Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xả Vô Lượng Tâm 6

2026-03-03 00:55:46
TINH HOA NIKĀYA

GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN

XẢ VÔ LƯỢNG TÂM 6

– Thích Minh Thành–

Bài thiền quán này tóm thâu tinh hoa, tinh túy, cốt lõi của tạng kinh Nikāya, đặc biệt bài xả vô lượng tâm này phơi này tất cả cấu nhiễm của tâm, tất cả khía cạnh, góc độ của những dòng cảm thọ, cảm giác, cảm xúc ác bất thiện pháp cấu nhiễm, chúng ta có duyên nên cố gắng học đầy đủ, kĩ lưỡng để thấy bất ngờ vì tâm mình lại dơ bẩn, cấu uế đến vậy. Lâu nay chúng ta cứ nghĩ mình tốt, mình hiền, mình thông minh nhưng khi học vào đây mới thấy chúng ta chưa tốt, chưa hiền, tâm còn u mê, thấy như vậy để chúng ta tinh tấn, tinh cần, nhiệt tâm nhiếp phục, đoạn tận và tẩy sạch những cấu nhiễm, những nguyên nhân của khổ trong hiện tại và tương lai.

Ta lăng xăng, dao động,

Ta phục tùng tham, sân

Ta vì tấm thân này

Làm khổ chúng sanh khác.

Trong đây dùng rất nhiều từ "ta", gần như bài nào cũng có chữ "ta" để nói lên lỗi lầm của bản ngã.

Ta ganh ghét, tật đố

Ta tranh giành hơn thua

Ta gây thù, trả oán

Ta hại mạng bao loài.

Ta vì không hiểu biết

Ta vì bởi ám si

Đã tạo thêm đau khổ

Cho hữu tình chúng sanh.

Chữ "ta" lặp tới lặp lui là có lý do, ở đây không phải làm thơ làm văn, làm thi làm kệ mà đây là thiền quán. Phần này là phần xả bỏ kiêu mạn cho nên khi chia sẻ thiền quán phải nói lên sự xả bỏ kiêu mạn, đây là phần trọng tâm mà nhiều khi mình lại quên. Ở phía sau chữ "ta" đó nhằm nói lên lỗi lầm của bản ngã, cái tai họa của cái ta, cái nguy hại của cái tôi. Trong sự tu xưng hô thường tránh chữ "ta" nhưng tại sao trong đây dùng rất nhiều chữ "ta", đó là nhằm vạch tội bản ngã, sự kiêu căng, ngạo mạn, vênh váo, từ chấp ngã mới đưa ra những thứ đi theo sau đó, đó là những lỗi lầm của chấp ngã.

Tại sao lại lăng xăng, dao động? Vì có cái ta hiện hữu lúc đó, chỉ vì một câu khen chê là mình dao động là do có chấp ngã, nếu lúc đó trong tâm quán vô ngã thì mình sẽ an tịnh, lắng dịu. Cái thân trống rỗng không ai trong đó thì có ai để hơn thua, có ai để phải quấy, có ai để đúng sai, cao thấp? Cho nên vừa nghe khen chê là mình dao động là do sâu xa bên trong có cái ta. Lăng xăng, vội vàng, rộn ràng, hấp tấp, dao động, kích động, động loạn, nổi loạn… những cái này đều phải dùng thiền chỉ, sự tịnh chỉ các hành để nhiếp phục những cái này, khi mình nhận diện cảm thọ này đang có mặt, đang sanh khởi thì tác ý "dừng lại đi, ngồi yên lại đi, ở yên một chỗ", sau đó quán chiếu sự sanh khởi của những cái lăng xăng, rộn ràng này đang vận hành, áp đảo, sai khiến, dẫn dắt mình ra sao rồi mình kêu nó an tịnh, lắng dịu, tịnh chỉ. Giống như chiếc xe đang chạy có giao thông bước ra yêu cầu dừng lại là phải dừng, tâm mình cũng phải giống như vậy, sự an tịnh, lắng dịu, tịnh chỉ rất cần thiết. Khi thấy quá nổi loạn, lăng xăng là phải yên lặng, ngưng lại mọi thứ, giống như dòng điện bị quá tải thì phải gạt cầu dao tổng xuống ngắt điện, thân đang lăng xăng còn tâm dao động thì phải ra gốc cây, bờ suối, tảng đá, vườn tre ngồi một mình ra pháp lệnh tịnh chỉ, dừng lại, yên lại. Nếu không dừng được cái lăng xăng, dao động thì mình sẽ bị tham sân dẫn dắt vì sự hoạt động của nó rất khủng khiếp, mình chỉ nhìn thấy bề nổi phía trên, khi biển động mình chỉ thấy mặt nước nổi sóng mà không biết là do những thứ bên dưới đẩy lên, nhiều khi biển không động nhưng bên dưới là những đợt sóng ngầm, cho nên chúng ta rất cần thiền định. Chúng ta tập nhìn lại trong nội tâm thường xuyên vì khi không nhìn lại bên trong thì khi làm rồi hoặc nói rồi mới thấy hối hận vì sai, còn khi thường xuyên nhìn lại nội tâm thì chuẩn bị nói hoặc chuẩn bị làm, chỉ vừa nhen nhóm ý định là mình đã soi xét, kiểm tra, chặn đứng từ đầu, còn nếu không tu tập sâu sắc thì mình chỉ chạy theo sau đuôi như câu "mất bò mới lo làm chuồng", nếu mình có sự tinh cần, tinh tấn, nội soi, nội quán sâu sắc và thường xuyên thì mình chặn được từ đầu. Ví dụ mình đang ngồi thiền mà có âm thanh rất lớn phát ra, nếu trú trong pháp thì không bị tiếng động làm dao động, không trú trong pháp thì sự hướng tâm của mình sẽ hướng theo tiếng động, đang ngồi thiền nhưng có tiếng gì phát ra lớn là mở mắt ra nhìn xem đang có chuyện gì, chỉ một tiếng động thôi sẽ làm mình mất sự an trú trong pháp cho nên phải tập định tĩnh. Mưa gió một chút thôi cũng làm tâm dao động, "mưa quá chắc bệnh quá", "mưa quá thôi ngủ luôn, làm biếng tu học quá", vì thế sự nhận diện ngũ uẩn rất sâu sắc, dù có nhận diện nhưng đa số bị nó dẫn dắt liên tục, nó quật ngã mình thường xuyên vì mình chưa đủ sức nhìn ngũ uẩn rồi tách ra khỏi nó, nhìn nó rồi lát sau cũng bị nó lôi kéo. Mình rất nghe lời tham sân, nó là ông chủ của mình, tham và sân làm chủ mình, mình rất phục tùng mệnh lệnh của nó, nó kêu giận là giận chứ không chống cự lại nó, không chiến đấu với nó nên gọi là phục tùng tham sân, nó kêu xuống bếp là xuống bếp tìm đồ ăn, nó kêu nói chuyện là cứ nói, tìm bạn nói chuyện, phải tu cho sâu sắc mới nhìn ra những thứ nhỏ nhiệm này, phải lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ, nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động, đó là bí kiếp thiền gia. Lắng nghe những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ lầm thầm thật kĩ, nghe rồi dẫn chúng đến hiền hòa, hiền từ chứ đừng cứng cỏi, đừng cứng đầu khó dạy, đó mới gọi là dũng sĩ trong Thánh pháp, nghĩa là ngày đêm chiến đấu với từng ý nghĩ, hình bóng, cảm thọ, không lúc nào ngưng nghỉ. Mình không nhìn thấy được là mình phục tùng tham sân, mình vì tấm thân này mà làm khổ biết bao nhiêu người, trong cái ăn của mình có biết bao sinh mạng, bao nhiêu máu, bao nhiêu sự giãy giụa, sợ hãi, kinh hoàng trong đó. Tiếng cắt cổ gà vịt, tiếng con heo bị thọc huyết, tiếng con trâu bò rống lên bị mổ, tiếng của những con hải sản tôm, cá, mực… mình có thấy được hết những cảm thọ đau khổ khốc liệt, kinh hoàng không? Bỏ con cua còn sống vào nồi lẩu, cắt bạch tuộc làm nhiều khúc để ăn sống. Đó là cái ăn, còn cái nói cũng làm khổ biết bao nhiêu người, nói không có chánh niệm, nói trong bản ngã, kiêu căng, hống hách, kiêu ngạo, nói ra một lời làm người ta nhức nhối, bỏ ăn bỏ ngủ, chúng ta thường chiến đấu với nhau bằng "vũ khí miệng lưỡi".

"Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại tịnh xá Ghosita. Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải.

Rồi một Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải.

Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỳ-kheo và bảo như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, hãy đi, và nhân danh Ta, bảo các Tỳ-kheo ấy như sau: "Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả".

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến chỗ các Tỳ-kheo ấy ở. Sau khi đến, liền thưa với các Tỳ-kheo ấy:

-- Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả.

-- Hiền giả, vâng.

Các Tỳ-kheo vâng đáp Tỳ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo đang ngồi xuống một bên:

-- Này các Tỳ-kheo, có đúng sự thật chăng, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải?

-- Bạch Thế Tôn, có vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các Ông có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không?

-- Bạch Thế Tôn, không.

-- Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông đã chấp nhận rằng, trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy, không có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, do biết gì, do thấy gì, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi; và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, các Ông sẽ phải chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài". (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Có những câu nói làm người ta phải đau khổ suốt cả cuộc đời, giày xéo tâm can, làm người ta nhức nhối, nhục nhã. Có những tiếng nói làm tức hộc máu mà chết, từ thời Chiến quốc đã có những chuyện chọc nhau tức hộc máu, có những lời nói làm người ta suy sụp tinh thần, sa đọa, thất chí và họ buông thả cuộc đời. Ngoài ra có những ý nghĩ lợi dụng, làm hại, sử dụng người ta như con cờ, như món đồ, những ý hành ác độc lừa gạt xảo quyệt người ta suốt đời, người bị gạt có khi đến chết cũng không biết nhưng nhân quả rất công bằng và chính xác, rồi cũng phải chịu nhân quả. Vì thế những ý nghĩ, lời nói, hành động không có chánh niệm tỉnh giác, không có từ tâm, hiền tâm, không biết sợ nhân quả nghiệp báo, ác nghiệp là nguy hiểm cùng cực, không biết sợ nhân quả nên tạo ra biết bao ác nghiệp trong lời nói, suy nghĩ, hành động, không có bút mực nào diễn tả nổi những điều này. Bắt những đứa trẻ con ăn mặc rách rưới đi ăn xin, mỗi ngày phải xin được bao nhiêu tiền để đưa lại cho những kẻ chăn dắt đó, nếu không sẽ bị đánh đập, bỏ đói, thật sự rất nhức nhối nạn chăn dắt trẻ em ăn xin này. Có những chuyện rất ác ý làm khổ ngay trước mắt, có những ác ý làm khổ trong nhiều năm sau, có những ác ý làm khổ mấy chục năm, có những ác ý làm khổ suốt đời, có những tà kiến làm khổ con người vô lượng kiếp, gieo cho người ta sự nhìn nhận sai lầm cho nên lạc vào tà kiến như lạc vào mê hồn trận muôn kiếp ngàn đời không có lối ra, thậm chí bản thân người đi gieo rắc tà kiến cũng không biết vì họ cũng u mê.

Thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay.

Họ nghĩ mình thông minh nhưng lại ở trong vô minh, họ nghĩ mình chánh kiến nhưng lại ở trong tà kiến, họ nghĩ mình đang nhìn nhận đúng vấn đề nhưng thật sự lại đang đi trong bóng đêm, họ đang làm hại chính họ và làm hại cả người khác mà họ cũng không biết. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Giác ra đời, không có đạo lộ Thánh pháp, Thánh đạo này là mình làm hại chính bản thân mình và làm hại cả chúng sanh mà mình hoàn toàn không biết, chính mình hành hạ, hành tội những người mình yêu thương. Vợ chồng với nhau, cha con, mẹ con không biết tu là hành hạ nhau suốt đời, kể cả thầy trò, huynh đệ, tỉ muội cùng tu lại đi hành xác nhau, thật sự là mình đang làm khổ, đang hành hạ chính mình rất khủng khiếp vì sự vô minh của bản thân. Hãy tưởng tượng khắp cả hành tinh đều sống trong bóng đêm, vừa bị mù mắt vừa bị tâm mê bao phủ thì cuộc sống thật khủng khiếp, đó là thực tại của chúng sanh, tức là sự thật ngay trong hiện tại của chúng sanh, trong tâm thì mê, con mắt thì mù, bên ngoài tràn ngập bóng đêm, quờ quạng trong đó rồi đâm nhau, chém nhau, giết nhau, hãm hại, lừa gạt nhau. Chúng ta thật là đáng thương, thật là đáng tội nghiệp, hành tội lẫn nhau, bắt lỗi từng cái trong từng ý nghĩ, lời nói, hành động, bắt bẻ, soi mói, gài bẫy nhau, mưu tính hãm hại nhau, rồi tất cả cùng rơi xuống vực thẳm ba đường ác. Vì họ si mê, hôn ám nên người nào càng phát huy cái này lại càng được khen, càng xảo trá, càng mưu mô, hư ngụy, lừa dối thì càng được tung hô. Phải nhìn ra được những thứ này mới viễn ly, ly tham, xuất ly, không có cái nhìn này thì không thể thoát ra được, tất cả chúng ta hầu như đều sống trong bóng đêm, trong mù lòa, trong tâm mê muội và đều không thấy biết vì nếu thấy thì không còn mê, không còn mù, không còn bóng đêm, phải như vậy thì Đức Thế Tôn và các bậc Thánh mới ra đời đem ánh sáng cho chúng sanh, sự xuất hiện của Thế Tôn là duy nhất, không có người ngang hàng, ngang bằng, đó là sự xuất hiện của đại quang, đại minh, đại trí, đó là sự xuất hiện của minh, của giác, của tuệ.

"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.

Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)

Thế Tôn ra đời để chúng ta thấy được ngũ uẩn, thấy được thân xác này, thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, nhìn thấy được tâm cấu nhiễm, lậu hoặc, tội lỗi này, nhìn thấy sự chấp ngã ngu mê, cao ngạo này, nhìn thấy thủ phạm thật sự tạo ra mọi đau khổ trên trần gian này, đó là sự xuất hiện của ánh sáng, của trí tuệ.

Từ bản ngã, từ chấp ngã mới có ra ganh ghét, từ cái tôi mà có ra tật đố, đố kỵ, ganh tỵ. Thấy người ta hơn mình là mình không ưa, mình ghét, mình đố kỵ, anh em ruột trong nhà hơn kém nhau cũng ganh ghét, vợ chồng, thầy trò, huynh đệ không tu tập thì những thứ này làm tan nát hết mọi thứ. Huynh đệ vì ganh ghét nhau mà hãm hại nhau, từ trong lịch sử ngàn xưa có biết bao tông phái hãm hại nhau bằng độc dược, bằng sự gian trá, xảo quyệt, hãm hại nhau bằng cách dạy tu để tẩu hỏa nhập ma, trước mặt đối đãi ngọt ngào nhưng thật chất đang đẩy người ta xuống vực sâu.

"Thà rằng chẳng biết cho xong.

Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu"

(Nguyễn Du)

Những cái này nếu không nhìn thấy, không nhiếp phục vẫn hiện diện, vẫn tồn tại trong thân tâm, huynh đệ. "Ta gây thù, trả oán. Ta hại mạng bao loài", chỉ riêng cái đi không chánh niệm là có thể gây chết biết bao con kiến, gián… Ăn mặn là không nói rồi nhưng trong việc ăn chay mà vô tình cũng làm chết rất nhiều chúng sanh, trong ly nước uống mà không nhìn là cho vào bụng biết bao con kiến. Trí tuệ trong tu tập giúp cho mình nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm để cẩn thận, Đức Thế Tôn đã nói phía trước, phía trên, đằng sau, chỗ nào cũng có gai, không cẩn thận là đạp trúng gai.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: 'Mong sao tôi chớ có bị vướng gai'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VII. Khổ Pháp)

Chỉ cần cái nhìn không có phòng hộ, bảo vệ là tham dục sanh, sân hận, hơn thua sanh ra. Trong cái nhìn đó không có chánh niệm, không có từ bi, không nhiếp phục tham sân, bản ngã thì đụng vào đâu cũng có chuyện.

Vì ngu si thiếu trí

Vì không hiểu vô thường

Vì không rành nhân quả

Ta hành động ngu si.

Chúng ta phải chấp nhận chúng ta bị si ám. Chúng ta phải chấp nhận chúng ta là ngu si, thiếu trí. Chúng ta phải chấp nhận chúng ta không hiểu vô thường, không rành nhân quả. Chúng ta phải chấp nhận chúng ta là kẻ hành động ngu si. Mình cho rằng mình hiểu vô thường nhưng thật ra vẫn chưa hiểu hết, nếu hiểu vô thường thật sự thì đã ly tham, nhàm chán, trong tâm còn tham, chỉ chán chút chút chứ chưa chán hết thì vẫn chưa hiểu thấu hết vô thường, cho nên đọc vào những câu này cứ nghĩ nói cho Phật tử nhưng thật ra đang nói bản thân mình ngu si, thiếu trí, mình không hiểu vô thường, mình không rành nhân quả, mình hành động ngu si. Mình chưa thật sự hiểu vô thường, mình vẫn còn thiếu trí, còn ngu si lắm. Như thế nào là còn thiếu trí tuệ? Người ta đến nói mình ngu là mình nổi giận đùng đùng lên thì lúc đó mình đang thiếu trí tuệ, phải biết được chỗ thiếu sót của mình để làm cho tăng trưởng, tăng thượng tuệ học. Tăng thượng tuệ học có hai phần, một phần là nghe pháp, nghiền ngẫm, quán chiếu, phần còn lại là nghe tâm, biết tập nhìn tâm sẽ sanh trí tuệ. Mình vui vì biết tập nhìn tâm, cứ nhìn liên tục thì sẽ hiểu biết mình, hiểu biết tâm thì biết tính chất vô thường, khổ, vô ngã, hiểu được tính chất vô minh, tham ái, chấp thủ. "Vì không rành nhân quả ta hành động ngu si", mình nghĩ rằng nhân quả thì có gì mà không biết, mình biết từ lúc còn là cư sĩ, thật tế mình chỉ biết trên chữ nghĩa, trên tri thức, khái niệm thôi chứ nhân quả thật sự mình vẫn chưa rành rõ, nếu rành rõ thì không còn tạo ra những cái nhân đưa mình đến khổ, nếu rành nhân quả thì mình không còn nói những lời làm sầu não, nếu rành nhân quả thì mình không hành động để chuốc lấy án nghiệp. Mình chỉ biết nhân quả ở dạng thô, cạn cợt, còn đi vào vi tế, sâu sắc trong thân tâm thì mình vẫn chưa tỏ tường, phải đạt được Thánh trí viên mãn mới tỏ tường. Nếu không nhận diện năm uẩn, không an trú trong pháp mà rời xa pháp là mình sẽ hành động ngu si, cái ngu si này rất sâu sắc chứ không chỉ là ngủ gục mới gọi ngu si, hành động trong mê muội, vô minh cũng gọi là ngu si. Có những khi nói rồi, hành động rồi mới thấy hối hận, mới thấy đó là sai thì đó là hành động trong ngu si, phải thường niệm để nhắc nhở bản thân "mày đừng có ngu si", "mày ngu như vậy là đủ rồi, đừng ngu nữa", "ngu đến đó là vừa rồi, đừng tiếp tục ngu nữa". Trước khi làm bất cứ việc gì phải kiểm tra, xem xét kĩ càng để nhắc nhở bản thân đừng hành động ngu si.

Vì tâm bị u ám

Ta làm khổ bao loài

Nhưng ta lại không biết

Bao loài khổ vì ta.

Tâm bị u ám trong bóng đêm nên không biết gì cả, làm khổ cha khổ mẹ, khổ anh em, khổ vợ, khổ chồng, khổ con cháu, khổ người thân mà không biết, lúc nào cũng nghĩ mình hay, mình tốt, nhưng do bản ngã, sự kiêu mạn nên nghĩ như vậy, lúc nào cũng nghĩ hay, tài giỏi, tốt nhưng không biết tâm bị u ám làm khổ không biết bao nhiêu người, ví dụ vào rừng chơi rồi ngồi nướng đồ ăn, ăn xong rồi dập lửa cẩu thả, không cẩn thận, thế là lửa còn ngúm ở dưới gặp gió lan ra làm cháy rừng trên diện rộng, có biết bao loài chúng sanh trong khu rừng đó bị khổ sở, đó là do tâm u ám làm khổ bao loài nhưng không hề hay biết, chỉ vì sự vô ý bất cẩn làm cháy mấy chục mẫu rừng, tốn biết bao thời gian để khôi phục lại khu rừng như nguyên trạng ban đầu. Không ai lại muốn đốt nhà mình nhưng tất cả là do sự bất cẩn, rằm tháng 7 đốt nhang, đốt giấy tiền vàng mã mà không kiểm tra kĩ lưỡng lại khóa cửa đi, đến khi trở về cháy còn trơ khung sắt, không những cháy nhà mình mà còn làm cháy lan sang những căn kế bên, gây thiệt hại nặng nề. Cái tâm si ám nhưng cứ nghĩ thông minh cho nên mới vô minh, chỉ cần cẩu thả, không để tâm vào việc, không để ý, bất cẩn, không suy xét kĩ lưỡng là tự mình làm tổn phước, gây nghiệp, quả báo.

Có khi ta cũng biết

Ta làm khổ hữu tình

Nhưng vì tâm u ám

Ta không dừng được ta.

Câu này rất sâu sắc, khi nãy là u ám do không biết nhưng giờ có khi biết cũng không thể dừng lại được. Mình biết mình làm vậy là gây khổ cho người ta nhưng không dừng lại được, ăn trộm mới ra tù lại chứng nào tật nấy, lấy đồ người ta vẫn biết sẽ làm người ta khổ nhưng vì tâm u ám, quen thói ăn trộm, quen ở không mà muốn có tiền nên không dừng được thói quen ăn trộm, không dừng được thói quen làm đau khổ cho người khác. Biết chửi mắng, đánh đập sẽ làm khổ gia đình, con cái nhưng vì tâm u ám không dừng được. Biết dục ái, tham lam là đau khổ, là lo lắng, bất an, làm tan nhà nát cửa nhưng tâm u ám không dừng lại được. Biết sân hận, tức giận lên là đổ vỡ, gây họa nhưng vì tâm u ám không dừng được cơn sân trong lòng, cứ bốc giận lên là xâm chiếm, áp đảo hoàn toàn, đến khi ở trong tù hối hận là muộn màng. Những người đang phừng phừng lên, mặt đỏ lên, quơ tay múa chân chuẩn bị đánh nhau có biết lúc đó họ đang giận không? Họ biết, vẫn tỉnh táo chứ không phải không biết nhưng họ không dừng lại được thói quen của cảm xúc nhiệt não, không dừng được thói quen đòi hỏi, tìm kiếm đó, không dừng được thói quen kiêu căng, hách dịch đó, ta làm khổ bản thân ta rồi làm khổ cho người thân của ta, làm khổ cho hữu tình chúng sanh. Chạy đến đèn đỏ mà không dừng lại hiển nhiên tai nạn sẽ xảy ra, có thể gây chết người nhưng chúng ta thường xuyên vượt đèn đỏ, dục ái, sân si, ngã mạn, vô minh là đèn đỏ mà chúng ta cứ vượt qua nó, thấy nó không dừng lại làm mất đi pháp thân huệ mạng, mạng sống trí huệ bị mất cho nên dừng lại được là cả một công phu, do hộ trì căn, giữ gìn giới luật, thu nhiếp ý chí, bảo hộ tự thân, tinh tấn trong pháp và luật, do sự thiền định, tịnh chỉ, chế ngự thì đến lúc đó sẽ đủ sức mạnh đạp thắng trước lằn ranh, nếu không cứ vượt thì sẽ có ngày gặp nạn, thảm họa, cho nên sự dừng lại là cả một công phu của giới và định. Bây giờ đang ở trong vùng dịch mà cuồng chân cứ muốn đi ra ngoài, muốn tiếp xúc thì chỉ cần qua khỏi ngưỡng cửa là tử thần chờ sẵn, nhiễm bệnh rồi kêu trời kêu đất, đau đớn quằn quại khổ sở chỉ vì vượt qua cánh cửa an toàn, không đạp thắng để nhiếp phục cảm thọ thúc giục bên trong, bước qua lằn ranh an toàn là gặp hiểm nguy, vì thế cần nhiếp phục, chế ngự, ngăn chặn. Mình biết nói ra có thể gây chuyện lớn nhưng cuối cùng vẫn không thể giữ miệng mà bung ra gây đổ vỡ, bất hòa, do tâm u ám không dừng được cái dục nói, không dừng được suy nghĩ bất chánh, nó lôi mình đi, dẫn dắt mình, chỉ cần mình yếu sức là nó quật ngã mình ngay lập tức. Lúc nào tâm tinh minh, sáng suốt, tuệ lực hùng mạnh, thắp sáng trí tuệ thì mình không bị dẫn dắt, còn khi tâm không rõ, trí không sáng sẽ bị lôi kéo vượt đèn đỏ.

Vì tâm bị u ám

Ta không sợ khổ đau.

Ta không sợ nhân quả.

Ta không sợ tái sanh.

Do tâm u ám, tâm si mê, tâm vô minh nên không còn biết sợ gì nữa, không sợ nhân quả, không sợ tái sanh. Cố Hòa Thượng Thiện Hoa có quyển sách "Bài học ngàn vàng", "phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó", trước khi làm việc gì cũng phải nghĩ đến hậu quả của nó. Nhân quả thật sự rất ghê gớm, mình đã chứng kiến những cảnh không thể tưởng tượng nổi, nhân quả rất công bằng, chính xác, không thể chạy khỏi nó cho nên phải tuyệt đối cẩn thận, sợ hãi đối với nhân quả, phải cẩn trọng trong từng suy nghĩ, ý niệm vì suy nghĩ chính là nghiệp.

"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Khi thấy có những suy nghĩ ác bất thiện pháp thì không chấp nhận mà phải diệt tận, trừ diệt nó, tác ý, quán chiếu bứng tận gốc rễ của nó cho đến khi nào nó không thể sanh khởi trở lại nữa thì đó mới là sự tu tập, không được bỏ qua mà phải diệt tận, tác ý cho đến lúc không thể sanh khởi trở lại ý nghĩ đó nữa.

Ta làm mà chẳng sợ

Những nhân quả mình làm

Đến khi nhân quả đến

Ta sầu muộn khóc than.

Ta than trời, trách đất

Ta trách mình, trách người

Ta trách đời, trách phận

Ta trách hận tùm lum.

Làm mà không biết sợ nhân quả của việc mình làm đến khi nó đến thì than thở, sầu bi cho nên phải biết sợ nhân quả. Làm rồi quả báo đến thì than thở, khóc lóc mà không biết rằng những điều này đều là nhân do ta gây ra, hậu quả ta phải lãnh, cho nên phải biết sợ nhân, sợ quả. Những suy nghĩ, lời nói, hành động, ý niệm này sẽ có kết quả nên cần dè dặt và cẩn thận, giữ gìn thân hành, khẩu hành, ý hành của chúng ta, và phải biết lo sợ trước nhân quả nghiệp báo.

Ta trôi trong than trách

Ta chìm trong khổ đau

Khổ do chính ta tạo

Mà ta chẳng nhận ra.

Hận đời trách người, oán thiên hạ, sống trong than trách, chìm trong đau khổ, chính mình gây ra khổ mà không thấy không biết, không nhận ra.

Thân làm việc không thiện

Khẩu nói lời không thiện

Ý nghĩ điều không thiện

Là ba nhân không thiện.

Do nhân không hiền thiện

Nên quả phải khổ đau

Thế mà trong đau khổ

Ta luôn hỏi vì sao.

Mình cứ hỏi "tại sao tôi khổ" trong khi khổ là do chính mình tạo ra.

Thương cho ta đau khổ

Mà chẳng hiểu vì sao

Thương cho ta bất hạnh

Mà chẳng biết vì sao.

Thương cho ta si ám

Tâm chẳng rõ trắng đen

Tâm chẳng sợ nhân quả

Tâm chẳng ngán tái sanh.

Thật là đáng thương, tội nghiệp cho ta đau khổ mà chẳng hiểu tại sao. Thật là thương cho ta bất hạnh phải gặp những cảnh oan trái, oan nghiệt như vầy mà chẳng biết vì sao. Thật là thương! Thật là xót thương và tội nghiệp vì khổ là do ta tạo mà ta chẳng nhận ra. Ta không thấy, không biết, không hiểu, ta vô minh, si ám. Tâm si ám không phân biệt được trắng đen, tâm không ngán tái sanh là không biết lo lắng, sợ hãi, không ớn lạnh với đời sau phải chịu lấy hậu quả đó. Tái sanh được làm người lành lặn thì có gì phải ngán nhưng ở đây lo lắng, sợ hãi vì đời sống tiếp theo là địa ngục, là quỷ đói, cô hồn, là súc vật, súc sanh, gọi là thương cho ta tâm chẳng ngán tái sanh. Tầm nhìn của chúng ta rất nông cạn, nhỏ hẹp, chúng ta chỉ biết trước mắt hoặc vài năm sau, chúng ta chỉ nghĩ đến đó mà chúng ta không nghĩ đến đời sau, kiếp sau, dòng sanh tử tiếp nối không ngừng nghỉ, những khổ đau nhân quả chúng ta đã làm, nghiệp chúng ta đã tạo còn dài dài.

Thương cho ta thiếu trí,

Thương tâm này ngu si,

Nên khổ đeo bám mãi,

Phải vào các bào thai.

Phải chịu luật sanh tử,

Phải khổ vì có thân,

Phải chịu luật nhân quả,

Phải trả các nghiệp xưa.

Thương cái tâm hôn ám, ngu si, mờ tối này. Thương cái tâm ngu dại, dốt nát, hôn mê này. Vì cái tâm ngu si này mà cái khổ cứ đeo bám vào, vì ngu nên cứ chế tác ra những thứ si ám, vô minh, bất thiện cho nên có nghiệp thì phải có quả, quả đó là quả khổ đau. Câu "phải khổ vì có thân" rất thâm sâu, vào thân con chó mà lại là chó ghẻ, vào thân con giòi, thân trâu, thân bò, heo, ngựa, nếu vào thân người lại có biết bao chứng bệnh, thậm chí mới sanh ra đã bệnh, phải chịu biết bao cảm xúc, cảm giác thống khổ, nằm cũng đau, đi cũng đau, hành hạ thân xác đau đớn, xấu hổ. Sanh ra lại bị què, đui, điếc, câm, ngọng, sứt môi hoặc mắc những chứng bệnh nan y, chất độc màu da cam, bị bệnh Down… có vô số cái khổ, đó là phải chịu khổ vì có thân. Tai cũng phải mổ, mũi cũng phải mổ, miệng cũng phải mổ, thận, bao tử, túi mật cũng phải mổ, phải cắt, không còn chỗ nào trên người không sanh ra bệnh. Có những người làm nghề móc cống dơ bẩn, nước bẩn ngập đầu hôi thối, có những người phải chui xuống phân, phải ngửi mùi đó, có những người buôn hương bán phấn cả một kiếp người, bị hành hạ, chà đạp, sỉ nhục, có người hơn 60 tuổi phải làm đầy tớ, người hầu, làm kẻ sai vặt cho người ta, ăn cơm chan nước mắt… có biết bao nhiêu nỗi khổ trong cuộc đời này.

Dây dưa trong sanh tử,

Tái tử rồi tái sanh,

Tái sanh rồi tái tử,

Tái diễn trò tử sanh.

Tái diễn màn bi kịch,

Tái diễn cảnh khổ đau,

Tái diễn trò tử biệt,

Tái diễn cảnh khóc than.

Khóc than rồi than khóc

Than khóc rồi khóc than

Thương thay trò than khóc,

Của vô thường, tái sanh.

Cứ lặp tới lặp lui, chết rồi sanh, sanh ra rồi chết, cứ sanh rồi chết, chết rồi sanh là tái diễn trò sanh tử, tái diễn cảnh bi kịch, khổ đau đầy nước mắt, lo lắng, bất an, bất trắc, sợ hãi. Người thân thương nhất của mình chết, trong giờ phút cuối cùng cũng không được gặp mặt, hình ảnh chiếc xe cứu thương chở xác người thân, những người trong gia đình phải cầm di ảnh, lư hương bái vọng từ xa. Xác chết chất chồng, hòm này chôn chồng lên hòm kia vì không đủ chỗ chôn trong tình cảnh dịch bệnh hoành hành nghiêm trọng, phải đào hố rộng bằng sân vận động rồi chôn tập thể xác người để trong những bao đựng rác màu đen.

Tái sanh và tái tử

Đau khổ đã nát nhừ,

Lại còn ác nghiệp cũ,

Chờ thời để ra tay.

./.