Thành Quả Người Xuất Gia – Kinh Ratthapala – Trung Bộ
THÀNH QUẢ NGƯỜI XUẤT GIA
KINH RATTHAPALA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quyết tâm xuất gia PAGEREF _Toc114230183 \h 1
II. Tôn giả về thăm nhà PAGEREF _Toc114230184 \h 5
III. Giúp đỡ gia đình PAGEREF _Toc114230185 \h 12
IV. Đức hạnh người xuất gia PAGEREF _Toc114230186 \h 15
I. Quyết tâm xuất gia
Chúng ta học một bài kinh rất đặc biệt, trong bài kinh này chúng ta sẽ thấy cách ứng xử của một bậc A-la-hán đối với người thân mình, chúng ta sẽ thấy người xuất gia độ cho gia đình mình như thế nào. Lâu nay chúng ta đã học lý thuyết, hôm nay chúng ta sẽ thấy cách vận dụng lý thuyết đó ra đời sống. Bài kinh này là một trong những bài kinh rung chuyển thế giới, cách ứng xử của bậc A-la-hán và sự thành tựu của người xuất gia và thành quả của người tu sẽ được khai mở trong bài này.
“Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân chúng Kuru, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, và đi đến một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Thullakotthita.
Các Bà-la-môn, gia chủ ở Thullakotthita được nghe như sau: "Sa-môn Gotama là Thích tử, Tôn giả xuất gia từ dòng họ Sakya, du hành giữa dân chúng Kuru nay đã đến Thullakotthita với đại chúng Tỳ-kheo. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được nói lên về Tôn giả Gotama: "Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài với thắng trí tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên bố sự chứng ngộ ấy cho người khác. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, và giới thiệu đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch". Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy".
Lúc bấy giờ, một thiện nam tử tên là Ratthapala, con trai một gia đình thượng tộc ở chính tại Thullakotthita ấy, đang ngồi trong hội chúng này. Rồi thiện nam tử Ratthapala suy nghĩ như sau: "Như ta được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
--- Nhưng này Ratthapala, Ông có được cha mẹ bằng lòng cho Ông xuất gia chưa?
-- Bạch Thế Tôn, con chưa được cha mẹ bằng lòng cho con xuất gia.
-- Này Ratthapala, Như Lai không có cho ai xuất gia nếu không được cha mẹ người ấy bằng lòng.
-- Như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ làm những gì cần thiết để cha mẹ bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Rồi thiện nam tử Ratthapala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi, đi đến cha mẹ, sau khi đến liền thưa với cha mẹ:
-- Thưa Mẹ và Cha, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Hãy bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Khi được nghe nói vậy, cha mẹ Thiên nam tử Ratthapala nói với thiện nam tử Ratthapala:
-- Này con thân yêu Ratthapala, con là đứa con độc nhất của mẹ cha, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này con thân yêu Ratthapala, con không biết gì về đau khổ. Này con thân yêu Ratthapala, hãy đến ăn, hãy uống và hãy ăn chơi. Ăn, uống, ăn chơi, con có thể thụ hưởng các ái dục và sung sướng làm các phước đức. Chúng ta không bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu con có chết, chúng ta còn không muốn không có mặt con, huống nay con còn sống, chúng ta lại bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Giả sử con có chết đi thì cha mẹ cũng không nỡ, cha mẹ muốn con sống lại thì huống chi con còn sống như vầy mà lại bỏ ra đi thì làm sao cha mẹ bằng lòng được.
“Lần thứ hai... Lần thứ ba, thiện nam tử Ratthapala thưa với mẹ cha:
-- Thưa Mẹ và Cha, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Hãy bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Rồi thiện nam tử Ratthapala không được cha mẹ cho xuất gia, liền ngay tại chỗ ấy nằm xuống trên đất trần và nói:
-- Ta sẽ chết ở đây, hay được xuất gia.”
Cha mẹ cũng nói như trên, con là con một, con hãy thưởng thụ ái dục, thưởng thụ gia tài đồ sộ của gia đình, tại sao con lại bỏ gia đình muốn đi xuất gia, lang thang cực khổ thì làm sao con chịu nổi. Con chết mà cha mẹ còn muốn cho con sống lại, huống gì con đang còn sống đây thì làm sao cha mẹ muốn con ra đi.
“Lần thứ ba, thiện nam tử Ratthapala giữ im lặng.
Rồi các thân hữu của thiện nam tử Ratthapala đi đến cha mẹ thiện nam tử Ratthapala, sau khi đến liền thưa:
-- Thưa Mẹ và Cha, thiện nam tử Ratthapala đang nằm xuống trên đất trần kia và nói: "Ở đây, ta sẽ chết, hay được xuất gia". Nếu Cha Mẹ không bằng lòng cho thiện nam tử Ratthapala xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Ratthapala sẽ chết ở tại chỗ ấy. Còn nếu Cha Mẹ bằng lòng cho thiện nam tử Ratthapala xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Cha Mẹ có thể thấy Ratthapala sau khi xuất gia. Nếu thiện nam tử Ratthapala không cảm thấy hoan hỷ trong khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Ratthapala không còn con đường nào đi khác hơn. Ratthapala sẽ trở lại ở đây. Hãy bằng lòng cho phép thiện nam tử Ratthapala xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
Cha mẹ Ratthapala nhờ những người thân hữu bằng tộc khuyên giải, khuyên bảo đứa con của họ
“Rồi những thân hữu của thiện nam tử Ratthapala, đi đến thiện nam tử Ratthapala, sau khi đến, liền nói:
-- Này bạn Ratthapala, bạn là con độc nhất của cha mẹ bạn, khả ái, dễ thương, sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này bạn Ratthapala, bạn không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, ăn, uống, và vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, bạn có thể thụ hưởng các ái dục, và sung sướng làm các phước đức. Cha mẹ bạn đã bằng lòng cho phép được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và sau khi xuất gia, cần phải về thăm cha mẹ.
Rồi thiện nam tử Ratthapala, sau khi đứng dậy, sau khi lấy lại sức lực, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thiện nam tử Ratthapala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con đã được mẹ cha bằng lòng cho phép con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế Tôn hãy xuất gia cho con.
Và thiện nam tử Ratthapala được xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn và được thọ đại giới.
Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Ratthapala thọ đại giới không bao lâu, nửa tháng sau khi thọ đại giới, sau khi ở tại Thullakotthita cho đến khi thỏa mãn, liền khởi hành đi đến Savatthi, tuần tự du hành và đến Savatthi. Ở đấy, Thế Tôn trú tại Savatthi, Jetavana, tu viện của Anathapindika.
Rồi Tôn giả Ratthapala sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh tấn, không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến, tức là tự chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lui ở đời này nữa". Tôn giả Ratthapala trở thành một vị A-la-hán nữa.”
Dưới sự giáo huấn, hướng dẫn của Đức Thế Tôn-bậc Chánh Đẳng Chánh Giác cộng với tâm trí kiên cường, quyết liệt, mạnh mẽ, tu học chân chánh thì ngài đã thành tựu. Sau khi xuất gia vẫn phải sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần tinh tấn trong thánh pháp, quán chiếu ngũ uẩn, diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã thì thành tựu cứu cánh Phạm hạnh. Dưới đây là cách ứng xử của một bậc A-la-hán với gia đình của ngài.
II. Tôn giả về thăm nhà
“-- Bạch Thế Tôn, con muốn đi thăm cha mẹ, nếu Thế Tôn cho phép con.
Thế Tôn với tâm của mình tìm hiểu tâm tư Tôn giả Ratthapala. Khi Thế Tôn được biết thiện nam tử Ratthapala không thể từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, liền nói với Tôn giả Ratthapala:
-- Này Ratthapala, nay Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Ratthapala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Thế Tôn, sau khi thâu xếp chỗ ở, cầm y bát và khởi hành đi đến Thullakotthita, tuần tự du hành và đến Thullakotthita. Ở đấy, Tôn giả Ratthapala trú tại vườn Lộc Uyển của vua Koravya. Rồi tôn giả Ratthapala vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Thullakotthita để khất thực. Tôn giả đi khất thực từng nhà một ở Thullakotthita và đến tại nhà người cha mình.
Lúc bấy giờ người cha của Tôn giả Ratthapala đang chải tóc ở giữa gian phòng có cửa. Người cha của Tôn giả Ratthapala thấy Tôn giả Ratthapala từ xa đi đến, và nói.
-- Chính vì những Sa-môn đầu trọc này mà đứa con độc nhất của chúng ta, khả ái, dễ thương đã xuất gia.”
Cha của ngài không nhận ra ngài, hồi xưa khi đã đi tu là hết sức khó nhận ra vì họ phải cạo luôn chân mày, mọi người có thấy những vị tu sĩ bên Nam tông không? Lúc trước là vương giả hay đại gia có tóc dài, đeo trang sức đầy thân thể mà bây giờ xuất gia chỉ khoác có tấm y, đầu cạo trọc và có khi lông mày cũng không còn. Người cha già lớn tuổi nhìn từ xa không nhận ra đứa con của mình dù con ở trước mặt mình.
“Và Tôn giả Ratthapala từ ngôi nhà của cha mình, không được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sĩ nhục.
Lúc bấy giờ, người nữ tỳ thân gia của Tôn giả Ratthapala muốn quăng đổ cháo ngày hôm qua. Tôn giả Ratthapala nói với người nữ tỳ ấy:
-- Này Chị, nếu cần phải quăng đổ cháo này, hãy đổ vào bát của tôi ở đây.
Rồi người nữ tỳ, trong khi đổ cháo ngày hôm qua ấy vào bát của Tôn giả Ratthapala, nhận diện được tướng tay, chân và giọng nói của Tôn giả. Người nữ tỳ liền đi đến người mẹ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến nói với người mẹ của Tôn giả Ratthapala:
-- Thưa tôn mẫu, tôn mẫu có biết chăng, cậu ấm (ayyaputta) Ratthapala đã trở về.
-- Nếu ngươi nói đúng sự thật, ngươi sẽ được thoát khỏi phận nô tỳ.
Rồi mẹ Tôn giả Ratthapala đi đến cha Tôn giả Ratthapala và nói:
-- Thưa gia chủ, gia chủ có biết chăng, thiện nam tử Ratthapala đã trở về.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ratthapala đang ăn cháo ngày hôm qua ấy, ngồi dựa vào một bức tường. Rồi người cha đến tại chỗ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến liền nói với Tôn giả Ratthapala:
-- Này con thân yêu Ratthapala, có phải con đang ăn cháo ngày hôm qua? Này con thân yêu Ratthapala, con phải vào nhà của con.
-- Thưa gia chủ, chỗ nào là nhà của chúng tôi, những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình? Chúng tôi là những người không gia đình, thưa gia chủ! Chúng tôi có đến nhà của gia chủ, thưa gia chủ, nhưng tại đấy, chúng tôi không nhận được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sỉ nhục.
-- Hãy đi vào nhà, này con thân yêu Ratthapala.
-- Thưa gia chủ, thôi vừa rồi! Hôm nay tôi đã ăn xong.
-- Vậy này con thân yêu Ratthapala, hãy nhận lời mời ngày mai đến dùng cơm.
Tôn giả Ratthapala im lặng nhận lời. Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala, sau khi được biết Tôn giả Ratthapala đã nhận lời liền về đến nhà của mình, cho chất vàng nén và tiền vàng thành một đống lớn, lấy màn che lại, và cho gọi các người vợ cũ của Tôn giả Ratthapala:
-- Này các con dâu, hãy tự trang điểm với những trang điểm mà xưa kia các con được thiện nam tử Ratthapala ái lạc và ưa thích.
Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala, sau khi đêm ấy đã mãn, sau khi cho sửa soạn trong nhà của mình, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, liền báo giờ cho Tôn giả Ratthapala:
-- Ðã đến giờ, này con thân yêu Ratthapala, cơm đã sẵn sàng.
Rồi Tôn giả Ratthapala vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến ngồi nhà của người cha mình, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala cho trình bày ra đống vàng nén và tiền vàng và nói với Tôn giả Ratthapala:
-- Này con thân yêu Ratthapala, đây là tiền tài của mẹ, kia là tiền tài của cha, kia là tiền tài của tổ tiên. Này con thân yêu Ratthapala, con có thể thụ hưởng tài vật và làm các phước đức. Này con thân yêu Ratthapala, hãy từ bỏ tu học, hoàn tục thụ hưởng các tài vật và làm các phước đức.
-- Thưa gia chủ, nếu gia chủ làm theo lời nói của tôi, sau khi chồng chất đống vàng nén và tiền vàng này vào trong các xe, sau khi cho chở và hạ xuống giữa sông Hằng, hãy đổ đống vàng này vào giữa dòng sông. Vì sao vậy? Này gia chủ, vì do nhân duyên này, mà sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho gia chủ.”
Ở đây chúng ta thấy một bậc thánh Tăng đang giáo hóa cha mẹ của mình, giáo hóa những người thân thương trong gia đình. Nếu nghe lời con thì đem tiền vàng đổ ra giữa sông Hằng vì chính thứ này làm cho sầu bi khổ ưu não khởi lên, đau khổ tiếp diễn chồng chất, không có ngày kết thúc.
“Rồi những người vợ cũ của Tôn giả Ratthapala ôm mỗi chân (Tôn giả) và nói:
-- Thưa phu quân (ayyaputtaka) vì thiên nữ nào mà phu quân sống phạm hạnh?
-- Các bà chị, không phải vì thiên nữ nào mà chúng tôi sống phạm hạnh.
-- Phu quân Ratthapala đối với chúng ta gọi chúng ta là bà chị.
Nói lên như vậy, (các người vợ cũ) liền ngã xuống đất, bất tỉnh.”
Những người vợ quá bất ngờ, bị chấn động tâm tư vì chồng mình bây giờ lại lạnh lẽo, bất động, không còn chút cảm xúc nào. Ngài bây giờ đã là bậc A-la-hán lậu tận, đã chấm dứt hết dục tham ái nên tâm bất động giải thoát. Người bình thường không thể chịu nổi một cái tâm bất động như vậy, huống gì đây là chồng mà lại gọi vợ bằng bà chị thì tất nhiên họ ngã ra rồi bất tỉnh. Một đống tiền vàng trước mặt, những người vợ ăn vận đẹp đẽ, gia đình giàu có mà giờ ông chồng lại không thèm đoái hoài, ngồi dựa tường ăn cháo cũ lại bảo đem tiền đổ xuống sông Hằng, gọi cha mình là gia chủ, gọi vợ là bà chị, tình cảnh này là hoàn toàn bất ngờ.
“Rồi Tôn giả Ratthapala nói với phụ thân:
-- Thưa gia chủ, nếu gia chủ muốn bố thí đồ ăn thời hãy bố thí đi, chớ có phiền nhiễu chúng tôi.
-- Hãy ăn, này con thân yêu Ratthapala, cơm đã sẵn sàng.
Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala tự tay thân mời và làm cho thỏa mãn Tôn giả Ratthapala với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Rồi Tôn giả Ratthapala sau khi ăn xong, tay đã rời khỏi bát, đứng dậy và nói bài kệ sau đây:
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.
Hãy nhìn dung mạo trang sức này,
Với các châu báu, với vòng tai,
Một bộ xương được da bao phủ,
Ðược y phục làm cho sáng chói.
Chân được sơn với son với sáp,
Mặt được thoa với phấn, với bột,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp,
Mắt được xoa với thuốc, với son,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ,
Là uế thân được điểm thời trang,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Người thợ săn đặt bày lưới sập,
Loài nai khôn chẳng chạm bén chân,
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường,
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Đây là bài kệ chiến thắng của một bậc thánh giả. Qua câu chuyện của ngài chúng ta thấy trong thời kì chánh pháp, gặp được Đức Phật và nhận được sự giáo hóa của ngài thì đúng là nhân thiên phổ lợi, ngài là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người. Cực kì khó gặp được Đức Phật, cực kì khó gặp được chánh pháp thực sự của Thế Tôn tuyên thuyết, cực kì khó gặp các bậc hiền thánh Tăng bốn đôi tám chúng thật sự vô thượng phước điền.
Nhưng một khi gặp được thì sự giác ngộ đến hết sức mạnh mẽ, mau chóng. Từ một con người giàu có, địa vị trong xã hội lại là con một trong gia đình giàu có tiền vàng chất đống, có người hầu kẻ hạ, lại có bao nhiêu thê thiếp nhưng khi giác ngộ được lời dạy của Đức Phật thì ngài quyết định sống đời sống không nhà, mặc dù có biết bao sự ngăn cản quyết liệt đầy cam go nhưng cuối cùng ngài bỏ ăn, bỏ ngủ, nằm một chỗ, quyết chí không cho đi tu là sẽ chết. Một là cha mẹ cho đi tu, hai là sẽ chết. Bạn bè, thân tộc khuyên nhủ cha mẹ cho đi tu để còn có cơ hội gặp lại còn tuyệt thực như vầy sẽ chết.
Cuối cùng ngài đã chiến thắng đối với sự từ bỏ, chúng ta thấy rằng đời tu có nhiều chặng đường, những người ngồi đây ít nhiều cũng đều trải qua những chuyện giống vậy, chúng ta chỉ thành công bước một, còn bước hai thì ngài siêng năng tinh cần tinh tấn, nỗ lực thực hiện lời dạy của Đức Phật với con đường, đạo lộ của thánh pháp. Điều đặc biệt là phải độc cư, thiền định một mình sau khi ngài đã nắm được pháp hành của Phật dạy. Còn bây giờ không nắm được pháp hành mà lại vào độc cư thì có ở một mình 100 năm thì tham sân si, bản ngã cũng còn nguyên vẹn, vì mình không thấy được thánh đạo nên không đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc, phiền não.
Vì vậy điều quan trọng trong pháp là chánh kiến dẫn đường tất cả, người không học hành, không thực tập nghiên cứu mà lại nói muốn sáng chế máy bay thì đó là sự ảo tưởng, đến chết đó vẫn chỉ là sự ảo mộng. Mình phải nắm được phương pháp, công thức, phải nắm được định lý, phải có kiến thức chuyên môn sâu sắc về việc mình muốn làm thì mới có khả năng làm được. Đây chỉ là chuyện nhỏ, huống hồ gì sự đoạn tận tham sân si, dục ái đối với ngũ uẩn thì còn khủng khiếp hơn cả chuyện chế tạo máy bay, chứ không phải muốn tu là cứ vào thất đóng cửa lại tu là xong. Tu ngàn kiếp vẫn ở trong vô minh và tham ái vì tất cả những gì thuộc về vô minh, tham ái mình đều không biết: Không biết nó ở đâu, không biết tánh tình, mặt mũi, không biết sự vận hành, hoạt động ra sao, không biết cái gì làm cho nó sanh khởi, chấp thủ.
Chính vì vậy khi chúng ta nắm được thánh trí năm uẩn rồi nhìn vào bên trong năm uẩn, trong những cảm giác, nghĩ tưởng có lậu hoặc, tham sân si, bản ngã, dục ái. Mỗi một cái như vậy đều có phương pháp nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch và trừ diệt. Cái nào cũng rõ ràng và nắm rõ các pháp hành thì lúc đó mới có thể độc cư thiền định, tức là phải biết đường thì mới dẫn xe ra đi được. Thành ra vấn đề quan trọng trong Bát Chánh Đạo, người nào thành tựu được cánh cửa đầu tiên là chánh tri kiến (thánh tri kiến) là bước được vào Dự lưu thánh quả thứ nhất. Vì vậy khi ngài đã biết phương pháp tu thì ngài ở một mình và đem hết tâm huyết thực hành nên ngài chắc chắn thành tựu.
III. Giúp đỡ gia đình
Sau khi thành tựu ngài thực hiện lời hứa với cha mẹ, đây là điểm mà chúng ta cần phải chiêm nghiệm sâu sắc. Bây giờ chúng ta đi tu thời gian dài rồi mình có thực hiện lời hứa trước khi mình cạo tóc hay không? Tu tập đến nay mình đã giúp được tự thân mình và cha mẹ như thế nào? Đây là những điều mình phải chiêm nghiệm trong những buổi tư duy thiền quán mỗi tối, mình làm được gì cho cha mẹ hay đợi đến lúc cha mẹ bệnh nặng rồi mình chạy về nhìn, khóc lóc nuối tiếc, như vậy mình không khác gì kẻ phàm phu, thậm chí còn thua người đời vì mình không chăm sóc được cho cha mẹ lúc họ bệnh tật, việc hỏi thăm nhiều khi cũng không có, lâu lắm mới gọi hỏi thăm sức khỏe hay gọi điện chia sẻ Phật pháp để khuyên cha mẹ.
Thành ra chúng ta thấy đời sống của các bậc thánh giả là cả một tấm gương, là cả một đạo lộ, là cả một chuẩn tắc mẫu mực để chúng ta soi rọi lại đời sống tu tập của mình. Nhiều khi đi xa mấy tháng cũng không gọi về thăm nhà lấy một lần, không hề gọi về khuyên bảo, nhắc nhở cha mẹ tu tập thiện pháp. Nhiều khi những người dưng ngoài đường lại liên lạc hằng ngày, thành ra cái tâm của mình đặt không đúng hướng thì đời tu sẽ thất bại, cho nên Đức Phật đã nói trong kinh:
“Tất cả những ai, này các Tỳ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, và những người mà các Ông nghĩ cần phải nghe theo, những ai là bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; tất cả những vị ấy, này các Tỳ-kheo, cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?
Họ cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú vào tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với Tăng... đối với các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỳ-kheo, những ai mà các Ông nghĩ là cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được khuyến khích, cần phải được áp đặt, cần phải được an trú trong bốn Dự lưu phần này”
(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, 16. VI. Thân Hữu)
Người muốn báo hiếu cho cha mẹ là phải đặt để cha mẹ vào sự thành tựu lòng tin, thành tựu bố thí, thành tựu giới và thành tựu trí tuệ. Đức Phật nói rằng người này có thể báo ân được cho cha mẹ, tức là giúp cho cha mẹ sanh khởi lòng tin tín tâm đối với Tam Bảo nhưng phải là chánh pháp chứ không phải sự mê tín, tà kiến. Phải khuyến khích cha mẹ giữ giới, phải nói cho họ hiểu công năng, lợi ích của việc giữ giới và sự nguy hiểm, tác hại khi không giữ giới.
“Có hai hạng người, này các Tỳ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha.
Nhưng này các Tỳ-kheo,
Ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin;
Đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới;
Đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí;
Đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, 1-11 Ðất)
Người thật sự quan trọng nhất để mình hoằng pháp chính là cha mẹ, ông bà, cô chú bác của mình. Đó là đối tượng ân nhân để mình đem cái pháp tu học được trở về báo ân. Mình chưa thành tựu thánh quả tối cao nhưng mình thành tựu được một chút trí huệ hiểu biết về Phật pháp, về tu tập thì mình phải đem cái này về cúng dường, hiến tặng cho cha mẹ và những người thân huyết thống của mình, vì những người đó là những người xứng đáng được thừa hưởng những gì mình đang tu học. Nhiều khi mình tu học mà trong nhà mình xem còn thua người dưng, đó là sự thiếu trách nhiệm và bổn phận của một người tu.
Người tu không phải không có trách nhiệm và bổn phận mà trách nhiệm và bổn phận rất to lớn và thâm sâu. Đừng hiểu rằng bây giờ tu rồi là trong nhà đừng ai nói gì đến mình, khi trong nhà có việc gì thì mình phải dùng tâm từ, trí huệ để chia sẻ, giúp người nhà giải quyết công việc bằng trí huệ và sự từ tâm. Đừng nghĩ là tu rồi đừng nói gì hết, mình không có dính dáng gì hết thì đó là vô trách nhiệm, không có bổn phận và sự từ tâm.
Tại sao người dưng xa lạ không quen biết đến ngồi khóc mà mình ngồi nghe mấy tiếng đồng hồ? Có khi mình chia sẻ, tới lui qua lại cả tuần, cả tháng có khi mấy năm trong khi người trong gia đình mình lại không quan tâm thì đó là thất bại lớn của mình, thể hiện sự vô trách nhiệm, thiếu bổn phận, thiếu tâm từ. Chúng ta thấy ngài khi thành tựu là đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin phép cho ngài về thăm nhà. Đức Thế Tôn với tâm tư thuần tịnh siêu nhân đã nhìn thấy đây là bậc A-la-hán, vị này đi là chắc chắn là không phải lo lắng, còn nếu người nào còn hữu học, còn lậu hoặc thì chưa chắc Phật.
IV. Đức hạnh người xuất gia
Cho nên Đức Phật đã nói Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời. Mình mới vào học chưa tốt nghiệp đã đi giảng, sáng học chiều giảng là không được, đừng vội ham giảng mà phải cẩn thận, phải đào sâu vào trong thánh pháp, phải giành thời gian nhiều để thực tập việc độc cư, phải soi rọi thân tâm của mình để nhìn thấy được dục tham ái, sân si, bản ngã hoạt động như thế nào. Dưới đây là cách hành xử của bậc thánh nhân A-la-hán, có thể người phàm phu cho rằng đây là thấp hèn nhưng đối với bậc A-la-hán đã đạt được trí vô ngã thì việc ăn cháo cũ là hết sức bình thường
Này Chị, nếu cần phải quăng đổ cháo này, hãy đổ vào bát của tôi ở đây.
Chúng ta có làm được điều này hay không? Đối với hạng người phàm phu vô minh, bản ngã, tham dục như mình thấy đồ ăn cũ chuẩn bị đổ đi có dám ăn không? Ấn Độ là xứ nóng, đồ ăn để qua đêm sẽ bị ôi thiu, trong giới luật không cho ăn đồ ăn cách đêm vì rất dễ bị bệnh, cho nên mình phải hiểu những điều trong giới luật đều liên hệ đến địa lý, thời tiết, văn hóa của xứ sở quốc độ đó. Chúng ta thấy đó là lòng đại bi của ngài đối với gia đình vì một bậc A-la-hán ăn đồ ăn của gia đình nào thì phước báo của gia đình đó to lớn bằng hư không, những người đó sẽ hưởng phước vô cùng vô tận trong vô lượng kiếp.
Trong kinh Phân Biệt Cúng Dường được Đức Phật chỉ dạy các cấp độ phước báo của sự cúng dường. Chỉ cần cúng dường cho bậc hướng Dự lưu thì phước đức đã vô lượng vô biên như hư không mà đó chỉ là bậc thấp nhất trong hàng bốn đôi tám chúng. Người vào hướng Dự lưu là nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được các lậu hoặc trong ngũ uẩn và đang có sự nhiếp phục để đi đến chỗ diệt tận, cúng dường cho bậc này thì công đức, phước báo vô lượng vô biên không thể tính được, còn ở đây ngài là bậc A-la-hán tối thượng giữa chư thiên và loài người.
“Này Ananda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người.
Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?”
(Trung Bộ Kinh, số 142. Kinh Phân Biệt Cúng Dường).
Cho nên đây là lòng từ của ngài đối với gia đình ngài, ở đây cũng nói lên cái tâm của ngài đã vượt qua cái ngon dở, ngài đã đạt đến trí tuệ vô ngã. Nô tì đem thức ăn đi đổ mà ngài vẫn xin lại, trong khi ngày xưa ngài là công tử, là cậu ấm, là thiếu gia vậy mà bây giờ phải ăn đồ ăn thừa chuẩn bị đem đi đổ, lại còn phải nghe lời mắng chửi của người cha, vì những người trọc đầu này con họ đi tu mà người cha không biết đó là con mình. Người cha giận trong lòng, rồi sự tiếc thương người con thân yêu trỗi dậy nên người cha đã buông lời sỉ nhục.
Khi Minh Thành nhập hạ ở chùa Xá Lợi năm 1997, lúc đó Hòa Thượng Thanh Từ có ghé vào thăm Hòa Thượng trụ trì Xá Lợi, lúc đó hơn 3h sáng Minh Thành lên chánh điện công phu. Khi Minh Thành bước vào thì giật mình do thấy một vị thầy cạo lông mày vì vị thầy đó ở bên Campuchia. Vị thầy này đắp y theo Bắc tông nhưng lại cạo lông mày theo Nam tông, lúc đó 3h khuya mà có một mình thầy này đứng trong nhà tổ nên Minh Thành bước vào thấy thì giật mình vì thấy lạ, mình đang nghiên cứu nếu được thì sau này hãy cạo hết lông mày cho xấu đi, còn bây giờ tuy là cạo tóc nhưng nhìn vào gương lại thấy đẹp hơn trước lúc tu thì thất bại, đó là ái tăng trưởng thêm chứ không giảm đi.
Mình thấy rằng từ một thanh niên cao trẻ, sống trong nhung gấm lụa là, có người hầu kẻ hạ nhưng giờ thay đổi thành người ăn xin, đây là đời sống của người xuất gia. Đức Thế Tôn nói rằng ngoài đời người ta gọi các ông là người ăn xin nên các ông hãy hạ cái bản ngã xuống, cho nên khi nào mình thấy cái ta đây ưỡn lên hách dịch thì hãy tác ý "mày là đồ ăn mày, mày là đồ ăn xin thì ta đây với ai". Cho nên hai chữ khất sĩ nhắc nhở người xuất gia là một người ăn mày, là một người ăn xin, trên thọ giáo pháp của chư Phật để nuôi tâm, dưới xin cơm Đàn-na tín thí để nuôi thân.
Vì vậy đều xấu hổ, nhục nhã nhất của người tu là cái ta đây, sự khinh thường người khác, điều này là mối nhục của người xuất gia. Từ nhục nhã mới đưa đến thánh quả, một người tu mà không có nhục nhã thì không bao giờ đi đến thánh quả vì nhục nhã chính là tàm quý, nếu không có tàm quý thì không đi đến thánh quả, tức là phải biết xấu hổ và nhục nhã đối với ác và bất thiện pháp. Đối với sân si, bản ngã mà mình cứ trơ ra như không có lỗi lầm thì đây là người đã chai sạn, người đó vĩnh viễn không bao giờ bước vào được dòng trí huệ của thánh pháp vì không thấy lỗi lầm, tâm bị chai sạn đối với ác và bất thiện pháp, tâm như một bãi rác không thấy tội lỗi và nhục nhã.
Thành ra sự tàm quý hết sức quan trọng, dòng chảy của sự tàm quý sẽ đưa đến thánh quả. Chúng ta thấy hết sức xúc động vì tình thương cha mẹ của ngài, ngài nói ngài không nhận được sự bố thí của gia chủ. Ở đây ngài dùng từ bố thí chứ không dùng từ cúng dường vì ngài là con, ngài không nhận được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sỉ nhục.
Ngài nói câu này nhẹ nhưng rất thấm thía, việc sỉ nhục một bậc A-la-hán sẽ nhận lại hậu quả khủng khiếp, không thể tưởng tượng được dù cho người đó có là cha thì vẫn là người phàm phu, còn ngài là bậc A-la-hán, là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người. Bậc cao cấp nhất chư thiên là Phạm thiên còn phải lạy dưới chân của ngài vì ngài đã ra khỏi tam giới. Vì vậy khi mắng chửi một bậc A-la-hán thì quả báo sẽ vào địa ngục, khi Trái Đất thành hoại một tỷ lần cũng không biết có thể thoát ra khỏi được không, khủng khiếp như vậy nhưng người phàm phu vô minh thì làm sao có thể hiểu được, chỉ nghĩ đó là con mình thôi, thành ra ngài đã nhắc khéo.
Đến khi ngài vào nhà thì người cha đã bày ra vàng bạc, trang sức và các người vợ cũ xinh đẹp của ngài. Ngài gọi cha mẹ mình là gia chủ, gọi các người vợ cũ là các bà chị và ngài khuyên bảo nếu gia chủ làm theo lời nói của tôi, sau khi chồng chất đống vàng nén và tiền vàng này vào trong các xe, sau khi cho chở và hạ xuống giữa sông Hằng, hãy đổ đống vàng này vào giữa dòng sông. Vì sao vậy? Này gia chủ, vì do nhân duyên này, mà sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho gia chủ. Điều này người bình thường không thể nghe nổi, ngay cả người xuất gia nghe nhưng trong bụng lại nghĩ điều này không thực tế, vì tâm phàm phu của mình nhìn không thấy nổi điều này trong khi đây là chân lý tối thượng.
Vì vậy mới nói những gì trong kinh đều là khẩu quyết, giống như bí kíp võ công chỉ có chừng vài câu nhưng mình phải bỏ công sức, tâm huyết dày công tu luyện mới có kết quả chứ không phải đọc kinh như đọc báo, nó là cả một chân trời vô biên thậm thâm pháp nghĩa, không thể đọc vào là có thể hiểu được mà nó rất thâm sâu, đây đâu phải là lời nói của người bình thường mà là lời nói của bậc A-la-hán, là câu nói cứu khổ cho chúng sanh. Có khi cả cuộc đời chiêm nghiệm cũng còn chưa hiểu được hết câu nói đó chứ mình đừng bao giờ xem thường. Chính vàng vòng, tiền bạc này mà sầu bi khổ ưu não khởi lên cho người nắm giữ nó, bây giờ thầy nào vô tình trúng vé số thì còn tu nổi không, vậy tiền có phải là nguyên nhân của sầu bi khổ ưu não không?
Có phải nó nhận chìm mình vào biển dục không? Có Phật tử đến cúng dường ngôi nhà cao cửa rộng, thầy cứ ở đó đi học thì tâm mình như thế nào? Mình đừng nói lý thuyết suông, đến chừng nào nắm trong tay tiền vàng, nhà cửa, đất đai thì lúc đó mới thấy mình sẽ si mê điên đảo, vô minh, tham ái, khát ái trổi dậy mạnh mẽ vậy là mình chết với những thứ này. Cho nên nhờ nghèo khổ, thiếu thốn mới đi tu và mình phải cảm ơn những cái nghèo khổ, chướng ngại, sự thất tình đó. Từ nhỏ đến giờ bệnh hoài nên gia đình cho vào chùa để bớt bệnh, nhờ vậy mà được kề cận với các thầy rồi phát tâm tụng kinh lạy Phật, ăn tương chao nên đi tu luôn. Các thầy muốn tu thì đừng chất chứa tài sản, có thì mình cứ bố thí, cúng dường, in kinh sách, làm tất cả mọi việc cho Tam Bảo, những thứ tài sản này rất nguy hiểm, trong Tương Ưng Bộ kinh Đức Phật đã nói sự cúng dường là đắng cay, là mũi tên, là ác độc, là sấm sét, là kẻ giết người.
“Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo... Thế Tôn nói như sau:
-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Khổ Lụy)
“Lợi đắc, cung kính, danh vọng, này các Tỳ-kheo, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Da)
Đó là sự nguy hại của lợi dưỡng, lợi đắc, cung kính, cúng dường. Cho nên nếu có người cung kính, cúng dường thì phải biết đó là mình "bị" chứ không phải mình "được" cung kính, cúng dường. Cúng một thời gian là mình đi theo người đó luôn, nhất là những thầy có sắc một chút sẽ được cúng nhiều mà không biết họ cúng cho mình vì pháp hay vì những điều khác. Con ở trong chùa nhiều năm chứng kiến cũng vì sự cúng dường này mà nhiều huynh đệ rơi rớt trong quá trình tu học, cho nên mình không nên ra làm đạo sớm, mình ra làm trụ trì rồi thì lúc đó mình là vua một cõi, không ai quản lý, kiểm soát, nhắc nhở mình nữa thì mình rất dễ bị thối lui, vì vậy phải cẩn thận với những tài sản và vật chất, nó sẽ làm sanh khởi sầu bi khổ ưu não.
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.
Thân xác này là ổ vi trùng, là căn cứ địa của dịch bệnh, bây giờ đã lên tới gần 13 triệu ca nhiễm còn số người chết là không tưởng được. Tổ chức Y Tế Thế Giới công bố dịch bệnh này có thể lây qua đường không khí, nếu con virut này phát triển mạnh thì có thể chết hết, theo dự đoán của các nhà chuyên môn thì số người chết có thể hơn phân nửa dân số thế giới nếu không có vaccine ngăn chặn. Chúng ta ngồi học hôm nay chỉ biết hôm nay, còn dịch mà bùng lên nữa có khi chúng ta sẽ không còn ngồi đây nữa nên hãy trân trọng những giây phút tu học. Mình có phước báo nên mới có sự bình an, an ổn ngay giờ phút này.
“Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thối rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) (15) Một Ung Nhọt)
Có biết bao nhiêu thứ bệnh tật trong tấm thân này. Ba con bị ung thư cuốn bao tử, mẹ con bị ung thư gan, các vị lên núi tu học hơn mười người mà ung thư hết năm sáu người. Bây giờ bệnh ung thư rất nhiều, viêm gan siêu vi B, siêu vi C là hơn phân nữa đất nước này, thật sự rất khủng khiếp. Đầy rẫy các chứng bệnh hoạn mà mình không hay biết, đến lúc phát hiện ra là đã muộn màn.
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Bệnh nhiều như vậy mà tham cũng không giảm được chứ không phải bệnh rồi là bớt tham. Dịch bệnh, sóng thần, động đất khủng khiếp mà vẫn còn tham lam, giành giựt. Hiểm họa, khổ đau đầy rẫy hết mà cũng không hồi đầu tỉnh ngộ, vẫn tham lam, si mê, bản ngã rồi hành hạ, hành xác nhau để đi đến chỗ diệt tận. Giáo pháp của chúng ta là thánh pháp ly tham, chỉ có giảm bớt cái tham, lìa bớt cái tham thì mới bớt khổ, ngoài cách này ra không còn cách nào bớt khổ.
Chỉ có giảm bớt cái tham đối với ngũ uẩn thì mới bớt khổ, đây là thánh trí thật sự được Đức Phật chứng ngộ. Mọi người nghĩ ngoài cách này ra thì còn cách nào bớt khổ nữa? Bây giờ ai cũng tham cùng tham tận, tham không bờ mé thì làm sao hết khổ? Đức Phật đã phơi bày cho mình thấy những gì bị che kín trong vô lượng vô biên kiếp trong thế giới này, mở mật mã vũ trụ để mình thấy thân tâm mình đầy rẫy dục tham ái, sân si, bản ngã hoạt động trong đó mà xưa nay mình không thấy, không biết và cũng chưa từng nghe nói đến.
Nay mình đã thấy, đã biết trong trí tuệ thánh trí ngũ uẩn này, cho nên rất tuyệt diệu, không biết ngày mai ra sao nên hãy cố gắng tu học. Tai nạn giao thông xảy ra liên tục, gây chết người rất nhiều vì thế hãy tinh tấn kiên trì tu học để mai sau chúng ta không hối hận. Nếu giờ không cố gắng thì sau này có hối hận cũng muộn màn.
./.
KINH RATTHAPALA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quyết tâm xuất gia PAGEREF _Toc114230183 \h 1
II. Tôn giả về thăm nhà PAGEREF _Toc114230184 \h 5
III. Giúp đỡ gia đình PAGEREF _Toc114230185 \h 12
IV. Đức hạnh người xuất gia PAGEREF _Toc114230186 \h 15
I. Quyết tâm xuất gia
Chúng ta học một bài kinh rất đặc biệt, trong bài kinh này chúng ta sẽ thấy cách ứng xử của một bậc A-la-hán đối với người thân mình, chúng ta sẽ thấy người xuất gia độ cho gia đình mình như thế nào. Lâu nay chúng ta đã học lý thuyết, hôm nay chúng ta sẽ thấy cách vận dụng lý thuyết đó ra đời sống. Bài kinh này là một trong những bài kinh rung chuyển thế giới, cách ứng xử của bậc A-la-hán và sự thành tựu của người xuất gia và thành quả của người tu sẽ được khai mở trong bài này.
“Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân chúng Kuru, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, và đi đến một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Thullakotthita.
Các Bà-la-môn, gia chủ ở Thullakotthita được nghe như sau: "Sa-môn Gotama là Thích tử, Tôn giả xuất gia từ dòng họ Sakya, du hành giữa dân chúng Kuru nay đã đến Thullakotthita với đại chúng Tỳ-kheo. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được nói lên về Tôn giả Gotama: "Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài với thắng trí tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên bố sự chứng ngộ ấy cho người khác. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, và giới thiệu đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch". Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy".
Lúc bấy giờ, một thiện nam tử tên là Ratthapala, con trai một gia đình thượng tộc ở chính tại Thullakotthita ấy, đang ngồi trong hội chúng này. Rồi thiện nam tử Ratthapala suy nghĩ như sau: "Như ta được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
--- Nhưng này Ratthapala, Ông có được cha mẹ bằng lòng cho Ông xuất gia chưa?
-- Bạch Thế Tôn, con chưa được cha mẹ bằng lòng cho con xuất gia.
-- Này Ratthapala, Như Lai không có cho ai xuất gia nếu không được cha mẹ người ấy bằng lòng.
-- Như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ làm những gì cần thiết để cha mẹ bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Rồi thiện nam tử Ratthapala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi, đi đến cha mẹ, sau khi đến liền thưa với cha mẹ:
-- Thưa Mẹ và Cha, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Hãy bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Khi được nghe nói vậy, cha mẹ Thiên nam tử Ratthapala nói với thiện nam tử Ratthapala:
-- Này con thân yêu Ratthapala, con là đứa con độc nhất của mẹ cha, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này con thân yêu Ratthapala, con không biết gì về đau khổ. Này con thân yêu Ratthapala, hãy đến ăn, hãy uống và hãy ăn chơi. Ăn, uống, ăn chơi, con có thể thụ hưởng các ái dục và sung sướng làm các phước đức. Chúng ta không bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu con có chết, chúng ta còn không muốn không có mặt con, huống nay con còn sống, chúng ta lại bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Giả sử con có chết đi thì cha mẹ cũng không nỡ, cha mẹ muốn con sống lại thì huống chi con còn sống như vầy mà lại bỏ ra đi thì làm sao cha mẹ bằng lòng được.
“Lần thứ hai... Lần thứ ba, thiện nam tử Ratthapala thưa với mẹ cha:
-- Thưa Mẹ và Cha, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Hãy bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Rồi thiện nam tử Ratthapala không được cha mẹ cho xuất gia, liền ngay tại chỗ ấy nằm xuống trên đất trần và nói:
-- Ta sẽ chết ở đây, hay được xuất gia.”
Cha mẹ cũng nói như trên, con là con một, con hãy thưởng thụ ái dục, thưởng thụ gia tài đồ sộ của gia đình, tại sao con lại bỏ gia đình muốn đi xuất gia, lang thang cực khổ thì làm sao con chịu nổi. Con chết mà cha mẹ còn muốn cho con sống lại, huống gì con đang còn sống đây thì làm sao cha mẹ muốn con ra đi.
“Lần thứ ba, thiện nam tử Ratthapala giữ im lặng.
Rồi các thân hữu của thiện nam tử Ratthapala đi đến cha mẹ thiện nam tử Ratthapala, sau khi đến liền thưa:
-- Thưa Mẹ và Cha, thiện nam tử Ratthapala đang nằm xuống trên đất trần kia và nói: "Ở đây, ta sẽ chết, hay được xuất gia". Nếu Cha Mẹ không bằng lòng cho thiện nam tử Ratthapala xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Ratthapala sẽ chết ở tại chỗ ấy. Còn nếu Cha Mẹ bằng lòng cho thiện nam tử Ratthapala xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Cha Mẹ có thể thấy Ratthapala sau khi xuất gia. Nếu thiện nam tử Ratthapala không cảm thấy hoan hỷ trong khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Ratthapala không còn con đường nào đi khác hơn. Ratthapala sẽ trở lại ở đây. Hãy bằng lòng cho phép thiện nam tử Ratthapala xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
Cha mẹ Ratthapala nhờ những người thân hữu bằng tộc khuyên giải, khuyên bảo đứa con của họ
“Rồi những thân hữu của thiện nam tử Ratthapala, đi đến thiện nam tử Ratthapala, sau khi đến, liền nói:
-- Này bạn Ratthapala, bạn là con độc nhất của cha mẹ bạn, khả ái, dễ thương, sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này bạn Ratthapala, bạn không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, ăn, uống, và vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, bạn có thể thụ hưởng các ái dục, và sung sướng làm các phước đức. Cha mẹ bạn đã bằng lòng cho phép được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và sau khi xuất gia, cần phải về thăm cha mẹ.
Rồi thiện nam tử Ratthapala, sau khi đứng dậy, sau khi lấy lại sức lực, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thiện nam tử Ratthapala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con đã được mẹ cha bằng lòng cho phép con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế Tôn hãy xuất gia cho con.
Và thiện nam tử Ratthapala được xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn và được thọ đại giới.
Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Ratthapala thọ đại giới không bao lâu, nửa tháng sau khi thọ đại giới, sau khi ở tại Thullakotthita cho đến khi thỏa mãn, liền khởi hành đi đến Savatthi, tuần tự du hành và đến Savatthi. Ở đấy, Thế Tôn trú tại Savatthi, Jetavana, tu viện của Anathapindika.
Rồi Tôn giả Ratthapala sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh tấn, không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến, tức là tự chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lui ở đời này nữa". Tôn giả Ratthapala trở thành một vị A-la-hán nữa.”
Dưới sự giáo huấn, hướng dẫn của Đức Thế Tôn-bậc Chánh Đẳng Chánh Giác cộng với tâm trí kiên cường, quyết liệt, mạnh mẽ, tu học chân chánh thì ngài đã thành tựu. Sau khi xuất gia vẫn phải sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần tinh tấn trong thánh pháp, quán chiếu ngũ uẩn, diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã thì thành tựu cứu cánh Phạm hạnh. Dưới đây là cách ứng xử của một bậc A-la-hán với gia đình của ngài.
II. Tôn giả về thăm nhà
“-- Bạch Thế Tôn, con muốn đi thăm cha mẹ, nếu Thế Tôn cho phép con.
Thế Tôn với tâm của mình tìm hiểu tâm tư Tôn giả Ratthapala. Khi Thế Tôn được biết thiện nam tử Ratthapala không thể từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, liền nói với Tôn giả Ratthapala:
-- Này Ratthapala, nay Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Ratthapala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Thế Tôn, sau khi thâu xếp chỗ ở, cầm y bát và khởi hành đi đến Thullakotthita, tuần tự du hành và đến Thullakotthita. Ở đấy, Tôn giả Ratthapala trú tại vườn Lộc Uyển của vua Koravya. Rồi tôn giả Ratthapala vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Thullakotthita để khất thực. Tôn giả đi khất thực từng nhà một ở Thullakotthita và đến tại nhà người cha mình.
Lúc bấy giờ người cha của Tôn giả Ratthapala đang chải tóc ở giữa gian phòng có cửa. Người cha của Tôn giả Ratthapala thấy Tôn giả Ratthapala từ xa đi đến, và nói.
-- Chính vì những Sa-môn đầu trọc này mà đứa con độc nhất của chúng ta, khả ái, dễ thương đã xuất gia.”
Cha của ngài không nhận ra ngài, hồi xưa khi đã đi tu là hết sức khó nhận ra vì họ phải cạo luôn chân mày, mọi người có thấy những vị tu sĩ bên Nam tông không? Lúc trước là vương giả hay đại gia có tóc dài, đeo trang sức đầy thân thể mà bây giờ xuất gia chỉ khoác có tấm y, đầu cạo trọc và có khi lông mày cũng không còn. Người cha già lớn tuổi nhìn từ xa không nhận ra đứa con của mình dù con ở trước mặt mình.
“Và Tôn giả Ratthapala từ ngôi nhà của cha mình, không được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sĩ nhục.
Lúc bấy giờ, người nữ tỳ thân gia của Tôn giả Ratthapala muốn quăng đổ cháo ngày hôm qua. Tôn giả Ratthapala nói với người nữ tỳ ấy:
-- Này Chị, nếu cần phải quăng đổ cháo này, hãy đổ vào bát của tôi ở đây.
Rồi người nữ tỳ, trong khi đổ cháo ngày hôm qua ấy vào bát của Tôn giả Ratthapala, nhận diện được tướng tay, chân và giọng nói của Tôn giả. Người nữ tỳ liền đi đến người mẹ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến nói với người mẹ của Tôn giả Ratthapala:
-- Thưa tôn mẫu, tôn mẫu có biết chăng, cậu ấm (ayyaputta) Ratthapala đã trở về.
-- Nếu ngươi nói đúng sự thật, ngươi sẽ được thoát khỏi phận nô tỳ.
Rồi mẹ Tôn giả Ratthapala đi đến cha Tôn giả Ratthapala và nói:
-- Thưa gia chủ, gia chủ có biết chăng, thiện nam tử Ratthapala đã trở về.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ratthapala đang ăn cháo ngày hôm qua ấy, ngồi dựa vào một bức tường. Rồi người cha đến tại chỗ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến liền nói với Tôn giả Ratthapala:
-- Này con thân yêu Ratthapala, có phải con đang ăn cháo ngày hôm qua? Này con thân yêu Ratthapala, con phải vào nhà của con.
-- Thưa gia chủ, chỗ nào là nhà của chúng tôi, những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình? Chúng tôi là những người không gia đình, thưa gia chủ! Chúng tôi có đến nhà của gia chủ, thưa gia chủ, nhưng tại đấy, chúng tôi không nhận được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sỉ nhục.
-- Hãy đi vào nhà, này con thân yêu Ratthapala.
-- Thưa gia chủ, thôi vừa rồi! Hôm nay tôi đã ăn xong.
-- Vậy này con thân yêu Ratthapala, hãy nhận lời mời ngày mai đến dùng cơm.
Tôn giả Ratthapala im lặng nhận lời. Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala, sau khi được biết Tôn giả Ratthapala đã nhận lời liền về đến nhà của mình, cho chất vàng nén và tiền vàng thành một đống lớn, lấy màn che lại, và cho gọi các người vợ cũ của Tôn giả Ratthapala:
-- Này các con dâu, hãy tự trang điểm với những trang điểm mà xưa kia các con được thiện nam tử Ratthapala ái lạc và ưa thích.
Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala, sau khi đêm ấy đã mãn, sau khi cho sửa soạn trong nhà của mình, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, liền báo giờ cho Tôn giả Ratthapala:
-- Ðã đến giờ, này con thân yêu Ratthapala, cơm đã sẵn sàng.
Rồi Tôn giả Ratthapala vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến ngồi nhà của người cha mình, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala cho trình bày ra đống vàng nén và tiền vàng và nói với Tôn giả Ratthapala:
-- Này con thân yêu Ratthapala, đây là tiền tài của mẹ, kia là tiền tài của cha, kia là tiền tài của tổ tiên. Này con thân yêu Ratthapala, con có thể thụ hưởng tài vật và làm các phước đức. Này con thân yêu Ratthapala, hãy từ bỏ tu học, hoàn tục thụ hưởng các tài vật và làm các phước đức.
-- Thưa gia chủ, nếu gia chủ làm theo lời nói của tôi, sau khi chồng chất đống vàng nén và tiền vàng này vào trong các xe, sau khi cho chở và hạ xuống giữa sông Hằng, hãy đổ đống vàng này vào giữa dòng sông. Vì sao vậy? Này gia chủ, vì do nhân duyên này, mà sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho gia chủ.”
Ở đây chúng ta thấy một bậc thánh Tăng đang giáo hóa cha mẹ của mình, giáo hóa những người thân thương trong gia đình. Nếu nghe lời con thì đem tiền vàng đổ ra giữa sông Hằng vì chính thứ này làm cho sầu bi khổ ưu não khởi lên, đau khổ tiếp diễn chồng chất, không có ngày kết thúc.
“Rồi những người vợ cũ của Tôn giả Ratthapala ôm mỗi chân (Tôn giả) và nói:
-- Thưa phu quân (ayyaputtaka) vì thiên nữ nào mà phu quân sống phạm hạnh?
-- Các bà chị, không phải vì thiên nữ nào mà chúng tôi sống phạm hạnh.
-- Phu quân Ratthapala đối với chúng ta gọi chúng ta là bà chị.
Nói lên như vậy, (các người vợ cũ) liền ngã xuống đất, bất tỉnh.”
Những người vợ quá bất ngờ, bị chấn động tâm tư vì chồng mình bây giờ lại lạnh lẽo, bất động, không còn chút cảm xúc nào. Ngài bây giờ đã là bậc A-la-hán lậu tận, đã chấm dứt hết dục tham ái nên tâm bất động giải thoát. Người bình thường không thể chịu nổi một cái tâm bất động như vậy, huống gì đây là chồng mà lại gọi vợ bằng bà chị thì tất nhiên họ ngã ra rồi bất tỉnh. Một đống tiền vàng trước mặt, những người vợ ăn vận đẹp đẽ, gia đình giàu có mà giờ ông chồng lại không thèm đoái hoài, ngồi dựa tường ăn cháo cũ lại bảo đem tiền đổ xuống sông Hằng, gọi cha mình là gia chủ, gọi vợ là bà chị, tình cảnh này là hoàn toàn bất ngờ.
“Rồi Tôn giả Ratthapala nói với phụ thân:
-- Thưa gia chủ, nếu gia chủ muốn bố thí đồ ăn thời hãy bố thí đi, chớ có phiền nhiễu chúng tôi.
-- Hãy ăn, này con thân yêu Ratthapala, cơm đã sẵn sàng.
Rồi người cha của Tôn giả Ratthapala tự tay thân mời và làm cho thỏa mãn Tôn giả Ratthapala với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Rồi Tôn giả Ratthapala sau khi ăn xong, tay đã rời khỏi bát, đứng dậy và nói bài kệ sau đây:
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.
Hãy nhìn dung mạo trang sức này,
Với các châu báu, với vòng tai,
Một bộ xương được da bao phủ,
Ðược y phục làm cho sáng chói.
Chân được sơn với son với sáp,
Mặt được thoa với phấn, với bột,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp,
Mắt được xoa với thuốc, với son,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ,
Là uế thân được điểm thời trang,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Người thợ săn đặt bày lưới sập,
Loài nai khôn chẳng chạm bén chân,
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường,
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Đây là bài kệ chiến thắng của một bậc thánh giả. Qua câu chuyện của ngài chúng ta thấy trong thời kì chánh pháp, gặp được Đức Phật và nhận được sự giáo hóa của ngài thì đúng là nhân thiên phổ lợi, ngài là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người. Cực kì khó gặp được Đức Phật, cực kì khó gặp được chánh pháp thực sự của Thế Tôn tuyên thuyết, cực kì khó gặp các bậc hiền thánh Tăng bốn đôi tám chúng thật sự vô thượng phước điền.
Nhưng một khi gặp được thì sự giác ngộ đến hết sức mạnh mẽ, mau chóng. Từ một con người giàu có, địa vị trong xã hội lại là con một trong gia đình giàu có tiền vàng chất đống, có người hầu kẻ hạ, lại có bao nhiêu thê thiếp nhưng khi giác ngộ được lời dạy của Đức Phật thì ngài quyết định sống đời sống không nhà, mặc dù có biết bao sự ngăn cản quyết liệt đầy cam go nhưng cuối cùng ngài bỏ ăn, bỏ ngủ, nằm một chỗ, quyết chí không cho đi tu là sẽ chết. Một là cha mẹ cho đi tu, hai là sẽ chết. Bạn bè, thân tộc khuyên nhủ cha mẹ cho đi tu để còn có cơ hội gặp lại còn tuyệt thực như vầy sẽ chết.
Cuối cùng ngài đã chiến thắng đối với sự từ bỏ, chúng ta thấy rằng đời tu có nhiều chặng đường, những người ngồi đây ít nhiều cũng đều trải qua những chuyện giống vậy, chúng ta chỉ thành công bước một, còn bước hai thì ngài siêng năng tinh cần tinh tấn, nỗ lực thực hiện lời dạy của Đức Phật với con đường, đạo lộ của thánh pháp. Điều đặc biệt là phải độc cư, thiền định một mình sau khi ngài đã nắm được pháp hành của Phật dạy. Còn bây giờ không nắm được pháp hành mà lại vào độc cư thì có ở một mình 100 năm thì tham sân si, bản ngã cũng còn nguyên vẹn, vì mình không thấy được thánh đạo nên không đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc, phiền não.
Vì vậy điều quan trọng trong pháp là chánh kiến dẫn đường tất cả, người không học hành, không thực tập nghiên cứu mà lại nói muốn sáng chế máy bay thì đó là sự ảo tưởng, đến chết đó vẫn chỉ là sự ảo mộng. Mình phải nắm được phương pháp, công thức, phải nắm được định lý, phải có kiến thức chuyên môn sâu sắc về việc mình muốn làm thì mới có khả năng làm được. Đây chỉ là chuyện nhỏ, huống hồ gì sự đoạn tận tham sân si, dục ái đối với ngũ uẩn thì còn khủng khiếp hơn cả chuyện chế tạo máy bay, chứ không phải muốn tu là cứ vào thất đóng cửa lại tu là xong. Tu ngàn kiếp vẫn ở trong vô minh và tham ái vì tất cả những gì thuộc về vô minh, tham ái mình đều không biết: Không biết nó ở đâu, không biết tánh tình, mặt mũi, không biết sự vận hành, hoạt động ra sao, không biết cái gì làm cho nó sanh khởi, chấp thủ.
Chính vì vậy khi chúng ta nắm được thánh trí năm uẩn rồi nhìn vào bên trong năm uẩn, trong những cảm giác, nghĩ tưởng có lậu hoặc, tham sân si, bản ngã, dục ái. Mỗi một cái như vậy đều có phương pháp nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch và trừ diệt. Cái nào cũng rõ ràng và nắm rõ các pháp hành thì lúc đó mới có thể độc cư thiền định, tức là phải biết đường thì mới dẫn xe ra đi được. Thành ra vấn đề quan trọng trong Bát Chánh Đạo, người nào thành tựu được cánh cửa đầu tiên là chánh tri kiến (thánh tri kiến) là bước được vào Dự lưu thánh quả thứ nhất. Vì vậy khi ngài đã biết phương pháp tu thì ngài ở một mình và đem hết tâm huyết thực hành nên ngài chắc chắn thành tựu.
III. Giúp đỡ gia đình
Sau khi thành tựu ngài thực hiện lời hứa với cha mẹ, đây là điểm mà chúng ta cần phải chiêm nghiệm sâu sắc. Bây giờ chúng ta đi tu thời gian dài rồi mình có thực hiện lời hứa trước khi mình cạo tóc hay không? Tu tập đến nay mình đã giúp được tự thân mình và cha mẹ như thế nào? Đây là những điều mình phải chiêm nghiệm trong những buổi tư duy thiền quán mỗi tối, mình làm được gì cho cha mẹ hay đợi đến lúc cha mẹ bệnh nặng rồi mình chạy về nhìn, khóc lóc nuối tiếc, như vậy mình không khác gì kẻ phàm phu, thậm chí còn thua người đời vì mình không chăm sóc được cho cha mẹ lúc họ bệnh tật, việc hỏi thăm nhiều khi cũng không có, lâu lắm mới gọi hỏi thăm sức khỏe hay gọi điện chia sẻ Phật pháp để khuyên cha mẹ.
Thành ra chúng ta thấy đời sống của các bậc thánh giả là cả một tấm gương, là cả một đạo lộ, là cả một chuẩn tắc mẫu mực để chúng ta soi rọi lại đời sống tu tập của mình. Nhiều khi đi xa mấy tháng cũng không gọi về thăm nhà lấy một lần, không hề gọi về khuyên bảo, nhắc nhở cha mẹ tu tập thiện pháp. Nhiều khi những người dưng ngoài đường lại liên lạc hằng ngày, thành ra cái tâm của mình đặt không đúng hướng thì đời tu sẽ thất bại, cho nên Đức Phật đã nói trong kinh:
“Tất cả những ai, này các Tỳ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, và những người mà các Ông nghĩ cần phải nghe theo, những ai là bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; tất cả những vị ấy, này các Tỳ-kheo, cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?
Họ cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú vào tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với Tăng... đối với các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỳ-kheo, những ai mà các Ông nghĩ là cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được khuyến khích, cần phải được áp đặt, cần phải được an trú trong bốn Dự lưu phần này”
(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, 16. VI. Thân Hữu)
Người muốn báo hiếu cho cha mẹ là phải đặt để cha mẹ vào sự thành tựu lòng tin, thành tựu bố thí, thành tựu giới và thành tựu trí tuệ. Đức Phật nói rằng người này có thể báo ân được cho cha mẹ, tức là giúp cho cha mẹ sanh khởi lòng tin tín tâm đối với Tam Bảo nhưng phải là chánh pháp chứ không phải sự mê tín, tà kiến. Phải khuyến khích cha mẹ giữ giới, phải nói cho họ hiểu công năng, lợi ích của việc giữ giới và sự nguy hiểm, tác hại khi không giữ giới.
“Có hai hạng người, này các Tỳ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha.
Nhưng này các Tỳ-kheo,
Ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin;
Đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới;
Đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí;
Đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, 1-11 Ðất)
Người thật sự quan trọng nhất để mình hoằng pháp chính là cha mẹ, ông bà, cô chú bác của mình. Đó là đối tượng ân nhân để mình đem cái pháp tu học được trở về báo ân. Mình chưa thành tựu thánh quả tối cao nhưng mình thành tựu được một chút trí huệ hiểu biết về Phật pháp, về tu tập thì mình phải đem cái này về cúng dường, hiến tặng cho cha mẹ và những người thân huyết thống của mình, vì những người đó là những người xứng đáng được thừa hưởng những gì mình đang tu học. Nhiều khi mình tu học mà trong nhà mình xem còn thua người dưng, đó là sự thiếu trách nhiệm và bổn phận của một người tu.
Người tu không phải không có trách nhiệm và bổn phận mà trách nhiệm và bổn phận rất to lớn và thâm sâu. Đừng hiểu rằng bây giờ tu rồi là trong nhà đừng ai nói gì đến mình, khi trong nhà có việc gì thì mình phải dùng tâm từ, trí huệ để chia sẻ, giúp người nhà giải quyết công việc bằng trí huệ và sự từ tâm. Đừng nghĩ là tu rồi đừng nói gì hết, mình không có dính dáng gì hết thì đó là vô trách nhiệm, không có bổn phận và sự từ tâm.
Tại sao người dưng xa lạ không quen biết đến ngồi khóc mà mình ngồi nghe mấy tiếng đồng hồ? Có khi mình chia sẻ, tới lui qua lại cả tuần, cả tháng có khi mấy năm trong khi người trong gia đình mình lại không quan tâm thì đó là thất bại lớn của mình, thể hiện sự vô trách nhiệm, thiếu bổn phận, thiếu tâm từ. Chúng ta thấy ngài khi thành tựu là đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin phép cho ngài về thăm nhà. Đức Thế Tôn với tâm tư thuần tịnh siêu nhân đã nhìn thấy đây là bậc A-la-hán, vị này đi là chắc chắn là không phải lo lắng, còn nếu người nào còn hữu học, còn lậu hoặc thì chưa chắc Phật.
IV. Đức hạnh người xuất gia
Cho nên Đức Phật đã nói Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời. Mình mới vào học chưa tốt nghiệp đã đi giảng, sáng học chiều giảng là không được, đừng vội ham giảng mà phải cẩn thận, phải đào sâu vào trong thánh pháp, phải giành thời gian nhiều để thực tập việc độc cư, phải soi rọi thân tâm của mình để nhìn thấy được dục tham ái, sân si, bản ngã hoạt động như thế nào. Dưới đây là cách hành xử của bậc thánh nhân A-la-hán, có thể người phàm phu cho rằng đây là thấp hèn nhưng đối với bậc A-la-hán đã đạt được trí vô ngã thì việc ăn cháo cũ là hết sức bình thường
Này Chị, nếu cần phải quăng đổ cháo này, hãy đổ vào bát của tôi ở đây.
Chúng ta có làm được điều này hay không? Đối với hạng người phàm phu vô minh, bản ngã, tham dục như mình thấy đồ ăn cũ chuẩn bị đổ đi có dám ăn không? Ấn Độ là xứ nóng, đồ ăn để qua đêm sẽ bị ôi thiu, trong giới luật không cho ăn đồ ăn cách đêm vì rất dễ bị bệnh, cho nên mình phải hiểu những điều trong giới luật đều liên hệ đến địa lý, thời tiết, văn hóa của xứ sở quốc độ đó. Chúng ta thấy đó là lòng đại bi của ngài đối với gia đình vì một bậc A-la-hán ăn đồ ăn của gia đình nào thì phước báo của gia đình đó to lớn bằng hư không, những người đó sẽ hưởng phước vô cùng vô tận trong vô lượng kiếp.
Trong kinh Phân Biệt Cúng Dường được Đức Phật chỉ dạy các cấp độ phước báo của sự cúng dường. Chỉ cần cúng dường cho bậc hướng Dự lưu thì phước đức đã vô lượng vô biên như hư không mà đó chỉ là bậc thấp nhất trong hàng bốn đôi tám chúng. Người vào hướng Dự lưu là nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được các lậu hoặc trong ngũ uẩn và đang có sự nhiếp phục để đi đến chỗ diệt tận, cúng dường cho bậc này thì công đức, phước báo vô lượng vô biên không thể tính được, còn ở đây ngài là bậc A-la-hán tối thượng giữa chư thiên và loài người.
“Này Ananda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người.
Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?”
(Trung Bộ Kinh, số 142. Kinh Phân Biệt Cúng Dường).
Cho nên đây là lòng từ của ngài đối với gia đình ngài, ở đây cũng nói lên cái tâm của ngài đã vượt qua cái ngon dở, ngài đã đạt đến trí tuệ vô ngã. Nô tì đem thức ăn đi đổ mà ngài vẫn xin lại, trong khi ngày xưa ngài là công tử, là cậu ấm, là thiếu gia vậy mà bây giờ phải ăn đồ ăn thừa chuẩn bị đem đi đổ, lại còn phải nghe lời mắng chửi của người cha, vì những người trọc đầu này con họ đi tu mà người cha không biết đó là con mình. Người cha giận trong lòng, rồi sự tiếc thương người con thân yêu trỗi dậy nên người cha đã buông lời sỉ nhục.
Khi Minh Thành nhập hạ ở chùa Xá Lợi năm 1997, lúc đó Hòa Thượng Thanh Từ có ghé vào thăm Hòa Thượng trụ trì Xá Lợi, lúc đó hơn 3h sáng Minh Thành lên chánh điện công phu. Khi Minh Thành bước vào thì giật mình do thấy một vị thầy cạo lông mày vì vị thầy đó ở bên Campuchia. Vị thầy này đắp y theo Bắc tông nhưng lại cạo lông mày theo Nam tông, lúc đó 3h khuya mà có một mình thầy này đứng trong nhà tổ nên Minh Thành bước vào thấy thì giật mình vì thấy lạ, mình đang nghiên cứu nếu được thì sau này hãy cạo hết lông mày cho xấu đi, còn bây giờ tuy là cạo tóc nhưng nhìn vào gương lại thấy đẹp hơn trước lúc tu thì thất bại, đó là ái tăng trưởng thêm chứ không giảm đi.
Mình thấy rằng từ một thanh niên cao trẻ, sống trong nhung gấm lụa là, có người hầu kẻ hạ nhưng giờ thay đổi thành người ăn xin, đây là đời sống của người xuất gia. Đức Thế Tôn nói rằng ngoài đời người ta gọi các ông là người ăn xin nên các ông hãy hạ cái bản ngã xuống, cho nên khi nào mình thấy cái ta đây ưỡn lên hách dịch thì hãy tác ý "mày là đồ ăn mày, mày là đồ ăn xin thì ta đây với ai". Cho nên hai chữ khất sĩ nhắc nhở người xuất gia là một người ăn mày, là một người ăn xin, trên thọ giáo pháp của chư Phật để nuôi tâm, dưới xin cơm Đàn-na tín thí để nuôi thân.
Vì vậy đều xấu hổ, nhục nhã nhất của người tu là cái ta đây, sự khinh thường người khác, điều này là mối nhục của người xuất gia. Từ nhục nhã mới đưa đến thánh quả, một người tu mà không có nhục nhã thì không bao giờ đi đến thánh quả vì nhục nhã chính là tàm quý, nếu không có tàm quý thì không đi đến thánh quả, tức là phải biết xấu hổ và nhục nhã đối với ác và bất thiện pháp. Đối với sân si, bản ngã mà mình cứ trơ ra như không có lỗi lầm thì đây là người đã chai sạn, người đó vĩnh viễn không bao giờ bước vào được dòng trí huệ của thánh pháp vì không thấy lỗi lầm, tâm bị chai sạn đối với ác và bất thiện pháp, tâm như một bãi rác không thấy tội lỗi và nhục nhã.
Thành ra sự tàm quý hết sức quan trọng, dòng chảy của sự tàm quý sẽ đưa đến thánh quả. Chúng ta thấy hết sức xúc động vì tình thương cha mẹ của ngài, ngài nói ngài không nhận được sự bố thí của gia chủ. Ở đây ngài dùng từ bố thí chứ không dùng từ cúng dường vì ngài là con, ngài không nhận được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sỉ nhục.
Ngài nói câu này nhẹ nhưng rất thấm thía, việc sỉ nhục một bậc A-la-hán sẽ nhận lại hậu quả khủng khiếp, không thể tưởng tượng được dù cho người đó có là cha thì vẫn là người phàm phu, còn ngài là bậc A-la-hán, là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người. Bậc cao cấp nhất chư thiên là Phạm thiên còn phải lạy dưới chân của ngài vì ngài đã ra khỏi tam giới. Vì vậy khi mắng chửi một bậc A-la-hán thì quả báo sẽ vào địa ngục, khi Trái Đất thành hoại một tỷ lần cũng không biết có thể thoát ra khỏi được không, khủng khiếp như vậy nhưng người phàm phu vô minh thì làm sao có thể hiểu được, chỉ nghĩ đó là con mình thôi, thành ra ngài đã nhắc khéo.
Đến khi ngài vào nhà thì người cha đã bày ra vàng bạc, trang sức và các người vợ cũ xinh đẹp của ngài. Ngài gọi cha mẹ mình là gia chủ, gọi các người vợ cũ là các bà chị và ngài khuyên bảo nếu gia chủ làm theo lời nói của tôi, sau khi chồng chất đống vàng nén và tiền vàng này vào trong các xe, sau khi cho chở và hạ xuống giữa sông Hằng, hãy đổ đống vàng này vào giữa dòng sông. Vì sao vậy? Này gia chủ, vì do nhân duyên này, mà sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho gia chủ. Điều này người bình thường không thể nghe nổi, ngay cả người xuất gia nghe nhưng trong bụng lại nghĩ điều này không thực tế, vì tâm phàm phu của mình nhìn không thấy nổi điều này trong khi đây là chân lý tối thượng.
Vì vậy mới nói những gì trong kinh đều là khẩu quyết, giống như bí kíp võ công chỉ có chừng vài câu nhưng mình phải bỏ công sức, tâm huyết dày công tu luyện mới có kết quả chứ không phải đọc kinh như đọc báo, nó là cả một chân trời vô biên thậm thâm pháp nghĩa, không thể đọc vào là có thể hiểu được mà nó rất thâm sâu, đây đâu phải là lời nói của người bình thường mà là lời nói của bậc A-la-hán, là câu nói cứu khổ cho chúng sanh. Có khi cả cuộc đời chiêm nghiệm cũng còn chưa hiểu được hết câu nói đó chứ mình đừng bao giờ xem thường. Chính vàng vòng, tiền bạc này mà sầu bi khổ ưu não khởi lên cho người nắm giữ nó, bây giờ thầy nào vô tình trúng vé số thì còn tu nổi không, vậy tiền có phải là nguyên nhân của sầu bi khổ ưu não không?
Có phải nó nhận chìm mình vào biển dục không? Có Phật tử đến cúng dường ngôi nhà cao cửa rộng, thầy cứ ở đó đi học thì tâm mình như thế nào? Mình đừng nói lý thuyết suông, đến chừng nào nắm trong tay tiền vàng, nhà cửa, đất đai thì lúc đó mới thấy mình sẽ si mê điên đảo, vô minh, tham ái, khát ái trổi dậy mạnh mẽ vậy là mình chết với những thứ này. Cho nên nhờ nghèo khổ, thiếu thốn mới đi tu và mình phải cảm ơn những cái nghèo khổ, chướng ngại, sự thất tình đó. Từ nhỏ đến giờ bệnh hoài nên gia đình cho vào chùa để bớt bệnh, nhờ vậy mà được kề cận với các thầy rồi phát tâm tụng kinh lạy Phật, ăn tương chao nên đi tu luôn. Các thầy muốn tu thì đừng chất chứa tài sản, có thì mình cứ bố thí, cúng dường, in kinh sách, làm tất cả mọi việc cho Tam Bảo, những thứ tài sản này rất nguy hiểm, trong Tương Ưng Bộ kinh Đức Phật đã nói sự cúng dường là đắng cay, là mũi tên, là ác độc, là sấm sét, là kẻ giết người.
“Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo... Thế Tôn nói như sau:
-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Khổ Lụy)
“Lợi đắc, cung kính, danh vọng, này các Tỳ-kheo, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Da)
Đó là sự nguy hại của lợi dưỡng, lợi đắc, cung kính, cúng dường. Cho nên nếu có người cung kính, cúng dường thì phải biết đó là mình "bị" chứ không phải mình "được" cung kính, cúng dường. Cúng một thời gian là mình đi theo người đó luôn, nhất là những thầy có sắc một chút sẽ được cúng nhiều mà không biết họ cúng cho mình vì pháp hay vì những điều khác. Con ở trong chùa nhiều năm chứng kiến cũng vì sự cúng dường này mà nhiều huynh đệ rơi rớt trong quá trình tu học, cho nên mình không nên ra làm đạo sớm, mình ra làm trụ trì rồi thì lúc đó mình là vua một cõi, không ai quản lý, kiểm soát, nhắc nhở mình nữa thì mình rất dễ bị thối lui, vì vậy phải cẩn thận với những tài sản và vật chất, nó sẽ làm sanh khởi sầu bi khổ ưu não.
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.
Thân xác này là ổ vi trùng, là căn cứ địa của dịch bệnh, bây giờ đã lên tới gần 13 triệu ca nhiễm còn số người chết là không tưởng được. Tổ chức Y Tế Thế Giới công bố dịch bệnh này có thể lây qua đường không khí, nếu con virut này phát triển mạnh thì có thể chết hết, theo dự đoán của các nhà chuyên môn thì số người chết có thể hơn phân nửa dân số thế giới nếu không có vaccine ngăn chặn. Chúng ta ngồi học hôm nay chỉ biết hôm nay, còn dịch mà bùng lên nữa có khi chúng ta sẽ không còn ngồi đây nữa nên hãy trân trọng những giây phút tu học. Mình có phước báo nên mới có sự bình an, an ổn ngay giờ phút này.
“Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thối rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) (15) Một Ung Nhọt)
Có biết bao nhiêu thứ bệnh tật trong tấm thân này. Ba con bị ung thư cuốn bao tử, mẹ con bị ung thư gan, các vị lên núi tu học hơn mười người mà ung thư hết năm sáu người. Bây giờ bệnh ung thư rất nhiều, viêm gan siêu vi B, siêu vi C là hơn phân nữa đất nước này, thật sự rất khủng khiếp. Đầy rẫy các chứng bệnh hoạn mà mình không hay biết, đến lúc phát hiện ra là đã muộn màn.
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Bệnh nhiều như vậy mà tham cũng không giảm được chứ không phải bệnh rồi là bớt tham. Dịch bệnh, sóng thần, động đất khủng khiếp mà vẫn còn tham lam, giành giựt. Hiểm họa, khổ đau đầy rẫy hết mà cũng không hồi đầu tỉnh ngộ, vẫn tham lam, si mê, bản ngã rồi hành hạ, hành xác nhau để đi đến chỗ diệt tận. Giáo pháp của chúng ta là thánh pháp ly tham, chỉ có giảm bớt cái tham, lìa bớt cái tham thì mới bớt khổ, ngoài cách này ra không còn cách nào bớt khổ.
Chỉ có giảm bớt cái tham đối với ngũ uẩn thì mới bớt khổ, đây là thánh trí thật sự được Đức Phật chứng ngộ. Mọi người nghĩ ngoài cách này ra thì còn cách nào bớt khổ nữa? Bây giờ ai cũng tham cùng tham tận, tham không bờ mé thì làm sao hết khổ? Đức Phật đã phơi bày cho mình thấy những gì bị che kín trong vô lượng vô biên kiếp trong thế giới này, mở mật mã vũ trụ để mình thấy thân tâm mình đầy rẫy dục tham ái, sân si, bản ngã hoạt động trong đó mà xưa nay mình không thấy, không biết và cũng chưa từng nghe nói đến.
Nay mình đã thấy, đã biết trong trí tuệ thánh trí ngũ uẩn này, cho nên rất tuyệt diệu, không biết ngày mai ra sao nên hãy cố gắng tu học. Tai nạn giao thông xảy ra liên tục, gây chết người rất nhiều vì thế hãy tinh tấn kiên trì tu học để mai sau chúng ta không hối hận. Nếu giờ không cố gắng thì sau này có hối hận cũng muộn màn.
./.