Ý nghĩa trọng đại Đức Phật ra đời
Ý NGHĨA TRỌNG ĐẠI PHẬT RA ĐỜI
Thích Minh Thành
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp: PAGEREF _Toc47013918 \h 1
II. Hiểu về Đức Phật: PAGEREF _Toc47013919 \h 2
III. Cốt lõi của Đạo Phật: PAGEREF _Toc47013920 \h 6
IV. Nghiệp: PAGEREF _Toc47013921 \h 12
V. Sự chứng ngộ của Đức Phật: PAGEREF _Toc47013922 \h 16
I. Thực hành ba pháp:
Trước khi đến nội dung bài viết, mời quý Phật tử thực hành ba pháp tỉnh giác. Pháp đầu tiên, chánh niệm trước mặt, mở hai mắt nhìn xuống về phía trước, mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên. Pháp thứ hai, trở về hơi thở cảm nhận cảm giác toàn thân, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở tại ba điểm: chóp mũi, lồng ngực và bụng; thở vào làm cho thân tâm an tịnh, thở ra làm cho thân tâm an tịnh; thở vào làm cho thân tâm lắng dịu, thở ra làm cho lắng dịu thân tâm. Pháp thứ ba, nội tâm tỉnh giác, rõ biết những gì đang hiện hữu nơi thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Cảm nhận sự an lạc của giờ phút này, theo hơi thở vào ra cảm nhận sự hạnh phúc ngay lúc này.
Kính thưa quý Phật tử, hôm nay là ngày rằm tháng tư, ngày mà hơn 2600 năm trước một bậc đại vĩ nhân xuất hiện trên thế gian này. Chúng ta cùng cảm nhận niềm hạnh phúc khi được tiếp xúc với ngày đản sanh của Đức Phật; cảm nhận niềm an lạc mà Đức Phật mang lại cho chúng sanh khi Ngài ra đời; cảm nhận tình thương bao la của Đức Thế Tôn đã mang đến với cuộc đời, với thế giới; cảm nhận ánh sáng trí tuệ mênh mông, chói lọi mà Đức Thế Tôn đã soi rọi vào tâm của muôn loài.
Quý Phật tử cùng mỉm một nụ cười nhẹ trên môi, để cho niềm hỷ lạc thấm nhuần khắp châu thân. Cảm nhận niềm hỷ lạc của ngày hôm nay, với sự xuất hiện của Đức Phật, cùng chắp tay hướng về hình ảnh đản sanh của Đức Thế Tôn, niệm ba lần danh hiệu của Ngài bằng lòng biết ơn tha thiết, chân thành nhất.
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
II. Hiểu về Đức Phật:
Kính thưa quý Phật tử, rằm tháng tư là một ngày trọng đại, một ngày vĩ đại hơn tất cả mọi ngày; chính vì hôm nay là ngày đản sanh của thái tử Tất Đạt Đa, thái tử xuất hiện đã mang đến cho muôn loài sự giác ngộ tối thượng, thù thắng suốt một tiến trình lịch sử dài thăm thẳm. Chính vì có sự giác ngộ tối thượng này mà Đạo Phật được sáng lập; vì có Đạo Phật nên Giáo Pháp mới được tồn tại và con đường an vui hạnh phúc, chấm dứt khổ đau của Ngài hướng dẫn mới được duy trì; mới có Chư Tăng là những người tiếp nối theo đời sống, lời dạy, theo phạm hạnh được Đức Thế Tôn truyền trao.
Ý nghĩa của ngày lễ Phật Đản là vô cùng quan trọng, với sự xuất hiện của một bậc vĩ nhân, không một ai có thể sánh bằng, không một ai có thể ngang hàng và cùng đẳng cấp; một con người siêu việt trên tất cả mọi chúng sanh trong vũ trụ trùm khắp bao la này. Phải trải qua bốn đại A tăng tỳ kiếp và 100 nghìn đại kiếp thì mới xuất hiện một bậc đại vĩ nhân là Đức Thế Tôn (A tăng kỳ là con số không thể nghĩ bàn, không thể đêm được với vô số, vô biên cùng một trăm ngàn đại kiếp). Một hình ảnh thực tế để ta dễ hình dung hơn, Trái Đất mà chúng ta đang sinh sống kể từ khi hình thành đến lúc hoại diệt được tính là một kiếp nhỏ, phải thành hoại hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn lần kiếp Trái Đất thì mới xuất hiện một cá nhân giống như Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác.
Chính vì lẽ đó mà chúng ta cần dâng khởi một niềm hạnh phúc mãnh liệt khi đang được sống trong Chánh Pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Theo tạng kinh Nikaya, giáo pháp của Đức Phật chỉ tồn tại 5000 năm, đến thời điểm hiện tại đã trải qua hơn 2600 năm của 5000 năm này. Với những sự kiện chúng ta được chứng kiến trong xã hội hiện đại ngày nay, với sự suy sụp đạo đức của loài người, với đầy dẫy dục, tham – sân – si, bản ngã; chính những điều này sẽ khiến cho giáo pháp mau đi đến chỗ hoại diệt. Một khi giáo pháp hoại diệt thời bấy giờ chúng sanh sẽ chìm vào một thời kỳ tăm tối, ảm đạm và vô minh, một thời kỳ hỗn độn không lối ra.
Nếu không có sự xuất hiện của Đức Phật, Giáo Pháp không được Chư Tăng duy trì thì chúng ta đã lạc vào một đêm dài vô biên, bất tận, một đêm dài khủng khiếp, khủng hoảng, kinh khủng, không thể nghĩ bàn. Bởi vậy mà sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là một sự vinh hạnh không gì sánh bằng đối với chúng sanh; sau hơn bốn A tăng tỳ kiếp, Đức Phật ra đời, bậc toàn tri, toàn đức, toàn giác, toàn hạnh; chúng ta may mắn được ngồi đây đọc hiểu những lời dạy vàng ngọc của Ngài là một sự hạnh phúc tột cùng.
Đức Phật thấu rõ mọi sự tình về các cõi trên thế gian này, nên được gọi là bậc Thế Gian Giải; Ngài là bậc tôn kính nhất trong cuộc đời này nên được gọi là Thế Tôn; Ngài thấy biết chân chánh cùng khắp không sót một điều gì trên đời này vượt khỏi sự hiểu biết của Ngài nên được gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác; Ngài tu đạt đến cảnh giới không một ai có thể hơn được nữa, xứng đáng cho tất cả Chư Thiên và Loài Người cúng dường, nên được gọi là Vô Thượng Sĩ; Ngài là thầy của trời và người nên được gọi là Thiên Nhơn Sư. Theo kinh tạng Nikaya, khi Đức Phật vừa thành đạo, chứng ngộ Niết Bàn dưới cội bồ đề thời lúc này tâm của Ngài đi vào thụ động, Ngài có ý định nhập Niết Bàn, không muốn thuyết pháp bởi vì pháp được Ngài chứng đạt sâu xa, thâm diệu, khả năng sẽ không có người hiểu nỗi.
Thời bấy giờ vị Ta Bà Chủ (theo quan niệm nhân gian chính là chúa tể dục giới, là vua trời, là Ngọc Hoàng Thượng Đế, là ông trời) từ trên cõi trời, nhận thấy quả đất này rúng động do Đức Thế Tôn thành tựu Chánh Đẳng Giác, cảm biết ý định nhập Niết Bàn của Đức Phật liền co duỗi cánh tay, ngay tức khắc từ cõi trời hiện xuống quỳ lạy dưới chân Đức Phật bạch Ngài với đại ý rằng: cung thỉnh Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hãy lưu lại ở đời để thuyết pháp, vì có những chúng sanh ít tham – sân – si, phiền não, có khả năng hiểu được giáo pháp sâu xa, thâm diệu của Đức Phật. Cung thỉnh như vậy ba lần thời Đức Phật nhận lời.
Kể từ ngày hôm đó, 45 năm sau đầu trần chân đất Đức Phật đi khắp Ngũ Thiên Trúc vì chúng sanh mà thuyết pháp. Từ một thái tử sắp sửa lên ngôi hoàng đế mà Đức Thế Tôn trong quá trình thuyết pháp của mình có giai đoạn Ngài phải ăn lúa dành cho ngựa trong vòng ba tháng liền (do có một vị hứa cúng dường mà lại quên). Rồi có khi Đức Thế Tôn ôm bình bát đi khất thực mà không một ai cho nên phải uống nước qua ngày; khi già vì đau lưng, bệnh tật mà Ngài phải nằm dưới gốc cây trên tấm y được trải xuống. Kể ra như vậy mới cảm nhận được tình thương bao la của Ngài danh cho chúng sanh; ấy thế mà có nhiều người vừa vào tu học một ngày đã than mệt mỏi, muốn được về ngủ sớm.
Quý Phật tử cần phải hiểu về Đức Phật một cách đúng đắn, thì mới có thể tin vào Ngài bằng một niềm tin chân chánh; một khi hiểu không đúng mà vẫn tin, thời nghĩ rằng Phật là một vị thần, vị thánh có khả năng ban phước giáng họa, đây là một niềm tin lầm lạc, là mê tín, không phải niềm tin của một Phật tử chân chính. Đức Phật không ban phước, giáng họa cho chúng sanh mà Ngài là bậc giác ngộ, bậc thấu suốt nguyên lý của khổ, nguyên nhân của khổ và cách để chấm dứt khổ đau; Ngài hiểu được nguyên lý này và chứng ngộ được điều này; Ngài hướng dẫn cho chúng ta con đường để đi đến giải thoát, chấm dứt khổ đau.
Có những vị Phật tử đến chùa suốt 20, 30 năm; ngày nào cũng ghi tên cần an, van xin điều này thứ nọ; đều là đang ở cổng chùa chứ chưa chân thực vào chùa; những việc này chỉ dừng lại ở công tác tín ngưỡng cho người sơ cơ chưa biết đến giáo pháp. Trên thực tế, Phật không làm sao ban phước cho chúng ta, Ngài chỉ hướng dẫn cho ta con đường, phương pháp bình an, giải thoát. Cũng giống như việc không một ai có thể ăn cơm thay chúng ta, không một ai ngủ thế chúng ta được cả.
Bởi vì vậy mà bản chất thực sự của sự cầu nguyện chính là một lời hứa với Phật để từ đây ta nỗ lực thực hành, làm theo những lời dạy của Ngài. Nếu cứ mãi lạy lục, van xin, cầu cúng mà bản thân không dốc lòng tu học, không dốc lòng sửa đổi, cứ mãi chấp nhận sự tham lam, sân hận, si ám và bản ngã nơi nội tâm thì mãi sẽ không đến được bến bờ của sự bình an, hạnh phúc. Đây là cốt lõi của việc đến chùa, quý Phật tử cần phải nắm vững để hiểu về Đức Phật một cách sâu sắc, không thể mang danh Phật tử mà lại suy nghĩ theo hướng mê tín dị đoan. Cần phải hiểu đúng về Đức Phật, về con đường mà Ngài hướng dẫn, làm thế nào để được bình an, làm thế nào để được từ bi, giàu có; làm đúng theo lời Ngài hướng dẫn thì ta mới thành công tu học và là một người Phật tử chân chính.
III. Cốt lõi của Đạo Phật:
Vấn đề vừa được nêu ở phần trên mới chỉ là một phần nhỏ của Đạo Phật, ở phần này quý Phật tử cùng đi đến một nội dung sâu sắc hơn. Trong kinh Tăng Chi Bộ - Tập IV – trang 430, bài kinh “Không Thể Tăng Trưởng” Đức Phật dạy rằng:
“Này các Tỷ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không xuất hiện ở đời và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh
Già
Chết
Này các Tỷ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời.”
Thật vậy, vì có sự sanh, sự già và sự chết nên Đức Phật mới xuất hiện. Có một chi tiết trong cuộc đời của Đức Phật có thể phần nào giải thích điều này, chính là khi thái tử Tất Đạt Đa quyết định đi tu sau khi chứng kiến cảnh tượng của sự già, bệnh, chết và một thầy tu. Sau khi Ngài quyết định tu hành, vua Tịnh Phạn năn nỉ Ngài ở lại, thời Ngài trả lời với đại ý được ghi lại trong kinh Nikaya rằng: nếu phụ vương ban cho con không bệnh, không già, không chết thì con sẽ ở lại. Vì không thể ban cho thái tử những điều này nên Ngài đi tu, cuối cùng chứng ngộ cảnh giới bất tử, vượt qua khỏi sanh, già, bệnh và chết, chấm dứt luân hồi sanh tử.
Đây mới chính là ý nghĩa trọng tâm, cốt lõi nhất, là trái tim của Đạo Phật, nếu không nắm vững điều này thì chúng ta sẽ lạc vào mê muội, tà kiến. Suốt ngày chăm chăm cầu xin, mong mỏi làm ăn phát đạt, khỏe mạnh, cầu cho con cái thi đậu, điểm cao… cầu xin toàn những thứ bên ngoài mình, không nhận ra những điều mình cầu vẫn còn ở trong luân hồi sanh tử, vẫn còn ở trong già, bệnh, chết. Đây là hành động bỏ gốc tìm ngọn của phàm phu. Cốt lõi của Đạo Phật là con đường đi đến sự chấm dứt sanh, già, bệnh, chết đạt đến cảnh giới Niết Bàn bất tử; chúng ta truy cầu rất nhiều thứ, hao tổn tâm lực để rồi một ngày sự bệnh, sự già và sự chết ập đến cướp hết mọi thứ, chẳng còn lại gì ngoài những nhân duyên, nghiệp báo mà bấy lâu gây tạo.
Là một người Phật tử chân chính, chúng ta cần luôn luôn nhắc nhớ ba chữ “già, bệnh, chết” không bao giờ được quên. Vì tưởng rằng bản thân vẫn còn trẻ nên mới tham, nhớ mình còn khỏe nên mới sân hận, lầm nghĩ rằng bản thân sẽ sống hoài nên mới si mê, không nhớ rằng một ngày kia rồi tấm thân này phải nằm xuống, kết quả của bao nhiêu đam mê, si mê, đắm đuối là một hũ tro tàn, một nấm mồ không hơn không kém. Sự quán tưởng về già, bệnh, chết có thể giúp ta diệt trừ được tham, sân, si để từ đây phiền não, ác nghiệp được giảm bớt; bình an, hạnh phúc hiện hữu.
Trong bài kinh Tự Hoan Hỷ, Trường Bộ Kinh tập II, khi đọc những lời này chúng ta sẽ cảm thấy chấn động, tạo nên một niềm tin bất động đối với Đức Phật và truyền thống Chánh Pháp của ngài. Lúc bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất đi đến chỗ của Đức Thế Tốn, đảnh lễ và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn cho đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ hay ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một vị tu hành nào mà có thể vĩ đại hơn Đức Thế Tôn, sáng suốt hơn Đức Thế Tôn về phương diện giác ngộ”
Lúc đó Đức Phật quở mà thương ngài Sāriputta (tức Xá Lợi Phất) rằng:
“- Này Xá-Lợi-Phất lời nói của ông nó thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ông thật là rống lên tiếng gầm của con sư tử.
- Bạch Đức Thế Tôn con tin tưởng Đức Thế Tôn về phương diện giác ngộ như vậy.
- Này Xá-Lợi-Phất, có phải ông đã được biết trong quá khứ hay trong tương lai cũng như trong hiện tại các vị A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác, với cái tâm của ông ông biết được tát cả cái tâm của các vị Thế Tôn đó về giới đức, về pháp, về trí huệ và an trú giải thoát của các vị Thế Tôn ấy hay không?
- Ngài Xá-Lợi-Phất bạch: Dạ con không biết,
- Này Xá-Lợi-Phất, hãy xem ông không có trí huệ biết được tâm tư của chư vị A-La-Hán và Chánh Đẳng Giác ở quá khứ, ở hiện tại và tương lai. Vậy mà sao ông dám nói vậy?
- Bạch Thế Tôn: Con không có trí huệ để biết được tâm tư, nói gọn là các chư Phật trong quá khứ, hiện tại, dị lai. Nhưng con biết truyền thống về Chánh pháp.
- Truyền thống như thế nào?
- Bạch Thế Tôn: Như là vị vua có một thành trì ở biên giới, có hào lũy kiên cố, có thành quách, tháp kiên cố. Canh chừng và chỉ có một cửa thành ra vào thôi. Cửa thành đó có vị giữ cửa thông minh, biệt tài và giàu kinh nghiệm ngăn chặn những người lạ chỉ cho những người quen biết đi qua. Người này trong khi đi tuần xung quanh thành có thể không thấy hết các chấp nối và khe hở của tường nhỏ cho đến một con mèo có thể qua được. Nhưng mà người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn hơn muốn đi vào hay đi ra cái thành này, tất cả đều phải đi vào hay đi ra cái cửa này. Bạch Đức Thế Tôn cũng vậy, con biết truyền thống về Chánh pháp”
Quý Phật tử cần phải hiểu rõ sự ví von này của ngày Xá Lợi Phất, nghĩa là trong thành chỉ có một cánh cửa, nên bất cứ người nào muốn vào hay ra thành đều phải đi qua cánh cửa đó. Cũng vậy, trong truyền thống của các Đức Phật, tất cả những vị A La Hán, Chánh Đẳng Giác ở quá khứ, hiện tai hay vị lai; những bậc Thế Tôn đã diệt trừ năm triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã khéo an trú tâm vào Bốn Niệm Xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác Chi và chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Hiểu một cách cụ thể hơn, diệt trừ năm triền cái tức là tất cả những vị thành tựu Phật quả đều phải tu hành diệt trừ năm thứ gồm: dục tham, sân hận, trạo cử, hôn trầm và nghi. Đây cũng là năm cái mà tất cả những người tu, là Phật tử chúng ra đều phải nỗ lực luôn luôn nhìn lại thân tâm của mình để đoạn tận chúng, diệt trừ chúng. Chúng ta dốc lòng tu hành với mong muốn trí huệ được sáng tỏ thì cần phải gỡ được năm triền cái này, dẹp bỏ được chúng; chừng nào những điều này còn hiện hữu thì tâm của ta không được sáng tỏa. Thật vậy, những lúc rơi vào trạng thái của hôn trầm, tâm của ta là một mớ hỗn độn, tối tăm mịt mù; rồi đến lúc lăng xăng (tức trạo cử) tâm của ta là một mớ bừa bãi, lung tung; cũng thế với dục tham, sân hận và nghi ngờ; khi nào những thứ nào có mặt thời tâm của ta rơi vào bóng tối.
Tiếp theo là an trú tâm vào Bốn Niệm Xứ, một cách dễ hiểu, một người thực tập điều này là người luôn luôn quán xét thân tâm chính mình, đây là con đường tất cả các chư Phật, các bậc A La Hán và tất cả những người tu hành theo giáo pháp của Đức Phật đã đi qua. Bấy lâu nay ta đã quen với việc quán xét người khác mà lãng quên những cấu uế nơi bản thân; chính vì điều này mà những nguyên nhân khiến ta phiền não còn hoài; thêm nữa, chính vì luôn tập trung quán xét, nhìn thấy phiền não của người khác mà bản thân ta càng thêm buồn bực, nóng giận, sân hận… dẫn đến tan vỡ tình thân, gia đình chia rẽ và những cảnh tù tội. Nếu sau một thời gian tu học mà cảm thấy phiền não của bản thân không những giảm bớt mà lại tăng trưởng nhiều hơn thì ta cần xem lại cách nhìn nhận, quán xét của mình; vì thường thường nhìn lại bản thân, nhìn thấy những cấu uế và nguyên nhân đưa đến phiền não, sau đó nhiếp phục chúng, khiến cho phiền não được giảm thiểu đưa đến đoạn diệt thời bình an, hạnh phúc sáng tỏa.
Khi quán xét lại thâm tâm, chúng ta sẽ nhận ra nguồn gốc của mọi phiền não đều bắt nguồn từ tham – sân – si và bản ngã; chính tham – sân – si là nguồn gốc của sự già, sự bệnh và sự chết; một cá nhân không còn tham – sân – si thời vượt thoát khỏi sự già, sự bệnh và sự chết. Ngày xưa Đức Phật đã đoạn tận tham – sân – si có nói với ngài Ananda rằng: một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tu được tứ thần túc có thể sống một kiếp trái đất; nghĩa là một Bậc Như Lai, Chánh Đẳng Giác đi tới quả vị cùng cực, tu thành tựu tứ thần tứ lúc đó có thể muốn sống bao lâu tùy ý, đến mức mạng sống bằng một kiếp trái đất; thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Tuy nhiên, lúc nghe những lời này, ngài Ananda không phản ứng mà thay vào đó là một sự im lặng; Đức Phật nói lại lần thứ hai, lần thứ ba mà ngài Ananda vẫn yên lặng; một thời gian sau khi ngài Ananda vừa rời khỏi, Ma Vương liền đến thỉnh Đức Phật nhập diệt, thỉnh Ngài nhập Niết Bàn.
Sau khi quay trở về, không hiểu vì sao trời đất rúng động, rung chuyển ngài Ananda mới thưa hỏi Đức Thế Tôn, lúc bấy giờ Đức Phật dạy rằng ban nãy Ngài đã hứa với Ma Vương ba tháng sau mình sẽ nhập Niết Bàn khiến cho trời đất rúng động, rung chuyển. Khi nghe được lời này, ngài Ananda khóc lóc, đau đớn thỉnh Đức Thế Tôn đừng nhập Niết Bàn; tuy nhiên bậc Như Lai không thể làm khác điều dã hứa với Ma Vương. Âu cũng là nhân duyên của chúng sanh trong cõi này vậy.
Chỉ có Đức Phật, trong lịch sử tôn giáo không có người thứ hai dõng dạc tuyên bố rằng ba tháng sau bản thân sẽ nhập diệt. Đối với hầu hết chúng sanh, cái chết là điều không thể đoán biết được, nó xảy đến một cách bất ngờ, không báo trước; hầu hết mọi người không biết được bản thân sẽ chết ở đâu và như thế nào. Chỉ có những bậc đắc đạo, những bậc giác ngộ mới có thể thấu suốt được sự kiện này. Chính bởi như thế mà sự tu hành nói chung và Tứ Niệm Xứ nói riêng là cực kỳ quan trọng, tất cả pháp hành của Đạo Phật đều được gói gọn trong Tứ Niệm Xứ; chính là luôn luôn quán xét tự thân, tự tâm của chính mình. Nhận biết cảm giác sân hận sanh khởi trong tâm, cảm giác dục tham, si ám và bản ngã hiện hữu; kiểm soát chúng, nhiếp phục chúng đưa đến đoạn tận, giải thoát.
IV. Nghiệp:
Đức Phật thuyết pháp cho chúng sanh mỗi pháp sau liền cao thượng hơn pháp trước; hắc pháp và bạch pháp đều được Ngài đề cập, đối chiếu. Theo đó, hắc pháp là pháp đen – ác, bạch pháp là pháp trắng – thiện; sự nhận rõ, phân biệt này cực kỳ quan trọng. Phải kể đến câu chuyện ngày xưa có một vị cao tăng tu hành, mỗi khi ngài khởi lên tâm niệm xấu, tâm niệm bất thiện về người liền thêm một hạt đậu đen vào một cái lon; cũng vậy với tâm niệm tốt, thiện và lon đậu trắng. Thời gian đầu, đậu đen được tràn đầy trong khi đậu trắng chỉ vỏn vẹn vài hạt. Nhận thấy được điều này, từ đó ngài kiểm soát tâm, dập tắt những suy tư bất thiện, chỉ cho những suy tư thiện khởi phát; dần dần đậu đen giảm bớt, đậu trắng nhiều lên cho đến khi hai lon bằng nhau. Sau đó vì sự kiểm soát được tốt hơn, mỗi lúc khởi lên một niệm tốt, niệm thiện, niệm giúp người, niệm thương người và vật, niệm tha thứ, từ bi hỷ xả thì thêm một hạt đậu trắng đến cuối cùng hai lon đậu chỉ còn lại đậu trắng.
Đức Phật dạy về hắc pháp và bạch pháp, về hắc nghiệp và bạch nghiệp, nghiệp đen và nghiệp trắng; cực kỳ thâm sâu và đáng lo sợ; chúng ta cần phải biết lo sợ, hoảng sợ, kinh sợ, luôn luôn sợ hãi đối với ác nghiệp.
Chính những nhân ác nghiệp này mang lại những ác quả cực kỳ kinh khủng và đau lòng. Chẳng hạn như những người nằm dài trong bệnh viện, hết tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác, thậm chí nằm liệt giường suốt 20, 30, 40 năm trời. Những cảnh bị giam trong trại tâm thần, không nhận rõ được bất cứ điều gì, quần áo mặc lên thì xé nát, người cho đồ thì mắng chửi người; là những người trần truồng đi lang thang ngoài đường, đầu tóc rối bời, mặt mũi lem luốc, nói cười một mình; là những người bò lết ở lòng đường, cụt mất hai chân, hai tay xin ăn qua ngày. Đến những cụ già 70, 80 tuổi bắt đầu ngày mới bằng sự mệt mỏi với sấp vé số trên tay; những người mù, làng mù hàng ngàn người ở Sóc Trăng cả đời không thấy ánh sáng; những người câm, người điếc, người khuyết tật. Những dân tộc miền núi đói nghèo, lạc hậu, thiếu học vấn không được tiếp cận với văn hóa, đạo đức; và biết bao nhiêu những cảnh khổ không thể nào kể xuyết. Tất cả những hoàn cảnh này đều là do nghiệp tác thành; tất cả những hoàn cảnh này đều do nghiệp đen của họ tạo ra trong quá khứ, cực kỳ đau đớn và sợ hãi.
Ngược lại, có những người sinh ra lành lặn với dung mạo đẹp đẽ, giàu có, quyền uy, sung sướng, những người trúng số hàng tỷ, chục tỷ, trăm tỷ đồng… những thần tiên đi mây về gió, phất tay áo hiện lên lâu đài như trong Tây Du Ký. Được vậy đều là bởi những bạch nghiệp, thiện nghiệp của họ đã gieo trong quá khứ đến lúc chín muồi.
Theo lời dạy của Đức Phật, chúng ta cần phải cẩn thận với tất cả những gì bản thân tiếp xúc mỗi ngày, từ món ăn, căn nhà, quần áo, người hay vật… nếu sự tiếp xúc này sinh ra những bất thiện pháp, giep nhân ác nghiệp thì ta cần phải tránh xa, gạt bỏ. Ngược lại, nếu tiếp xúc với những hoàn cảnh, điều kiện, con người, đồ vật… giúp bản thân tăng trưởng thiện pháp, giảm thiểu ác pháp thì đây là nơi ta cần hướng đến. Cần phải phát huy thiện nghiệp, tiêu diệt ác nghiệp, tìm thiện tránh ác để được những phúc báu, quả ngọt trong vòng luân hồi này, để được đẹp, hạnh phúc, giàu có, an lạc, tốt lành…
Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phải cẩn thận trong từng ý nghĩ, hành vi và lời nói của bản thân. Nghĩ thiện, làm thiện, nói thiện thì kết quả vui sướng, hạnh phúc; nếu nghĩ, làm, nói thuần thiện thì được sanh thiên, sanh lên cõi trời. Về cảnh giới ở những cõi trời, ở những tầng trời thấp một ngày ở đó bằng 10 năm cõi người, với những tầng trời cao hơn một ngày có thể bằng 100 năm, 200 năm của nhân gian. Trong kinh Nikaya kể lại, có một vị thiên hết phước ở cõi trời, thối lui làm người tại nhân gian, may mắn được gặp và quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, Tam Bảo, sống một đời người sinh được hai, ba người con đều quy y Tam Bảo. Vị này sau khi chết được quay lên cõi trời vì phước báu quy y Tam Bảo, khi trở lại những vị thiên là bạn của người này mới hỏi rằng: đã đi đâu mà tìm từ sáng đến trưa không thấy; vị này trả lời: đi xuống nhân gian; nửa ngày bằng chín mươi năm.
Một cá nhân chuyên đi làm từ thiện, người này xây cầu, làm đường, cất trường học, tất cả những gì thiện lành đều thực hiện thời sau khi mạng chung người này được sanh thiên. Nếu người này còn tu tập tứ vô lượng tâm gồm: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm thì người này được làm thiên chủ cõi trời. Nếu chưa đủ duyên được sanh thiên thì được sanh ở cõi người không bị rơi vào cảnh nghèo khổ mà được hạnh phúc, sung sướng.
Ấy vậy mà vẫn có những người chăm chăm tích lũy của cải, ích kỷ, chỉ biết đến bản thân, không mảy may nghĩ đến việc giúp người, giúp vật, làm điều thiện lành… chính vì thực hiện những điều này mà phước báu tích lũy bị suy giảm; đời sau sinh ra với cảnh nghèo cùng khốn khổ, bênh tật, mù lòa, đui điếc, câm ngọng. Khi biết làm phước thì được sinh ra với đầy đủ, sung túc, hạnh phúc; đây là bí quyết mà Đức Phật hướng dẫn; về nghiệp đen và nghiệp trắng. Quý Phật tử cần phải cẩn thận những điều bản thân suy nghĩ, phải hướng nó đến điều thiện lành; làm thiện, nói thiện thì đời sanh thiên; nghĩ ác, làm ác, nói ác thì sanh vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Có một trường hợp, những cá nhân vừa nghĩ, làm, nói điều thiện và vừa nghĩ, làm, nói điều ác; hai nghiệp thiện ác này trộn lẫn với nhau thì được sanh tại cõi người hoặc ở cõi A tu la. Lẫn lộn giữa hai thứ này ví như thịt ba rọi, không phải nạc cũng không phải mỡ, nó nằm ở lưng chừng. Quý Phật tử cần phải xác định bản thân đang ở đâu trong những hạng người được nhắc đến ở trên; luôn nhớ phấn đấu thuần thiện, được vậy và học giáo pháp của Đức Phật, tu hành theo Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo thời chấm dứt luân hồi sanh tử. Tuy là người pha trộn hắc bạch nghiệp, sau khi học tập giáo pháp của Đức Phật, tinh tấn tu hành thời cũng đưa đến chấm dứt luân hồi sanh tử. Nếu cảm thấy cảm thân đang ở trong hạng người thuần ác hay phần ác trội hơn thì từ nay hướng về điều thiện, bởi những điều này không hề cố định, chúng là vô thường, là vô ngã.
V. Sự chứng ngộ của Đức Phật:
Một điều quan trọng mà Minh Thành muốn chia sẻ đến quý Phật tử là sự chứng ngộ của Đức Phật Chánh Đẳng giác. Trong bài Kinh Thế Giới, Tăng Chi Bộ Kinh tập I, thấu suốt bốn sự thật thâm diệu về mọi phương diện; Đức Thế Tôn giác ngộ điều gì mà thành Phật, Ngài dạy rằng:
“Này các Tỷ-kheo, thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác, Như Lai không hệ lụy đối với đời. Thế giới tập khởi được Như Lai Chánh Đẳng Giác, thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác, thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai tu tập.”
Một cách dễ hiểu, nguyên nhân chúng sanh khổ đau, có sự sanh, sự già và sự chết chính tại vì chúng sanh có tham ái, sự tham ái này mang ý nghĩa rộng lớn, bao trùm tham – sân – si. Tham ái làm cho chúng sanh già, bệnh, chết; và từ chấm dứt tham ái nên sanh tử được chấm dứt. Kể từ hôm nay, trên con đường tu học của bản thân, những điều nào bản thân cảm thấy ham thích tuy nhiên biết rằng nó là điều bất thiện thì nên giảm bớt, chặn đứng không để cho nó sanh khởi thành hành động, lời nói. Và những gì đang là thiện, là phước, là công đức, là trí tuệ, là giải thoát thì ta phát triển, tạo điều kiện cho chúng được sanh khởi nhiều hơn. Được vậy là chúng ta đã thắp sáng lên ngọn lửa trí tuệ, thắp lên ánh sáng của Đức Phật trong ngày Phật Đản.
Tóm lại ở bài viết này, quý Phật tử cần lưu ý những điều sau: thứ nhất là tầm quan trọng trong sự xuất hiện của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đây là một sự kiện cực kỳ hy hữu, cực kỳ hiếm có, cực kỳ khó gặp, tuy sinh ra vào thời Đức Phật đã nhập Niết Bàn nhưng giáo pháp của ngài vẫn còn, ta có thể nương theo đó để tu tập giải thoát. Chúng ta phải nhận rõ rằng sau khi giáo pháp biến mất, lúc này thế giới sẽ chìm ngập trong một bóng đêm mịt mù ghê gớm, trong bóng đêm này chúng sanh sẽ rất dễ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; đơn giản như việc ăn cháo vậy.
Hiện tại, giáo pháp của Như Lai còn đang được bảo vệ, được duy trì, Phật Pháp đang hưng thịnh, giảng thuyết khắp nơi, khóa tu liên tục được khai mở, băng đĩa, sách báo, video về Phật Pháp có thể dễ dàng tiếp cận trên mạng toàn cầu internet. Ấy thế mà trong một ngày không đếm xuể số người từ giã cuộc đời trong sự bất ngờ; những cảnh tượng sát sanh, hại người hại vật, vào tù ra tội không thể kể hết. Thật vậy, mỗi năm hơn 10.000 vụ tai tai nạn giao thông lấy đi biết bao nhiêu mạng người; những căn bệnh mới xuất hiện, ung thư tràn lan, đau đớn vô cùng. Chúng ta cứ ngỡ bản thân là trường tồn, còn sống lâu lắm nên cứ nhởn nhơ, không chịu tu học, đến khi quả báo ập đến thì trở tay không kịp.
Ngày nào chúng ta cũng nên nghe tin tức, nghe về những vụ tai nạn bất ngờ, về những ác quả, ác nghiệp trên cuộc đời; để từ đây sanh tâm sợ hãi, sự sợ hãi này sẽ đưa đến dốc lòng tu học, hướng thiện… nếu không ta sẽ đi đến nơi chai lì, lãng quên ác nghiệp. Gặp được Chánh Pháp của Như Lai là một điều cực kỳ may mắn, vinh hạnh tối thù thắng của kiếp người. Chính vì vậy mà quý Phật tử nên cố gắng mỗi tháng đến chùa Thọ Bát nghe pháp một lần, thường xuyên lên trang Linh Quy Pháp Ấn (.vn) để trí tuệ được khai mở; ngoài ra chiều tối nếu có thể nên tụng kinh, hướng về Tam Bảo. Bây giờ, sự tu học của những người có tâm đã rất thuận lợi, không giống ngày xưa phải lặn lội đường xa, cực khổ để được nghe pháp. Bây giờ chúng ta chỉ cách Chánh Pháp một cú click chuột, cần phải tận dụng dốc lòng thực hành.
Sự tu học hiện nay đơn giản là vậy mà ta không dốc lòng cố gắng, mai kia Chánh Pháp hoại diệt không còn biết tu học nơi đâu, thì lúc này khổ đau ập đến vây kín cuộc đời, cực kỳ đau lòng và hối hận. Nhân ngày lễ Phật Đản, chúng ta ôn nhắc lại ân đức của Đức Phật, của Giáo Pháp, của Chư Tăng; tạo một niềm tin bất động, không lay chuyển, không xao động đối với Tam Bảo. Từ đây ta thấy rõ đường lối, mục đích tối thượng của Đạo Phật, chấm dứt tham – sân – si; thoát ra khỏi sanh tử luân hồi; chấm dứt đau khổ, có được an lạc.
Vậy, từ nay kính mong quý Phật tử dốc lòng tu tập, tích góp đậu trắng, bớt lại đậu đen, thực hành thiện pháp về thân, khẩu, ý; đem lại đời sống an vui trong hiện tại và tương lai. Ngưỡng mong quý Phật tử nỗ lực tinh tấn tu hành.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Điện Bàn, ngày 31 tháng 7 năm 2020.
Biên tập – Hồ Như Ý.
Thích Minh Thành
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp: PAGEREF _Toc47013918 \h 1
II. Hiểu về Đức Phật: PAGEREF _Toc47013919 \h 2
III. Cốt lõi của Đạo Phật: PAGEREF _Toc47013920 \h 6
IV. Nghiệp: PAGEREF _Toc47013921 \h 12
V. Sự chứng ngộ của Đức Phật: PAGEREF _Toc47013922 \h 16
I. Thực hành ba pháp:
Trước khi đến nội dung bài viết, mời quý Phật tử thực hành ba pháp tỉnh giác. Pháp đầu tiên, chánh niệm trước mặt, mở hai mắt nhìn xuống về phía trước, mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên. Pháp thứ hai, trở về hơi thở cảm nhận cảm giác toàn thân, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở tại ba điểm: chóp mũi, lồng ngực và bụng; thở vào làm cho thân tâm an tịnh, thở ra làm cho thân tâm an tịnh; thở vào làm cho thân tâm lắng dịu, thở ra làm cho lắng dịu thân tâm. Pháp thứ ba, nội tâm tỉnh giác, rõ biết những gì đang hiện hữu nơi thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Cảm nhận sự an lạc của giờ phút này, theo hơi thở vào ra cảm nhận sự hạnh phúc ngay lúc này.
Kính thưa quý Phật tử, hôm nay là ngày rằm tháng tư, ngày mà hơn 2600 năm trước một bậc đại vĩ nhân xuất hiện trên thế gian này. Chúng ta cùng cảm nhận niềm hạnh phúc khi được tiếp xúc với ngày đản sanh của Đức Phật; cảm nhận niềm an lạc mà Đức Phật mang lại cho chúng sanh khi Ngài ra đời; cảm nhận tình thương bao la của Đức Thế Tôn đã mang đến với cuộc đời, với thế giới; cảm nhận ánh sáng trí tuệ mênh mông, chói lọi mà Đức Thế Tôn đã soi rọi vào tâm của muôn loài.
Quý Phật tử cùng mỉm một nụ cười nhẹ trên môi, để cho niềm hỷ lạc thấm nhuần khắp châu thân. Cảm nhận niềm hỷ lạc của ngày hôm nay, với sự xuất hiện của Đức Phật, cùng chắp tay hướng về hình ảnh đản sanh của Đức Thế Tôn, niệm ba lần danh hiệu của Ngài bằng lòng biết ơn tha thiết, chân thành nhất.
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
II. Hiểu về Đức Phật:
Kính thưa quý Phật tử, rằm tháng tư là một ngày trọng đại, một ngày vĩ đại hơn tất cả mọi ngày; chính vì hôm nay là ngày đản sanh của thái tử Tất Đạt Đa, thái tử xuất hiện đã mang đến cho muôn loài sự giác ngộ tối thượng, thù thắng suốt một tiến trình lịch sử dài thăm thẳm. Chính vì có sự giác ngộ tối thượng này mà Đạo Phật được sáng lập; vì có Đạo Phật nên Giáo Pháp mới được tồn tại và con đường an vui hạnh phúc, chấm dứt khổ đau của Ngài hướng dẫn mới được duy trì; mới có Chư Tăng là những người tiếp nối theo đời sống, lời dạy, theo phạm hạnh được Đức Thế Tôn truyền trao.
Ý nghĩa của ngày lễ Phật Đản là vô cùng quan trọng, với sự xuất hiện của một bậc vĩ nhân, không một ai có thể sánh bằng, không một ai có thể ngang hàng và cùng đẳng cấp; một con người siêu việt trên tất cả mọi chúng sanh trong vũ trụ trùm khắp bao la này. Phải trải qua bốn đại A tăng tỳ kiếp và 100 nghìn đại kiếp thì mới xuất hiện một bậc đại vĩ nhân là Đức Thế Tôn (A tăng kỳ là con số không thể nghĩ bàn, không thể đêm được với vô số, vô biên cùng một trăm ngàn đại kiếp). Một hình ảnh thực tế để ta dễ hình dung hơn, Trái Đất mà chúng ta đang sinh sống kể từ khi hình thành đến lúc hoại diệt được tính là một kiếp nhỏ, phải thành hoại hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn lần kiếp Trái Đất thì mới xuất hiện một cá nhân giống như Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác.
Chính vì lẽ đó mà chúng ta cần dâng khởi một niềm hạnh phúc mãnh liệt khi đang được sống trong Chánh Pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Theo tạng kinh Nikaya, giáo pháp của Đức Phật chỉ tồn tại 5000 năm, đến thời điểm hiện tại đã trải qua hơn 2600 năm của 5000 năm này. Với những sự kiện chúng ta được chứng kiến trong xã hội hiện đại ngày nay, với sự suy sụp đạo đức của loài người, với đầy dẫy dục, tham – sân – si, bản ngã; chính những điều này sẽ khiến cho giáo pháp mau đi đến chỗ hoại diệt. Một khi giáo pháp hoại diệt thời bấy giờ chúng sanh sẽ chìm vào một thời kỳ tăm tối, ảm đạm và vô minh, một thời kỳ hỗn độn không lối ra.
Nếu không có sự xuất hiện của Đức Phật, Giáo Pháp không được Chư Tăng duy trì thì chúng ta đã lạc vào một đêm dài vô biên, bất tận, một đêm dài khủng khiếp, khủng hoảng, kinh khủng, không thể nghĩ bàn. Bởi vậy mà sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là một sự vinh hạnh không gì sánh bằng đối với chúng sanh; sau hơn bốn A tăng tỳ kiếp, Đức Phật ra đời, bậc toàn tri, toàn đức, toàn giác, toàn hạnh; chúng ta may mắn được ngồi đây đọc hiểu những lời dạy vàng ngọc của Ngài là một sự hạnh phúc tột cùng.
Đức Phật thấu rõ mọi sự tình về các cõi trên thế gian này, nên được gọi là bậc Thế Gian Giải; Ngài là bậc tôn kính nhất trong cuộc đời này nên được gọi là Thế Tôn; Ngài thấy biết chân chánh cùng khắp không sót một điều gì trên đời này vượt khỏi sự hiểu biết của Ngài nên được gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác; Ngài tu đạt đến cảnh giới không một ai có thể hơn được nữa, xứng đáng cho tất cả Chư Thiên và Loài Người cúng dường, nên được gọi là Vô Thượng Sĩ; Ngài là thầy của trời và người nên được gọi là Thiên Nhơn Sư. Theo kinh tạng Nikaya, khi Đức Phật vừa thành đạo, chứng ngộ Niết Bàn dưới cội bồ đề thời lúc này tâm của Ngài đi vào thụ động, Ngài có ý định nhập Niết Bàn, không muốn thuyết pháp bởi vì pháp được Ngài chứng đạt sâu xa, thâm diệu, khả năng sẽ không có người hiểu nỗi.
Thời bấy giờ vị Ta Bà Chủ (theo quan niệm nhân gian chính là chúa tể dục giới, là vua trời, là Ngọc Hoàng Thượng Đế, là ông trời) từ trên cõi trời, nhận thấy quả đất này rúng động do Đức Thế Tôn thành tựu Chánh Đẳng Giác, cảm biết ý định nhập Niết Bàn của Đức Phật liền co duỗi cánh tay, ngay tức khắc từ cõi trời hiện xuống quỳ lạy dưới chân Đức Phật bạch Ngài với đại ý rằng: cung thỉnh Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hãy lưu lại ở đời để thuyết pháp, vì có những chúng sanh ít tham – sân – si, phiền não, có khả năng hiểu được giáo pháp sâu xa, thâm diệu của Đức Phật. Cung thỉnh như vậy ba lần thời Đức Phật nhận lời.
Kể từ ngày hôm đó, 45 năm sau đầu trần chân đất Đức Phật đi khắp Ngũ Thiên Trúc vì chúng sanh mà thuyết pháp. Từ một thái tử sắp sửa lên ngôi hoàng đế mà Đức Thế Tôn trong quá trình thuyết pháp của mình có giai đoạn Ngài phải ăn lúa dành cho ngựa trong vòng ba tháng liền (do có một vị hứa cúng dường mà lại quên). Rồi có khi Đức Thế Tôn ôm bình bát đi khất thực mà không một ai cho nên phải uống nước qua ngày; khi già vì đau lưng, bệnh tật mà Ngài phải nằm dưới gốc cây trên tấm y được trải xuống. Kể ra như vậy mới cảm nhận được tình thương bao la của Ngài danh cho chúng sanh; ấy thế mà có nhiều người vừa vào tu học một ngày đã than mệt mỏi, muốn được về ngủ sớm.
Quý Phật tử cần phải hiểu về Đức Phật một cách đúng đắn, thì mới có thể tin vào Ngài bằng một niềm tin chân chánh; một khi hiểu không đúng mà vẫn tin, thời nghĩ rằng Phật là một vị thần, vị thánh có khả năng ban phước giáng họa, đây là một niềm tin lầm lạc, là mê tín, không phải niềm tin của một Phật tử chân chính. Đức Phật không ban phước, giáng họa cho chúng sanh mà Ngài là bậc giác ngộ, bậc thấu suốt nguyên lý của khổ, nguyên nhân của khổ và cách để chấm dứt khổ đau; Ngài hiểu được nguyên lý này và chứng ngộ được điều này; Ngài hướng dẫn cho chúng ta con đường để đi đến giải thoát, chấm dứt khổ đau.
Có những vị Phật tử đến chùa suốt 20, 30 năm; ngày nào cũng ghi tên cần an, van xin điều này thứ nọ; đều là đang ở cổng chùa chứ chưa chân thực vào chùa; những việc này chỉ dừng lại ở công tác tín ngưỡng cho người sơ cơ chưa biết đến giáo pháp. Trên thực tế, Phật không làm sao ban phước cho chúng ta, Ngài chỉ hướng dẫn cho ta con đường, phương pháp bình an, giải thoát. Cũng giống như việc không một ai có thể ăn cơm thay chúng ta, không một ai ngủ thế chúng ta được cả.
Bởi vì vậy mà bản chất thực sự của sự cầu nguyện chính là một lời hứa với Phật để từ đây ta nỗ lực thực hành, làm theo những lời dạy của Ngài. Nếu cứ mãi lạy lục, van xin, cầu cúng mà bản thân không dốc lòng tu học, không dốc lòng sửa đổi, cứ mãi chấp nhận sự tham lam, sân hận, si ám và bản ngã nơi nội tâm thì mãi sẽ không đến được bến bờ của sự bình an, hạnh phúc. Đây là cốt lõi của việc đến chùa, quý Phật tử cần phải nắm vững để hiểu về Đức Phật một cách sâu sắc, không thể mang danh Phật tử mà lại suy nghĩ theo hướng mê tín dị đoan. Cần phải hiểu đúng về Đức Phật, về con đường mà Ngài hướng dẫn, làm thế nào để được bình an, làm thế nào để được từ bi, giàu có; làm đúng theo lời Ngài hướng dẫn thì ta mới thành công tu học và là một người Phật tử chân chính.
III. Cốt lõi của Đạo Phật:
Vấn đề vừa được nêu ở phần trên mới chỉ là một phần nhỏ của Đạo Phật, ở phần này quý Phật tử cùng đi đến một nội dung sâu sắc hơn. Trong kinh Tăng Chi Bộ - Tập IV – trang 430, bài kinh “Không Thể Tăng Trưởng” Đức Phật dạy rằng:
“Này các Tỷ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không xuất hiện ở đời và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh
Già
Chết
Này các Tỷ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời.”
Thật vậy, vì có sự sanh, sự già và sự chết nên Đức Phật mới xuất hiện. Có một chi tiết trong cuộc đời của Đức Phật có thể phần nào giải thích điều này, chính là khi thái tử Tất Đạt Đa quyết định đi tu sau khi chứng kiến cảnh tượng của sự già, bệnh, chết và một thầy tu. Sau khi Ngài quyết định tu hành, vua Tịnh Phạn năn nỉ Ngài ở lại, thời Ngài trả lời với đại ý được ghi lại trong kinh Nikaya rằng: nếu phụ vương ban cho con không bệnh, không già, không chết thì con sẽ ở lại. Vì không thể ban cho thái tử những điều này nên Ngài đi tu, cuối cùng chứng ngộ cảnh giới bất tử, vượt qua khỏi sanh, già, bệnh và chết, chấm dứt luân hồi sanh tử.
Đây mới chính là ý nghĩa trọng tâm, cốt lõi nhất, là trái tim của Đạo Phật, nếu không nắm vững điều này thì chúng ta sẽ lạc vào mê muội, tà kiến. Suốt ngày chăm chăm cầu xin, mong mỏi làm ăn phát đạt, khỏe mạnh, cầu cho con cái thi đậu, điểm cao… cầu xin toàn những thứ bên ngoài mình, không nhận ra những điều mình cầu vẫn còn ở trong luân hồi sanh tử, vẫn còn ở trong già, bệnh, chết. Đây là hành động bỏ gốc tìm ngọn của phàm phu. Cốt lõi của Đạo Phật là con đường đi đến sự chấm dứt sanh, già, bệnh, chết đạt đến cảnh giới Niết Bàn bất tử; chúng ta truy cầu rất nhiều thứ, hao tổn tâm lực để rồi một ngày sự bệnh, sự già và sự chết ập đến cướp hết mọi thứ, chẳng còn lại gì ngoài những nhân duyên, nghiệp báo mà bấy lâu gây tạo.
Là một người Phật tử chân chính, chúng ta cần luôn luôn nhắc nhớ ba chữ “già, bệnh, chết” không bao giờ được quên. Vì tưởng rằng bản thân vẫn còn trẻ nên mới tham, nhớ mình còn khỏe nên mới sân hận, lầm nghĩ rằng bản thân sẽ sống hoài nên mới si mê, không nhớ rằng một ngày kia rồi tấm thân này phải nằm xuống, kết quả của bao nhiêu đam mê, si mê, đắm đuối là một hũ tro tàn, một nấm mồ không hơn không kém. Sự quán tưởng về già, bệnh, chết có thể giúp ta diệt trừ được tham, sân, si để từ đây phiền não, ác nghiệp được giảm bớt; bình an, hạnh phúc hiện hữu.
Trong bài kinh Tự Hoan Hỷ, Trường Bộ Kinh tập II, khi đọc những lời này chúng ta sẽ cảm thấy chấn động, tạo nên một niềm tin bất động đối với Đức Phật và truyền thống Chánh Pháp của ngài. Lúc bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất đi đến chỗ của Đức Thế Tốn, đảnh lễ và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn cho đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ hay ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một vị tu hành nào mà có thể vĩ đại hơn Đức Thế Tôn, sáng suốt hơn Đức Thế Tôn về phương diện giác ngộ”
Lúc đó Đức Phật quở mà thương ngài Sāriputta (tức Xá Lợi Phất) rằng:
“- Này Xá-Lợi-Phất lời nói của ông nó thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ông thật là rống lên tiếng gầm của con sư tử.
- Bạch Đức Thế Tôn con tin tưởng Đức Thế Tôn về phương diện giác ngộ như vậy.
- Này Xá-Lợi-Phất, có phải ông đã được biết trong quá khứ hay trong tương lai cũng như trong hiện tại các vị A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác, với cái tâm của ông ông biết được tát cả cái tâm của các vị Thế Tôn đó về giới đức, về pháp, về trí huệ và an trú giải thoát của các vị Thế Tôn ấy hay không?
- Ngài Xá-Lợi-Phất bạch: Dạ con không biết,
- Này Xá-Lợi-Phất, hãy xem ông không có trí huệ biết được tâm tư của chư vị A-La-Hán và Chánh Đẳng Giác ở quá khứ, ở hiện tại và tương lai. Vậy mà sao ông dám nói vậy?
- Bạch Thế Tôn: Con không có trí huệ để biết được tâm tư, nói gọn là các chư Phật trong quá khứ, hiện tại, dị lai. Nhưng con biết truyền thống về Chánh pháp.
- Truyền thống như thế nào?
- Bạch Thế Tôn: Như là vị vua có một thành trì ở biên giới, có hào lũy kiên cố, có thành quách, tháp kiên cố. Canh chừng và chỉ có một cửa thành ra vào thôi. Cửa thành đó có vị giữ cửa thông minh, biệt tài và giàu kinh nghiệm ngăn chặn những người lạ chỉ cho những người quen biết đi qua. Người này trong khi đi tuần xung quanh thành có thể không thấy hết các chấp nối và khe hở của tường nhỏ cho đến một con mèo có thể qua được. Nhưng mà người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn hơn muốn đi vào hay đi ra cái thành này, tất cả đều phải đi vào hay đi ra cái cửa này. Bạch Đức Thế Tôn cũng vậy, con biết truyền thống về Chánh pháp”
Quý Phật tử cần phải hiểu rõ sự ví von này của ngày Xá Lợi Phất, nghĩa là trong thành chỉ có một cánh cửa, nên bất cứ người nào muốn vào hay ra thành đều phải đi qua cánh cửa đó. Cũng vậy, trong truyền thống của các Đức Phật, tất cả những vị A La Hán, Chánh Đẳng Giác ở quá khứ, hiện tai hay vị lai; những bậc Thế Tôn đã diệt trừ năm triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã khéo an trú tâm vào Bốn Niệm Xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác Chi và chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Hiểu một cách cụ thể hơn, diệt trừ năm triền cái tức là tất cả những vị thành tựu Phật quả đều phải tu hành diệt trừ năm thứ gồm: dục tham, sân hận, trạo cử, hôn trầm và nghi. Đây cũng là năm cái mà tất cả những người tu, là Phật tử chúng ra đều phải nỗ lực luôn luôn nhìn lại thân tâm của mình để đoạn tận chúng, diệt trừ chúng. Chúng ta dốc lòng tu hành với mong muốn trí huệ được sáng tỏ thì cần phải gỡ được năm triền cái này, dẹp bỏ được chúng; chừng nào những điều này còn hiện hữu thì tâm của ta không được sáng tỏa. Thật vậy, những lúc rơi vào trạng thái của hôn trầm, tâm của ta là một mớ hỗn độn, tối tăm mịt mù; rồi đến lúc lăng xăng (tức trạo cử) tâm của ta là một mớ bừa bãi, lung tung; cũng thế với dục tham, sân hận và nghi ngờ; khi nào những thứ nào có mặt thời tâm của ta rơi vào bóng tối.
Tiếp theo là an trú tâm vào Bốn Niệm Xứ, một cách dễ hiểu, một người thực tập điều này là người luôn luôn quán xét thân tâm chính mình, đây là con đường tất cả các chư Phật, các bậc A La Hán và tất cả những người tu hành theo giáo pháp của Đức Phật đã đi qua. Bấy lâu nay ta đã quen với việc quán xét người khác mà lãng quên những cấu uế nơi bản thân; chính vì điều này mà những nguyên nhân khiến ta phiền não còn hoài; thêm nữa, chính vì luôn tập trung quán xét, nhìn thấy phiền não của người khác mà bản thân ta càng thêm buồn bực, nóng giận, sân hận… dẫn đến tan vỡ tình thân, gia đình chia rẽ và những cảnh tù tội. Nếu sau một thời gian tu học mà cảm thấy phiền não của bản thân không những giảm bớt mà lại tăng trưởng nhiều hơn thì ta cần xem lại cách nhìn nhận, quán xét của mình; vì thường thường nhìn lại bản thân, nhìn thấy những cấu uế và nguyên nhân đưa đến phiền não, sau đó nhiếp phục chúng, khiến cho phiền não được giảm thiểu đưa đến đoạn diệt thời bình an, hạnh phúc sáng tỏa.
Khi quán xét lại thâm tâm, chúng ta sẽ nhận ra nguồn gốc của mọi phiền não đều bắt nguồn từ tham – sân – si và bản ngã; chính tham – sân – si là nguồn gốc của sự già, sự bệnh và sự chết; một cá nhân không còn tham – sân – si thời vượt thoát khỏi sự già, sự bệnh và sự chết. Ngày xưa Đức Phật đã đoạn tận tham – sân – si có nói với ngài Ananda rằng: một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tu được tứ thần túc có thể sống một kiếp trái đất; nghĩa là một Bậc Như Lai, Chánh Đẳng Giác đi tới quả vị cùng cực, tu thành tựu tứ thần tứ lúc đó có thể muốn sống bao lâu tùy ý, đến mức mạng sống bằng một kiếp trái đất; thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Tuy nhiên, lúc nghe những lời này, ngài Ananda không phản ứng mà thay vào đó là một sự im lặng; Đức Phật nói lại lần thứ hai, lần thứ ba mà ngài Ananda vẫn yên lặng; một thời gian sau khi ngài Ananda vừa rời khỏi, Ma Vương liền đến thỉnh Đức Phật nhập diệt, thỉnh Ngài nhập Niết Bàn.
Sau khi quay trở về, không hiểu vì sao trời đất rúng động, rung chuyển ngài Ananda mới thưa hỏi Đức Thế Tôn, lúc bấy giờ Đức Phật dạy rằng ban nãy Ngài đã hứa với Ma Vương ba tháng sau mình sẽ nhập Niết Bàn khiến cho trời đất rúng động, rung chuyển. Khi nghe được lời này, ngài Ananda khóc lóc, đau đớn thỉnh Đức Thế Tôn đừng nhập Niết Bàn; tuy nhiên bậc Như Lai không thể làm khác điều dã hứa với Ma Vương. Âu cũng là nhân duyên của chúng sanh trong cõi này vậy.
Chỉ có Đức Phật, trong lịch sử tôn giáo không có người thứ hai dõng dạc tuyên bố rằng ba tháng sau bản thân sẽ nhập diệt. Đối với hầu hết chúng sanh, cái chết là điều không thể đoán biết được, nó xảy đến một cách bất ngờ, không báo trước; hầu hết mọi người không biết được bản thân sẽ chết ở đâu và như thế nào. Chỉ có những bậc đắc đạo, những bậc giác ngộ mới có thể thấu suốt được sự kiện này. Chính bởi như thế mà sự tu hành nói chung và Tứ Niệm Xứ nói riêng là cực kỳ quan trọng, tất cả pháp hành của Đạo Phật đều được gói gọn trong Tứ Niệm Xứ; chính là luôn luôn quán xét tự thân, tự tâm của chính mình. Nhận biết cảm giác sân hận sanh khởi trong tâm, cảm giác dục tham, si ám và bản ngã hiện hữu; kiểm soát chúng, nhiếp phục chúng đưa đến đoạn tận, giải thoát.
IV. Nghiệp:
Đức Phật thuyết pháp cho chúng sanh mỗi pháp sau liền cao thượng hơn pháp trước; hắc pháp và bạch pháp đều được Ngài đề cập, đối chiếu. Theo đó, hắc pháp là pháp đen – ác, bạch pháp là pháp trắng – thiện; sự nhận rõ, phân biệt này cực kỳ quan trọng. Phải kể đến câu chuyện ngày xưa có một vị cao tăng tu hành, mỗi khi ngài khởi lên tâm niệm xấu, tâm niệm bất thiện về người liền thêm một hạt đậu đen vào một cái lon; cũng vậy với tâm niệm tốt, thiện và lon đậu trắng. Thời gian đầu, đậu đen được tràn đầy trong khi đậu trắng chỉ vỏn vẹn vài hạt. Nhận thấy được điều này, từ đó ngài kiểm soát tâm, dập tắt những suy tư bất thiện, chỉ cho những suy tư thiện khởi phát; dần dần đậu đen giảm bớt, đậu trắng nhiều lên cho đến khi hai lon bằng nhau. Sau đó vì sự kiểm soát được tốt hơn, mỗi lúc khởi lên một niệm tốt, niệm thiện, niệm giúp người, niệm thương người và vật, niệm tha thứ, từ bi hỷ xả thì thêm một hạt đậu trắng đến cuối cùng hai lon đậu chỉ còn lại đậu trắng.
Đức Phật dạy về hắc pháp và bạch pháp, về hắc nghiệp và bạch nghiệp, nghiệp đen và nghiệp trắng; cực kỳ thâm sâu và đáng lo sợ; chúng ta cần phải biết lo sợ, hoảng sợ, kinh sợ, luôn luôn sợ hãi đối với ác nghiệp.
Chính những nhân ác nghiệp này mang lại những ác quả cực kỳ kinh khủng và đau lòng. Chẳng hạn như những người nằm dài trong bệnh viện, hết tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác, thậm chí nằm liệt giường suốt 20, 30, 40 năm trời. Những cảnh bị giam trong trại tâm thần, không nhận rõ được bất cứ điều gì, quần áo mặc lên thì xé nát, người cho đồ thì mắng chửi người; là những người trần truồng đi lang thang ngoài đường, đầu tóc rối bời, mặt mũi lem luốc, nói cười một mình; là những người bò lết ở lòng đường, cụt mất hai chân, hai tay xin ăn qua ngày. Đến những cụ già 70, 80 tuổi bắt đầu ngày mới bằng sự mệt mỏi với sấp vé số trên tay; những người mù, làng mù hàng ngàn người ở Sóc Trăng cả đời không thấy ánh sáng; những người câm, người điếc, người khuyết tật. Những dân tộc miền núi đói nghèo, lạc hậu, thiếu học vấn không được tiếp cận với văn hóa, đạo đức; và biết bao nhiêu những cảnh khổ không thể nào kể xuyết. Tất cả những hoàn cảnh này đều là do nghiệp tác thành; tất cả những hoàn cảnh này đều do nghiệp đen của họ tạo ra trong quá khứ, cực kỳ đau đớn và sợ hãi.
Ngược lại, có những người sinh ra lành lặn với dung mạo đẹp đẽ, giàu có, quyền uy, sung sướng, những người trúng số hàng tỷ, chục tỷ, trăm tỷ đồng… những thần tiên đi mây về gió, phất tay áo hiện lên lâu đài như trong Tây Du Ký. Được vậy đều là bởi những bạch nghiệp, thiện nghiệp của họ đã gieo trong quá khứ đến lúc chín muồi.
Theo lời dạy của Đức Phật, chúng ta cần phải cẩn thận với tất cả những gì bản thân tiếp xúc mỗi ngày, từ món ăn, căn nhà, quần áo, người hay vật… nếu sự tiếp xúc này sinh ra những bất thiện pháp, giep nhân ác nghiệp thì ta cần phải tránh xa, gạt bỏ. Ngược lại, nếu tiếp xúc với những hoàn cảnh, điều kiện, con người, đồ vật… giúp bản thân tăng trưởng thiện pháp, giảm thiểu ác pháp thì đây là nơi ta cần hướng đến. Cần phải phát huy thiện nghiệp, tiêu diệt ác nghiệp, tìm thiện tránh ác để được những phúc báu, quả ngọt trong vòng luân hồi này, để được đẹp, hạnh phúc, giàu có, an lạc, tốt lành…
Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phải cẩn thận trong từng ý nghĩ, hành vi và lời nói của bản thân. Nghĩ thiện, làm thiện, nói thiện thì kết quả vui sướng, hạnh phúc; nếu nghĩ, làm, nói thuần thiện thì được sanh thiên, sanh lên cõi trời. Về cảnh giới ở những cõi trời, ở những tầng trời thấp một ngày ở đó bằng 10 năm cõi người, với những tầng trời cao hơn một ngày có thể bằng 100 năm, 200 năm của nhân gian. Trong kinh Nikaya kể lại, có một vị thiên hết phước ở cõi trời, thối lui làm người tại nhân gian, may mắn được gặp và quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, Tam Bảo, sống một đời người sinh được hai, ba người con đều quy y Tam Bảo. Vị này sau khi chết được quay lên cõi trời vì phước báu quy y Tam Bảo, khi trở lại những vị thiên là bạn của người này mới hỏi rằng: đã đi đâu mà tìm từ sáng đến trưa không thấy; vị này trả lời: đi xuống nhân gian; nửa ngày bằng chín mươi năm.
Một cá nhân chuyên đi làm từ thiện, người này xây cầu, làm đường, cất trường học, tất cả những gì thiện lành đều thực hiện thời sau khi mạng chung người này được sanh thiên. Nếu người này còn tu tập tứ vô lượng tâm gồm: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm thì người này được làm thiên chủ cõi trời. Nếu chưa đủ duyên được sanh thiên thì được sanh ở cõi người không bị rơi vào cảnh nghèo khổ mà được hạnh phúc, sung sướng.
Ấy vậy mà vẫn có những người chăm chăm tích lũy của cải, ích kỷ, chỉ biết đến bản thân, không mảy may nghĩ đến việc giúp người, giúp vật, làm điều thiện lành… chính vì thực hiện những điều này mà phước báu tích lũy bị suy giảm; đời sau sinh ra với cảnh nghèo cùng khốn khổ, bênh tật, mù lòa, đui điếc, câm ngọng. Khi biết làm phước thì được sinh ra với đầy đủ, sung túc, hạnh phúc; đây là bí quyết mà Đức Phật hướng dẫn; về nghiệp đen và nghiệp trắng. Quý Phật tử cần phải cẩn thận những điều bản thân suy nghĩ, phải hướng nó đến điều thiện lành; làm thiện, nói thiện thì đời sanh thiên; nghĩ ác, làm ác, nói ác thì sanh vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Có một trường hợp, những cá nhân vừa nghĩ, làm, nói điều thiện và vừa nghĩ, làm, nói điều ác; hai nghiệp thiện ác này trộn lẫn với nhau thì được sanh tại cõi người hoặc ở cõi A tu la. Lẫn lộn giữa hai thứ này ví như thịt ba rọi, không phải nạc cũng không phải mỡ, nó nằm ở lưng chừng. Quý Phật tử cần phải xác định bản thân đang ở đâu trong những hạng người được nhắc đến ở trên; luôn nhớ phấn đấu thuần thiện, được vậy và học giáo pháp của Đức Phật, tu hành theo Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo thời chấm dứt luân hồi sanh tử. Tuy là người pha trộn hắc bạch nghiệp, sau khi học tập giáo pháp của Đức Phật, tinh tấn tu hành thời cũng đưa đến chấm dứt luân hồi sanh tử. Nếu cảm thấy cảm thân đang ở trong hạng người thuần ác hay phần ác trội hơn thì từ nay hướng về điều thiện, bởi những điều này không hề cố định, chúng là vô thường, là vô ngã.
V. Sự chứng ngộ của Đức Phật:
Một điều quan trọng mà Minh Thành muốn chia sẻ đến quý Phật tử là sự chứng ngộ của Đức Phật Chánh Đẳng giác. Trong bài Kinh Thế Giới, Tăng Chi Bộ Kinh tập I, thấu suốt bốn sự thật thâm diệu về mọi phương diện; Đức Thế Tôn giác ngộ điều gì mà thành Phật, Ngài dạy rằng:
“Này các Tỷ-kheo, thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác, Như Lai không hệ lụy đối với đời. Thế giới tập khởi được Như Lai Chánh Đẳng Giác, thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác, thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai tu tập.”
Một cách dễ hiểu, nguyên nhân chúng sanh khổ đau, có sự sanh, sự già và sự chết chính tại vì chúng sanh có tham ái, sự tham ái này mang ý nghĩa rộng lớn, bao trùm tham – sân – si. Tham ái làm cho chúng sanh già, bệnh, chết; và từ chấm dứt tham ái nên sanh tử được chấm dứt. Kể từ hôm nay, trên con đường tu học của bản thân, những điều nào bản thân cảm thấy ham thích tuy nhiên biết rằng nó là điều bất thiện thì nên giảm bớt, chặn đứng không để cho nó sanh khởi thành hành động, lời nói. Và những gì đang là thiện, là phước, là công đức, là trí tuệ, là giải thoát thì ta phát triển, tạo điều kiện cho chúng được sanh khởi nhiều hơn. Được vậy là chúng ta đã thắp sáng lên ngọn lửa trí tuệ, thắp lên ánh sáng của Đức Phật trong ngày Phật Đản.
Tóm lại ở bài viết này, quý Phật tử cần lưu ý những điều sau: thứ nhất là tầm quan trọng trong sự xuất hiện của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đây là một sự kiện cực kỳ hy hữu, cực kỳ hiếm có, cực kỳ khó gặp, tuy sinh ra vào thời Đức Phật đã nhập Niết Bàn nhưng giáo pháp của ngài vẫn còn, ta có thể nương theo đó để tu tập giải thoát. Chúng ta phải nhận rõ rằng sau khi giáo pháp biến mất, lúc này thế giới sẽ chìm ngập trong một bóng đêm mịt mù ghê gớm, trong bóng đêm này chúng sanh sẽ rất dễ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; đơn giản như việc ăn cháo vậy.
Hiện tại, giáo pháp của Như Lai còn đang được bảo vệ, được duy trì, Phật Pháp đang hưng thịnh, giảng thuyết khắp nơi, khóa tu liên tục được khai mở, băng đĩa, sách báo, video về Phật Pháp có thể dễ dàng tiếp cận trên mạng toàn cầu internet. Ấy thế mà trong một ngày không đếm xuể số người từ giã cuộc đời trong sự bất ngờ; những cảnh tượng sát sanh, hại người hại vật, vào tù ra tội không thể kể hết. Thật vậy, mỗi năm hơn 10.000 vụ tai tai nạn giao thông lấy đi biết bao nhiêu mạng người; những căn bệnh mới xuất hiện, ung thư tràn lan, đau đớn vô cùng. Chúng ta cứ ngỡ bản thân là trường tồn, còn sống lâu lắm nên cứ nhởn nhơ, không chịu tu học, đến khi quả báo ập đến thì trở tay không kịp.
Ngày nào chúng ta cũng nên nghe tin tức, nghe về những vụ tai nạn bất ngờ, về những ác quả, ác nghiệp trên cuộc đời; để từ đây sanh tâm sợ hãi, sự sợ hãi này sẽ đưa đến dốc lòng tu học, hướng thiện… nếu không ta sẽ đi đến nơi chai lì, lãng quên ác nghiệp. Gặp được Chánh Pháp của Như Lai là một điều cực kỳ may mắn, vinh hạnh tối thù thắng của kiếp người. Chính vì vậy mà quý Phật tử nên cố gắng mỗi tháng đến chùa Thọ Bát nghe pháp một lần, thường xuyên lên trang Linh Quy Pháp Ấn (.vn) để trí tuệ được khai mở; ngoài ra chiều tối nếu có thể nên tụng kinh, hướng về Tam Bảo. Bây giờ, sự tu học của những người có tâm đã rất thuận lợi, không giống ngày xưa phải lặn lội đường xa, cực khổ để được nghe pháp. Bây giờ chúng ta chỉ cách Chánh Pháp một cú click chuột, cần phải tận dụng dốc lòng thực hành.
Sự tu học hiện nay đơn giản là vậy mà ta không dốc lòng cố gắng, mai kia Chánh Pháp hoại diệt không còn biết tu học nơi đâu, thì lúc này khổ đau ập đến vây kín cuộc đời, cực kỳ đau lòng và hối hận. Nhân ngày lễ Phật Đản, chúng ta ôn nhắc lại ân đức của Đức Phật, của Giáo Pháp, của Chư Tăng; tạo một niềm tin bất động, không lay chuyển, không xao động đối với Tam Bảo. Từ đây ta thấy rõ đường lối, mục đích tối thượng của Đạo Phật, chấm dứt tham – sân – si; thoát ra khỏi sanh tử luân hồi; chấm dứt đau khổ, có được an lạc.
Vậy, từ nay kính mong quý Phật tử dốc lòng tu tập, tích góp đậu trắng, bớt lại đậu đen, thực hành thiện pháp về thân, khẩu, ý; đem lại đời sống an vui trong hiện tại và tương lai. Ngưỡng mong quý Phật tử nỗ lực tinh tấn tu hành.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Điện Bàn, ngày 31 tháng 7 năm 2020.
Biên tập – Hồ Như Ý.