Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nuôi Dưỡng Tâm Xuất Ly 2

2026-03-03 00:55:47
Kinh Nikāya Giảng Giải

NUÔI DƯỠNG TÂM XUẤT LY 2

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu Khổ Thánh Đế PAGEREF _Toc79566909 \h 1

II.Nhất hướng xuất ly PAGEREF _Toc79566910 \h 4

1.Xuất ly tham, sân và hại PAGEREF _Toc79566911 \h 4

2.Xuất ly khỏi sắc PAGEREF _Toc79566912 \h 6

3.Quán nguy hại để xuất ly PAGEREF _Toc79566913 \h 14

4.Tác ý để xuất ly PAGEREF _Toc79566914 \h 16

III.Cẩn trọng trong sự tu PAGEREF _Toc79566915 \h 19

Quán chiếu Khổ Thánh Đế

Thời điểm này gần 65 triệu người nhiễm, gần 1,5 triệu người chết vì dịch bệnh. Tình hình dịch bệnh càng ngày càng nghiêm trọng, mỗi giờ ở Mỹ chết 110 người, có cô y tá phải chứng kiến chồng và mẹ chết cùng lúc, hệ thống bệnh viện của Mỹ đã quá tải, thây chết phải chất trong xe đông lạnh vì không có chỗ chứa. Ông bà mình nói "chết trước đặng mồ đặng mã, chết sau rã tây thi", bây giờ đúng như câu nói này, chết trong dịch bệnh không được làm đám tang, người thân không được gặp mặt.

Vừa rồi trong nước mình do một tiếp viên hàng không không tuân thủ cách ly nên làm ảnh hưởng 20.000 người, học sinh phải nghỉ học, rất nhiều trường phải nghỉ học nghỉ dạy. Trong những số người nhiễm bệnh có giáo viên dạy tiếng Anh. khóa trùng tuyên Tam tạng Việt Ngữ phải dừng lại, đại giới đàn Thành Phố Hồ Chí Minh cũng phải dừng lại. Chúng ta đang sống trong sự bất an, bất trắc, bất thường, bất ổn, bất định, tuy nhiên, trong giai đoạn này chúng ta vẫn được ở yên ổn trên núi tu hành, học tập thì mình phải trân trọng, trân quý, tác ý về sự hy hữu, hiếm có khó gặp, quý báu này, vì chưa chắc gì thời gian sau chúng ta được ngồi học, ngồi tu với nhau như vậy. Hiện tại các chùa ở Quận 6, trong tự viện khép kín không tiếp khách, tất cả khóa tu đều ngưng lại, ngay cả tụng kinh cũng đóng cửa.

Chúng ta đang ở trong thời kì tổ hợp thảm họa, tổ hợp thiên tai, tổ hợp dịch bệnh. Mới đây ở Tây Ninh đã có người chết, người này bị chó cắn nên bị bệnh dại, những con chó đó đều bị giết chết. Xuất hiện một số ca nhiễm virut ăn thịt người trong nước mình. Ngoài ra cướp ngân hàng, trộm cắp, giết người liên tục xảy ra: giật điện thoại làm kéo lê nạn nhân 500m, bạn bè làm ăn thiếu nợ mâu thuẫn nên chặt xác nhau bỏ trong vali. Tai nạn giao thông cũng gây chết người liên tục. Cho đến hiện tại những người tình nguyện vẫn phải đi tìm xác nạn nhân trong cơn lũ lụt vừa rồi, ở Lâm Đồng của mình cũng bị lũ cuốn trôi hai người. Mới đây, mấy chục nam thanh niên hẹn nhau ở Bảo Lộc để đánh nhau với đầy đủ dao kiếm…

Thật sự nguy hiểm, thật sự tai họa, hiểm nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan! Xung quanh chúng ta hở ra là đâm chém, giết hại nhau, ác nghiệp của con người ngày càng trầm trọng và khủng khiếp. Chúng sanh bị dục ái nhai nghiến, dục nhiệt não thiêu đốt và cả thế giới này trở thành biển lửa của lòng tham dục, sân hận, si mê. Những tổ hợp của thiên tai, bão chồng bão, lũ chồng lũ, chưa kịp khắc phục trận bão này đã có trận bão kế tiếp. Các nhà chuyên gia nói rằng 10 năm sau miền Trung cũng chưa khôi phục được như trước khi bị bão lụt.

Thật sự rất đáng để chúng ta tập trung tâm ý vào sự viễn ly, vào sự xả ly, xuất ly. Thật sự vừa đủ để chúng ta tác ý, chiêm nghiệm, quán chiếu, tư duy, làm cho mình phát khởi một ước muốn sắc bén thoát ra, bước ra, vượt ra khỏi đầy rẫy những sự sầu, bi, khổ, ưu, não này. Chúng ta phải trân quý, trân trọng, phải biết quý trọng từng giây từng phút ở nơi này khi mình được nghe Thánh pháp, được bước đi trên Thánh đạo.

Xung quanh ta có quá nhiều những sự thống khổ, nguy hiểm, tai hại do lòng tham dục gây ra, vợ giết chồng, chồng giết vợ, con giết cha, giết mẹ, anh em thảm sát nhau, cãi lộn nhau, đánh lộn, đập lộn, sát hại nhau, mưu tính, mưu mô, mưu sĩ, mưu lợi… Trong “Đại Kinh Khổ Uẩn” Đức Phật đã nói người dân với người dân đánh nhau cũng vì tham dục, quan với quan hãm hại nhau vì tham dục, vua với vua đấu đá nhau, chiến tranh với nhau cũng vì tham dục, người tu với người tu tranh đấu, cự cãi, giành giật nhau cũng vì tham dục.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)

Họ dùng các vũ khí từ gươm đao, mã tấu, dao kiếm để thực hiện lòng tham dục, tham muốn ác độc, sân hận đó. Trên thế gian này chồng chất những nạn nhân của lòng tham dục, sân hận và si mê, nó bao trùm hết thế giới này. Anh em ruột cự cãi nhau, đánh nhau giành tài sản, cha con, mẹ con không nhìn mặt nhau, thậm chí xảy ra những chuyện đại nghịch bất đạo, nghịch tử bất hiếu cũng vì lòng tham. Những người này không chỉ khổ khi còn sống là phải chịu tù tội, mà ngay khi chết còn bị đọa địa ngục, vô số kiếp phải làm cô hồn giữ của không siêu thoát được. Khi hết quả báo ác nghiệp ở địa ngục lại lên làm súc sanh, chứ không phải hết địa ngục được lên làm người, mà lên làm chó giữ nhà, làm trâu bò cày ruộng, làm heo cho người ta thọc huyết lấy thịt.

Thật là đau khổ cho cuộc đời này!

Đau khổ cho thế gian này!

Đau khổ cho thế giới này!

Vì lòng tham, lòng dục mà gây ra vô số chướng nghiệp, nghiệp quả, nghiệp báo rồi sống trong nước mắt, trong máu, trong sự hối hận, ở tù trong chung thân suốt đời hoặc bị tử hình rồi ở trong địa ngục vô lượng vô biên kiếp. Đó là mới nói về tài sản, ngoài ra còn tình dục, địa vị, chức quyền, danh tiếng, sĩ diện, bản ngã… biết bao nhiêu thứ tạo ra vô lượng ác nghiệp. Đây chính là lý do Đức Phật ly tham vì ly tham là con đường thoát khổ cho chúng sanh, đó là diệt khổ chi đạo. Còn nếu không nhìn ra được cái tham và bị những ý nghĩ, cảm thọ, những sự suy tưởng dẫn dắt là mình không có đường thoát ra, vĩnh viễn và mãi mãi ở trong bóng đêm, ở trong hiểm họa, tai nạn, khổ ách.

Chúng ta tham miếng đất đó nhưng mình sống được bao lâu để giữ nó, có khi sau này miếng đất đó lại là mồ chôn của mình. Hoặc là tham căn nhà, nếu căn nhà đó là bất chánh thì mình ở được bao lâu, mà khi đó tâm mình có an ổn không? Nếu dùng những thủ đoạn lừa gạt thì bất an ngay khi đang làm, sau khi chết lại ở trong khổ cảnh. Ví dụ, trước khi ăn cắp phải lo lắng suy tính tìm cách trộm xe, ăn cắp được rồi cũng lo sợ trốn tránh, sau khi bị bắt càng khổ nữa. Những tham muốn đó không được lợi lạc, lợi ích, bình an gì cả nhưng sự ngu si, si mê tăm tối của chúng sanh đã che mờ tất cả. Cho nên, Đức Phật nói tham, sân, si làm mù mắt chúng sanh, làm chúng sanh không có trí huệ, nghĩ – nói – làm hại mình hại người, hại cả hai.

Nhất hướng xuất ly

Chính vì vậy, sự thực tập nhận diện ngũ uẩn, nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng là tuyệt đối quan trọng. Phải đọc ra được những thứ tham dục, những cảm thọ sân, phải biết cái nào là si, cái nào là bản ngã rồi nhiếp phục, tẩy sạch, trừ diệt và đoạn tận. Đó là một công việc thần thánh, quý báu mà không phải ai trên đời này cũng có thể học được, thực tập được.

Nhất là trong thời điểm đại thảm họa toàn cầu, nếu bây giờ không chịu tu thì đến khi nào mới tu? Bây giờ không thấy khổ thì đến khi nào mới thấy khổ? Bây giờ không chịu xuất ly thì đến khi nào mới xuất ly? Bây giờ không biết lo sợ thì đến khi nào mới lo sợ? Đây chính là thời điểm tu hành, chính là thời điểm tập trung hết tất cả tâm ý, sinh lực, trí lực, nghị lực, hạnh lực, nguyện lực, đạo lực, tâm lực, dốc toàn bộ sức lực tập trung vào pháp học, pháp hành để thành tựu. Đây không phải là thời gian để lơ là, không phải thời gian để lững lờ mà đây chính là thời điểm cực kì thích hợp để dốc toàn sức mạnh tập trung tâm ý nỗ lực, nhiệt tâm, dồn sức, dồn lực, dồn tâm, dồn trí vào pháp học và pháp hành để thành tựu chánh kiến. Hiện tại cái bệnh, cái chết đến rất dễ dàng, chỉ cần đứng gần người khác thôi là cái bệnh, cái chết hiện diện trước mắt, làm sao mình biết ai bệnh ai không.

Xuất ly tham, sân và hại

Vì thế, cần liên tục tác ý viễn ly, xả ly, xuất ly, tác ý thoát ra khỏi dục, tránh xa nó, tác ý ra khỏi sân, phải diệt tận nó, tác ý ra khỏi hại, tác ý diệt trừ khi có suy nghĩ về hại.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tác ý về hại, tâm không phấn chấn trong hại, không tịnh tín, không an trú, không quyết định". (Tăng Chi Bộ, chương IV – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (X). Xuất Ly)

Khi sân lên sẽ đi kèm cái hại thì phải thoát ra khỏi ra suy nghĩ đó, dập tắt, diệt tận suy nghĩ đó, phải tác ý vô hại, không hại ai, giống như con bò bị cưa sừng, tác ý tâm hiền lành, hiền hòa, từ ái, tâm vô hại, bất hại, hoàn toàn không hại. Dù cho người ta có làm gì chạm tự ái, mất lợi ích, thậm chí làm hại mình cũng giữ tâm mình đừng sanh khởi ý niệm hại lại người ta, tất cả đều có nhân quả, nghiệp báo. Hãy giữ tâm bất hại, vô hại dù mình là người bị hại và phải tác ý đến vô hại.

"Nhưng khi tác ý đến vô hại, tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại". (Tăng Chi Bộ, chương IV – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (X). Xuất Ly)

Khéo tụ tập tức là sự tập hợp, tích tụ, tích tập những suy nghĩ bất hại, vô hại, những suy nghĩ hiền lành, từ ái, tình thương, tăng trưởng, phát triển quảng đại những suy nghĩ về vô hại, bất hại, không hại, hiền từ, hiền lành, từ bi, tình thương rộng lớn quảng đại, không hận không sân, tác ý những suy nghĩ đó, sanh lên những cảm thọ ngọt ngào, từ ái, tình thương rộng mở. Đừng bao giờ để cái sân, cái hại trong tâm mình vì:

"Kẻ thù hại kẻ thù,

Oan gia hại oan gia,

Không bằng tâm hướng tà,

Gây ác cho tự thân".

(Kinh Pháp cú 03 – phẩm Tâm, kệ 42)

Kẻ thù đi hại kẻ thù, oan gia đi hại oan gia nhưng kẻ thù với oan gia cũng không bằng tâm hướng tà gây ác cho chính bản thân mình. Vì thế, kẻ thù không phải ở bên ngoài mà chính là tâm hướng tà, tâm tham lam, tham dục, tham vọng, tâm ác tham, sân hận, bản ngã, ganh tỵ, hơn thua của mình, những cái tâm này còn hơn kẻ thù, còn hơn oan gia của mình. Phải nhiếp phục, tẩy sạch, diệt tận những tâm đó mới được bình yên, vì chính nó đã gây bao điều ác độc cho bản thân mình.

Ví dụ, một người đến gây sự, kiếm chuyện với mình mà mình tu tâm không sân, bất hại, từ nhẫn, nhẫn nhịn, từ ái thì không có gì xảy ra, mình sẽ được bình an, an ổn. Còn giờ chuyện đang bình thường, không đáng gì mà mình lại bốc cháy, thiêu rụi thì tự mình lãnh hiểm họa. Cho nên, cần cẩn thận với tâm sân, tâm hại, không phải là người tu thì không có tâm sân, tâm hại này, mỗi khi giận lên vẫn có thể suy nghĩ đến những cái ác, bất thiện để người khác gặp điều không may rồi mình vui mừng. Vì vậy, cần diệt tận tâm hại này, khéo tụ tập, tích tụ, chất chứa những tâm hiền, tâm ái kính để diệt tận tâm sân hận, hãm hại. Phải tác ý, tư duy, quán chiếu tăng trưởng, phát triển chứ không được ngồi không. Phải tu trong sự nhiệt tình, nhiệt tâm, năng động chứ không phải tu trong sự trơ lì, thụ động, biếng nhác, tinh tấn, tinh cần nhưng lại hạ liệt, phải tăng thượng.

Chúng ta hãy nhớ rằng, không có bất cứ ai hại mình mà chính lòng tham, lòng sân hận, lòng si mê, tâm bản ngã giết hại mình. Con người vì lòng tham che mờ mà trở thành ngu si, mê muội tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp ác phải chịu quả báo dài lâu, trường viễn, trường dạ vô minh hắc ám trong đêm dài, hơn cả đêm dài trung cổ. Nhiều trăm tỉ năm, nhiều ức tỉ năm, nhiều vạn vạn tỉ năm, nhiều tỉ tỉ năm chúng san phải ở trong bóng đêm, trong hoảng sợ, trong hoảng hốt, kinh hãi, khủng bố, trong sự kêu gào thảm thiết của địa ngục, ngạ quỷ, cô hồn, súc sanh. Tất cả là do không xuất ly ra khỏi những tâm tham, sân, hại này.

Thế nên, chúng ta phải tác ý xuất ly, viễn ly, đoạn ly, xả ly, thường trú trong từ tâm giải thoát, bi tâm giải thoát, xả tâm, hỷ tâm vô lượng, thường trú tu tập tâm, mở rộng tâm làm cho tâm quảng đại, rộng lớn, không hận không sân vô lượng vô biên, bằng không ngược lại sẽ sợ hãi, lo lắng, khổ đau trong đêm dài trường dạ vô minh bất tận.

Xuất ly khỏi sắc

Trong bài kinh “Xuất Ly” này, Đức Phật nói về năm xuất ly giới, tức là năm chỗ mình cần phải thoát ra, năm xuất ly giới là năm lãnh vực, năm phạm trù, năm phạm vi, năm cảnh giới mà mình cần phải thoát ra.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tác ý về sắc, tâm không phấn chấn trong sắc, không tịnh tín, không an trú, không quyết định". (Tăng Chi Bộ, chương IV – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (X). Xuất Ly)

Đây là bắt đầu nâng cao lên, ở trên là chúng ta đã nói về phá tham, sân, hại – ba xuất ly giới, còn ở đây là phá về sắc, thoát ra khỏi sắc. Bài kinh này rất sâu sắc trong sự tu tập của chúng ta. Khi tác ý về sắc thì tâm không phấn chấn trong sắc, nghĩa là khi trong tâm sanh khởi hình ảnh thì chúng ta không ưa thích, không thích thú, không ở trong hình ảnh đó, không quyết định, không hài lòng, vừa lòng mà chỉ thấy chán nản, nhàm chán hình ảnh đó.

"Này Sona, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'.

Phàm thọ gì... phàm tưởng gì... phàm các hành gì...

Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona).

Tất cả các tưởng đều phải quán là vô thường, khổ, vô ngã, là biến hoại, sanh diệt, là mũi tên, ung nhọt, gai độc, là hố than hừng, là bệnh hoạn – đó là ở trong tâm; còn bên ngoài là những hình sắc cũng phải tác ý "dù là sắc gì đi nữa cũng là vô thường, là thống khổ, bại hoại, trống rỗng, bệnh hoạn, là người lạ, là kẻ sát nhân". Khi nhìn gì mà thấy thích thì tác ý "mày là đồ giết người" để xả cái tâm ái luyến, chấp thủ đó. Căn nhà chúng ta ở đang giết mình, làm mình không nỡ bỏ nó đi tu, thậm chí không đi đầu thai được mà chết rồi trở lại làm cháu nội, cháu ngoại hoặc nghiệp nặng phải làm con chó giữ nhà, thật sự khủng khiếp. Một cảm giác yêu thương hay thù hận thì đời sau gặp lại hoặc yêu hoặc hận, cho nên cảm thọ đó trói cột mình. Vì vậy, tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức dù là vị lai, hiện tại, quá khứ, trong ngoài, thắng liệt, thô tế, xa gần đều phải quán nó là bệnh hoạn, mũi tên, hố than hừng để viễn ly, xả ly, xuất ly khỏi nó.

"-- Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.

... Thọ... tưởng... các hành...

Nếu có thức, này Ràdha, thời có chết, hay có sát giả, hay có bị chết. Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy thức là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh hoạn, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy thức như vậy là thấy chơn chánh.

-- Bạch Thế Tôn, chánh quán với mục đích gì?

-- Chánh quán, này Ràdha, với mục đích nhàm chán.

-- Bạch Thế Tôn, nhàm chán với mục đích gì?

-- Nhàm chán, này Ràdha, với mục đích ly tham.

-- Bạch Thế Tôn, ly tham với mục đích gì?

-- Ly tham, này Ràdha, với mục đích được giải thoát.

-- Bạch Thế Tôn, giải thoát với mục đích gì?

-- Giải thoát, này Ràdha, với mục đích Niết-bàn.

-- Bạch Thế Tôn, Niết-bàn với mục đích gì?

-- Này Ràdha, Ông đi quá xa với câu hỏi này, không thể nắm được giới hạn của câu hỏi. Nhập vào Niết-bàn, này Ràdha, là sự thực hành Phạm hạnh; Niết-bàn là mục tiêu cuối cùng; Niết-bàn là cứu cánh. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Rādha, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Māra). 

Sự tu của mình phải đề phòng tâm thương ghét, vừa lòng và không vừa lòng, vì thương ghét là tham sân. Hai người thân nhau quá thế nào cũng giận. Trong đại chúng không nên chơi quá thân với ai, cũng không nên quá sơ với ai, mà phải theo lục hòa kính, thân cho nhiều có khi sau này không nhìn mặt, sân hận lẫn nhau. Hoặc nếu có cảm thông, hợp ý nhau cũng phải hiểu, phải biết chứ đừng để cái thường tình sanh khởi. Nếu thân với ai đó mà có người khác nói xấu người đó thì mình sân lên, bực bội hoặc ghét ai mà có người nói xấu người đó thì mình lại vui, như vậy là phàm tình. Cho nên phải giữ lục hòa kính, không quá thân với ai cũng không quá sơ với ai, giữ tâm ở mức bình đẳng, trung dung, trung đạo, trung hòa.

Thật ra chúng ta đau khổ, sầu, bi, ưu, não lo lắng, sợ hãi, bất an là do cái sắc. Dục tham, ái luyến cũng gây ra đau khổ cho mình nhưng phiền não trọng yếu nhiều nhất chính là sắc, vì sắc mới sanh ra thọ. Nhìn thấy người dễ thương mới sanh ra cảm thọ tham ái, yêu thích, nhìn thấy người ghét thì sanh ra cảm thọ sân hận – tất cả những cảm thọ đó đều từ sắc. Do tiếp xúc sắc nên sanh ra thọ; tưởng; hành và cái thức cũng nhận biết cái sắc. Cho nên cái sắc rất ghê gớm, hơn phân nửa sự tu hành là để phá sắc tưởng, sắc tướng, sắc pháp.

Chúng ta tu hành trong núi rừng, trong am cốc, trong tịnh thất là nhằm giảm bớt sự tiếp xúc với các sắc. Khi về phố thị sẽ thấy tâm tư thay đổi ngay vì sắc sẽ theo con mắt đi vào nội tâm. Mắt là cửa sổ tâm hồn cũng được gọi là căn môn vì thế khi tâm không trú trong pháp mà chỉ cần nhìn sắc thôi là lúc đó tâm sẽ bị ảnh hưởng. Thời Đức Phật có rất nhiều vị Tỳ-kheo đi khất thực gặp những người phụ nữ ăn mặc hở hang, về là muốn bỏ tu, thậm chí là hoàn tục. Trong thời Đức Phật còn tại thế mà còn như vậy, đừng nói gì thời bây giờ, không cần đi khất thực, không cần xuống phố thị mà được sắc đến thăm luôn. Vì thế, phải hộ trì căn, trong ngoài và cả chặng giữa phải phối hợp với nhau. Trong đại chúng muốn làm công quả lau dọn chùa thì hãy đợi giảm bớt khách trên Quán Chiếu Đường rồi hãy lên, khách đang tụ tập đông đúc mà lên sẽ có cơ hội tiếp xúc sắc, sau đó lại xin số điện thoại liên lạc thì nguy hiểm vô cùng.

Khi thấy sắc bên ngoài cũng như khi thấy sắc tưởng bên trong không thấy phấn khởi, hân hoan, không đặt niềm tin nơi sắc đó để thấy nó vui hay lạc, như vậy gọi là tịnh tín. Không nghĩ rằng trong sắc đó có cái vui, có sự an ổn, khi không an trú là những suy nghĩ, nghĩ tưởng của mình không ở trong đó, tức là xuất ly khỏi nó, Đức Phật dạy từng chút một, như vậy mới gọi là bậc Chánh Đẳng Giác dạy tu hành. Nếu hình bóng đó khởi lên và mình chấp nhận để nó trong tâm thì gọi là an trú. Lâu lâu lại nhớ đến hình bóng đó làm cho vị ngọt tăng trưởng, ái tăng trưởng, dục tăng trưởng, sự quyến luyến tăng trưởng. Lâu lâu lại nhớ đến thì càng ngày càng bị hình ảnh đó lôi kéo rồi một ngày không xa nó lôi kéo mình xuống núi về nhà. Do không xuất ly khỏi sắc tưởng, lại còn lưu giữ hình ảnh trong ví, trong điện thoại, lâu lâu lấy ra nhìn, vậy là dục, tham, ái tăng trưởng thì làm sao xuất ly được? Khi hình bóng hiện ra không tác ý, không đánh đuổi, tẩy sạch mà lại nuôi dưỡng hình bóng đó, vậy là không xuất ly khỏi sắc tưởng thì trước sau gì cũng bị hình bóng đó lôi kéo.

Nếu chúng ta làm đúng theo lời Đức Phật thì sẽ thành tựu rất nhanh chóng và giải thoát từ lâu. Tuy nhiên, chúng ta học thì như vậy nhưng thực tế lại không làm theo lời Phật dạy mà làm theo ái của mình. Tu mà chỉ nhớ được một nửa lời Phật dạy, còn lại thì để dành, nếu bỏ hết theo Phật thì uổng. Chính chỗ để dành lại đó sẽ xâm chiếm, áp đảo, nếu mạnh thì nó quật ngã luôn mình. Lúc bình thường thì thấy không sao nhưng khi hữu sự những thứ ác pháp đó bùng lên, gặp chuyện đại sự thì nó xâm chiếm toàn bộ thân tâm và quật ngã mình.

Cho nên sắc bên ngoài và sắc tưởng bên trong đều không được an trú, không đặt niềm tin, không quyết định với nó. Khi nhìn những hình thể, hình sắc phải tác ý đối với với nó. Minh Thành thường nhắc nhở thầy Pháp An từ giờ trở đi phải tập tác ý "Linh Quy Pháp Ấn này cũng vô thường, bại hoại, tan nát, không phải là chỗ đáng ưa, đáng thích" để không bị dính mắc vào nó để rồi đầu thai trở lại làm người nữa chứ không thể giải thoát hoàn toàn. Trong khi đó, Minh Thành muốn thầy Pháp An dù chưa hết lậu hoặc cũng trở thành Thánh đệ tử thiên, không còn ở thế gian này nữa. Vì lên Thánh đệ tử thiên là bất thối chuyển, tuyệt đối không còn trở lại địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu có trở lại chỉ là Người và chư Thiên, còn cao cấp là từ Thánh đệ tử thiên rồi sau đó nhập Niết-bàn chứ không còn trở lại thế gian này nữa. Cho nên khi nghĩ về Linh Quy Pháp Ấn mà có ý nghĩ ưa thích cũng phải dẹp bỏ "cái thứ vô thường, bại hoại này một ngày nào đó sẽ sụp đổ hết thôi", khi thầy Pháp An nhớ về con cháu ở quê cũng phải tác ý diệt tận hết, xuất ly khỏi sắc tưởng đó, diệt tận tham ái. Như vậy khi ra đi thầy sẽ được vinh quang và rạng rỡ hơn cả bà Năm, vì thầy đã có thời gian tu tập, tiếp xúc pháp nhiều gấp đôi bà Năm nên thầy phải bước vào hàng bốn đôi tám chúng.

Trong những giây phút cuối cùng, phải quán diệt tận tất cả tứ đại ngũ uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu thức, quán xả ly, đoạn tận, chấm dứt, không ưa thích thân xác hôi thối, bẩn thỉu này nữa, xuất ly thẳng lên Thánh đệ tử thiên không quay về thế giới này nữa, cũng như bỏ căn nhà dưới quê không về nữa, không trở lại thân xác hôi thối, bất tịnh này nữa. Cho nên từ giờ về sau thầy cần tác ý thật mạnh, quán chiếu thật mạnh, nhất là lúc gần lâm chung, dù lúc đó có con hay không có con bên cạnh cũng không quan trọng mà cần tác ý diệt tận, xả ly mạnh mẽ và hoàn toàn, chấm dứt không trở lại nữa. Chỉ lấy pháp làm chỗ nương tựa an ổn, tối thượng chứ không có ai nương tựa được vì vậy cần xuất ly khỏi đống sắc vô thường, bại hoại, tan hoại, khốn khổ, hoạn nạn này. Đầy rẫy những tai ương, khổ đau, bệnh tật là đống sắc này.

"Hãy xem bong bóng đẹp,

Chỗ chất chứa vết thương,

Bệnh hoạn nhiều suy tư,

Thật không gì trường cửu".

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)

Phải quán thật thâm sâu về sắc uẩn này, phải nhìn bong bóng đẹp chỉ là chỗ chất chứa vết thương, đầy bệnh hoạn và suy tư, không có gì vĩnh cửu trong này.

"Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa".

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)

"Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống".

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)

"Như trái bầu mùa thu,

Bị vất bỏ quăng đi,

Nhóm xương trắng bồ câu,

Thấy chúng còn vui gì?"

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 149)

"Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Ðược hoan hỷ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết".

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)

"Đệ tử Gotama

Luôn luôn tự tỉnh giác

Vô luận ngày hay đêm,

Tưởng sắc thân thường niệm".

(Kinh Pháp Cú 21 – Phẩm Tạp Lục, kệ 299)

Quán sắc thân tức là xuất ly khỏi sắc, cần nhớ cho kĩ điều này. Xuất ly khỏi sắc tức là quán thân trên thân, nếu từ giờ mình không tập nhiếp phục cảm thọ thì đến khi chết không bao giờ có thể nhiếp phục nổi cảm thọ. Đức Phật đã dạy các Tỳ-kheo “phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến”, tức là lúc sắp chết.

"Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm".  (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh) 

Đức Phật nói một vị Đa văn Thánh đệ tử chịu đựng những cảm thọ nóng lạnh, khổ thọ kịch liệt, khốc liệt, đã quen nhiếp phục cảm thọ thì đến khi gần chết là lúc tột cùng đau khổ của các cảm thọ, các vị này đến lúc đó quán xả ly, từ bỏ các cảm thọ cho nên các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật chứng đắc rất nhiều lúc sắp chết.

"Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: 'Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân'. Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: 'Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng'. Vị ấy tuệ tri rằng: 'Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh) 

Nếu mình khéo tu thì đó là lúc mình làm một bài thi vĩ đại để nhảy vọt lên trên, vì thế cần học thuộc những bài pháp quán thân, thường xuyên tác ý để khi nào sắc khởi lên mình có vốn từ để tác ý liên tục nếu không sẽ không biết nói gì để tác ý. Có một Phật tử chỉ tác ý "thân vô thường, cảnh vô thường, tâm vô thường", vậy là hết, phần văn không đủ để tác ý. Cho nên cần tác ý thường xuyên và liên tục nhiều khía cạnh của thân này, mình đọc bài kệ Pháp cú rồi từ trong bài kệ diễn giải ra như viết bài luận, "chính vì mày làm ổ, làm tổ, làm căn cứ địa, làm sào huyệt rồi chấp thủ trong cái đống mấy chục kí lô này rồi lo lắng, sợ hãi, bất an".

"Nhưng khi tác ý đến vô sắc, tâm liền phấn chấn trong vô sắc, được tịnh tín, được an trú, được quyết định". Tác ý đến vô sắc "sắc là vô thường, vô ngã, trống rỗng" rồi thấy vui thích, khoan khoái, hoan hỷ, hạnh phúc trong sự thấy biết vô thường, bất tịnh về sắc thân này. Mình phải tập tác ý hỷ lạc trong khi thực tập sự xả ly, viễn ly, mình thấy hân hoan khi thấy được bản chất của sắc, bản tánh của sắc, nếu tu không có hỷ lạc sẽ không thể tiến bộ sâu được. Nhìn thấy bộ xương là thấy vô thường, vô ngã nhưng thấy hoan hỷ vì cái thấy này đưa đến ly tham, từ bỏ, viễn ly, diệt tận tâm dục, tâm tham ái, đam mê, dính mắc, trói buộc trong đống sắc này. Tâm được tịnh tín, được quyết định tức là tâm xác quyết thoát ra khỏi sắc, đó là trí huệ, mỗi ngày nghe pháp sẽ cảm thấy hạnh phúc, mỗi ngày được đọc kinh Nikāya, được nghe kinh Nikāya, được nghe giảng giải, ngồi thiền pháp, tác ý, thực hành pháp thì còn gì tuyệt vời hơn nữa, tác ý sẽ giúp mọi người vượt qua hết cái lạnh, nóng, buồn ngủ, nhức mỏi.

"Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại. Và do duyên với hại, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi hại.

Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sắc. Và do duyên với sắc, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi sắc". (Tăng Chi Bộ, chương IV – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (X). Xuất Ly)

Quán nguy hại để xuất ly

Lúc nào Đức Phật cũng cho mình thấy sự nguy hiểm và tác hại của dục, sân, hại, sắc vì thế mình cần quán chiếu, tác ý thật nhiều đối với sự nguy hại của nó.

Ví dụ mình đang khát nước, được người ta cho ly cam vắt mật ong, mình thấy thích, hoan hỷ nhưng trong ly có độc thì còn muốn uống nữa không? Cũng vậy, mình biết trong dục có độc, trong tham, sân, hại, bản ngã có độc nên mình dừng lại, thoát ra, không được dính vào dù chỉ một chút, đó là sự quán nguy hại. Mình đang đói mà có rất nhiều thức ăn nhưng trong thức ăn có độc thì dám ăn không? Cũng vậy, quán chiếu trong tham, sân, si, bản ngã, sắc, hại có độc dược để từ bỏ, vứt bỏ, rửa sạch không để dính dù chỉ một ít. Cho nên, phải quán sự nguy hại thật sung mãn.

Trong kinh Đức Phật đã nói khi ngài còn là Bồ-tát thì ngài cũng tu, cũng thấy vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly nhưng tu mãi không thành tựu. Sau đó, Ngài nhìn kĩ lại tìm hiểu thì thấy quán nguy hại chưa đủ, thế nên, Ngài mới phát huy sự quán chiếu nguy hại cho to lớn, sâu rộng và cuối cùng ngài chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hoàn toàn xuất ly.

"Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: 'Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly'. Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy 'Ðây là an tịnh'. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: 'Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát'. Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: 'Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy', thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: 'Ðây là an tịnh'". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (X) (41) Tapussa)

Nếu xuất ly mà chưa đầy đủ là do sự quán nguy hại của mình chưa thâm sâu, chưa viên mãn nên cần phát huy quán nguy hại, cần khai thác, hạch tội nó, diễn giải ra sự nguy hiểm và tác hại mà nó đưa đến là gì. Khi thấy thật sự nó là độc, là nguy hiểm tác hại thì lập tức mình sẽ bỏ nó ngay. Sở dĩ chúng ta chưa bỏ là chưa thấy nó nguy hiểm một cách thật sự sâu sắc, thấm thía, chỉ thấy được chút ít thôi cộng với tập khí, khói quen nên không bỏ được nó. Vì thế cần phát triển quán sự nguy hại cho sung mãn sẽ xuất ly ra khỏi sắc.

Chúng ta không cần làm cho nhanh vì "dục tốc bất đạt" và cũng không được lơ là, tức là buông lung, buông thả vì sẽ làm cho tệ hơn, hoặc y nguyên, hoặc giảm rất ít. Còn nếu tâm căng thẳng thì sự tu sẽ mệt mỏi không theo dài lâu. Chỉ khi tâm tinh cần tinh tấn với sự bình tĩnh, sáng suốt, nhẹ nhàng dài lâu và đều độ sẽ phá được các lậu hoặc và các cấu nhiễm. Nếu chúng ta cứ muốn cho mau lẹ thì cái muốn đó làm chướng ngại, hoặc không muốn mau lẹ thì đó cũng là chướng ngại vì tâm không muốn phá những cấu nhiễm. Cho nên, sự tinh cần tinh tấn của mình cần được duy trì vừa phải, đúng mức thì sẽ thành công.

Chúng ta cần tập hợp những cách tu, tập hợp những cảm thọ, cảm giác nhàm chán, đối với sự nguy hiểm và tác hại của sắc thì cần lôi nó ra, hạch tội nó, mổ xẻ, phân tích nó. Suốt một thời thiền phải lôi tội lỗi của dục trong từng chặng đường của cuộc đời ra để hạch tội rồi quán sự nguy hiểm, tác hại của nó, xem nó gây ra bao nhiêu nghiệp ác. Khi xả thiền cũng tiếp tục hạch tội, phải làm cho thấy được sự nguy hiểm tác hại, ác độc của nó thì từ từ mới thoát ra, viễn ly, xuất ly. Phải liên tục, điều độ, thường nhật, quán chiếu sự tàn phá, ác độc của nó đã làm cho mình đau khổ, tội lỗi, bất an như thế nào. Cần làm lay động các gốc rễ của dục trong vô lượng kiếp. Làm cho sự chấp thủ phải rung chuyển trước Như Lý Tác Ý, trước trí tuệ của mình, Làm cho tâm nhức nhối, đau khổ về dục ái chứ không được trơ ra. Phải sanh khởi được cảm giác tàm quý, xấu hổ và nhục nhã, sợ hãi và lo lắng. Phải tác ý mạnh mẽ "mày ngu vừa vừa thôi, còn chỗ nào ngu hơn không, tại sao cứ đam mê những thứ bất tịnh tanh hôi này không chán hay sao?". Làm cho rung chuyển gốc rễ của dục, ái, sân si, vô minh và bản ngã, rồi đến một ngày cái gốc rễ đó cũng bị bật ra ngã xuống, chặt ra, bị đốt cháy và đổ tro xuống sông xuống biển, cho nước cuốn đi, hoặc cho gió thổi bay vào hư không, để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai.

Tác ý để xuất ly

"Này Ananda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)

Đức Phật dạy những hình ảnh này để mình tác ý chứ không đơn thuần chỉ là một ví dụ. Khi quán chiếu, tác ý như vậy thì trong lòng sẽ có nguồn sức mạnh làm cho mình mạnh mẽ, uy dũng, đại hùng đại lực, còn yếu kém sẽ làm không lại những ác pháp này. Nhìn các sắc pháp là nhàm chán nên yểm ly, muốn từ bỏ, chấm dứt, khi tác ý hoài sẽ trở thành thói quen. Lúc đầu mình tác ý thì những ác pháp vẫn còn mạnh nhưng cứ làm liên tục trong thời gian dài thì những ác pháp này giảm bớt, rồi đến một ngày trí huệ của mình sẽ lớn hơn các ác pháp. Khi trí huệ lớn mạnh lên đỉnh điểm thì Nhập Lưu, tức là từ đây về sau không còn suy nghĩ thay đổi nữa, không còn cho sắc là lạc nữa. Đối với một vị thành tựu minh kiến thì không thể thấy có một cái hành nào là lạc, (hành này là cả năm uẩn), không thấy bất kì sắc; thọ; tưởng; hành; thức nào là vui, nếu còn thấy nó là vui thì vẫn chưa thành tựu minh kiến, chưa thành tựu chánh kiến. Chỉ khi nào không còn thấy bất kì hành nào là thường còn, tất cả mọi sự vận hành của năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, bất lạc thì đó là bậc thành tựu chánh tri kiến.

Khi đó, tâm mình tịnh tín bất động, cái thấy của mình không còn thấy bất kì cái gì vui sướng nhưng muốn vậy là cả một công trình khổ luyện. Phải lấy suy nghĩ vô thường đuổi suy nghĩ thường, lấy suy nghĩ khổ đuổi suy nghĩ vui, lấy suy nghĩ vô ngã đuổi suy nghĩ về bản ngã, cái tôi trong ngũ uẩn. Dù cho chúng có cứng chắc đến cỡ nào nhưng đuổi hoài rồi nó cũng phải đi, đến khi gần chết thì mình đẩy nó đi thật mạnh là hoàn tất công việc. Phải đánh đuổi những suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng trong tâm vì chúng sanh bị điên đảo tưởng, điên đảo kiến, cho vô thường là thường, cho khổ là vui, cho vô ngã là ngã, cho bất tịnh là sạch sẽ, vì vậy, cần dùng Thánh tri kiến để đánh đuổi điên đảo tưởng. Muốn được như vậy phải có một sự hành trì thường xuyên và liên tục, lấy suy nghĩ này thay thế cho suy nghĩ kia, nhìn cái nào thấy vui là đuổi suy nghĩ đó, nhìn cái nào là sạch đuổi suy nghĩ đó, nhìn cái nào có cái tôi trong đó cũng đuổi suy nghĩ nó ra khỏi thân tâm, như vậy mới phá được điên đảo tưởng, điên đảo kiến, đó là bốn sự điên đảo của chúng sanh.

"- Này các Tỳ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. Thế nào là bốn?

Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Này các Tỳ-kheo có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (IX). Tưởng Ðiên Ðảo)

Cái thấy biết của chúng sanh bị đảo lộn nên nó làm cho mình khổ, trên đây là bốn sự đảo ngược của nhận thức, làm cho chúng sanh khổ đau. Tại sao mình phải tu? Vì khi duyên với sắc khởi lên tham, sân, si, lậu hoặc, thiêu đốt làm cho mình khổ não. "Vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy", chỗ nào Đức Phật cũng nói đến cảm thọ, nếu có cảm thọ chấp nhận, ưa thích, hoan hỷ, an trú trong sắc là không thọ nhận cảm giác đó. Đây mới là chỗ diệt khổ.

Ví dụ, nhìn ngôi chùa đẹp thì thích, đó là từ sắc sanh ra thọ và có tưởng; hành; thức theo sau, muốn không nhận thọ ấy là cần tác ý ngay "ngôi chùa này cũng là thứ vô thường, tan nát", như vậy là không nhận thọ ấy, không nhận sắc ấy, không nhận tưởng; hành ấy nhưng nói gọi là "không cảm giác thọ ấy". Khi thấy cái nào mà thích thú, khoan khoái thì cần tác ý như vậy. Nếu muốn được ăn ngon thì tác ý "cũng là vô thường, cũng là bất tịnh, không đáng ưa thích, không đáng hoan hỷ" và có ý niệm muốn thoát ra vì mệt mỏi, khổ sở với cái ăn này. Biết rằng ăn chỉ để duy trì thân này tu hành phạm hạnh để thoát ly, xuất ly chứ không phải ăn để làm đẹp, đam mê, ưa thích.

Như vậy, khi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình đối diện với pháp nào cũng đều tác ý thoát ra như vậy, đó là xuất ly khỏi ngũ uẩn, xuất ly khỏi sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Ngay cả khi ngồi thiền mà xuất hiện hình bóng nhớ thương cha mẹ, anh chị cũng tác ý về sự vô thường, khổ, ràng buộc, dính mắc, tác ý "hình bóng này có gì trong đó mà tiếc nuối?", hình ảnh thật sự bên ngoài còn bỏ được thì tại sao ảo ảnh trong tâm lại bỏ không được? Mình cần tác ý "tại sao bỏ cha mẹ là con người thật bên ngoài còn làm được thì hình bóng, cảm thọ ảo ảnh trong tâm lại bỏ không được? Trước cũng bỏ, sau cũng bỏ nên diệt tận thành khói, thành bụi, thành mây, thành khói, thành hư không luôn đi". "Tại sao cha mẹ là người thật việc thật mình còn bỏ được mà hình bóng ảo tưởng trong tâm lại không chịu bỏ, tại sao? Vợ con mình bỏ được mà tại sao hình bóng lại không bỏ được?". Đã bỏ được cái thật bên ngoài thì hình bóng giả tạo cũng diệt tận luôn đi, "tại sao thầy tổ, huynh đệ là người thật mình bỏ được còn hình bóng trong tâm lại không bỏ được, tại sao?". Phải diệt tận hoàn toàn hình bóng đó, suy nghĩ đó để không còn sanh khởi trở lại nữa. Phải đánh phá thường xuyên và liên tục những cảm thọ đó, những ảo ảnh đó thì từ từ nó sẽ lắng dịu, an tịnh và dần dần đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn.

Thân xác này chỉ là cục thịt vô tri nhưng thọ; tưởng; hành bên trong mới quậy phá mình, những món đồ này không quan trọng nhưng thọ; tưởng; hành bên trong mới là vấn đề, thấy hình bóng đó phớt qua nhưng sau khi về nó lại ám ảnh trong tâm, nó trói cột, hành hạ, đay nghiến làm cho mình đau khổ. Sự tu học của mình là quay vào trong để xuất ly khỏi những cái đó và có phương pháp, cách thức tinh cần tinh tấn, tác ý đánh phá, quán tưởng, trừ diệt, diệt tận, dập tắt, tẩy sạch.

Cẩn trọng trong sự tu

Trong sự tu của chúng ta phải rất thận trọng, Minh Thành thường nhắc nhở mọi người nếu làm việc không cẩn thận, học pháp không cẩn thận thì khi dụng công phu cũng sẽ không cẩn thận. Mọi người ở đây đều còn tuổi trẻ nên điều quan trọng hàng đầu là sắc dục. Đại chúng phải lo lắng, thực hành bất tịnh quán, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi, cốt tưởng quán. Cần phải thường xuyên quán chiếu, an trú trong Thân Hành Niệm thật nhiều và lấy nó làm đề mục tu hành. Đối với thọ; tưởng; hành phải cẩn thận, kĩ lưỡng, để tâm chứ không được xem thường, chỉ cần không cẩn trọng là lập tức có thể rơi rớt.

Vì vậy, trong sự tu càng cẩn thận càng tốt. Phải để tâm chú ý vào vấn đề diệt dục, diệt tham ái và lấy đó làm đề mục tu liên tục cho đến khi nào nhiếp phục được. Ai còn nặng về cái gì thì lấy tập khí, phiền não, lậu hoặc đó tu suốt ngày. Mỗi khi tác ý, quán chiếu, canh chừng, phòng hộ, sám hối, lễ lạy, đọc tụng, thiền tập đều chỉ lấy một đề mục đó tu xuyên suốt. Phải tập trung tâm ý vào một đề mục đó thực hành, nghiền ngẫm, quán chiếu, tác ý, để ý và hành trì chứ đừng xem thường, cẩu thả vì giai đoạn này chúng ta còn trong phạm trù nguy hiểm, chừng nào Nhập Lưu lúc đó mới an toàn.

Cho nên từ giờ cho đến khi Nhập Lưu tuyệt đối không được xem thường mà phải cực kì cẩn thận. Đến khi nào trong tâm mình xác quyết tuyệt đối trọn vẹn 100% tất cả ngũ uẩn này là khổ, vô thường, vô ngã, là bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, là hố than hừng, gai độc, là kẻ giết người, xác quyết 100% thì mới gọi là tạm an ổn trong bước đầu tiên của tri kiến. Vì thế cần liên tục tinh tấn, để tâm, tác ý, nghe pháp, quán chiếu liên tục. Nếu nặng về dục thì nghe những bài liên quan về dục như cách diệt dục, nặng về bản ngã thì tập trung vào các bài về bản ngã và cố gắng không được buông lung phóng dật.

./.