Hay có biết toàn thân không?
Sư thầy: Dạ biết!
Thầy Pháp Từ: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch toàn thể đại chúng. Khi đi kinh hành, giai đoạn đầu thì con tập trung vào ba pháp như sư phụ chỉ dạy: đặt niệm trước mặt, biết toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Khi con thấy được mình chú tâm tỉnh giác trong ba pháp đó, thân hành niệm của con có sự vững chải được một lúc, những bước đi của con, con nhận biết rõ những cảm giác, khi đặt lòng bàn chân xuống, con biết rõ, sau đó khoảng một lúc, con thấy cái tưởng cái hành, cái thức hoạt động liên miên. Chẳng hạn như con tưởng đến lúc đi ngủ, chỗ ngủ như thế nào, mọi người ngủ có thoải mái, đầy đủ hay không? Những hình bóng đó hiện ra ở trong thất, hình ảnh mọi người đang hiện ra trong con và những lời nói thầm của hành cũng xuất phát. Nó nói thầm “Không biết mọi người ngủ như vậy có thoải mái hay không? Mền gối có đủ không?” Sau đó con biết nên con tác ý cái hành, tác ý rằng là mình đang thất niệm, đang bị tưởng hành chi phối, phải quay trở về cái pháp thì con quay trở về được. Sau một lúc thì nó trở lại, nghĩ tới lời nói của sư huynh Pháp Minh khi đặt câu hỏi với sư phụ, ngay lúc đó con biết rõ là cái tưởng và hành đang hoạt động. Cái thức con cũng biết rõ hai pháp đó, hành uẩn tác ý như vậy là không đúng, như vậy là buông lung, phóng dật, không tốt, phải quay trở về pháp, cư trú trong ba pháp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Tốt.
***
Trong lòng Minh Thành biết ơn rất sâu sắc đối với tất cả các huynh đệ. Các huynh đệ đã bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết gia đình của mình, bỏ hết những thân thương nhất trong đời sống này mà trở về chỗ hiu quạnh, vắng vẻ của núi rừng để tu tập cũng như hỗ trợ đạo tràng với một niềm tin tưởng đối với Minh Thành. Các huynh đệ quý mến Minh Thành có khi còn hơn cha mẹ, và Minh Thành tự thấy mình rất hổ thẹn, cho nên cố gắng nỗ lực tu học, làm công quả. Khi sự tu học có được những thành quả tốt, Minh Thành muốn đem đáp lại tấm lòng của các huynh đệ đã quý mến Minh Thành. Mong rằng chúng ta hãy cùng nhau trân trọng những giây phút này, hãy biết được giá trị quý báu của sự học Chánh pháp, nhất là trong thời đại này.
Trước nay, mình cứ nói vô thường, vô ngã, chỉ là nói trên lý thuyết, trên sự giải thích. Bây giờ, Minh Thành muốn cho các huynh đệ chứng minh, thấy bằng mắt, bằng tâm của mình, chứ không phải nói bằng ngôn ngữ, giải thích suôn ở trên môi. Các huynh đệ nhìn lại nội tâm của mình, khi thiền hành, mọi người đã phát biểu rồi, tự thân các huynh đệ nhìn thấy được cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình. Có thấy nó biến đổi vô thường không, thấy rõ không? Có thấy vô ngã không? Không có một cái nào là cái tôi của mình trong đó. Năm cái đó, có thấy rõ không? Các huynh đệ thấy rằng đây là cái thật pháp của Đức Phật. Ngày nào mình cũng tụng "Quán tự tại Bồ Tát hành tâm bát nhã ...chiếu kiến ngũ uẩn giai không..." mà mình không thấy ngũ uẩn là gì hết. Bây giờ mình đang thực tập để thấy rõ chính mình, để thấy được thân và tự tâm của chính mình. Đó là đến để mà thấy. Cho nên, mong các huynh đệ hãy nỗ lực trong sự thực tập này, để chúng ta nếm được, cảm nhận được. Bây giờ mình ngồi thiền 15 phút rồi sau đó mình xem ngũ uẩn như thế nào.
Thầy Pháp Nhân:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng. Khi ngồi tĩnh tọa, con đặt niệm trước mặt, trước mặt con là hình họa của chú chim công trên tấm chiếu, đó là sắc. Khi con nhìn chú chim công trên tấm chiếu trước mặt thì cho con cảm thọ, con cảm thấy là cảm thọ không dễ chịu và cũng không khó chịu. Tưởng của con là lúc này con liên tưởng đến hình ảnh của chú chim công. Cái hành của con là lời nói “phải chi mà có một chú chim công thật ở trong khoá tu này thì hay biết mấy”. Thức là sự rõ biết của sắc, thọ, tưởng và của hành.
Phật tử:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy và quý hữu đồng tu.
Trong lúc ngồi thiền thì con cảm nhận trước mặt mình là con đang ngồi xếp bằng kiểu bán già, nghe hơi thở mình, kiểm soát được hơi thở và kiểm soát cái thân mình có cảm giác như thế nào. Ngồi được một lúc thì đầu gối chân trái đau nhức, con tưởng tượng, bây giờ con đổi lại chân phải, đổi chân phải ngồi một lúc cũng nhức, con nghĩ phải đổi lại thế ngồi của Ngài Quán Tự Tại. Lúc đó con suy nghĩ “Mình phải làm như vậy mới được, phải làm sao cho nó hết nhức”, thì con bấm bấm cái chân cho bớt nhức. Đó là cái hành của con. Cái thức của con là cảm nhận được, biết được cái thân tướng này đang ngồi đó, và đang chịu sự cảm thọ của đau khổ, rồi tưởng tượng tư thế này, tư thế nọ.
***
Các huynh đệ biết tại sao Đức Phật dạy phải quán chiếu về năm uẩn không? Vì ở trong nhận thức của mình, mình là một nguyên khối, mình là một cái trọn vẹn. Bằng trí huệ, Đức Phật tách ra cho mình thấy cái sự tập hợp của năm nhóm, trong năm nhóm đó không có cái nào là chắc, cái nào là lõi hết, mà nó thay đổi liên miên. Nãy giờ huynh đệ đã thấy, cái thọ, tưởng, hành và thức của mình thay đổi liên miên, không có cái nào cố định vậy hoài. Phân tách cho mình thấy, như trái quýt, bóc ra rồi tách từng múi cho mình thấy, để phá cái thân kiến, tức là kiến chấp sai lầm về thân, về tâm. Thường thực tập quán chiếu như vậy, từ từ mình sẽ tách khỏi ý niệm cho rằng, cái sắc, cái thọ tưởng hành thức này là mình. Thấy rõ nó là năm uẩn. Người thấy rõ nó, thành tựu trí đó tức là đoạn được thân kiến hoài nghi và giới cấm thủ, người đó sẽ dự vào Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn.
Mình phá cái thân kiến là mình thấy đó chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chứ không phải mình, mà là chính mình thấy. Hoài nghi là nghĩ, không biết ngày xưa mình ra sao, sau này mình sẽ ra sao? Phá hoài nghi là mình thấy, ngày xưa là năm uẩn, bây giờ là năm uẩn, và sau này nếu theo mê cái tâm thì cũng là năm uẩn, đâu có còn gì mà hoài nghi. Giới cấm thủ là những giới điều không đúng Chánh pháp. Hoặc, tuy là mình giữ giới đúng Chánh pháp, nhưng giữ giới vì mình sợ, sợ phạm, sợ Phật bắt tội mình, đó cũng là giới cấm thủ. Mình ý thức, giới đây là nhân quả, đem tới tốt lành cho mình. Như người lớn, ý thức được bờ vực thẳm là nguy hiểm, nên không bước ra, còn con nít phải đợi la rầy, làm hàng rào v.v... Mình ý thức được nhân quả nên mình giữ giới chứ không phải vì mình sợ Phật phạt rầy, có tội. Như vậy, mình phá thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ là dự vào dòng thứ nhất trong Bốn Thánh quả. Phá thân kiến, nhưng phải chính mình thấy, mình mới phá được. Và mình đang thực tập để thấy. Lúc trước chỉ nghe, chỉ tưởng tượng “À, là vô thường”, tưởng mai mốt mình chết này nọ, cái đó là mượn pháp quán tưởng để dẹp bớt cái chấp quá nặng. Còn bây giờ, từ cái mình quán thân hành niệm, một phần của sáu pháp đó, mình nhìn thấy thọ, tưởng, hành liên tục vận hành, liên tục chuyển biến, liên tục đổi thay, nó liên tục vô thường như vậy, mình sẽ phá cái thấy, cho rằng cái thân này là một nguyên khối tưởng. Chính mình phá được thân kiến hoài nghi, giới cấm thủ đó là mình dự vào dòng trí huệ.
Đây là điều cực kỳ quan trọng. Suốt cuộc đời tu hành, nhiều khi trăm đời ngàn kiếp, chưa chắc mình gặp được Chánh pháp như vậy, cho nên mình phải thực tập siêng năng, nhận diện năm uẩn.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.