Tương Ưng Bà La Môn 3 - Cày Ruộng Bất Tử
Kinh Nikāya Giảng Giải
TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN 3
CÀY RUỘNG BẤT TỬ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cày ruộng trong Giáo Pháp PAGEREF _Toc113977252 \h 1
II. Tàm quý PAGEREF _Toc113977253 \h 4
III. Chánh niệm PAGEREF _Toc113977254 \h 5
IV. Bậc Thánh Dự Lưu PAGEREF _Toc113977255 \h 8
V. Người nông dân tối thượng PAGEREF _Toc113977256 \h 10
VI. Gieo hạt PAGEREF _Toc113977257 \h 11
I. Cày ruộng trong Giáo Pháp
Chúng ta tiếp tục học về Tương Ưng Bà-la-môn, phẩm Cư sĩ, bài kinh Cày ruộng.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja đang phân phát đồ ăn.
Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.
Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?
-- Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn.
-- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: 'Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn'.
Rồi Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ông nói là nông phu,
Ta không thấy Ông cày,
Người nông phu được hỏi,
Hãy lên tiếng trả lời,
Sao chúng tôi biết được,
Ông thật sự có cày?" (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)
Lúc đó Thế Tôn ở Nam Sơn, nước Ma-kiệt-đà vào đúng lúc đang gieo mạ, ông Bà-la-môn Kasi soạn sẵn năm trăm lưỡi cày để chuẩn bị gieo mạ, cấy mạ. Thế Tôn đi khất thực ở nông trường đó, ông Bà-la-môn đang phân phát đồ ăn thì Thế Tôn đi đến ôm bình bát đứng một bên, ông Kasi thấy Thế Tôn khất thực thì ông nói bản thân ông phải cày cấy, gieo mạ mới có ăn, "có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho", còn ngài có làm không mà ăn, chúng tôi dùng mồ hôi, dùng đôi tay, dùng công sức làm vất vả mới có ăn, còn ngài có gieo, có cấy, có trồng, có gặt không mà cũng muốn ăn. Thế Tôn trả lời ngài cũng có cày, cũng có gieo mạ và sau đó ngài ăn, ông Kasi lại nói ông không thấy lưỡi cày, không thấy cái ách của Thế Tôn, không thấy cây gậy để đánh con trâu bò. Vị bà-la-môn này nói bài kệ tóm tắt đại ý nếu Thế Tôn nói mình có cày thì hãy lên tiếng vì làm sao bọn họ biết được chính xác Thế Tôn có cày hay không. Sau đó Thế Tôn đáp lại cũng bằng một bài kệ:
"(Thế Tôn):
Lòng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là mưa móc,
Trí tuệ đối với Ta,
Là cày và ách mang,
Tàm quý là cán cày,
Ý căn là dây cột,
Chánh niệm đối với Ta,
Là lưỡi cày, gậy đâm.
Thân hành được hộ trì,
Khẩu hành được hộ trì
Ðối với các món ăn,
Bụng Ta dùng vừa phải,
Ta nhổ lên tà vạy,
Với chơn lý sự thật,
Hoan hỉ trong Niết-bàn
Là giải thoát của Ta.
Tinh tấn đối với Ta,
Là khả năng mang ách,
Ðưa Ta tiến dần đến,
An ổn khỏi ách nạn,
Ði đến, không trở lui,
Chỗ Ta đi, không sầu.
Như vậy, cày ruộng này,
Ðưa đến quả bất tử,
Sau khi cày cày này,
Mọi đau khổ được thoát".
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)
Hạt giống của Thế Tôn chính là lòng tin, mưa móc là khổ hạnh, là những cái hạnh khó làm, những sự chịu khó, chịu khổ, nói dễ hiểu là ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm, nhịn sắc nhịn dục, ở chỗ vắng vẻ ít người, không có niềm vui rời xa phố thị, thành đô náo nhiệt, ăn cơm rau giản dị, đơn sơ, buồn, đói, lạnh, phải chiến đấu với những cảm thọ nóng bức, bực bội, bức xúc, đó chính là khổ hạnh để hạt giống lòng tin được tăng trưởng.
Khổ hạnh là như vậy chứ không phải như trong phim là nhịn đói, đứng một chân nhìn mặt trời hay là ngâm mình dưới nước, đó là khổ hạnh của đạo khác, còn ở đây Đức Phật nói khổ hạnh là mưa móc, nghĩa là những sự khó khăn, gian khổ, nhẫn nhại, chịu khó mà mình chịu thì đó là mưa móc để hạt giống tín tâm tam bảo được tăng trưởng lớn mạnh. Mình ngồi tu bốn tiếng liên tiếp cũng là khổ hạnh, lạy pháp bảo, ngồi thiền, xả thiền rồi lại nghe pháp, pháp đàm kéo dài bốn năm tiếng thì đó là khổ hạnh và cũng là mưa móc, những giọt sương để ngấm vào hạt giống của lòng tin đối với sự chứng ngộ của Phật, đối với Tăng, đối với giới. Khi có cái cày, cái ách bằng trí tuệ mới xới tung được mảnh đất khô cằn, cứng cỏi của vô minh, chỉ có vậy mới làm cho mảnh đất khô cằn của vô minh, chấp thủ, bản ngã vỡ ra, được hất lên cho tơi xốp thì mới có thể cấy mạ, gieo hạt giống, mưa móc xuống, nước vào cho cây phát triển.
II. Tàm quý
Đối với Thế Tôn cái cán cày chính là tàm quý, người tu mà không có tàm quý thì tu không bao giờ tiến bộ, sự tàm quý này thường xuyên có mặt thì người đó mới tu tiến, lúc nào nhìn cũng thấy xấu hổ vì còn dục tham, sân si, bản ngã. Nhờ cán cày đó mới làm cho trí huệ là cái cày, cái ách hoạt động được, nhờ sự xấu hổ đối với ác bất thiện pháp, còn ham vui, ham chơi, còn buông lung phóng dật, tu biết bao năm mà cảm thọ vẫn trơ ra, khi thấy vậy thì xấu hổ, nhục nhã, lo lắng cho sự tu tập của mình. Chính sự ưu tu, lo lắng, xấu hổ, sợ hãi là chất xúc tác làm mình tiến tới để thành tựu trí tuệ cho nên cái đó chính là cán cày, không có tàm quý thì không bao giờ tiến bộ được cho nên Minh Thành hay nói "từ nhục nhã mới sanh Thánh quả", đó là bí quyết, là định lý tu tập, nhục nhã chính là tàm quý, không có lo lắng thì không thể tăng thượng giới, định, tuệ, không thấy sợ hãi các ác bất thiện pháp thì những thứ này vẫn hoạt động mạnh mẽ, bành trướng, khi nào thấy lo lắng, sợ hãi thì các ác bất thiện pháp mới bắt đầu giảm thiểu.
Đứa con mới 19 tuổi không có tiền trả phòng trọ vì dịch bệnh nên rủ bạn về phòng trọ giết chết mẹ ruột mình lấy bông tai bán được 3,8 triệu, bị tòa tuyên án tử hình còn đứa bạn bị 12 năm tù. Người kia lấy cái tô của người này ăn rồi không rửa, hai người cãi lộn đâm nhau chết trong bệnh viện. Không thể tin được có những chuyện như vậy xảy ra, chỉ có việc ăn không rửa mà xảy ra án mạng, đọc những tin này thật lo lắng và sợ hãi đối với ác pháp đang tràn ngập cùng khắp mọi nơi, thật sự là run sợ, hãi hùng, ăn xong không rửa đâm chết người, đứa con 19 tuổi không có tiền trả phòng trọ thì rủ bạn về phòng giết chết mẹ mình, như vậy thì còn gì là đạo đức, luân lý của con người nữa nhưng những chuyện như vậy lại xảy ra nhan nhản hằng ngày.
Cái tham, sân, si mê, bản ngã của con người càng ngày càng khủng khiếp và kinh hãi, nhìn bên ngoài thấy lo lắng, sợ hãi, lúc nào cũng thấy tàm quý, hở chút là sân si, bản ngã cho nên cái pháp tàm quý sanh khởi, an trú, hiện hữu trong tâm càng nhiều thì càng có cơ hội thăng tiến trong pháp, còn khi nào cứ trơ ra, đơ ra, thấy chuyện đó là chuyện bình thường của người ta, không liên hệ đến mình, mình tu vậy cũng được rồi, vậy là không có tàm quý, không có cán cày, những ý niệm xấu, lời nói bất thiện, hành động tạo nghiệp thì phải thấy lo lắng, ưu tư, lấy đó làm đề tài để quán chiếu, làm sanh khởi lên sự lo lắng, sợ hãi, xấu hổ, người không có tàm quý thì tất cả thiện pháp đều sụp đổ, không tăng thượng được.
III. Chánh niệm
Ý căn là sự để ý, chánh niệm là nhớ nghĩ thân, thọ, tâm, pháp. Tức là để ý cảm thọ, để ý những suy nghĩ, hành vi trên thân và để ý oai nghi, hành động, để ý thọ; tưởng; hành. Sự để ý đó là dây cột để cột cái ách, tức là cột được trí tuệ, cột được tàm quý, chỉ có để ý mới thấy lo lắng, sợ hãi, để ý mới thấy sự thật một cách sâu sắc. Khi để ý cái nào thì cái pháp đó mới hiện ra, để ý thấy cái sân nhiều hoặc cái tham nhiều, để ý thì mới thấy sự tàm quý tăng trưởng, để ý mới thấy lòng tin càng lớn mạnh. Chánh niệm đối với ngài là lưỡi cày, gậy đâm để giữ con bò, con trâu đi đúng đường, sự tác ý của chánh niệm để nhắc nhở, la rầy, quở trách, "xuất gia đến nay được bao nhiêu năm rồi? Cha mẹ đã lớn tuổi chưa? Đã thành tựu được cái gì rồi? Dục, tham, ái nhiếp phục đến đâu rồi? Tham, sân, si, bản ngã đã tẩy sạch chưa? Nếu chưa sao cứ mãi buông lơi, không biết tinh cần, tinh tấn, hổ thẹn, tàm quý gì hết?", mình tác ý như vậy thì đó là cây gậy đánh con bò, con trâu bước tới hoặc giữ cho đi đúng đường, ở lâu trong chùa tu một thời gian rồi chỉ muốn làm theo ý mình, mất phương hướng, Đức Thế Tôn gọi là đặt tâm sai hướng.
Sáng ngủ dậy phải lập tức tác ý, "ngày hôm nay tu tập thiện pháp gì?", "hôm nay thành tựu thêm trí huệ gì mới chưa?", "có nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy các cảm thọ, căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu không?", người buôn bán cuối ngày phải tính sổ lời lỗ bao nhiêu, mình tu phải tính còn hơn nữa, trong một ngày thành tựu được đức hạnh gì, tu tập được trí huệ, thiện pháp gì chứ không được sống lững lờ, trơ trơ ra, không thấy tăng trưởng, tiến bộ gì, hỏi đến không biết cái gì thì đó là vô minh, cho nên việc trình pháp rất quan trọng, người trình pháp minh bạch là người thấy ngũ uẩn tương đối rõ ràng mới trình được, nếu không sẽ nói sai trọng tâm, hỏi một đằng trả lời một nẻo.
Sự trình pháp là cả một nghệ thuật chánh niệm, còn cảm nhận tu học lại khác nữa, tâm đắc tu học là khác, tóm tắt ý bài kinh là khác, yêu cầu trình pháp ngũ uẩn vận hành như thế nào trong lúc ngồi thiền thì hãy nói ngay lúc ngồi thiền thôi, người trình pháp nói rõ ràng thọ; tưởng; hành ngay đó thì đó chính là chánh niệm. Cái tu chánh niệm của mình là thấy rõ sự thật ngay trong giây phút hiện tại, ngũ uẩn lúc đó đang như thế nào, ngay lúc này thấy rõ thì lát sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy, còn mình bỏ hiện tại cứ tưởng tưởng trong tương lai mình sẽ như vậy thì đó chỉ là sự ảo tưởng, ngay giờ phút này mới chính là hiện thực.
Nếu bây giờ có suy nghĩ không muốn nghe pháp nữa mà muốn ngồi thiền thì đó là không tùy duyên thuận pháp, cái pháp đang diễn ra như vậy thì mình hãy chánh niệm, đừng để bị phân tâm suy nghĩ khác chen vào là tốt rồi, còn mình muốn chối bỏ cái này đi tìm cái kia thì đó là tham với sân, hoàn cảnh, nhân duyên như vậy mà mình không muốn chỉ muốn cái khác, có cái khác rồi vẫn chưa chịu mà muốn đổi lại, đứng núi này trông núi nọ rồi cuối cùng bị trò ảo thuật của tâm lừa gạt, Thế Tôn nói thức uẩn là nhà ảo thuật, những hình bóng, suy nghĩ bên trong gạt mình. Trong kinh dùng từ gậy đâm, nghĩa là không những tác ý mà còn phải tác ý mạnh mẽ, quở trách, la rầy để nhức nhối, phải đánh con trâu, con bò chảy máu thì nó mới đi, tâm mình cũng vậy, nói nhẹ nhàng vẫn trơ ra nhưng khi nói mạnh mới có cảm thọ.
Mình thấy nói hộ trì thân hành, khẩu hành nghe đơn giản nhưng thật sự phải làm suốt đời. Nhiều khi nghĩ tu thân, miệng, ý, ba nghiệp này cư sĩ làm cũng được nhưng ở trong chùa suốt đời làm vẫn không xong. Phải giữ gìn cử chỉ, oai nghi và lời nói, việc hoan hỉ trong Niết-bàn nghe đơn giản nhưng không phải dễ dàng, vui thích với tâm lặng lẽ, vui thích với tâm hoàn toàn tịch tịnh, thấy như vậy nhưng rất khó vì đa số không ai thích buồn tẻ. Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, người ta không thích điều này nên người ta là phàm phu, còn nếu thích Niết-bàn đã bước qua hàng Thánh nhân cho nên điều quan trọng là có yêu thích Niết-bàn hay không, tức là yêu thích thân tâm tĩnh lặng, tịch tĩnh, sự yêu thích này phải tu học vì mình chưa ý thức được Niết-bàn lạc tối thượng mà cứ yêu thích dục lạc, yêu thích việc vui chơi, đùa giỡn, thích dao động trong năm dục trưởng dưỡng, nếu không có dục nào thì lại không muốn nhưng người tu phải ưa thích ly dục, tập cho mình có cái thích đó, yêu thích sự dập tắt chứ không yêu thích sự bùng cháy.
Mỗi khi tác ý hạ gục được bản ngã thì thấy vui, mỗi khi tác ý chiến thắng được cơn tham muốn là mình thích, mỗi khi đánh tan được cảm giác trì trệ, si ám, hôn trầm là mình sung sướng, ưa thích những cái này bị diệt.
"Ðệ tử bậc chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục chư thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt".
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 187)
Ái diệt chính là Niết-bàn, ngày xưa học không hiểu nên thấy chữ diệt đế là tránh né vì diệt hết thì còn gì nữa nhưng bây giờ mới thấy nó tuyệt vời, chữ diệt đó là diệt tận tham, sân, si, vô minh, dục, ái, bản ngã, sạch hết những thứ này thì mới là bất tử, còn những thứ này mới còn đi tìm kiếm, còn chạy chỗ này chỗ kia, còn bị nó dẫn dắt, sai khiến, trói cột, hết những thứ này thì không còn bị dẫn đi nữa, vậy là tự do tự tại. Khi con bò, con trâu bị mang ách nào sẽ bị khó chịu cho nên Đức Phật nói tinh tấn là khả năng mang ách, lúc đầu ngồi thiền không hề dễ chịu, tu một lần bốn tiếng không hề dễ chịu thì đó giống như mang ách nhưng phải tinh tấn nhiếp phục những cảm thọ mệt mỏi, buồn chán, nhiếp phục hình bóng muốn nằm ngủ, nếu không nhiếp phục được thì đang ngồi thiền nhưng lại tưởng ra hình ảnh nằm quấn chăn lại ngủ, vậy là không lâu sau ngủ gục luôn.
Tinh tấn bên ngoài là làm công quả, ngồi thiền, nghe pháp, tụng kinh, tinh tấn bên trong là nhiếp phục các ác bất thiện pháp, tẩy sạch tham, sân, si, hộ trì thân, khẩu, ý, sáu căn, tinh tấn để an trú trong thân, thọ, tâm, pháp, tinh tấn giữ các thiện pháp mình đã có, duy trì pháp quán, tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ. Ngày nào mình học cũng nhắc đi nhắc lại tâm thương, tâm từ, hễ nói đến tâm từ là toàn thân chấn động, cảm thọ dâng lên thấm đượm, đó là mình giữ tâm từ đừng để cho mất, còn nói trải tâm từ mà cứ ngồi trơ ra không thấy cảm thọ của tâm từ gì cả, không thấy thương gì cả là đã bị mất đi cảm thọ đó, dù không cuồn cuộn trào dâng như lúc ban đầu nhưng ít nhất cảm thọ của tâm từ phải có, cảm thọ đó lúc ban đầu dâng lên sôi nổi, mạnh mẽ nhưng qua ngày nó lắng dịu, ổn định nhưng không có nghĩa bị mất đi, không được để cho cảm thọ từ bi, thương xót bị mất đi, cảm thọ hoan hỉ trong sự tu học càng không được để cho mất.
IV. Bậc Thánh Dự Lưu
Ngài Huyền Trang phát thệ nguyện dù chết cũng phải bước đến trước chứ không đi lùi lại, cuối cùng ngài thành công, khi cố gắng nỗ lực bước vào dòng Dự Lưu thì dòng pháp đó sẽ đưa người về phía trước, gian khổ trong giai đoạn đầu thôi nhưng khi bước được vào dòng pháp rồi là tự động dòng chảy Thánh pháp sẽ đưa mình ra đại dương giải thoát.
"-- Này các Tỳ-kheo, ví như một hồ sen 50 do tuần bề dài, 50 do tuần bề rộng và 50 do tuần bề sâu, nước đầy tràn khiến con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ sen ấy một người lấy nước lên với đầu ngọn cỏ. Các Ông nghĩ thế nào? Này các Tỳ-kheo, cái nào nhiều hơn, nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ, hay nước của hồ sen?
-- Chính cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là nước của hồ sen; ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ, không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh nước của hồ sen với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với bậc Thánh đệ tử đã chứng được kiến cụ túc, đối với người đã chứng được minh kiến, cái này là nhiều hơn, tức là khổ đã được đoạn tận, đã được diệt tận; ít hơn là khổ còn lại. Không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh với khổ uẩn trước đã được đoạn tận, đã được diệt tận, tức là bảy lần nhiều hơn".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương II. Tương Ưng Minh Kiến, II. Hồ Sen)
Như vậy mình phải cố gắng tham dự vào dòng chảy trí tuệ này là thành công, lúc đó không phải tạm biệt hồng trần tục lụy nữa mà là vĩnh biệt luôn, không trở lại nữa, vì thế chỉ cần thành tựu minh kiến là cái thấy rõ ngũ uẩn tường tận, thấu đáo "đây là khổ", thuần nhất trong ngũ uẩn không còn một chút nào là vui, cái thấy biết xác quyết tuyệt đối hoàn toàn là thành công, còn giờ lúc thì thấy khổ lúc lại thấy vui thì cái vui đó là nguyên nhân để mình còn ở lại, chưa thể Nhập Lưu được. Cho đến khi nào tất cả mọi hình thể, tất cả mọi cảm giác, bóng dáng trong tâm, suy nghĩ và nhận thức đều là một đống khổ lớn, thuần khổ, vị ngọt của nó cũng là khổ chứ đừng nói gì sự nguy hại thì lúc đó sự xuất ly được chín muồi, đẩy mình thoát ra, cho nên Thế Tôn mới nói Niết-bàn là không có sầu khổ.
"Rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnh
Nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm".
(Lý Bạch)
Phải chăng "nhất túy có thể giải được thiên sầu", xin thưa là không thể. "nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm", say mãi rồi cũng phải tỉnh, khi say thì quên hết tất cả. Tỉnh lại rồi liệu có quên được không, chắc chắn là không, rồi nỗi buồn chồng chất nỗi buồn, có khi rượu vào lời ra lại gây thêm chuyện phiền hà. Đức Phật nói chỗ ngài đi là không có sầu vì Thánh đạo là vô sầu.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu'... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: 'Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn".
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
V. Người nông dân tối thượng
Ngài dùng các dụng cụ để trở thành người nông dân tối thượng, cày xong là hết khổ.
"-- Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử.
(Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chơn thật đối với Pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường.
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!".
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)
Thế Tôn không nhận thức ăn vì tâm đầu tiên của vị này là không cung kính, người này nghĩ có làm mới có ăn, cày cấy đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có lúa gạo còn Thế Tôn không làm mà muốn có ăn, cho nên Thế Tôn mới nói bài kệ giải thích cho vị này hiểu. Sau khi nói kệ thì người này nghe hay và có lý thì người này nói Thế Tôn hãy ăn đi nhưng Thế Tôn từ chối, Thế Tôn nói pháp không phải để được người khác cúng dường, không phải nói pháp vì miếng ăn, Thế Tôn không giận nhưng cái pháp là như vậy, không cung kính nên ngài không nhận. Nếu ngài nói pháp rồi nhận cúng dường thì giống như một sự cho nhận, như vậy sự tôn kính pháp của người ta sẽ không có. Nghe Đức Phật nói bài kệ trên thì vị Bà-la-môn này xúc động tỏ ý cung kính và mong muốn quy y thành đệ tử Đức Phật suốt đời. Pháp quy y ngày xưa hay ở chỗ làm người ta cảm nhận được, làm người ta quý trọng pháp, người ta thấy đây là đáng tôn kính, đáng tu học nên người ta quy y chứ không có kêu gọi.
VI. Gieo hạt
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya.
Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát của Thế Tôn.
Lần thứ hai Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya...
Lần thứ ba, Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát Thế Tôn và nói với Thế Tôn:
- Tham lam là Sa-môn Gotama, đến đi đến lại nhiều lần!
(Thế Tôn):
Nhiều lần và nhiều lần,
Chúng gieo vãi hạt giống.
Nhiều lần và nhiều lần,
Trời mưa đi, mưa lại.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người nông phu cày ruộng.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lúa gạo đến quốc độ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Hành khất lại xin ăn.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ lại bố thí.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ sau khi cho.
Nhiều lần và nhiều lần,
Ðược đi đến thiên giới.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người làm sữa vắt sữa,
Nhiều lần và nhiều lần,
Bò con tìm bò mẹ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa.
Họ được đường giải thoát,
Không đưa đến tái sanh.
Bậc đại trí, đại tuệ,
Không sanh đi, sanh lại.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Udaya bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!".
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, II. Udaya)
Đức Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm bát đến chỗ của vị Udaya này khất thực liên tục ba ngày. Đến ngày thứ ba vị Udaya này nói Sa-môn Gotama tham lam vì cứ đến khất thực liên tục, Thế Tôn mới nói hạt giống phải gieo nhiều lần thì mới thu hoạch được nhiều, trời mưa đi mưa lại nhiều lần thì cây cối mới xanh tươi phát triển, nghĩa là Đức Phật đang giải thích việc nhiều lần này là tốt lành chứ không phải nhiều lần nghĩa là sanh tử luân hồi nhiều lần nếu không cúng dường cho Đức Phật. Do cày ruộng nhiều lần mới có lúa có gạo, như vậy phải gieo, phải gặt, phải có mưa thấm nhuần rất nhiều thì lúa gạo mới có cho quốc độ.
Trong bài kệ này Đức Phật đặt mình là người ăn xin chứ ngài không nói mình là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không cung kính ngài là có tội mà ngài nói bản thân mình là kẻ hành khất ăn xin, điều này thể hiện tâm từ bi lớn lao của Đức Phật. Nhiều lần người hành khất này đến ăn xin, rồi thí chủ cũng cho nhiều lần, cứ nhiều lần như vậy thì thí chủ được sanh lên cõi trời, như vậy nhiều lần là tốt, ở đây Đức Phật giải thích nhiều lần là tốt vì vị Udaya này hỏi sao Đức Phật cứ đến ăn xin hoài liên tục ba ngày, người vắt sữa cũng phải vắt nhiều lần mới có sữa. Ở ý trước thì nhiều lần là tốt, nhiều lần gieo mạ cấy cày thì gạo lúa mới sung túc, đó là pháp hữu vi, pháp phước báo của bố thí nhưng tiến sâu hơn là bước qua pháp vô vi.
"Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa".
Ở ý trên là tán thán nghiệp trắng nhưng đến đoạn này là nói lên hiểm họa của luân hồi, dù nghiệp trắng hay nghiệp đen thì cũng ở trong luân hồi, phải thoát ra tất cả nghiệp. Chỉ có người nào thấy con đường giải thoát mới không đưa đến tái sanh, người đó là bậc đại trí đại tuệ thì mới không sanh đi sanh lại. Vị Bà-la-môn này nghe như vậy thì xúc động, xin quy y với Thế Tôn làm cư sĩ, trọn đời quy ngưỡng.
Qua bài kinh này chúng ta thấy rằng lúc đầu vị gia chủ chê trách Thế Tôn tại sao lại đến khất thực nhiều lần, đoạn đầu Đức Phật giải thích nhiều lần là tốt, mưa nhiều là tốt cho cây cối, gieo mạ nhiều lần mới có lúa gạo cung cấp cho cả nước, người ăn xin đi đến nhiều lần thì người thí chủ mới có nhiều cơ hội làm phước bố thí, thí chủ sẽ được lợi lạc sanh thiên giới nhiều lần khi cúng dường nhiều lần cho Đức Phật, chỉ cúng cho một vị Bích-chi Phật thôi đã được sanh thiên giới bảy lần còn đằng này cúng cho vị Chánh Đẳng Chánh Giác đến ba lần thì phước báo còn lớn đến dường nào, nhưng Đức Phật lại không tự xưng ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà ngài chỉ nói mình là người ăn xin, còn người cho là thí chủ, ngài đến nhiều lần sẽ tạo phước cho vị thí chủ, được sanh thiên giới nhiều lần.
Tiến sâu hơn một bước thì Đức Phật nói chúng sanh nhiều lần mệt mỏi và đau khổ vì không biết tu tập, không biết làm phước, bố thí, kẻ ngu đi vào trong bào thai rồi sanh tử, sống chết liên tục, mộ phần ngày một lớn lên, chỉ có bậc đại trí đại tuệ thấy được con đường thoát ra thì họ mới không sanh đi sanh lại, còn chúng sanh là sanh đi sanh lại trong vòng sanh tử luân hồi, vị Bà-la-môn này xúc động, cảm nhận được pháp và xin quy y với Đức Phật, từ nay cho đến hơi tàn đều trọn đời quy ngưỡng với tôn giả Gotama.
Bây giờ mình biết thì mình quỳ lạy, tôn kính Thế Tôn nhưng ngày xưa có mấy người biết được ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, ngày xưa bên Ấn Độ toàn là đạo Bà-la-môn, có rất ít người đi theo Phật, thời gian sau đạo Phật cũng diệt vong tại Ấn Độ cho nên người ta nhìn Thế Tôn chỉ thấy một vị thầy tu trọc đầu như bao người khác, chỉ có người nào tu học, nghe pháp, đã từng tiếp xúc, gặp được Thế Tôn thì mới cảm nhận được, vì thế sau khi vị Bà-la-môn này nghe Thế Tôn thuyết pháp mới cảm nhận được đây là người trí tuệ, bậc đức độ, đúng như lời người ta đồn về ngài, thời đó đạo Bà-la-môn rất lớn mạnh vậy mà có những người sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp là bỏ đạo để đi theo ngài thì đó là đại sự chứ không đơn giản, hiện tại bây giờ có người ở đạo khác bỏ đạo đó để đi theo đạo Phật đã là một sự gian truân, gia đình khó chấp nhận thì huống hồ gì thời đó, đạo Phật mới nhen nhúm, vị tổ sư đạo Phật còn non trẻ vậy mà người ta bỏ cái đạo ngàn năm của người ta để đi theo một đạo mới toanh. Bài kinh viết rất ngắn gọn nhưng mình phải hiểu trong đó là cả một sự kiện, cả một chuyện lớn khi bỏ đạo Bà-la-môn ngàn năm để đi theo đạo Phật còn rất mới mẻ.
Mình đọc những bài kinh này giống như đang thân lâm kì cảnh, nghĩ là giống như mình đang tận mắt chứng kiến câu chuyện đang diễn ra, thấy Đức Phật đang rất gần mình, đang ở trước mắt mình, những sự kiện thời xưa đang hiện ra ngay trước mắt mình. Vậy mà ngày hôm nay người ta biến Đức Phật giống như một vị thần, đi đến đâu là hào quang tỏa ra đến đó, có ánh sáng chiếu tỏa rạng trong khi kinh điển ghi lại ngài đi ăn xin bị người ta khinh thường, tôi làm mới có ăn còn ông không làm mà cứ đến ăn xin. Nếu là mình đi ăn xin mà bị người ta nói như vậy thì mình sẽ như thế nào? Vậy mà ngài là một thái tử, bỏ hết tất cả để trở thành một người hành khất, mình có dám bỏ tất cả để làm người hành khất không, ngày nào cũng đi ăn xin, người ta cho gì ăn nấy không được đòi hỏi. Có những ngày Thế Tôn đi khất thực không được ai cho gì cả nên ngài về uống nước lã chứ không phải ngài đi đến đâu là được tung hô vạn tuế đến đó.
Chúng ta lạy vì đức hạnh cao đẹp của ngài chứ không phải lạy để cầu xin ngài ban cho một cái gì đó, học đức hạnh xả bỏ sự giàu sang quyền quý, học đức hạnh là một bậc cữu ngũ chí tôn nhưng từ bỏ tất cả để hạ mình xuống đi khất thực để người ta nói rằng "ngươi là kẻ ăn xin", cầm bình bát đi từ ngã tư này đến ngã tư kia, từ làng này đến làng kia, từ thị trấn này qua thị trấn khác để xin ăn, an trú tâm giống như kẻ ăn xin để không còn vênh váo, ta đây, hãy luôn khắc ghi và nhớ nghĩ mình là kẻ ăn xin, người ta nói nặng nói nhẹ cũng bình thường, người ta cho gì ăn đó chứ không có yêu cầu, đòi hỏi, đó là cái hạnh của bậc Thánh, chỉ có bậc tối thượng nhân mới làm được như vậy, từ chỗ cao nhất trên cuộc đời này hạ xuống tận cùng của xã hội làm kẻ ăn xin. Mình tưởng tượng ra cảnh trong một nông trường có năm trăm người đang ăn uống thì có một ông thầy đầu trọc đi chân dất, ôm bình bát đứng kế bên xin, đó là cảnh thật, người thật, việc thật, còn giờ mình tạc tượng ngài mặt hoa da phấn thì mình phải hiểu đó là sự tôn kính của mình dành cho ngài.
Người xuất gia chúng ta không bao giờ được quên mà phải khắc ghi vào trong tim, trong trí não "ngươi là kẻ ăn xin", đừng bao giờ kiêu căng, ngã mạn, ta đây mà phải nhắc nhở bản thân liên tục "ngươi là kẻ ăn xin", phải hạ thấp cái tôi xuống tận cùng, đánh tan bản ngã ác độc này thì mới diện kiến được Thế Tôn, còn vênh váo, ta đây thì không thể gặp được, vẫn còn cách rất xa ngài, Thế Tôn đã nói mình là kẻ hành khất, còn người là thí chủ, ngài đến nhiều lần để tạo duyên cho thí chủ bố thí, do cái duyên bố thí nhiều lần thì thí chủ sẽ có nhiều lợi ích an lạc dài lâu ở thiên giới cho nên nhiều lần và nhiều lần là tốt cho thí chủ. Nếu mình bị khinh khi, chê bai, hủy nhục là tốt vì đó là cơ hội để mình thấy được tâm, đó là những bài kiểm tra để mình đo được sự tu hành của bản thân đến đâu, những lúc đó là lúc thấy được mình thật sự khi bị hủy nhục, khinh chê. Khi bị nói đến ăn xin hoài thì Thế Tôn vẫn bình thản, không hề tức giận vì bị mất mặt mà ngài nói những bài kệ để giải thích cho người kia tâm phục khẩu phục đến mức bỏ luôn đạo của họ để lạy dưới chân người ăn xin chí cao vô thượng tối tôn, người khất sĩ xuất trần, thánh thiện. Hãy nhớ mình là người ăn xin, mình chẳng là gì trong chùa chiền, không có cái gì là của mình.
"Học đạo trước cần phải học nghèo
Nghèo rồi đạo thể mới được thân
Từ xưa Cổ đức xưng: 'Bần đạo'
Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo".
(Thiền sư Long Nha)
Khi các Phật tử hỏi đất của Minh Thành bao nhiêu mẫu thì Minh Thành cũng khéo léo đưa pháp vào, Minh Thành nói đây là đất của chùa, Minh Thành không có gì cả, mà của chùa là của bá tánh, của trăm họ. Nếu bây giờ hỏi đất bao nhiêu mà mình nói ra bấy nhiêu thì mình đang công nhận đất này của mình, cho nên đây là đất của chùa, luôn nhớ trong lòng mình hai chữ "bần đạo". Muốn học đạo trước hết phải học nghèo, chỉ có học nghèo rồi mới gần với đạo, thái tử bỏ hết cung vàng điện ngọc để làm người hành khất chính là học cái nghèo, nghèo ở đây là ít muốn biết đủ, là viễn ly, rời xa, từ bỏ, là buông xả. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này không phải tôi, không phải của tôi, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này cũng không phải tôi, không phải của tôi, nhãn thức; tỉ thức; thân thức; thiệt thức; ý thức; nhĩ thức không phải tôi, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không có gì cả, không phải tôi, không phải của tôi. Đối với tài sản mình chẳng có gì cả, mình chỉ là kẻ nghèo, mình là bần đạo, bần Tăng, khi đã đạt được đạo rồi thì ba ngàn năm qua biết bao người lạy dưới chân.
Thế Tôn chẳng có gì cả nhưng nhân gian thiên thượng, chư thiên và loài người, tất cả mười ngàn thế giới đều tôn kính và quy ngưỡng nhưng ngài không cần điều này, là do pháp tự nó như thế cho nên lúc nào chúng ta cũng phải nhớ đến từ "khất sĩ", "bần đạo", "kẻ nghèo", "ăn xin". Khi hơn thua sanh khởi thì phải tác ý "mày là đồ ăn xin, có biết xấu hổ, tàm quý không?", tác ý như vậy để bản ngã hiền hòa, khiêm hạ, lắng dịu xuống.
./.
TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN 3
CÀY RUỘNG BẤT TỬ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cày ruộng trong Giáo Pháp PAGEREF _Toc113977252 \h 1
II. Tàm quý PAGEREF _Toc113977253 \h 4
III. Chánh niệm PAGEREF _Toc113977254 \h 5
IV. Bậc Thánh Dự Lưu PAGEREF _Toc113977255 \h 8
V. Người nông dân tối thượng PAGEREF _Toc113977256 \h 10
VI. Gieo hạt PAGEREF _Toc113977257 \h 11
I. Cày ruộng trong Giáo Pháp
Chúng ta tiếp tục học về Tương Ưng Bà-la-môn, phẩm Cư sĩ, bài kinh Cày ruộng.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja đang phân phát đồ ăn.
Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.
Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?
-- Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn.
-- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: 'Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn'.
Rồi Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ông nói là nông phu,
Ta không thấy Ông cày,
Người nông phu được hỏi,
Hãy lên tiếng trả lời,
Sao chúng tôi biết được,
Ông thật sự có cày?" (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)
Lúc đó Thế Tôn ở Nam Sơn, nước Ma-kiệt-đà vào đúng lúc đang gieo mạ, ông Bà-la-môn Kasi soạn sẵn năm trăm lưỡi cày để chuẩn bị gieo mạ, cấy mạ. Thế Tôn đi khất thực ở nông trường đó, ông Bà-la-môn đang phân phát đồ ăn thì Thế Tôn đi đến ôm bình bát đứng một bên, ông Kasi thấy Thế Tôn khất thực thì ông nói bản thân ông phải cày cấy, gieo mạ mới có ăn, "có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho", còn ngài có làm không mà ăn, chúng tôi dùng mồ hôi, dùng đôi tay, dùng công sức làm vất vả mới có ăn, còn ngài có gieo, có cấy, có trồng, có gặt không mà cũng muốn ăn. Thế Tôn trả lời ngài cũng có cày, cũng có gieo mạ và sau đó ngài ăn, ông Kasi lại nói ông không thấy lưỡi cày, không thấy cái ách của Thế Tôn, không thấy cây gậy để đánh con trâu bò. Vị bà-la-môn này nói bài kệ tóm tắt đại ý nếu Thế Tôn nói mình có cày thì hãy lên tiếng vì làm sao bọn họ biết được chính xác Thế Tôn có cày hay không. Sau đó Thế Tôn đáp lại cũng bằng một bài kệ:
"(Thế Tôn):
Lòng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là mưa móc,
Trí tuệ đối với Ta,
Là cày và ách mang,
Tàm quý là cán cày,
Ý căn là dây cột,
Chánh niệm đối với Ta,
Là lưỡi cày, gậy đâm.
Thân hành được hộ trì,
Khẩu hành được hộ trì
Ðối với các món ăn,
Bụng Ta dùng vừa phải,
Ta nhổ lên tà vạy,
Với chơn lý sự thật,
Hoan hỉ trong Niết-bàn
Là giải thoát của Ta.
Tinh tấn đối với Ta,
Là khả năng mang ách,
Ðưa Ta tiến dần đến,
An ổn khỏi ách nạn,
Ði đến, không trở lui,
Chỗ Ta đi, không sầu.
Như vậy, cày ruộng này,
Ðưa đến quả bất tử,
Sau khi cày cày này,
Mọi đau khổ được thoát".
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)
Hạt giống của Thế Tôn chính là lòng tin, mưa móc là khổ hạnh, là những cái hạnh khó làm, những sự chịu khó, chịu khổ, nói dễ hiểu là ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm, nhịn sắc nhịn dục, ở chỗ vắng vẻ ít người, không có niềm vui rời xa phố thị, thành đô náo nhiệt, ăn cơm rau giản dị, đơn sơ, buồn, đói, lạnh, phải chiến đấu với những cảm thọ nóng bức, bực bội, bức xúc, đó chính là khổ hạnh để hạt giống lòng tin được tăng trưởng.
Khổ hạnh là như vậy chứ không phải như trong phim là nhịn đói, đứng một chân nhìn mặt trời hay là ngâm mình dưới nước, đó là khổ hạnh của đạo khác, còn ở đây Đức Phật nói khổ hạnh là mưa móc, nghĩa là những sự khó khăn, gian khổ, nhẫn nhại, chịu khó mà mình chịu thì đó là mưa móc để hạt giống tín tâm tam bảo được tăng trưởng lớn mạnh. Mình ngồi tu bốn tiếng liên tiếp cũng là khổ hạnh, lạy pháp bảo, ngồi thiền, xả thiền rồi lại nghe pháp, pháp đàm kéo dài bốn năm tiếng thì đó là khổ hạnh và cũng là mưa móc, những giọt sương để ngấm vào hạt giống của lòng tin đối với sự chứng ngộ của Phật, đối với Tăng, đối với giới. Khi có cái cày, cái ách bằng trí tuệ mới xới tung được mảnh đất khô cằn, cứng cỏi của vô minh, chỉ có vậy mới làm cho mảnh đất khô cằn của vô minh, chấp thủ, bản ngã vỡ ra, được hất lên cho tơi xốp thì mới có thể cấy mạ, gieo hạt giống, mưa móc xuống, nước vào cho cây phát triển.
II. Tàm quý
Đối với Thế Tôn cái cán cày chính là tàm quý, người tu mà không có tàm quý thì tu không bao giờ tiến bộ, sự tàm quý này thường xuyên có mặt thì người đó mới tu tiến, lúc nào nhìn cũng thấy xấu hổ vì còn dục tham, sân si, bản ngã. Nhờ cán cày đó mới làm cho trí huệ là cái cày, cái ách hoạt động được, nhờ sự xấu hổ đối với ác bất thiện pháp, còn ham vui, ham chơi, còn buông lung phóng dật, tu biết bao năm mà cảm thọ vẫn trơ ra, khi thấy vậy thì xấu hổ, nhục nhã, lo lắng cho sự tu tập của mình. Chính sự ưu tu, lo lắng, xấu hổ, sợ hãi là chất xúc tác làm mình tiến tới để thành tựu trí tuệ cho nên cái đó chính là cán cày, không có tàm quý thì không bao giờ tiến bộ được cho nên Minh Thành hay nói "từ nhục nhã mới sanh Thánh quả", đó là bí quyết, là định lý tu tập, nhục nhã chính là tàm quý, không có lo lắng thì không thể tăng thượng giới, định, tuệ, không thấy sợ hãi các ác bất thiện pháp thì những thứ này vẫn hoạt động mạnh mẽ, bành trướng, khi nào thấy lo lắng, sợ hãi thì các ác bất thiện pháp mới bắt đầu giảm thiểu.
Đứa con mới 19 tuổi không có tiền trả phòng trọ vì dịch bệnh nên rủ bạn về phòng trọ giết chết mẹ ruột mình lấy bông tai bán được 3,8 triệu, bị tòa tuyên án tử hình còn đứa bạn bị 12 năm tù. Người kia lấy cái tô của người này ăn rồi không rửa, hai người cãi lộn đâm nhau chết trong bệnh viện. Không thể tin được có những chuyện như vậy xảy ra, chỉ có việc ăn không rửa mà xảy ra án mạng, đọc những tin này thật lo lắng và sợ hãi đối với ác pháp đang tràn ngập cùng khắp mọi nơi, thật sự là run sợ, hãi hùng, ăn xong không rửa đâm chết người, đứa con 19 tuổi không có tiền trả phòng trọ thì rủ bạn về phòng giết chết mẹ mình, như vậy thì còn gì là đạo đức, luân lý của con người nữa nhưng những chuyện như vậy lại xảy ra nhan nhản hằng ngày.
Cái tham, sân, si mê, bản ngã của con người càng ngày càng khủng khiếp và kinh hãi, nhìn bên ngoài thấy lo lắng, sợ hãi, lúc nào cũng thấy tàm quý, hở chút là sân si, bản ngã cho nên cái pháp tàm quý sanh khởi, an trú, hiện hữu trong tâm càng nhiều thì càng có cơ hội thăng tiến trong pháp, còn khi nào cứ trơ ra, đơ ra, thấy chuyện đó là chuyện bình thường của người ta, không liên hệ đến mình, mình tu vậy cũng được rồi, vậy là không có tàm quý, không có cán cày, những ý niệm xấu, lời nói bất thiện, hành động tạo nghiệp thì phải thấy lo lắng, ưu tư, lấy đó làm đề tài để quán chiếu, làm sanh khởi lên sự lo lắng, sợ hãi, xấu hổ, người không có tàm quý thì tất cả thiện pháp đều sụp đổ, không tăng thượng được.
III. Chánh niệm
Ý căn là sự để ý, chánh niệm là nhớ nghĩ thân, thọ, tâm, pháp. Tức là để ý cảm thọ, để ý những suy nghĩ, hành vi trên thân và để ý oai nghi, hành động, để ý thọ; tưởng; hành. Sự để ý đó là dây cột để cột cái ách, tức là cột được trí tuệ, cột được tàm quý, chỉ có để ý mới thấy lo lắng, sợ hãi, để ý mới thấy sự thật một cách sâu sắc. Khi để ý cái nào thì cái pháp đó mới hiện ra, để ý thấy cái sân nhiều hoặc cái tham nhiều, để ý thì mới thấy sự tàm quý tăng trưởng, để ý mới thấy lòng tin càng lớn mạnh. Chánh niệm đối với ngài là lưỡi cày, gậy đâm để giữ con bò, con trâu đi đúng đường, sự tác ý của chánh niệm để nhắc nhở, la rầy, quở trách, "xuất gia đến nay được bao nhiêu năm rồi? Cha mẹ đã lớn tuổi chưa? Đã thành tựu được cái gì rồi? Dục, tham, ái nhiếp phục đến đâu rồi? Tham, sân, si, bản ngã đã tẩy sạch chưa? Nếu chưa sao cứ mãi buông lơi, không biết tinh cần, tinh tấn, hổ thẹn, tàm quý gì hết?", mình tác ý như vậy thì đó là cây gậy đánh con bò, con trâu bước tới hoặc giữ cho đi đúng đường, ở lâu trong chùa tu một thời gian rồi chỉ muốn làm theo ý mình, mất phương hướng, Đức Thế Tôn gọi là đặt tâm sai hướng.
Sáng ngủ dậy phải lập tức tác ý, "ngày hôm nay tu tập thiện pháp gì?", "hôm nay thành tựu thêm trí huệ gì mới chưa?", "có nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy các cảm thọ, căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu không?", người buôn bán cuối ngày phải tính sổ lời lỗ bao nhiêu, mình tu phải tính còn hơn nữa, trong một ngày thành tựu được đức hạnh gì, tu tập được trí huệ, thiện pháp gì chứ không được sống lững lờ, trơ trơ ra, không thấy tăng trưởng, tiến bộ gì, hỏi đến không biết cái gì thì đó là vô minh, cho nên việc trình pháp rất quan trọng, người trình pháp minh bạch là người thấy ngũ uẩn tương đối rõ ràng mới trình được, nếu không sẽ nói sai trọng tâm, hỏi một đằng trả lời một nẻo.
Sự trình pháp là cả một nghệ thuật chánh niệm, còn cảm nhận tu học lại khác nữa, tâm đắc tu học là khác, tóm tắt ý bài kinh là khác, yêu cầu trình pháp ngũ uẩn vận hành như thế nào trong lúc ngồi thiền thì hãy nói ngay lúc ngồi thiền thôi, người trình pháp nói rõ ràng thọ; tưởng; hành ngay đó thì đó chính là chánh niệm. Cái tu chánh niệm của mình là thấy rõ sự thật ngay trong giây phút hiện tại, ngũ uẩn lúc đó đang như thế nào, ngay lúc này thấy rõ thì lát sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy, còn mình bỏ hiện tại cứ tưởng tưởng trong tương lai mình sẽ như vậy thì đó chỉ là sự ảo tưởng, ngay giờ phút này mới chính là hiện thực.
Nếu bây giờ có suy nghĩ không muốn nghe pháp nữa mà muốn ngồi thiền thì đó là không tùy duyên thuận pháp, cái pháp đang diễn ra như vậy thì mình hãy chánh niệm, đừng để bị phân tâm suy nghĩ khác chen vào là tốt rồi, còn mình muốn chối bỏ cái này đi tìm cái kia thì đó là tham với sân, hoàn cảnh, nhân duyên như vậy mà mình không muốn chỉ muốn cái khác, có cái khác rồi vẫn chưa chịu mà muốn đổi lại, đứng núi này trông núi nọ rồi cuối cùng bị trò ảo thuật của tâm lừa gạt, Thế Tôn nói thức uẩn là nhà ảo thuật, những hình bóng, suy nghĩ bên trong gạt mình. Trong kinh dùng từ gậy đâm, nghĩa là không những tác ý mà còn phải tác ý mạnh mẽ, quở trách, la rầy để nhức nhối, phải đánh con trâu, con bò chảy máu thì nó mới đi, tâm mình cũng vậy, nói nhẹ nhàng vẫn trơ ra nhưng khi nói mạnh mới có cảm thọ.
Mình thấy nói hộ trì thân hành, khẩu hành nghe đơn giản nhưng thật sự phải làm suốt đời. Nhiều khi nghĩ tu thân, miệng, ý, ba nghiệp này cư sĩ làm cũng được nhưng ở trong chùa suốt đời làm vẫn không xong. Phải giữ gìn cử chỉ, oai nghi và lời nói, việc hoan hỉ trong Niết-bàn nghe đơn giản nhưng không phải dễ dàng, vui thích với tâm lặng lẽ, vui thích với tâm hoàn toàn tịch tịnh, thấy như vậy nhưng rất khó vì đa số không ai thích buồn tẻ. Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, người ta không thích điều này nên người ta là phàm phu, còn nếu thích Niết-bàn đã bước qua hàng Thánh nhân cho nên điều quan trọng là có yêu thích Niết-bàn hay không, tức là yêu thích thân tâm tĩnh lặng, tịch tĩnh, sự yêu thích này phải tu học vì mình chưa ý thức được Niết-bàn lạc tối thượng mà cứ yêu thích dục lạc, yêu thích việc vui chơi, đùa giỡn, thích dao động trong năm dục trưởng dưỡng, nếu không có dục nào thì lại không muốn nhưng người tu phải ưa thích ly dục, tập cho mình có cái thích đó, yêu thích sự dập tắt chứ không yêu thích sự bùng cháy.
Mỗi khi tác ý hạ gục được bản ngã thì thấy vui, mỗi khi tác ý chiến thắng được cơn tham muốn là mình thích, mỗi khi đánh tan được cảm giác trì trệ, si ám, hôn trầm là mình sung sướng, ưa thích những cái này bị diệt.
"Ðệ tử bậc chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục chư thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt".
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 187)
Ái diệt chính là Niết-bàn, ngày xưa học không hiểu nên thấy chữ diệt đế là tránh né vì diệt hết thì còn gì nữa nhưng bây giờ mới thấy nó tuyệt vời, chữ diệt đó là diệt tận tham, sân, si, vô minh, dục, ái, bản ngã, sạch hết những thứ này thì mới là bất tử, còn những thứ này mới còn đi tìm kiếm, còn chạy chỗ này chỗ kia, còn bị nó dẫn dắt, sai khiến, trói cột, hết những thứ này thì không còn bị dẫn đi nữa, vậy là tự do tự tại. Khi con bò, con trâu bị mang ách nào sẽ bị khó chịu cho nên Đức Phật nói tinh tấn là khả năng mang ách, lúc đầu ngồi thiền không hề dễ chịu, tu một lần bốn tiếng không hề dễ chịu thì đó giống như mang ách nhưng phải tinh tấn nhiếp phục những cảm thọ mệt mỏi, buồn chán, nhiếp phục hình bóng muốn nằm ngủ, nếu không nhiếp phục được thì đang ngồi thiền nhưng lại tưởng ra hình ảnh nằm quấn chăn lại ngủ, vậy là không lâu sau ngủ gục luôn.
Tinh tấn bên ngoài là làm công quả, ngồi thiền, nghe pháp, tụng kinh, tinh tấn bên trong là nhiếp phục các ác bất thiện pháp, tẩy sạch tham, sân, si, hộ trì thân, khẩu, ý, sáu căn, tinh tấn để an trú trong thân, thọ, tâm, pháp, tinh tấn giữ các thiện pháp mình đã có, duy trì pháp quán, tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ. Ngày nào mình học cũng nhắc đi nhắc lại tâm thương, tâm từ, hễ nói đến tâm từ là toàn thân chấn động, cảm thọ dâng lên thấm đượm, đó là mình giữ tâm từ đừng để cho mất, còn nói trải tâm từ mà cứ ngồi trơ ra không thấy cảm thọ của tâm từ gì cả, không thấy thương gì cả là đã bị mất đi cảm thọ đó, dù không cuồn cuộn trào dâng như lúc ban đầu nhưng ít nhất cảm thọ của tâm từ phải có, cảm thọ đó lúc ban đầu dâng lên sôi nổi, mạnh mẽ nhưng qua ngày nó lắng dịu, ổn định nhưng không có nghĩa bị mất đi, không được để cho cảm thọ từ bi, thương xót bị mất đi, cảm thọ hoan hỉ trong sự tu học càng không được để cho mất.
IV. Bậc Thánh Dự Lưu
Ngài Huyền Trang phát thệ nguyện dù chết cũng phải bước đến trước chứ không đi lùi lại, cuối cùng ngài thành công, khi cố gắng nỗ lực bước vào dòng Dự Lưu thì dòng pháp đó sẽ đưa người về phía trước, gian khổ trong giai đoạn đầu thôi nhưng khi bước được vào dòng pháp rồi là tự động dòng chảy Thánh pháp sẽ đưa mình ra đại dương giải thoát.
"-- Này các Tỳ-kheo, ví như một hồ sen 50 do tuần bề dài, 50 do tuần bề rộng và 50 do tuần bề sâu, nước đầy tràn khiến con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ sen ấy một người lấy nước lên với đầu ngọn cỏ. Các Ông nghĩ thế nào? Này các Tỳ-kheo, cái nào nhiều hơn, nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ, hay nước của hồ sen?
-- Chính cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là nước của hồ sen; ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ, không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh nước của hồ sen với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với bậc Thánh đệ tử đã chứng được kiến cụ túc, đối với người đã chứng được minh kiến, cái này là nhiều hơn, tức là khổ đã được đoạn tận, đã được diệt tận; ít hơn là khổ còn lại. Không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần, không phải một trăm ngàn lần, có thể sánh bằng khi so sánh với khổ uẩn trước đã được đoạn tận, đã được diệt tận, tức là bảy lần nhiều hơn".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương II. Tương Ưng Minh Kiến, II. Hồ Sen)
Như vậy mình phải cố gắng tham dự vào dòng chảy trí tuệ này là thành công, lúc đó không phải tạm biệt hồng trần tục lụy nữa mà là vĩnh biệt luôn, không trở lại nữa, vì thế chỉ cần thành tựu minh kiến là cái thấy rõ ngũ uẩn tường tận, thấu đáo "đây là khổ", thuần nhất trong ngũ uẩn không còn một chút nào là vui, cái thấy biết xác quyết tuyệt đối hoàn toàn là thành công, còn giờ lúc thì thấy khổ lúc lại thấy vui thì cái vui đó là nguyên nhân để mình còn ở lại, chưa thể Nhập Lưu được. Cho đến khi nào tất cả mọi hình thể, tất cả mọi cảm giác, bóng dáng trong tâm, suy nghĩ và nhận thức đều là một đống khổ lớn, thuần khổ, vị ngọt của nó cũng là khổ chứ đừng nói gì sự nguy hại thì lúc đó sự xuất ly được chín muồi, đẩy mình thoát ra, cho nên Thế Tôn mới nói Niết-bàn là không có sầu khổ.
"Rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnh
Nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm".
(Lý Bạch)
Phải chăng "nhất túy có thể giải được thiên sầu", xin thưa là không thể. "nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm", say mãi rồi cũng phải tỉnh, khi say thì quên hết tất cả. Tỉnh lại rồi liệu có quên được không, chắc chắn là không, rồi nỗi buồn chồng chất nỗi buồn, có khi rượu vào lời ra lại gây thêm chuyện phiền hà. Đức Phật nói chỗ ngài đi là không có sầu vì Thánh đạo là vô sầu.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu'... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: 'Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn".
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
V. Người nông dân tối thượng
Ngài dùng các dụng cụ để trở thành người nông dân tối thượng, cày xong là hết khổ.
"-- Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử.
(Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chơn thật đối với Pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường.
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!".
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)
Thế Tôn không nhận thức ăn vì tâm đầu tiên của vị này là không cung kính, người này nghĩ có làm mới có ăn, cày cấy đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có lúa gạo còn Thế Tôn không làm mà muốn có ăn, cho nên Thế Tôn mới nói bài kệ giải thích cho vị này hiểu. Sau khi nói kệ thì người này nghe hay và có lý thì người này nói Thế Tôn hãy ăn đi nhưng Thế Tôn từ chối, Thế Tôn nói pháp không phải để được người khác cúng dường, không phải nói pháp vì miếng ăn, Thế Tôn không giận nhưng cái pháp là như vậy, không cung kính nên ngài không nhận. Nếu ngài nói pháp rồi nhận cúng dường thì giống như một sự cho nhận, như vậy sự tôn kính pháp của người ta sẽ không có. Nghe Đức Phật nói bài kệ trên thì vị Bà-la-môn này xúc động tỏ ý cung kính và mong muốn quy y thành đệ tử Đức Phật suốt đời. Pháp quy y ngày xưa hay ở chỗ làm người ta cảm nhận được, làm người ta quý trọng pháp, người ta thấy đây là đáng tôn kính, đáng tu học nên người ta quy y chứ không có kêu gọi.
VI. Gieo hạt
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya.
Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát của Thế Tôn.
Lần thứ hai Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya...
Lần thứ ba, Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát Thế Tôn và nói với Thế Tôn:
- Tham lam là Sa-môn Gotama, đến đi đến lại nhiều lần!
(Thế Tôn):
Nhiều lần và nhiều lần,
Chúng gieo vãi hạt giống.
Nhiều lần và nhiều lần,
Trời mưa đi, mưa lại.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người nông phu cày ruộng.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lúa gạo đến quốc độ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Hành khất lại xin ăn.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ lại bố thí.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ sau khi cho.
Nhiều lần và nhiều lần,
Ðược đi đến thiên giới.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người làm sữa vắt sữa,
Nhiều lần và nhiều lần,
Bò con tìm bò mẹ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa.
Họ được đường giải thoát,
Không đưa đến tái sanh.
Bậc đại trí, đại tuệ,
Không sanh đi, sanh lại.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Udaya bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!".
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, II. Udaya)
Đức Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm bát đến chỗ của vị Udaya này khất thực liên tục ba ngày. Đến ngày thứ ba vị Udaya này nói Sa-môn Gotama tham lam vì cứ đến khất thực liên tục, Thế Tôn mới nói hạt giống phải gieo nhiều lần thì mới thu hoạch được nhiều, trời mưa đi mưa lại nhiều lần thì cây cối mới xanh tươi phát triển, nghĩa là Đức Phật đang giải thích việc nhiều lần này là tốt lành chứ không phải nhiều lần nghĩa là sanh tử luân hồi nhiều lần nếu không cúng dường cho Đức Phật. Do cày ruộng nhiều lần mới có lúa có gạo, như vậy phải gieo, phải gặt, phải có mưa thấm nhuần rất nhiều thì lúa gạo mới có cho quốc độ.
Trong bài kệ này Đức Phật đặt mình là người ăn xin chứ ngài không nói mình là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không cung kính ngài là có tội mà ngài nói bản thân mình là kẻ hành khất ăn xin, điều này thể hiện tâm từ bi lớn lao của Đức Phật. Nhiều lần người hành khất này đến ăn xin, rồi thí chủ cũng cho nhiều lần, cứ nhiều lần như vậy thì thí chủ được sanh lên cõi trời, như vậy nhiều lần là tốt, ở đây Đức Phật giải thích nhiều lần là tốt vì vị Udaya này hỏi sao Đức Phật cứ đến ăn xin hoài liên tục ba ngày, người vắt sữa cũng phải vắt nhiều lần mới có sữa. Ở ý trước thì nhiều lần là tốt, nhiều lần gieo mạ cấy cày thì gạo lúa mới sung túc, đó là pháp hữu vi, pháp phước báo của bố thí nhưng tiến sâu hơn là bước qua pháp vô vi.
"Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa".
Ở ý trên là tán thán nghiệp trắng nhưng đến đoạn này là nói lên hiểm họa của luân hồi, dù nghiệp trắng hay nghiệp đen thì cũng ở trong luân hồi, phải thoát ra tất cả nghiệp. Chỉ có người nào thấy con đường giải thoát mới không đưa đến tái sanh, người đó là bậc đại trí đại tuệ thì mới không sanh đi sanh lại. Vị Bà-la-môn này nghe như vậy thì xúc động, xin quy y với Thế Tôn làm cư sĩ, trọn đời quy ngưỡng.
Qua bài kinh này chúng ta thấy rằng lúc đầu vị gia chủ chê trách Thế Tôn tại sao lại đến khất thực nhiều lần, đoạn đầu Đức Phật giải thích nhiều lần là tốt, mưa nhiều là tốt cho cây cối, gieo mạ nhiều lần mới có lúa gạo cung cấp cho cả nước, người ăn xin đi đến nhiều lần thì người thí chủ mới có nhiều cơ hội làm phước bố thí, thí chủ sẽ được lợi lạc sanh thiên giới nhiều lần khi cúng dường nhiều lần cho Đức Phật, chỉ cúng cho một vị Bích-chi Phật thôi đã được sanh thiên giới bảy lần còn đằng này cúng cho vị Chánh Đẳng Chánh Giác đến ba lần thì phước báo còn lớn đến dường nào, nhưng Đức Phật lại không tự xưng ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà ngài chỉ nói mình là người ăn xin, còn người cho là thí chủ, ngài đến nhiều lần sẽ tạo phước cho vị thí chủ, được sanh thiên giới nhiều lần.
Tiến sâu hơn một bước thì Đức Phật nói chúng sanh nhiều lần mệt mỏi và đau khổ vì không biết tu tập, không biết làm phước, bố thí, kẻ ngu đi vào trong bào thai rồi sanh tử, sống chết liên tục, mộ phần ngày một lớn lên, chỉ có bậc đại trí đại tuệ thấy được con đường thoát ra thì họ mới không sanh đi sanh lại, còn chúng sanh là sanh đi sanh lại trong vòng sanh tử luân hồi, vị Bà-la-môn này xúc động, cảm nhận được pháp và xin quy y với Đức Phật, từ nay cho đến hơi tàn đều trọn đời quy ngưỡng với tôn giả Gotama.
Bây giờ mình biết thì mình quỳ lạy, tôn kính Thế Tôn nhưng ngày xưa có mấy người biết được ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, ngày xưa bên Ấn Độ toàn là đạo Bà-la-môn, có rất ít người đi theo Phật, thời gian sau đạo Phật cũng diệt vong tại Ấn Độ cho nên người ta nhìn Thế Tôn chỉ thấy một vị thầy tu trọc đầu như bao người khác, chỉ có người nào tu học, nghe pháp, đã từng tiếp xúc, gặp được Thế Tôn thì mới cảm nhận được, vì thế sau khi vị Bà-la-môn này nghe Thế Tôn thuyết pháp mới cảm nhận được đây là người trí tuệ, bậc đức độ, đúng như lời người ta đồn về ngài, thời đó đạo Bà-la-môn rất lớn mạnh vậy mà có những người sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp là bỏ đạo để đi theo ngài thì đó là đại sự chứ không đơn giản, hiện tại bây giờ có người ở đạo khác bỏ đạo đó để đi theo đạo Phật đã là một sự gian truân, gia đình khó chấp nhận thì huống hồ gì thời đó, đạo Phật mới nhen nhúm, vị tổ sư đạo Phật còn non trẻ vậy mà người ta bỏ cái đạo ngàn năm của người ta để đi theo một đạo mới toanh. Bài kinh viết rất ngắn gọn nhưng mình phải hiểu trong đó là cả một sự kiện, cả một chuyện lớn khi bỏ đạo Bà-la-môn ngàn năm để đi theo đạo Phật còn rất mới mẻ.
Mình đọc những bài kinh này giống như đang thân lâm kì cảnh, nghĩ là giống như mình đang tận mắt chứng kiến câu chuyện đang diễn ra, thấy Đức Phật đang rất gần mình, đang ở trước mắt mình, những sự kiện thời xưa đang hiện ra ngay trước mắt mình. Vậy mà ngày hôm nay người ta biến Đức Phật giống như một vị thần, đi đến đâu là hào quang tỏa ra đến đó, có ánh sáng chiếu tỏa rạng trong khi kinh điển ghi lại ngài đi ăn xin bị người ta khinh thường, tôi làm mới có ăn còn ông không làm mà cứ đến ăn xin. Nếu là mình đi ăn xin mà bị người ta nói như vậy thì mình sẽ như thế nào? Vậy mà ngài là một thái tử, bỏ hết tất cả để trở thành một người hành khất, mình có dám bỏ tất cả để làm người hành khất không, ngày nào cũng đi ăn xin, người ta cho gì ăn nấy không được đòi hỏi. Có những ngày Thế Tôn đi khất thực không được ai cho gì cả nên ngài về uống nước lã chứ không phải ngài đi đến đâu là được tung hô vạn tuế đến đó.
Chúng ta lạy vì đức hạnh cao đẹp của ngài chứ không phải lạy để cầu xin ngài ban cho một cái gì đó, học đức hạnh xả bỏ sự giàu sang quyền quý, học đức hạnh là một bậc cữu ngũ chí tôn nhưng từ bỏ tất cả để hạ mình xuống đi khất thực để người ta nói rằng "ngươi là kẻ ăn xin", cầm bình bát đi từ ngã tư này đến ngã tư kia, từ làng này đến làng kia, từ thị trấn này qua thị trấn khác để xin ăn, an trú tâm giống như kẻ ăn xin để không còn vênh váo, ta đây, hãy luôn khắc ghi và nhớ nghĩ mình là kẻ ăn xin, người ta nói nặng nói nhẹ cũng bình thường, người ta cho gì ăn đó chứ không có yêu cầu, đòi hỏi, đó là cái hạnh của bậc Thánh, chỉ có bậc tối thượng nhân mới làm được như vậy, từ chỗ cao nhất trên cuộc đời này hạ xuống tận cùng của xã hội làm kẻ ăn xin. Mình tưởng tượng ra cảnh trong một nông trường có năm trăm người đang ăn uống thì có một ông thầy đầu trọc đi chân dất, ôm bình bát đứng kế bên xin, đó là cảnh thật, người thật, việc thật, còn giờ mình tạc tượng ngài mặt hoa da phấn thì mình phải hiểu đó là sự tôn kính của mình dành cho ngài.
Người xuất gia chúng ta không bao giờ được quên mà phải khắc ghi vào trong tim, trong trí não "ngươi là kẻ ăn xin", đừng bao giờ kiêu căng, ngã mạn, ta đây mà phải nhắc nhở bản thân liên tục "ngươi là kẻ ăn xin", phải hạ thấp cái tôi xuống tận cùng, đánh tan bản ngã ác độc này thì mới diện kiến được Thế Tôn, còn vênh váo, ta đây thì không thể gặp được, vẫn còn cách rất xa ngài, Thế Tôn đã nói mình là kẻ hành khất, còn người là thí chủ, ngài đến nhiều lần để tạo duyên cho thí chủ bố thí, do cái duyên bố thí nhiều lần thì thí chủ sẽ có nhiều lợi ích an lạc dài lâu ở thiên giới cho nên nhiều lần và nhiều lần là tốt cho thí chủ. Nếu mình bị khinh khi, chê bai, hủy nhục là tốt vì đó là cơ hội để mình thấy được tâm, đó là những bài kiểm tra để mình đo được sự tu hành của bản thân đến đâu, những lúc đó là lúc thấy được mình thật sự khi bị hủy nhục, khinh chê. Khi bị nói đến ăn xin hoài thì Thế Tôn vẫn bình thản, không hề tức giận vì bị mất mặt mà ngài nói những bài kệ để giải thích cho người kia tâm phục khẩu phục đến mức bỏ luôn đạo của họ để lạy dưới chân người ăn xin chí cao vô thượng tối tôn, người khất sĩ xuất trần, thánh thiện. Hãy nhớ mình là người ăn xin, mình chẳng là gì trong chùa chiền, không có cái gì là của mình.
"Học đạo trước cần phải học nghèo
Nghèo rồi đạo thể mới được thân
Từ xưa Cổ đức xưng: 'Bần đạo'
Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo".
(Thiền sư Long Nha)
Khi các Phật tử hỏi đất của Minh Thành bao nhiêu mẫu thì Minh Thành cũng khéo léo đưa pháp vào, Minh Thành nói đây là đất của chùa, Minh Thành không có gì cả, mà của chùa là của bá tánh, của trăm họ. Nếu bây giờ hỏi đất bao nhiêu mà mình nói ra bấy nhiêu thì mình đang công nhận đất này của mình, cho nên đây là đất của chùa, luôn nhớ trong lòng mình hai chữ "bần đạo". Muốn học đạo trước hết phải học nghèo, chỉ có học nghèo rồi mới gần với đạo, thái tử bỏ hết cung vàng điện ngọc để làm người hành khất chính là học cái nghèo, nghèo ở đây là ít muốn biết đủ, là viễn ly, rời xa, từ bỏ, là buông xả. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này không phải tôi, không phải của tôi, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này cũng không phải tôi, không phải của tôi, nhãn thức; tỉ thức; thân thức; thiệt thức; ý thức; nhĩ thức không phải tôi, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không có gì cả, không phải tôi, không phải của tôi. Đối với tài sản mình chẳng có gì cả, mình chỉ là kẻ nghèo, mình là bần đạo, bần Tăng, khi đã đạt được đạo rồi thì ba ngàn năm qua biết bao người lạy dưới chân.
Thế Tôn chẳng có gì cả nhưng nhân gian thiên thượng, chư thiên và loài người, tất cả mười ngàn thế giới đều tôn kính và quy ngưỡng nhưng ngài không cần điều này, là do pháp tự nó như thế cho nên lúc nào chúng ta cũng phải nhớ đến từ "khất sĩ", "bần đạo", "kẻ nghèo", "ăn xin". Khi hơn thua sanh khởi thì phải tác ý "mày là đồ ăn xin, có biết xấu hổ, tàm quý không?", tác ý như vậy để bản ngã hiền hòa, khiêm hạ, lắng dịu xuống.
./.