Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trí Tuệ Và Suy Tư (Hành Uẩn)

2026-03-03 00:55:46
Trí Tuệ Và Suy Tư (Hành Uẩn)

Thích Minh Thành

Ngày 30 tháng 10 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh trí về hành uẩn PAGEREF _Toc89545804 \h 1

II. Sáu loại suy nghĩ PAGEREF _Toc89545805 \h 5

III. Ba nhóm suy nghĩ sai lầm PAGEREF _Toc89545806 \h 6

IV. Như lý tác ý PAGEREF _Toc89545807 \h 9

I. Thánh trí về hành uẩn

Kính bạch chư Tôn Đức, tăng, ni, toàn thể quý nam nữ Phật tử.

Chúng ta nắm vững tinh thần Phật pháp, tất cả lời dạy của Đức Phật không ngoài mục đích hiểu rõ, thấy biết được chính mình. Mục đích của những lời Phật dạy giúp cho mình hiểu rõ, thấy biết, thấy rõ được cái gì làm cho mình đau khổ, cái gì làm cho mình được an vui. Đó là cốt lõi, trọng tâm của tất cả Phật pháp, hiểu biết chính mình một cách chính xác, chân xác, đúng sự thật, thấy rõ được cái gì làm cho mình đau khổ, làm sao để được an vui. Đó là tinh thần cốt lõi của giáo pháp Đức Phật.

Không ngoài tinh thần đó, những buổi vừa rồi chúng ta đã tìm hiểu những lời Đức Phật dạy trong kinh Nikāya về sắc, thọ, tưởng. Hôm nay chúng ta tìm hiểu về hành uẩn trong ngũ uẩn. Nói theo danh từ chuyên môn là bảy trí tuệ về hành uẩn, nói đơn giản là trí tuệ về suy tư, suy nghĩ của chính mình.

Trước hết chúng ta nên nhớ hành là những suy nghĩ, lời nói thầm trong tâm. Khi chúng ta ngồi yên thì thấy rằng trong tâm của chúng ta có những lời nói lầm thầm, có những suy nghĩ. Chính những lời nói lầm thầm, suy nghĩ đó Thế Tôn gọi đó là hành uẩn. Chữ uẩn là một tổ hợp, một sự tập hợp, nhóm họp, hành là suy nghĩ. Hành uẩn tức là tổ hợp của những suy tư, tổ hợp, tư duy.

Đức Phật dạy chúng ta trí tuệ về hành uẩn này đầu tiên là mình phải biết tại sao có suy nghĩ, làm sao để suy nghĩ chấm dứt. Vậy từ đâu chúng ta có suy nghĩ? Do mình tiếp xúc nên mình có suy nghĩ, từ chuyên môn là xúc tập khởi nên hành tập khởi. Nói theo tiếng Việt thông thường là do mình tiếp xúc nên mình mới có ra được suy nghĩ.

Ví dụ hôm nay mình đi gặp một người, sau khi gặp trở về thì mình suy nghĩ về người đó. Suy nghĩ về người đó chính là do mình đã tiếp xúc với người đó mới có suy nghĩ về người đó. Nếu mình không tiếp xúc với người đó thì sẽ không có suy nghĩ về người đó.

Ví dụ khi quý vị đến Đà Lạt thì khi đó mắt nhìn thấy được cảnh của Đà Lạt, tai nghe âm thanh, mũi ngửi được những mùi hay ăn những món ăn ở Đà Lạt. Quý vị đã tiếp xúc gồm mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm trong vườn hoa Đà Lạt rất nhiều hoa, nhiều màu sắc hoa thì sau khi tiếp xúc, trở về nhà thì những hình ảnh, hình bóng, suy nghĩ, cảm nhận (đây gọi là thọ, tưởng, hành, thức), cảm giác về Đà Lạt sanh khởi trong tâm mình.

Như vậy nên Thế Tôn nói: Do tiếp xúc nên mới có suy nghĩ. Đây là định lý rất quan trọng, là xúc tập khởi nên hành tập khởi, xúc đoạn diệt là hành đoạn diệt. Tức là do mình tiếp xúc với con người, cảnh vật nên mình mới có suy nghĩ về con người, cảnh vật đó. Nếu mình chấm dứt, không tiếp xúc nữa thì nó cũng sẽ chấm dứt.

Trí huệ tiếp theo là phương pháp tu tập chấm dứt suy nghĩ, là phương pháp Bát Chánh Đạo (tám đúng). Trong đó có ba ý sau cùng là vị ngọt của suy tư, sự nguy hiểm, tác hại của suy tư và sự thoát ra khỏi suy tư.

Đầu tiên là vị ngọt của những suy tư, suy nghĩ này. Vị ngọt là khi mình suy nghĩ khởi lên những vui thích, ưa thích, khoan khoái, thích thú trong đó. Đó chính là vị ngọt của suy nghĩ. Đây là những định lý quan trọng.

Do mình suy nghĩ và trong suy nghĩ của mình khởi lên những vui thích, khoan khoái. Thì những vui thích, khoan khoái trong suy nghĩ đó chính là vị ngọt của suy nghĩ.

Tác hại của suy nghĩ là sự vô thường, biến đổi, sự khổ, sự biến hoại của những suy nghĩ đó. Những suy nghĩ đó đổi thay, làm cho mình đau khổ, bị biến đổi và hoại diệt, đó gọi là nguy hiểm và tác hại của suy nghĩ.

Sự thoát ra khỏi suy nghĩ là sự nhiếp phục dục và tham, sự chấm dứt dục và tham đối với các sự suy nghĩ, đó gọi là sự thoát ra khỏi suy nghĩ. Sự nhiếp phục, đoạn tận dục và tham gọi là sự thoát ra khỏi suy nghĩ.

Đối với vị ngọt của suy nghĩ, trong khi mình suy nghĩ thì mình thích thú, khoan khoái thì mình bị vị ngọt của suy nghĩ này làm cho mình đam mê, hấp dẫn, lôi cuốn, say đắm trong suy nghĩ. Ví dụ như mình thấy những người có món đồ quý, đồ đẹp thì họ khởi lên suy nghĩ là muốn lấy món đồ đó đem về cho mình, nếu mình có món đồ đó thì sẽ vui, giàu có, thỏa mãn lòng ham muốn của mình. Trong suy nghĩ đó đem lại sự thích thú, khoan khoái, tham muốn cho người đó và sau đó, người đó thực hiện theo những ham muốn, thích thú trong suy nghĩ đó thì người này đưa đến khổ đau, bất hạnh, đưa đến tù tội.

Như vậy, trong vị ngọt của suy nghĩ này cần để ý và trong tâm của mình có rất nhiều cạm bẫy của vị ngọt. Giống như giới luật của Đức Phật dạy mình. Ví dụ như mình là cư sĩ có gia đình đầy đủ, khi mình tiếp xúc với một người nào đó, thấy người đó nói chuyện dễ thương, gương mặt, cử chỉ, hành động dễ thương thì mình có những suy nghĩ có tính chất tham, ái bên trong. Đây là những suy nghĩ bất thiện, suy nghĩ xấu ác, tham ái thì mình bị vị ngọt của nó dẫn dắt, không khéo thì mình bị suy nghĩ đó phát ra lời nói, hành động, đưa đến hậu quả là bao nhiêu cảnh nhà tan, cửa nát, vợ chồng ly tán, con cái khổ sở, gia đình mang tai tiếng… Đó đều từ trong suy nghĩ.

Nên mình biết được một cách thấu đáo, rõ ràng trong suy nghĩ này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho mình trong sự tu học. Mình thấy được rõ cái nào là vị ngọt của suy nghĩ, cái nào là nguy hiểm, tác hại trong suy nghĩ để mình có được sự ngăn chặn, sự thắng lại, đình chỉ, sự quản lý, xét nét tâm mình, dòm ngó, giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện, đào luyện, dẫn dắt tâm mình và làm chủ tâm mình.

Như vậy, tu tâm là mình lắng nghe được những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mình, nghe thọ, tưởng, hành thật sự, nghe rồi và dẫn chúng đến hiền tâm, tâm thiện, tâm lành, không để cho nó dẫn mình đến tâm ác, bất thiện pháp, đó gọi là tu tâm. Thường xem trong đó suy nghĩ điều gì, suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, suy nghĩ này là tốt hay xấu, đưa đến phước hay tội, đưa đến bất hạnh hay đau khổ, mình kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán mọi suy nghĩ của mình, sau đó mình có sự rạch ròi, trạch pháp giác chi – sự phân biệt rành rõ, sáng tỏ trong nội tâm mình.

Tức là đọc hết tất cả những suy nghĩ thì khi mình thành tựu trí huệ về suy nghĩ thì chúng ta sẽ thấy được chúng ta có sự kiểm soát tâm mình một cách rõ ràng, sát sao, khít khao, biên mẫn.

Thứ nhất là biết được suy nghĩ là hành. Tại sao có suy nghĩ? Vì có sự tiếp xúc nên mới có suy nghĩ. Vị ngọt của suy nghĩ là những cái dục, tham, muốn, khoan khoái. Nếu mình không khéo thấy rõ được nó thì sẽ đưa đến nguy hiểm, tác hại. Giờ mình muốn thoát ra khỏi suy nghĩ này thì mình phải nhiếp phục được những vị ngọt, tham muốn ở trong suy nghĩ đó.

Mình muốn nhiếp phục, chế ngự, thắng lợi, có sự quản lý suy nghĩ của mình thì Đức Phật dạy cách là nên thường xuyên nhìn lại suy nghĩ. Lúc chúng ta ngồi thiền là lúc chúng ta lắng nghe suy nghĩ của mình đang nghĩ gì, nói gì, lầm thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than trong đó cái gì thì mình phải nghe cho rõ. Khi mình quay trở lại đầu tiên trong sự tu của chúng ta là nếu chúng ta không tu, không nhìn lại tâm mình thì mình hướng ngoại, giờ mình tu thì quay trở lại bên trong để hướng nội.

Nếu mình quay trở lại bên trong mà không biết cái gì bên trong thì Đức Phật gọi đó là vô minh, mờ tối đối với thân tâm của mình. Giờ chúng ta phải nhận diện năm uẩn như chúng ta đã từng chia sẻ, thì khi quay trở lại thì mình thấy rõ được suy nghĩ này là hành, cảm giác này là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, nhận thức thì rõ biết đây là thức. Khi mình quay trở lại thì mình có một sự rạch ròi, trạch pháp, rõ ràng phân minh, sáng tỏ trong tâm thì Đức Phật nói đó là mình biết được đôi phần sự thấy đúng về tự thân của mình.

Sự tu là sự quay trở về, nhìn thấy được thân tâm của mình một cách chính xác. Nên bước đầu là quay trở về, tiếp theo là nghe lại những lời nói lầm thầm, suy tư bên trong, xem suy tư bên trong này là thiện hay bất thiện, là tội hay phước, là nên làm hay không nên làm những suy nghĩ này. Những suy nghĩ này đưa đến bất hạnh hay đưa đến hạnh phúc, an vui. Đó gọi là tu tâm, quán tâm, xét tâm, soi tâm, rọi tâm, hướng nội, đó gọi là sự tu học tinh cần, tinh tấn. Không phải sự tu là mình hướng ra bên ngoài, làm điều này điều kia, đó là phước thiện ở bên ngoài. Sự tu thật sự mà chúng ta muốn, để thấy được cái khổ và chấm dứt cái khổ để tìm ra được nguồn cơn, nguyên do, căn rễ, gốc gác của đau khổ hay những gì làm cho mình đau khổ thì phải quay trở lại bên trong, không có một phương pháp nào khác ngoài việc quay trở lại để kiểm soát thân tâm của mình và chính xác là kiểm soát suy nghĩ.

II. Sáu loại suy nghĩ

Đức Phật dạy chúng ta có sáu loại suy nghĩ (sáu tư) gồm có: sắc tư là suy nghĩ về những hình sắc, hình tướng, sắc chất, hình dáng gọi là sắc tư, suy nghĩ về sắc. Chúng ta có vô vàn, vô lượng, vô số, vô biên những suy nghĩ nhưng bằng trí huệ, giác ngộ của Đức Phật thì phân loại ra làm sáu nhóm: sắc tư là suy nghĩ về hình sắc, sắc chất, sắc pháp, sắc uẩn, về những tổ hợp của những hình dáng, hình tướng. Thanh tư là những suy nghĩ về âm thanh. Hương tư là những suy nghĩ về mùi. Vị tư là suy nghĩ về vị. Suy nghĩ về xúc, sự tiếp xúc, nghe, nếm, đụng chạm gọi là xúc tư. Pháp tư là những suy nghĩ về cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thọ, tưởng, hành.

Như vậy, bằng trí tuệ chứng ngộ của Đức Phật, thì Đức Phật đã quy kết nó lại thành sáu phạm trù, sáu lĩnh vực, sáu khía cạnh, sáu phương diện của suy nghĩ về sắc, tiếng, mùi, vị, tiếp xúc, đụng chạm và những thọ, tưởng, hành bên trong. Gọi là sáu tư.

Ví dụ như mình suy nghĩ về hoa sen, lúc chiều khi đến chùa thì thấy chùa chưng hoa sen rất đẹp. Khi về mình suy nghĩ về hoa sen, nghĩ về mùi hương của nó sao thơm ngào ngạt, suy nghĩ về mùi. Hay được uống trà sen thì thấy vị của trà sen được ướp rất thơm, khi đưa vào trong lưỡi thì mình nếm vị của nó thì mình thấy rất đặc biệt. Vậy nên trong suy nghĩ của mình có hoa sen là sắc, suy nghĩ về mùi, vị, hương, khi mình nếm trà sen…

Vì mình chưa thành tựu được trí huệ về suy nghĩ nên trong suy nghĩ của mình là một mớ hỗn độn, lộn xộn, rối rắm bên trong, không biết cái nào là cái nào mà chỉ biết đó là suy nghĩ thì mình gắn suy nghĩ đó vào là “Tôi nghĩ, tôi tính, tôi suy tư, tôi xét nét…” Đó là sự chấp ngã, vô minh của chúng sanh, gọi là hành thủ uẩn, tức là sự nắm chặt vào trong tổ hợp của suy nghĩ, cho suy nghĩ này là tôi, của tôi và tự ngã của tôi mà không biết rằng những suy nghĩ này là pháp duyên sanh, do việc đi đến gặp hoa sen nên mới nghĩ về hoa sen vì nếu gặp hoa cúc, hoa hồng thì về đã nghĩ hoa cúc, hoa hồng mà không nghĩ về hoa sen.

Như vậy, bước thứ hai là nói cho chúng ta biết về sáu loại suy nghĩ: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.

III. Ba nhóm suy nghĩ sai lầm

Đức Phật dạy có ba nhóm suy nghĩ sai lầm, bất thiện, không tốt là: Thứ nhất, suy nghĩ về dục, tham dục, dục vọng, tham muốn gọi là dục tư duy. Thứ hai là suy nghĩ về tức giận, sân hận gọi là sân tư duy. Thứ ba là suy nghĩ ác ý, muốn làm hại người khác, gọi là hại tư duy. Ba loại tư duy này thì Đức Thế Tôn gọi là tà tư duy, tức là suy nghĩ lầm lạc, sai quấy, suy nghĩ không tốt, bất thiện, suy nghĩ đưa mình đến bất an, bất hạnh, đau khổ trong hiện tại và tương lai.

Suy nghĩ về tham, thì có năm sự tham muốn, năm thứ làm cho lòng tham muốn của con người lớn mạnh hơn gọi là năm dục trưởng dưỡng. Tức là tham, tiền tài, sắc đẹp, của cải mà tham đó không chính đáng, không phải do mình làm ra, của người khác. Hay mình tham những âm thanh, có thể đưa mình đến mất mạng, thương tật như có những người mê âm nhạc nên đeo tai nghe vào tai thì khi đi qua đường không nghe thấy tiếng xe nên dẫn đến tai nạn. Đó là tham âm thanh, không tỉnh thức, không biết rõ việc mình đang làm, dù là đang đi qua đường rất nguy hiểm nhưng lúc đó không để tâm, lại tham mê nghe nhạc, đắm chìm, mê say trong đó mà không nhận thấy được xe cộ.

Đó là ví dụ cho việc mê âm thanh đưa đến đau khổ, bất hạnh, tàn tật, phế nhân, thậm chí là đưa đến mất mạng. Đức Phật nói là tham sắc, tham hương, tham vị, tham xúc, nhiều khi là mùi thơm thôi cũng làm tan nhà nát cửa, vợ chồng phân ly, con cái khổ sầu vì thích mùi đó. Cũng có những người vì thích mùi đó mà tán gia bại sản, mui chai nước hoa đến tiền triệu.

Tiếp đến là việc ăn uống, vị thì khi tham có khổ không? Có thể sanh bệnh, giận hờn, “miếng ăn là miếng tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên đầu”. Dù thấy rất đơn sơ, bình thường, nhưng người ham ăn, thích ăn, khoái ăn, mê ăn, ngủ mơ thấy cả đồ ăn thì trong suy nghĩ của mình dính vào hương vị, mùi vị của thức ăn.

Về xúc, sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân cũng rất nguy hiểm. Ví như sự tiếp xúc trong dịch bệnh thời gian này rất nguy hiểm, như vừa mở cửa lại thì các quán nhậu rất đông người, đó cũng là do xúc, để được gặp người này người kia, để nói, ăn nhậu nhưng bên trong là được “khuyến mãi” thêm virut. Như vậy nên xúc đó đem lại bất hạnh, đau khổ, nguy hiểm, bệnh tật, khổ sầu, bất an, lo lắng, sợ hãi, mất mạng. Mình rơi vào những trường hợp đó vì mình không kiềm chế, nhiếp phục, hạn chế, nhịn được xúc, sự muốn tiếp xúc đó, muốn gặp gỡ, nói chuyện, muốn ăn chơi, muốn đi chỗ này chỗ kia mà giờ lại bị nhốt lại nên tù túng, bức xúc quá.

Nên vì mình muốn tiếp xúc mà mình không biết được suy nghĩ, cảm giác thúc giục bên trong, những hình bóng gợi ra, mình cần biết đây là có hại thì mình phải quán sự nguy hại của nó rằng đây là nguy hiểm, đây là tác hại, đây là đem đến sự lo lắng, bất an, đau khổ thậm chí mất mạng “Chờ giảm bớt dịch rồi hãy đi ra! Cũng là gặp, cười nói một chút thì ăn ở nhà cũng được. Nhịn một chút mà mình được bình an, được tốt lành.”

Vậy nên đầu tiên, Đức Thế Tôn nói dục tư duy là bất thiện pháp, những suy nghĩ ham muốn sắc, thanh, hương, vị, xúc đó là bất thiện pháp.

Đối với sân tư duy, những suy nghĩ về tức giận, là giận người nào đó thì cứ nghĩ hoài, bức xúc, khó chịu, bực bội, nghĩ thì tức tối, ăn không ngon, ngủ không yên. Đó là bất thiện pháp, ác pháp, đem lại sầu khổ, tâm không thoải mái, bức xúc, bực bội, bất an, nhiệt não, tâm thêu đốt làm cho mình khổ. Đức Phật gọi đó là tà tư duy, những suy nghĩ đem lại đau khổ, sự nặng nề, nhiệt não, nóng bức, thêu đốt, đốt cháy, hủy hoại sự bình an của mình.

Vậy nên “Ngày đêm thêu đốt tim, gan, máu. Đốt cháy tâm can trong hận sân.” Mình nói là mình thương mình lắm nhưng thật sự là mình không biết cách thương mình, nếu thương mình thì mình đã không thêu đốt tâm can của mình, thương thì đã không hủy hoại miếng ăn, giấc ngủ của mình. Thương mà tại sao lại để cảm giác sân hận, suy tư hành hạ mình, suy tư tức tối đó cứ lầm thầm, bép xép trong tâm mình mãi.

Nếu mình thương thì mình đuổi nó ra, quét ra, quăng ra, từ bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ, xả bỏ, nếu mình thương mình thì tại sao mình lại chất chứa những suy nghĩ bực bội, thêu đốt đó? Thương mà tại sao lại làm cho mình tiều tụy, bỏ ăn, mất ngủ, làm cho mình nóng bức, nhiệt não như vậy thì mình mới là thương mình?

Đó là do mình chưa biết thương mình, chưa biết từ bi đối với mình, vậy nên buổi sau nếu có nhân duyên thì Minh Thành sẽ hướng dẫn cho mọi người học về trải tâm từ. Vì chúng ta không biết thương mình nên chúng ta đã để cho những suy nghĩ tức tối, buồn phiền, giận hờn, bức xúc, bực bội, nóng giận, thêu đốt, hủy hoại, hủy diệt thân tâm của mình, làm cho mình tiều tụy, ốm o, gầy mòn, khô cằn, thân tàn, ma dại. Nghĩ về khổ mà lại thích bị như vậy, nhớ tới là bực mà lại ưa nhớ, nhắc lại làm cho mình bức xúc mà cứ nhắc lại làm chi để cho mình khổ như vậy?

Như vậy Đức Phật gọi đó là tà tư duy, là suy nghĩ bất thiện, không tốt để tự mình thêu đốt, đốt cháy mình, tự mình làm cho mình khổ đau. Chúng ta thấy là tự mình làm cho mình khổ nhiều hơn người ta làm cho mình khổ nhưng mình cứ đổ thừa, nếu không nghĩ tới người đó thì làm sao mình giận? Người đó không có ở đây mà vì mình ngồi nghĩ, nhắc tới, ôn đi ôn lại rồi tự mình làm cho mình khổ mà cứ cầu nguyện “Phật ơi Phật độ cho con, tại sao con khổ quá!” “Đó là vì con tự làm cho con khổ mà con không biết, cứ đổ thừa cho người ta làm cho con khổ!”

Đó là tại vì mình suy nghĩ cái đó, suy nghĩ những cái bực bội, sân hận đó nên Đức Phật nói đó là tà tư duy. Suy nghĩ giận là phải có ác ý, người đó khổ, gặp tai nạn, gặp chuyện gì bất an làm thích thú, khoan khoái trong đó thì đó gọi là hại tư duy. Nhiều khi nói là “Thầy ơi con không có cái này!” Nhưng hãy khoan kết luận sớm, để một khi sân hận, bực bội lên thì mình nên nghe kĩ trong những suy nghĩ của mình lầm thầm bên trong rất nhiều. Bình thường thì mình sẽ không thấy nhưng khi có chuyện thì mình sẽ thấy, bên trong đó bùng dậy, tuôn trào ra, lầm thầm, lầm bầm, suốt ngày bép xép bên trong hoài thì làm cho mình bất an, tâm mình không lắng dịu, an tịnh, bình an được.

Vì vậy, Đức Phật dạy mình thế nào là Chánh Tư Duy? Thế nào là suy nghĩ chân chánh? Thế nào là suy tư đem lại cho mình bình an, nhẹ nhàng, lắng dịu, an tịnh, an vui? Đó là Đức Phật dạy mình ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Đó là ngược lại ba điều đó.

IV. Như lý tác ý

Minh Thành sẽ hướng dẫn cho mọi người một cách tu tuyệt vời, tuyệt diệu và hết sức quan trọng trong cả tạng kinh Nikāya gọi là như lý tác ý.

Như lý tác ý là tác động tâm lý đúng như chân lý. Tác động là mình chủ động giáo dục tâm, dạy dỗ, dẫn dắt, huấn luyện, đào tạo, chỉ dạy tâm mình, bắt nó phải nghe lời. Mình thấy hình ảnh mục đồng chăn trâu không? Phải có dây roi và sợi dây xỏ mũi trâu, nếu không có roi và dây thì nó sẽ đi vào lúa mạ của người ta mà phá, làm hư lúa mạ của người ta. Trong kinh Tương Ưng Bộ Đức Phật cũng dạy người chăn trâu phải cầm cây roi quất con trâu một trận nên thân, làm nó đau điếng, nó nhớ cái đau đó thì sau này khi nó gặp lúa mạ của người ta thì nó sẽ không dám xuống phá hay ăn, làm hư của người ta nữa.

Như vậy, con trâu là những cảm giác, nghĩ tưởng của mình, nên có hình ảnh con trâu từ đen chuyển từ từ sang trắng và cuối cùng là trắng toàn bộ. Đen ví dụ cho tà tư duy, đen là những suy nghĩ tham lam, nóng giận, sân si, hơn thua, tật đố, nhân ngã, bản ngã, tôi ta, mi tớ, đúng sai, hay dở, thị phi, tốt xấu, ganh đua, tranh đua, đó là con trâu đen.

Trâu trắng là ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, tức là khi tâm mình tham muốn thì mình nói với nó “Ngươi đã tham vô lượng, vô biên kiếp rồi. Ngươi dẫn ta đi trong vòng luân hồi sanh tử này không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Ngươi cứ đòi cái này, muốn cái kia, tìm cái nọ, cứ khao khát, thèm muốn, đòi hỏi hoài như vậy không biết mệt, tìm hoài không biết mỏi, không biết chán hay sao? Ngươi đã đi tìm hết sắc này, thanh, hương, vị, xúc này trong trăm ngàn vạn ức vô lượng vô thỉ kiếp rồi mà cứ chạy đi tìm hoài vậy? Thèm khát, đói khổ lắm hay sao? Ngươi ra ngoài kiếm dịch bệnh hay sao? Thôi nên ở nhà, mở pháp lên nghe. Tập thở, ngồi thiền, quán chiếu thân thọ tâm pháp. Cứ chạy hoài để kiếm dịch hay sao?”

Mình rầy la, quở mắng tâm mình nếu như nó suy nghĩ những cái thậm tệ, xấu ác thì mình phải quất nó một trận nên thân. Một trận đau điếng như vậy thì nó mới bị sự răn đe, giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ, quản lý của mình. Như trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật ví dụ có các loại ngựa: Có con ngựa rất hiền thiện, thông minh, chỉ cần thấy bóng roi thôi là chạy, là người huấn luyện chỉ cần cầm cây roi giơ lên thì khi nó thấy cái bóng thôi đã chạy. Đức Phật ví dụ người này chỉ cần nghe tin thôi là mưa bão, lũ lụt, sạt lở, dịch bệnh, khổ đau, chỉ cần nghe tin thôi là người ta tu, giống như thấy bóng roi là ngựa đã chạy ngay.

Loại ngựa thứ hai là đợi quất vào, chạm vào tới thịt rồi mới chạy, thấy bóng thôi chưa chịu chạy. Đó là hạng người nhìn thấy người khác chết, gặp tai nạn, đụng xe hay ung thư, gặp cảnh khổ thì người đó mới chịu tu. Là thấy tận mắt mới chịu tu. Đó là hạng người thứ hai, khi thấy người bị tai nạn, đau khổ, bệnh hoạn, ung thư thì họ mới chịu tu.

Loại thứ ba là phải quất rơi đánh vào đến thịt đau thì mới chịu chạy. Hạng này để ví dụ cho trong gia đình của mình có ông bà, cha mẹ bị bệnh nặng hay qua đời, thì đau khổ như vậy người đó mới chịu tu. Như cây gậy đánh vào đến trong thịt thì mới chịu tu.

Loại cuối cùng là phải đâm đến trong xương, đau thấu xương thì mới chịu chạy. Hạng này ví dụ cho chính bản thân người đó đang nằm trên giường bệnh, gặp tai nạn, thành F0 rồi thì lúc đó mới chịu tu, nhưng có thể không còn kịp nữa. Nếu không là nằm đó gắn máy thở, lấy từng hơi thở như vậy thì tu có kịp không? Đây là hạng cuối cùng Đức Phật nói về lấy cây gậy, roi đánh, thúc, đâm đến thấu xương thì con ngựa này mới chịu chạy, phóng nhanh.

Mình thuộc hạng nào? Nghe, thấy, người thân trong gia đình gặp tai nạn, khổ sở qua đời hay chính tự thân mình bị thì lúc đó mình mới chịu tu? Trong bốn hạng đó thì chúng ta hãy tự xét xem mình thuộc hạng nào. Trong hoàn cảnh này mình không tu thì đến khi nào mình mới tu?

Trong đại thảm họa đau khổ toàn cầu như vậy mà mình không thấy khổ thì đến khi nào mình mới thấy khổ? Trong bao nhiêu cảnh sanh ly tử biệt, tan thương dâu bể, những dòng nước mắt, những giọt lệ, bao nhiêu mạng người đã ra đi mà mình còn chưa thấy, chưa thấm thía được sự sanh ly tử biệt, sự đau khổ của cuộc đời này thì đến khi nào mình mới thấm thía được?

Vậy nên mình suy nghĩ về cái khổ để mình giảm bớt tham lại, nên lo tu hơn, không chỉ người già mà người trẻ cũng vậy vì giờ thì trẻ hay già cũng sẽ chết. Mình nên nhắc tâm mình: “Là khổ, nên lo tu. Tham hoài, muốn hoài, đòi hoài, thèm hoài, khát hoài, chạy hoài, tìm hoài” Phải bắt nó nghe pháp, bắt nó phải ngồi thiền, thực tập, lạy sám hối, phải biết bố thí, cúng dường, san sẻ, sớt chia cho những người nghèo khổ. Bắt nó phải dẹp bỏ tâm sân hận, bực bội, bức xúc, cộc cằn, cau có, hơn thua đối với những người thân thương nhất trong gia đình như cha mẹ, anh chị em, chồng mình, con mình.

Vì vậy, phải tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương. Phải tập kêu cảm thọ “Hãy an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, đừng quậy phá.” Nó đang khổ sở, bức xúc quá thì nếu bức thêm thì sẽ đứt. Vậy nên phải tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào, tu ra sao để tâm dễ nghe, dễ bảo, dễ thương, dễ sống, dễ hòa đồng với mọi người thì đó mới là tu.

Nếu tu mà cứ gây sự hoài, gia đình có hai vợ chồng mà một ngày cãi nhau mấy lần? Vậy nên phải tập ly sân tư duy, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tâm mình, kêu nó phải nuôi dưỡng, tưới tẩm những cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào, từ ái, phải nhìn nhau bằng ánh nhìn thiện cảm. Suy nghĩ bằng tình thương, nói lời thương, làm bằng những hành động thương, nhìn bằng con mắt thương để nhìn xung quanh những hoàn cảnh đau khổ, nhìn cả cuộc đời này, cả thế gian này trong biển khổ.

Để giảm bớt tham, sân, si, giảm bớt bản ngã, ta đây, sự kiêu căng, cho ta là hay, là giỏi, là hơn, là nó đi tới đâu có chuyện tới đó. Trong nhà có hai vợ chồng cũng không yên vì bản ngã của ai cũng quá lớn. Vì vậy nên mình tác ý để tu và mình huấn luyện, nhắc nhở tâm mình “Bản ngã này hãy hạ xuống, thấp xuống, khiêm hạ, khiêm cung, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm nhã. Đừng vênh váo, kiêu căng, ta đây, bản ngã. Khổ lắm!”

Chúng ta thấy như bông lúa còn sống thì nó dựng đứng lên, nhưng khi chín rồi thì oằn xuống. Cũng như vậy, người tu hành là người phải hạ mình xuống, cúi mình xuống, hạ thấp xuống, mình càng hạ thấp cái tôi của mình xuống chừng nào thì mình càng là người trí tuệ chừng đó. Mình càng hạ thấp bản ngã của mình xuống chừng nào thì mình càng là người thấu hiểu chừng đó. Mình càng hạ thấp cái ta của mình xuống nhiều chừng nào thì mình càng trí tuệ nhiều chừng đó, càng có lòng thương chừng đó, càng có sự tu tập sâu sắc chừng đó.

Nên ngày nào bản ngã chưa gục ngã thì ngày đó mình còn nhiều khổ đau, ngày nào bản ngã chưa cúi đầu thì ngày đó mình còn nhiều tai họa. Ngày nào bản ngã chưa diệt tận thì ngày đó mình còn nhiều bất an, khổ sầu. Vậy nên mình phải tác ý, huấn luyện là phải hạ thấp bản ngã xuống, lúc nào cũng quán tưởng, như lúc mình lạy Phật – ngũ thể đầu địa – là đầu, đầu gối và hai khuỷu tay của mình rạp xuống gọi là ngũ thể đầu địa (năm góc sát đất).

Khi mình lạy Phật như vậy thì đối với cha mẹ mình thì mình cũng nghĩ là mình nên cúi rạp như vậy, đối với ông bà, cô bác cũng nhìn thấy hình ảnh như vậy. Đối với mọi người cũng nhìn thấy hình ảnh như mình đang chắp tay lạy như vậy để hạ thấp cái tôi, cái ta, hơn thua, ganh đua, ganh tị, đố kị, nguyên cuộc đời này không có chuyện gì hơn mà cứ đi theo chuyện ganh đua, hơn thua, ta đây, cau có, hốc hách trên cuộc đời này thì để được cái gì? Chỉ được thêm hơn thua, sân hận, khổ sầu, bất an, lo lắng, nước mắt.

Vậy nên muốn bình an thì phải ly dục tư duy, bất hại tư duy, vô sân tư duy, vô ngã tư duy, hạ thấp cái tôi xuống, hạ xuống thật nhiều, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, khiêm nhã, khiêm tốn, khiêm nhường, như vậy thì vợ chồng an ổn, con cái, anh em hòa thuận, trong gia đình mình càng thương nhau nhiều hơn. Nhất là trong giai đoạn này đã rất khổ rồi thì mình còn hành tội, hành xác, hành hạ nhau hay sao?

“Xin đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm đắng cay, khổ ải cho kiếp người của nhau” Mình phải dạy tâm của mình như vậy, “Khổ như vậy chưa đủ nữa hay sao? Lo lắng như vậy chưa vừa nữa hay sao? Bao nhiêu chết chóc đầy rẫy như vậy mà chưa vừa còn muốn kiếm chuyện? Nếu muốn bình an thì hãy im lặng.” Nói với những lời bép xép, thỏ thẻ trong tâm mình là “Hãy im lặng, ngậm miệng lại! Hãy an tịnh, lắng dịu! Đừng bép xép, thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than hoài! Ta mệt mỏi rồi, hãy an tịnh, lắng dịu đi!”

Mình giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện, dẫn dắt tâm mình như vậy mới gọi là tu tâm. Còn nếu mình không biết được nó chỉ là hành uẩn, chỉ là suy tư, pháp duyên sanh mà mình cứ “Tôi nghĩ, tôi tính, tôi hơn, tôi hay, tôi giỏi, tôi tài! Ông thì biết gì!” thì dẫn tới cãi nhau, vợ chồng bất an, anh em, huynh đệ tương tàn. Cô bác, xóm giềng bệnh hoạn bất an như vậy mà cứ có chuyện, giận hờn nhau.

Như vậy là không biết tu, giờ nếu biết tu là lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ, nghe rồi thì dẫn chúng đến hiền tâm, nghe rồi dẫn chúng đến thiện tâm, từ tâm. Nghe để biết đó là cái gì, xem đó là cảm giác gì đây, có tham, sân, si hay không, nhìn vào hình bóng bên trong xem nó có xúi giục mình hay không. Xúi giục mình tranh gây gổ, đánh nhau, nói thị phi không? Nhiều khi đi không được nhưng lấy điện thoại ra cũng có thể thị phi, phải quấy nữa.

Khi đó kêu gọi nó “Hãy im lại, dừng lại ngay. Đừng quậy phá!” Dạy tâm mình như giữ trẻ, quản lý tâm mình như bảo mẫu, dẫn dắt, dạy dỗ, huấn luyện tâm, giáo dục tâm, tu dưỡng tâm. Đó gọi là tu tâm, đó là trí huệ của Đức Phật truyền trao cho chúng ta. Là trí tuệ về hành uẩn, sự thấy biết về tổ hợp suy tư, nghĩ ngợi trong tâm của mình, tổ hợp này là pháp duyên sanh, do tiếp xúc nên sanh khởi, cũng do tiếp xúc nên hoại diệt.

Tổ hợp này có vị ngọt, sự nguy hiểm và có con đường thoát ra. Vị ngọt của nó là những gì nó ham thích, khoan khoái, coi chừng mật ngọt chết ruồi, nhưu nhận được tin nhắn báo đã trúng thưởng, nếu ham thích gửi tin nhắn lại là mất thông tin tài khoản thì đó là mật ngọt chết ruồi. Phải thấy được sự nguy hiểm của nó, đừng để cho nó bị gạt, dụ dỗ, dẫn dắt, thoát ra khỏi nó bằng trí tuệ như lý tác ý, tác động tâm ý để biết rõ cuộc đời này là vô thường, là đau khổ, là bất an, trống rỗng, trống không. “Bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không, là cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không.”

Chúng ta cần thuộc những câu trên để tác ý, quán chiếu, nhắc nhở tâm mình để cho nó giảm bớt tham, sân, si, bản ngã, ta đây, hơn thua, tranh chấp, tranh đấu. Giảm bớt được những điều đó là mình giảm được khổ, dừng lại được những cái đó là mình dừng khổ. Và dừng khổ, bớt khổ, hết khổ là mình được vui, hạnh phúc, an lạc.

Chúng ta thấy thiết thực rõ ràng, đến để thấy, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu.

Như vậy, hôm nay Minh Thành đã chia sẻ cho tất cả chư tăng ni và quý Phật tử trí tuệ về suy tư, mong rằng quý vị cảm nhận được những gì Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya và có được Chánh Tư Duy, suy nghĩ đúng đắn để mình giảm khổ, bớt khổ, hết khổ và có được sự an vui ngay trong hiện tại và tương lai.

Chúc quý vị một đêm an lành trong tâm từ bi chánh niệm.