Pháp Đàm - Như Lý Giác Sát - Như Lý Tác Ý 1B
Nikāya Pháp Đàm
Như Lý Giác Sát - Như Lý Tác Ý 1B
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhiếp phục tâm hướng ngoại PAGEREF _Toc179394698 \h 1
II. Bảo hộ thân tâm PAGEREF _Toc179394699 \h 3
I. Nhiếp phục tâm hướng ngoại
Sự tu học của mình không tiến bộ là vì tâm mình hướng ngoại, có gì bên ngoài là mình đánh mất mình. Mình đi trồng cây thì mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm cây phải lớn, mình xây cái nhà thì mỗi ngày, mỗi tuần phải đi gần đến sự hoàn thành, mình làm việc thì mỗi tuần, mỗi tháng cũng có lợi nhuận, trong khi tu lại không thấy ai báo cáo kết quả tu học cho nên phải có những nhật kí tu học.
Trong tâm có chuyện gì dù là ưu hay khuyết cũng đều phải ghi ra, hôm nay mình nghe câu chuyện đó hoặc gặp người đó làm mình bực bội, khó chịu, nhìn thấy mình tu còn dở, mình biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình biết rằng khi tiếp xúc sẽ sanh cảm giác, cảm thọ, mình biết cái sân này phải dùng như lý tác ý, như lý giác sát, dùng tâm từ hóa giải nhưng cái giận còn nguyên, đó là mình đang dậm chân tại chỗ, những cái này phải được ghi ra trong nhật kí tu học. Mình chỉ biết trên kiến thức, trên lý thuyết, trên sự học hiểu, còn sự thực tập chưa được, những cái đó mình phải ghi vào quyển nhật kí cho chi tiết, ví dụ mùng 3 tết vào nhà bếp gặp người đó làm mình khó chịu thì ghi vào sổ sáng mùng 3 tết đã nổi giận.
Vài ngày sau lại có chuyện làm mình bực bội nhưng mình nhiếp phục được, mình tác động tâm ý chế ngự được cảm xúc đó rồi để tâm lan tỏa tình thương bằng sự cảm thông cho người kia, thấu hiểu được chính mình vì mình cũng có nội tâm đầy sân si, mình làm cho cảm thọ tức giận lắng dịu xuống, nhẹ nhàng lại thì cũng ghi vào nhật kí cho chi tiết. Đến rằm tháng giêng cái sân giận giảm xuống nữa thì đó chính là thành quả tu học, nhưng đến tháng ba cái sân lại tăng lên, cứ thế nhìn vào nhật kí tu học thì mình biết rằng mình không còn dậm chân tại chỗ nữa mà là càng ngày càng tệ, càng ngày càng đi lùi, càng ngày càng thối lui, thối đọa, rơi xuống.
Đó là sự quan trọng của quyển nhật kí tu học, nó giúp mình nhìn nhận lại điều quan trọng mình đang làm, mình là người tu thì không có gì quan trọng bằng việc tu, nhưng giờ cái tu của mình đang dậm chân tại chỗ hoặc là đi lùi thì đây là sự đáng xấu hổ, đáng tủi nhục, đáng đau buồn. Mình đem quyển nhật kí tu học ra trước bàn Phật rồi lạy sám hối, "ngày xưa con giận có 4-5 phần mà giờ con giận đến 6-7 phần. Ngày xưa con tham có 5 mà giờ con tham đến 10". Minh Thành đã yêu cầu mọi người viết nhật kí tu học cả năm nay nhưng không thấy ai làm, người làm việc có để tâm sẽ khác với người làm việc xem thường, qua loa.
Khi chưng bình bông người ta sẽ biết được tánh tình của mình, khi mình quét nhà người ta nhìn vào cũng biết được tính nết của mình, dọn mâm cơm, bưng trà rót nước đãi khách thì người ngoài nhìn vào sẽ biết được khí chất của người đó, biết được mức độ kĩ lưỡng, thận trọng, tỉ mỉ, tinh tế của người đó, trong sự tu học, ứng xử cũng giống y như vậy, không có khác biệt. Mình tu hoài mà vẫn tham hoài, nhiều khi còn tham nhiều hơn thế nữa, mình đi chùa hoài mà vẫn giận hoài, giận luôn cả thầy lẫn sư cô, vào tu lại giận luôn của huynh đệ, tỉ muội. Đi chùa lạy Phật biết bao lâu mà trở ra khỏi chùa vẫn cứ ưỡng ngực hất mặt, ta đây lên, gặp tượng Phật thì dập đầu lạy liên tục nhưng quay ra khỏi tượng Phật là hất mặt lên, cái tu như vậy là không có sự để tâm, không chú tâm, không bằng tất cả tấm lòng tu học nên tu hoài không có kết quả.
Mong rằng các Tăng Ni và quý Phật tử trong đạo tràng Nikāya phải viết nhật kí tu học, trong đó mình có quyền đọc những cái cần đọc, những cái không cần đọc thì giấu đi chứ không phải gọi lên là đọc hết mọi thứ trong đó ra, cũng không ai ngồi nghe mình đọc hết mọi thứ trong đó vì mình viết nhật kí tu học là viết cho mình, viết để tu, viết để sửa, viết để mình cải thiện, hoàn thiện. Ngoài việc viết ra thì chúng ta cần nhớ hai danh từ "như lý giác sát" và "như lý tác ý", hai từ này là pháp hành rất quan trọng.
Giác sát nghĩa là tỉnh giác và quán sát, mình phải luôn theo dõi thân và tâm của mình, không phải chỉ theo dõi lúc ngồi thiền mà phải theo dõi mọi lúc mọi nơi, không phải rình mò theo dõi người ta để bắt lỗi họ mà phải theo dõi chính mình. Mình ngồi cảm nhận hơi thở chính là giác sát, chỉ là từ khác nhau nhưng nghĩa lại tương tự nhau, mình thường gọi là quán niệm hơi thở, đó cũng là giác sát hơi thở. Giác sát ánh mắt, gương mặt, giác sát cách ngồi, tư thế ngồi của mình, tay chân mình để như thế nào, ánh mắt mình nhìn như thế nào, bước đi của mình như thế nào, tất cả đều trong sự giác sát của mình, đó cũng là niệm thân, dò xét và theo dõi để đưa nó vào sự hiền thiện, đưa nó vào sự nhẹ nhàng, an tịnh, đưa nó vào một sự thảnh thơi.
Khi đường truyền Internet có vấn đề thì Minh Thành nói mọi người quay trở về cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, quay về cảm giác toàn thân chứ đừng để ý người ta sửa cái gì. Mình để ý người ta là mình làm mất tâm mình, chỉ để ý những gì trong bổn phận trách nhiệm của mình thôi. Bình thường mình để ý rất nhiều những chuyện không phải của mình rồi tự mình làm bản thân phiền não, vào chùa để ý nhà bếp, để ý người làm công quả, cứ để ý chuyện xấu của người ta nên tâm mình thành một đống rác, đó là lý do đi chùa hoài mà không làm vệ sinh tâm cho sạch được. Mình cứ nhìn người này người kia, nhìn không biết bao nhiêu thứ rồi làm mình mất tâm, mất mình, đó là do mình nhầm lẫn đối tượng giác sát, cái cần quán sát thì mình không quán sát, cái mình không nên quán sát thì mình lại đi quán sát, cho nên mình quán sát lầm đối tượng.
II. Bảo hộ thân tâm
Trong kinh Tứ Niệm Xứ thường ghi "có thân đây".
"Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. 'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Lúc nãy mình ngồi quán sát có mắt, có tai này, phải quản lý nó, có miệng này nên phải lo phòng hộ, bảo vệ nó đi, có thân đang ngồi đây nên cần nhìn sâu vào bên trong lớp da này, đó là như lý giác sát, như vậy Tứ Niệm Xứ bao trùm hết ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đó là sự quán niệm thân thể. Tại sao Đức Thế Tôn lại dùng từ "như lý"? Nếu mình quán sát theo cái thông thường thì đó là cái quán sát của phàm phu, không phải là sự quán sát của bậc Thánh, cái quán sát của phàm phu không đưa đến sự nhiếp phục và chế ngự, diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Ngoài thế gian có những người đi, đừng, ăn, nói, những cử chỉ, hành động của họ rất cẩn trọng, nhẹ nhàng nhưng ngầm bên trong là một cái tôi rất lớn, còn Đức Thế Tôn dạy mình quán sát cách đi, đứng, ăn, nói nhẹ nhàng, an tịnh để nhìn thấy được bản chất rỗng không, vô ngã, ly tham, diệt sân, phá vô minh và đập vỡ bản ngã, đó chính là sự quán sát của bậc Thánh.
"Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bẵng nhau;
Mặt Thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý".
(Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Mười)
Ai cũng mày ngang mũi dọc, dù cho có hình dáng như thế nào thì cũng chỉ là con người thôi, nhưng về tâm tánh thì có người tâm phàm người tâm Thánh, hai bên cách xa muôn ngàn vạn dặm. Bậc Thánh, bậc hiền trí là bậc thường xuyên quay lại giác sát thân tâm, quản lý thân tâm, nhiếp phục thân tâm, phòng hộ thân tâm, tẩy sạch và diệt tận những cấu nhiễm, rác bẩn, những nguyên nhân làm đau khổ bên trong. Các ngài đặt hết tâm tư, đặt hết tấm lòng, trái tim và đặt hết cả sinh mạng vào đó, đó chính là bậc hiền Thánh, còn kẻ phàm phu là suốt ngày hướng ra ngoài để tham, sân, si, bản ngã với người khác, không biết nguyên nhân của đau khổ và tiếp tục chế tác, chế tạo, tạo dựng ra những cái khổ khác nữa.
Hai người ở chung, người kia bực bội khó chịu, còn mình thì không chịu quay lại để xem trong lòng mình có bực hay không, không quay lại nhìn mình mà cứ nhìn người kia rồi đánh giá họ suốt ngày cau mày, bực dọc, xấu xí. Mình cứ nói như vậy thì bản thân mình có bực không? Mình nói như vậy làm mình cũng bực, cũng sân lên. Vợ chồng, anh em hay huynh đệ cũng giống vậy, thầy trò, tỉ muội cũng giống vậy, hễ mình hướng ngoại là mình đánh mất tâm mình, sanh khởi bực bội, phiền não, còn mình biết quay trở về để như lý giác sát những cảm xúc, cảm thọ, những cảm giác trong con người mình thì mình sẽ có sự bình an, nhẹ nhàng, dù cho dầu sôi lửa bỏng, dù cho gặp chuyện kinh thiên động địa thì đối với bậc đã chế ngự tâm an tịnh tịch tĩnh cũng không có chuyện gì cả, còn người không tu thì chuyện bé xé ra to, chuyện to thành đại sự, từ đại sự đi đến hình sự.
Đó là lý do đây là pháp diệt khổ, pháp cứu khổ, pháp trừ khổ, pháp tận khổ, hết khổ, chính là việc thấy được nguyên nhân của khổ, tâm tâm niệm niệm, mọi nhất cử nhất động đều quay trở về chặn đứng nguyên nhân khổ trong các cảm giác đó. Bây giờ mình đã đi tu, đã cạo đầu đắp y mà thấy nam thanh nữ tú đi chơi tết, ca hát mà mình cũng thấy rộn ràng thì mình phải nhìn lại, phải thấy đó là sự xấu hổ, nhục nhã, phải quở trách tâm mình "mình đã là người tu, mình có nhớ mình là người xuất gia không?Mình có nhớ mình đã cạo tóc rồi không? Mình có nhớ mình là ai không? Mình là người bỏ cha bỏ mẹ, bỏ tất cả những thứ ở đời để tìm cầu sự giác ngộ. Mình chưa giác ngộ nhưng tại sao mình đi liếm lại những thứ mình đã khạc nhổ ra?".
Phải tác ý như vậy, phải thấy nhục nhã, mình không còn là người phàm nữa mà mình là người tu, những niềm vui đó là của thế tục, của kẻ phàm phu vô minh và tham ái, trong sự tu này tất cả đều là như lý tác ý, nếu không tác ý thì tu trăm năm nữa cũng chỉ là phàm phu. Sự tác ý đó là thiền quán, là tuệ lực, là tinh tấn lực, là tri kiến lực, là chánh tư duy, tác ý một lần chưa được thì tác ý ba lần, ba lần chưa được thì tác ý bảy lần, bảy lần chưa được thì tác ý mười lần, trăm lần, ngàn lần, tác ý cho đến khi nào tâm mình tùy thuận pháp mới thôi.
Đối với người cư sĩ cũng giống vậy, đi hơn thua một chuyện nhỏ nhặt thì khi trở về nhìn lại phải thấy thật là xấu hổ và nhục nhã, "ta đã làm một chuyện hèn hạ, thấp kém, nhục nhã. Tại sao mình lại đi hơn thua với người không hiểu biết vì một chuyện không ra gì", tác ý la rầy, quở trách, trách mắng bản thân mình. Chúng ta muốn tu tiến là phải làm như vậy, sau khi như lý giác sát thì phải như lý tác ý, tác động tâm ý bằng những lời dạy trong suy nghĩ, suy tư. "Thật là tội nghiệp cho ta, thật là khờ dại cho ta, thật là ngu si cho ta, thật là vô minh cho ta khi phải hơn thua những chuyện nhỏ nhặt, không đáng gì cả. Cả cuộc đời này sống để hơn thua những chuyện như vậy thì thật là thấp hèn, vô tích sự, thật là một cái tâm kém cỏi, ấu trĩ", phải huấn luyện cho tâm mình có cái tầm rộng lớn, độ lượng, không để ở trong chỗ nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm
Đất trời rộng lớn thênh thang lắm
Dại gì chui vào chỗ tối tăm.
Mình bực bội, bức xúc với những chuyện không có gì cả, tất cả đều là những chuyện không đáng để mình sân lên, người thường sân hận, tức giận là người ngu, bậc trí tuệ không như vậy. Khi đã nhìn thấy sự vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của cuộc đời này rồi thì không có gì đáng để tức giận, hận thù, cứ hễ tức giận, hận thù là ngu ngốc, kẻ ngu si, vô minh mới chạy theo những cảm xúc đó, còn người trí tuệ là từ bỏ, xả bỏ, tránh xa những cảm giác đó và luôn bảo vệ, giữ gìn cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, bao la và rộng lớn.
Bậc hiền trí giữ tâm, giữ cảm thọ như giữ tròng con mắt, những thứ vật chất như quần áo, giày dép, nhà cửa, tiền vàng… có thể bị cướp mất, đốt cháy, nước cuốn trôi, thân xác này cũng có thể bị vô thường tan rã nhưng cảm thọ hiền thiện, chân chánh, an tịnh, lắng dịu và trầm mặc đó không bị tan hoại một khi đạt được tâm bất động giải thoát cho nên bậc hiền trí là giữ cảm thọ hiền thiện, an tịnh, lắng dịu đó chứ không phải giữ của cải, tài sản vật chất, đó là cái giữ của phàm phu, của những người si mê, họ tưởng cái nhà đó là thật.
"Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Con của tôi, nhà của tôi, tiền của tôi, vàng của tôi, đô la của tôi, sổ hồng sổ đỏ của tôi… người ngu nghĩ như vậy, họ còn không biết rằng chính bản thân họ còn không có, nhất là thời đại này chỉ cần đi ngang người nào ho, sốt là về lo lắng, bất an, ngủ không được. Chưa bao giờ chúng ta thấy sự thật hiển bày như lúc này, đứng gần người nào ho, sốt là về sợ, bị thọ; tưởng; hành ám ảnh ngủ không được, thậm chí chưa ho mà chỉ cần sốt lên là xe cấp cứu đến đưa đi, đến khi về là một hủ cốt, vậy thì người đâu, tiền đâu, vợ đâu, chồng đâu, con đâu, tại sao bây giờ là một hủ cốt. Sự thật diễn ra nhan nhản trước mắt như vậy mà cũng không chấp nhận, không tin là con tôi chết, chồng tôi chết, vợ tôi chết, mẹ tôi chết, đó là một sự vô minh sâu dày. Vô minh là cứ nghĩ sẽ như vậy hoài, còn hoài như vậy mà không biết chỉ trong tích tắc, trong khoảnh khắc là tất cả đều tan biến, bong bóng nước này sẽ rã ra, nát ra.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Bản chất nhà cửa, tiền bạc, thân xác này là trống rỗng, là trống không, là cảnh mộng, bất thình lình sẽ tan biến thành hư không. Bây giờ thầy Pháp An đang ngồi đây nhưng ngày mai, ngày kia có thể trở thành cát bụi. Có ai đây ngồi đây mà chắc chắn được rằng mình sống được đến 70 tuổi không? Không có gì là chắn chắc, không có gì là vững chắc, là chắc thật, mình nghe hiểu, gật gù, vỗ tay nhưng cái vô minh sâu dày khiến chúng ta trở ra vẫn tham, sân, si, vẫn hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ta đây, chúng ta chỉ nhớ được một chút khi nghe giảng đến khi trở ra là quên hết. Đó là lý do chúng ta cần đọc kinh, nghe pháp, thiền quán thật nhiều, để cho chúng ta đừng quên, cứ nhớ nghĩ hoài sẽ thành chánh giác, thành đạo, muốn nhớ thì phải tác động tâm ý, đó là như lý tác ý.
Trưa nay có một cô gọi điện nói rằng mẹ cô đã 85 tuổi nhưng mỗi ngày đều tự mở Youtube nghe bài giảng của Minh Thành, bây giờ bà xin lên núi tu luôn. Nhà của cô ấy ở tận Bình Định, Minh Thành nói rằng bây giờ bà đã 85 tuổi, hiện tại dịch bệnh, đường xa nên cô hãy ở nhà tu tập nhưng cô lại nói cả nhà đã chuẩn bị đồ đạc lên xe hết rồi, bà cụ 85 tuổi chuẩn bị lên núi mình tu tập nhờ nghe kinh tạng Nikāya, hôm trước thì có một bà cụ 80 tuổi trình pháp thuộc lòng những định nghĩa về ngũ uẩn. Như vậy những cụ lớn tuổi không phải không nhận thức được pháp của Đức Phật.
Mẹ của cô Mai Đỗ chỉ nghe pháp Nikāya trong vòng 6 tháng trong mùa dịch, bà cụ đã 83 tuổi, đây cũng là phước duyên cuối đời của bà cụ trong 6 tháng cuối cùng của cuộc đời đã gặp được Thánh pháp tối thượng. Bà nghe rồi cảm nhận được sự buông xả những oan trái đối với người con gái lớn, điều quan trọng hơn cả khi đối diện với cái chết thì bà bình thản, bà biết hôm nay bà chết và bà nói chuyện bình thường, điều thứ ba là tâm xả ly, bà quyết định rải tro của bà luôn, không cần đem về thờ. Điều này chứng tỏ bà có sự xả ly, buông bỏ, mình thấy Hòa Thượng Làng Mai không cho làm đám của ngài, còn giờ có những người chưa chết đã tính mua hòm bằng gỗ gì, phải chôn chứ không được thiêu vì nóng, chuẩn bị xây kim tĩnh bằng đá gì.
Ở đây mình không nói rằng bà cụ nghe kinh 6 tháng là hoàn toàn thành tựu nhưng 6 tháng đó là phước duyên Thánh trí tuệ trong cận tử nghiệp cuối đời mà bà đạt được. Có một vị Phật tử là tiến sĩ bên Mỹ, trước đây là giáo sư dạy Hán Nôm tại Việt Nam, vị này gọi nói rằng bản thân cũng đang nghe và tu tập theo dòng pháp Nikāya, cô rất khen ngợi thầy Pháp An, khi nghe những lời trình pháp của thầy Pháp An cô rất hoan hỉ. Vấn đề Minh Thành muốn nói ở đây là chỉ trong vòng 6 tháng với một cụ già 83 tuổi, trước đó bà cũng đã làm rất nhiều thiện pháp, phước báo mới được cái duyên gặp Thánh pháp lúc cuối đời chứ không phải tự nhiên bà vào được dòng pháp này, phải là một cái tâm chân thành, thiết tha và cung kính đối với sự thật, một bản ngã hạ thấp mới vào được dòng pháp này.
Thứ nhất bà đã làm rất nhiều việc lành bố thí, cúng dường, giúp đỡ những người nghèo khổ. Thứ hai là chẳng những bà biết bố thí vật chất mà còn biết bố thí pháp, in ấn sách đĩa các bài giảng tặng cho người khác, công đức đó giúp bà gặp được Thánh pháp Nikāya tối thượng trong vòng 6 tháng. Trong 6 tháng đó kết quả là hóa giải tâm oan trái đối với người con gái lớn theo lời người nhà kể lại, "mẹ với con từ đây là chấm hết, không còn giận hờn, không còn oan trái gì với nhau nữa, tới đây là chấm dứt, buông xả". Thứ ba là bà biết ngày bà mất mà không sợ hãi, bà vẫn bình tĩnh, đây là điều đặc biệt, thầy Pháp An cần nhớ điều này.
Thứ tư là tro cốt sau khi thiêu là trải đi, đó là tâm buông xả triệt để, như vậy bà cụ không phải là người đơn giản, một khi chấp nhận dòng pháp này là sẽ vượt khỏi địa vị của phàm phu, bất cứ một ai chấp nhận dòng pháp này một cách xác quyết tuyệt đối thì người đó vượt qua ranh giới của phàm phu. Đó là phước báo, phước lành, phước duyên, phước đức của bà cụ, Minh Thành chúc mừng cho mẹ của cô Mai Đỗ, chúc mừng cô đã báo hiếu được cho mẹ, đây cũng là tấm gương báo hiếu và cũng là bài học để những người con còn cha mẹ, nếu có thể hãy khuyến khích, tạo duyên, giúp cho cha mẹ tiếp xúc dòng pháp này để nghe được những sự thật của tất cả sự thật mà Đức Phật truyền trao trong những giây phút cuối đời của cuộc đời này, đó là đại phước đức nhân duyên. Tự thân mình còn trẻ thì càng được lợi ích nhiều hơn nữa, mình còn minh mẫn, còn sức khỏe, còn thời gian và nhất là thời điểm dịch bệnh này thì không còn thời gian nào thích hợp hơn để mình thực hành theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật.
Cầu chúc tất cả phước lành này trang trải cùng khắp hư không, pháp giới, chúng sanh.
./.
Như Lý Giác Sát - Như Lý Tác Ý 1B
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhiếp phục tâm hướng ngoại PAGEREF _Toc179394698 \h 1
II. Bảo hộ thân tâm PAGEREF _Toc179394699 \h 3
I. Nhiếp phục tâm hướng ngoại
Sự tu học của mình không tiến bộ là vì tâm mình hướng ngoại, có gì bên ngoài là mình đánh mất mình. Mình đi trồng cây thì mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm cây phải lớn, mình xây cái nhà thì mỗi ngày, mỗi tuần phải đi gần đến sự hoàn thành, mình làm việc thì mỗi tuần, mỗi tháng cũng có lợi nhuận, trong khi tu lại không thấy ai báo cáo kết quả tu học cho nên phải có những nhật kí tu học.
Trong tâm có chuyện gì dù là ưu hay khuyết cũng đều phải ghi ra, hôm nay mình nghe câu chuyện đó hoặc gặp người đó làm mình bực bội, khó chịu, nhìn thấy mình tu còn dở, mình biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình biết rằng khi tiếp xúc sẽ sanh cảm giác, cảm thọ, mình biết cái sân này phải dùng như lý tác ý, như lý giác sát, dùng tâm từ hóa giải nhưng cái giận còn nguyên, đó là mình đang dậm chân tại chỗ, những cái này phải được ghi ra trong nhật kí tu học. Mình chỉ biết trên kiến thức, trên lý thuyết, trên sự học hiểu, còn sự thực tập chưa được, những cái đó mình phải ghi vào quyển nhật kí cho chi tiết, ví dụ mùng 3 tết vào nhà bếp gặp người đó làm mình khó chịu thì ghi vào sổ sáng mùng 3 tết đã nổi giận.
Vài ngày sau lại có chuyện làm mình bực bội nhưng mình nhiếp phục được, mình tác động tâm ý chế ngự được cảm xúc đó rồi để tâm lan tỏa tình thương bằng sự cảm thông cho người kia, thấu hiểu được chính mình vì mình cũng có nội tâm đầy sân si, mình làm cho cảm thọ tức giận lắng dịu xuống, nhẹ nhàng lại thì cũng ghi vào nhật kí cho chi tiết. Đến rằm tháng giêng cái sân giận giảm xuống nữa thì đó chính là thành quả tu học, nhưng đến tháng ba cái sân lại tăng lên, cứ thế nhìn vào nhật kí tu học thì mình biết rằng mình không còn dậm chân tại chỗ nữa mà là càng ngày càng tệ, càng ngày càng đi lùi, càng ngày càng thối lui, thối đọa, rơi xuống.
Đó là sự quan trọng của quyển nhật kí tu học, nó giúp mình nhìn nhận lại điều quan trọng mình đang làm, mình là người tu thì không có gì quan trọng bằng việc tu, nhưng giờ cái tu của mình đang dậm chân tại chỗ hoặc là đi lùi thì đây là sự đáng xấu hổ, đáng tủi nhục, đáng đau buồn. Mình đem quyển nhật kí tu học ra trước bàn Phật rồi lạy sám hối, "ngày xưa con giận có 4-5 phần mà giờ con giận đến 6-7 phần. Ngày xưa con tham có 5 mà giờ con tham đến 10". Minh Thành đã yêu cầu mọi người viết nhật kí tu học cả năm nay nhưng không thấy ai làm, người làm việc có để tâm sẽ khác với người làm việc xem thường, qua loa.
Khi chưng bình bông người ta sẽ biết được tánh tình của mình, khi mình quét nhà người ta nhìn vào cũng biết được tính nết của mình, dọn mâm cơm, bưng trà rót nước đãi khách thì người ngoài nhìn vào sẽ biết được khí chất của người đó, biết được mức độ kĩ lưỡng, thận trọng, tỉ mỉ, tinh tế của người đó, trong sự tu học, ứng xử cũng giống y như vậy, không có khác biệt. Mình tu hoài mà vẫn tham hoài, nhiều khi còn tham nhiều hơn thế nữa, mình đi chùa hoài mà vẫn giận hoài, giận luôn cả thầy lẫn sư cô, vào tu lại giận luôn của huynh đệ, tỉ muội. Đi chùa lạy Phật biết bao lâu mà trở ra khỏi chùa vẫn cứ ưỡng ngực hất mặt, ta đây lên, gặp tượng Phật thì dập đầu lạy liên tục nhưng quay ra khỏi tượng Phật là hất mặt lên, cái tu như vậy là không có sự để tâm, không chú tâm, không bằng tất cả tấm lòng tu học nên tu hoài không có kết quả.
Mong rằng các Tăng Ni và quý Phật tử trong đạo tràng Nikāya phải viết nhật kí tu học, trong đó mình có quyền đọc những cái cần đọc, những cái không cần đọc thì giấu đi chứ không phải gọi lên là đọc hết mọi thứ trong đó ra, cũng không ai ngồi nghe mình đọc hết mọi thứ trong đó vì mình viết nhật kí tu học là viết cho mình, viết để tu, viết để sửa, viết để mình cải thiện, hoàn thiện. Ngoài việc viết ra thì chúng ta cần nhớ hai danh từ "như lý giác sát" và "như lý tác ý", hai từ này là pháp hành rất quan trọng.
Giác sát nghĩa là tỉnh giác và quán sát, mình phải luôn theo dõi thân và tâm của mình, không phải chỉ theo dõi lúc ngồi thiền mà phải theo dõi mọi lúc mọi nơi, không phải rình mò theo dõi người ta để bắt lỗi họ mà phải theo dõi chính mình. Mình ngồi cảm nhận hơi thở chính là giác sát, chỉ là từ khác nhau nhưng nghĩa lại tương tự nhau, mình thường gọi là quán niệm hơi thở, đó cũng là giác sát hơi thở. Giác sát ánh mắt, gương mặt, giác sát cách ngồi, tư thế ngồi của mình, tay chân mình để như thế nào, ánh mắt mình nhìn như thế nào, bước đi của mình như thế nào, tất cả đều trong sự giác sát của mình, đó cũng là niệm thân, dò xét và theo dõi để đưa nó vào sự hiền thiện, đưa nó vào sự nhẹ nhàng, an tịnh, đưa nó vào một sự thảnh thơi.
Khi đường truyền Internet có vấn đề thì Minh Thành nói mọi người quay trở về cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, quay về cảm giác toàn thân chứ đừng để ý người ta sửa cái gì. Mình để ý người ta là mình làm mất tâm mình, chỉ để ý những gì trong bổn phận trách nhiệm của mình thôi. Bình thường mình để ý rất nhiều những chuyện không phải của mình rồi tự mình làm bản thân phiền não, vào chùa để ý nhà bếp, để ý người làm công quả, cứ để ý chuyện xấu của người ta nên tâm mình thành một đống rác, đó là lý do đi chùa hoài mà không làm vệ sinh tâm cho sạch được. Mình cứ nhìn người này người kia, nhìn không biết bao nhiêu thứ rồi làm mình mất tâm, mất mình, đó là do mình nhầm lẫn đối tượng giác sát, cái cần quán sát thì mình không quán sát, cái mình không nên quán sát thì mình lại đi quán sát, cho nên mình quán sát lầm đối tượng.
II. Bảo hộ thân tâm
Trong kinh Tứ Niệm Xứ thường ghi "có thân đây".
"Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. 'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Lúc nãy mình ngồi quán sát có mắt, có tai này, phải quản lý nó, có miệng này nên phải lo phòng hộ, bảo vệ nó đi, có thân đang ngồi đây nên cần nhìn sâu vào bên trong lớp da này, đó là như lý giác sát, như vậy Tứ Niệm Xứ bao trùm hết ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đó là sự quán niệm thân thể. Tại sao Đức Thế Tôn lại dùng từ "như lý"? Nếu mình quán sát theo cái thông thường thì đó là cái quán sát của phàm phu, không phải là sự quán sát của bậc Thánh, cái quán sát của phàm phu không đưa đến sự nhiếp phục và chế ngự, diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Ngoài thế gian có những người đi, đừng, ăn, nói, những cử chỉ, hành động của họ rất cẩn trọng, nhẹ nhàng nhưng ngầm bên trong là một cái tôi rất lớn, còn Đức Thế Tôn dạy mình quán sát cách đi, đứng, ăn, nói nhẹ nhàng, an tịnh để nhìn thấy được bản chất rỗng không, vô ngã, ly tham, diệt sân, phá vô minh và đập vỡ bản ngã, đó chính là sự quán sát của bậc Thánh.
"Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bẵng nhau;
Mặt Thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý".
(Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Mười)
Ai cũng mày ngang mũi dọc, dù cho có hình dáng như thế nào thì cũng chỉ là con người thôi, nhưng về tâm tánh thì có người tâm phàm người tâm Thánh, hai bên cách xa muôn ngàn vạn dặm. Bậc Thánh, bậc hiền trí là bậc thường xuyên quay lại giác sát thân tâm, quản lý thân tâm, nhiếp phục thân tâm, phòng hộ thân tâm, tẩy sạch và diệt tận những cấu nhiễm, rác bẩn, những nguyên nhân làm đau khổ bên trong. Các ngài đặt hết tâm tư, đặt hết tấm lòng, trái tim và đặt hết cả sinh mạng vào đó, đó chính là bậc hiền Thánh, còn kẻ phàm phu là suốt ngày hướng ra ngoài để tham, sân, si, bản ngã với người khác, không biết nguyên nhân của đau khổ và tiếp tục chế tác, chế tạo, tạo dựng ra những cái khổ khác nữa.
Hai người ở chung, người kia bực bội khó chịu, còn mình thì không chịu quay lại để xem trong lòng mình có bực hay không, không quay lại nhìn mình mà cứ nhìn người kia rồi đánh giá họ suốt ngày cau mày, bực dọc, xấu xí. Mình cứ nói như vậy thì bản thân mình có bực không? Mình nói như vậy làm mình cũng bực, cũng sân lên. Vợ chồng, anh em hay huynh đệ cũng giống vậy, thầy trò, tỉ muội cũng giống vậy, hễ mình hướng ngoại là mình đánh mất tâm mình, sanh khởi bực bội, phiền não, còn mình biết quay trở về để như lý giác sát những cảm xúc, cảm thọ, những cảm giác trong con người mình thì mình sẽ có sự bình an, nhẹ nhàng, dù cho dầu sôi lửa bỏng, dù cho gặp chuyện kinh thiên động địa thì đối với bậc đã chế ngự tâm an tịnh tịch tĩnh cũng không có chuyện gì cả, còn người không tu thì chuyện bé xé ra to, chuyện to thành đại sự, từ đại sự đi đến hình sự.
Đó là lý do đây là pháp diệt khổ, pháp cứu khổ, pháp trừ khổ, pháp tận khổ, hết khổ, chính là việc thấy được nguyên nhân của khổ, tâm tâm niệm niệm, mọi nhất cử nhất động đều quay trở về chặn đứng nguyên nhân khổ trong các cảm giác đó. Bây giờ mình đã đi tu, đã cạo đầu đắp y mà thấy nam thanh nữ tú đi chơi tết, ca hát mà mình cũng thấy rộn ràng thì mình phải nhìn lại, phải thấy đó là sự xấu hổ, nhục nhã, phải quở trách tâm mình "mình đã là người tu, mình có nhớ mình là người xuất gia không?Mình có nhớ mình đã cạo tóc rồi không? Mình có nhớ mình là ai không? Mình là người bỏ cha bỏ mẹ, bỏ tất cả những thứ ở đời để tìm cầu sự giác ngộ. Mình chưa giác ngộ nhưng tại sao mình đi liếm lại những thứ mình đã khạc nhổ ra?".
Phải tác ý như vậy, phải thấy nhục nhã, mình không còn là người phàm nữa mà mình là người tu, những niềm vui đó là của thế tục, của kẻ phàm phu vô minh và tham ái, trong sự tu này tất cả đều là như lý tác ý, nếu không tác ý thì tu trăm năm nữa cũng chỉ là phàm phu. Sự tác ý đó là thiền quán, là tuệ lực, là tinh tấn lực, là tri kiến lực, là chánh tư duy, tác ý một lần chưa được thì tác ý ba lần, ba lần chưa được thì tác ý bảy lần, bảy lần chưa được thì tác ý mười lần, trăm lần, ngàn lần, tác ý cho đến khi nào tâm mình tùy thuận pháp mới thôi.
Đối với người cư sĩ cũng giống vậy, đi hơn thua một chuyện nhỏ nhặt thì khi trở về nhìn lại phải thấy thật là xấu hổ và nhục nhã, "ta đã làm một chuyện hèn hạ, thấp kém, nhục nhã. Tại sao mình lại đi hơn thua với người không hiểu biết vì một chuyện không ra gì", tác ý la rầy, quở trách, trách mắng bản thân mình. Chúng ta muốn tu tiến là phải làm như vậy, sau khi như lý giác sát thì phải như lý tác ý, tác động tâm ý bằng những lời dạy trong suy nghĩ, suy tư. "Thật là tội nghiệp cho ta, thật là khờ dại cho ta, thật là ngu si cho ta, thật là vô minh cho ta khi phải hơn thua những chuyện nhỏ nhặt, không đáng gì cả. Cả cuộc đời này sống để hơn thua những chuyện như vậy thì thật là thấp hèn, vô tích sự, thật là một cái tâm kém cỏi, ấu trĩ", phải huấn luyện cho tâm mình có cái tầm rộng lớn, độ lượng, không để ở trong chỗ nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm
Đất trời rộng lớn thênh thang lắm
Dại gì chui vào chỗ tối tăm.
Mình bực bội, bức xúc với những chuyện không có gì cả, tất cả đều là những chuyện không đáng để mình sân lên, người thường sân hận, tức giận là người ngu, bậc trí tuệ không như vậy. Khi đã nhìn thấy sự vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của cuộc đời này rồi thì không có gì đáng để tức giận, hận thù, cứ hễ tức giận, hận thù là ngu ngốc, kẻ ngu si, vô minh mới chạy theo những cảm xúc đó, còn người trí tuệ là từ bỏ, xả bỏ, tránh xa những cảm giác đó và luôn bảo vệ, giữ gìn cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, bao la và rộng lớn.
Bậc hiền trí giữ tâm, giữ cảm thọ như giữ tròng con mắt, những thứ vật chất như quần áo, giày dép, nhà cửa, tiền vàng… có thể bị cướp mất, đốt cháy, nước cuốn trôi, thân xác này cũng có thể bị vô thường tan rã nhưng cảm thọ hiền thiện, chân chánh, an tịnh, lắng dịu và trầm mặc đó không bị tan hoại một khi đạt được tâm bất động giải thoát cho nên bậc hiền trí là giữ cảm thọ hiền thiện, an tịnh, lắng dịu đó chứ không phải giữ của cải, tài sản vật chất, đó là cái giữ của phàm phu, của những người si mê, họ tưởng cái nhà đó là thật.
"Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Con của tôi, nhà của tôi, tiền của tôi, vàng của tôi, đô la của tôi, sổ hồng sổ đỏ của tôi… người ngu nghĩ như vậy, họ còn không biết rằng chính bản thân họ còn không có, nhất là thời đại này chỉ cần đi ngang người nào ho, sốt là về lo lắng, bất an, ngủ không được. Chưa bao giờ chúng ta thấy sự thật hiển bày như lúc này, đứng gần người nào ho, sốt là về sợ, bị thọ; tưởng; hành ám ảnh ngủ không được, thậm chí chưa ho mà chỉ cần sốt lên là xe cấp cứu đến đưa đi, đến khi về là một hủ cốt, vậy thì người đâu, tiền đâu, vợ đâu, chồng đâu, con đâu, tại sao bây giờ là một hủ cốt. Sự thật diễn ra nhan nhản trước mắt như vậy mà cũng không chấp nhận, không tin là con tôi chết, chồng tôi chết, vợ tôi chết, mẹ tôi chết, đó là một sự vô minh sâu dày. Vô minh là cứ nghĩ sẽ như vậy hoài, còn hoài như vậy mà không biết chỉ trong tích tắc, trong khoảnh khắc là tất cả đều tan biến, bong bóng nước này sẽ rã ra, nát ra.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Bản chất nhà cửa, tiền bạc, thân xác này là trống rỗng, là trống không, là cảnh mộng, bất thình lình sẽ tan biến thành hư không. Bây giờ thầy Pháp An đang ngồi đây nhưng ngày mai, ngày kia có thể trở thành cát bụi. Có ai đây ngồi đây mà chắc chắn được rằng mình sống được đến 70 tuổi không? Không có gì là chắn chắc, không có gì là vững chắc, là chắc thật, mình nghe hiểu, gật gù, vỗ tay nhưng cái vô minh sâu dày khiến chúng ta trở ra vẫn tham, sân, si, vẫn hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ta đây, chúng ta chỉ nhớ được một chút khi nghe giảng đến khi trở ra là quên hết. Đó là lý do chúng ta cần đọc kinh, nghe pháp, thiền quán thật nhiều, để cho chúng ta đừng quên, cứ nhớ nghĩ hoài sẽ thành chánh giác, thành đạo, muốn nhớ thì phải tác động tâm ý, đó là như lý tác ý.
Trưa nay có một cô gọi điện nói rằng mẹ cô đã 85 tuổi nhưng mỗi ngày đều tự mở Youtube nghe bài giảng của Minh Thành, bây giờ bà xin lên núi tu luôn. Nhà của cô ấy ở tận Bình Định, Minh Thành nói rằng bây giờ bà đã 85 tuổi, hiện tại dịch bệnh, đường xa nên cô hãy ở nhà tu tập nhưng cô lại nói cả nhà đã chuẩn bị đồ đạc lên xe hết rồi, bà cụ 85 tuổi chuẩn bị lên núi mình tu tập nhờ nghe kinh tạng Nikāya, hôm trước thì có một bà cụ 80 tuổi trình pháp thuộc lòng những định nghĩa về ngũ uẩn. Như vậy những cụ lớn tuổi không phải không nhận thức được pháp của Đức Phật.
Mẹ của cô Mai Đỗ chỉ nghe pháp Nikāya trong vòng 6 tháng trong mùa dịch, bà cụ đã 83 tuổi, đây cũng là phước duyên cuối đời của bà cụ trong 6 tháng cuối cùng của cuộc đời đã gặp được Thánh pháp tối thượng. Bà nghe rồi cảm nhận được sự buông xả những oan trái đối với người con gái lớn, điều quan trọng hơn cả khi đối diện với cái chết thì bà bình thản, bà biết hôm nay bà chết và bà nói chuyện bình thường, điều thứ ba là tâm xả ly, bà quyết định rải tro của bà luôn, không cần đem về thờ. Điều này chứng tỏ bà có sự xả ly, buông bỏ, mình thấy Hòa Thượng Làng Mai không cho làm đám của ngài, còn giờ có những người chưa chết đã tính mua hòm bằng gỗ gì, phải chôn chứ không được thiêu vì nóng, chuẩn bị xây kim tĩnh bằng đá gì.
Ở đây mình không nói rằng bà cụ nghe kinh 6 tháng là hoàn toàn thành tựu nhưng 6 tháng đó là phước duyên Thánh trí tuệ trong cận tử nghiệp cuối đời mà bà đạt được. Có một vị Phật tử là tiến sĩ bên Mỹ, trước đây là giáo sư dạy Hán Nôm tại Việt Nam, vị này gọi nói rằng bản thân cũng đang nghe và tu tập theo dòng pháp Nikāya, cô rất khen ngợi thầy Pháp An, khi nghe những lời trình pháp của thầy Pháp An cô rất hoan hỉ. Vấn đề Minh Thành muốn nói ở đây là chỉ trong vòng 6 tháng với một cụ già 83 tuổi, trước đó bà cũng đã làm rất nhiều thiện pháp, phước báo mới được cái duyên gặp Thánh pháp lúc cuối đời chứ không phải tự nhiên bà vào được dòng pháp này, phải là một cái tâm chân thành, thiết tha và cung kính đối với sự thật, một bản ngã hạ thấp mới vào được dòng pháp này.
Thứ nhất bà đã làm rất nhiều việc lành bố thí, cúng dường, giúp đỡ những người nghèo khổ. Thứ hai là chẳng những bà biết bố thí vật chất mà còn biết bố thí pháp, in ấn sách đĩa các bài giảng tặng cho người khác, công đức đó giúp bà gặp được Thánh pháp Nikāya tối thượng trong vòng 6 tháng. Trong 6 tháng đó kết quả là hóa giải tâm oan trái đối với người con gái lớn theo lời người nhà kể lại, "mẹ với con từ đây là chấm hết, không còn giận hờn, không còn oan trái gì với nhau nữa, tới đây là chấm dứt, buông xả". Thứ ba là bà biết ngày bà mất mà không sợ hãi, bà vẫn bình tĩnh, đây là điều đặc biệt, thầy Pháp An cần nhớ điều này.
Thứ tư là tro cốt sau khi thiêu là trải đi, đó là tâm buông xả triệt để, như vậy bà cụ không phải là người đơn giản, một khi chấp nhận dòng pháp này là sẽ vượt khỏi địa vị của phàm phu, bất cứ một ai chấp nhận dòng pháp này một cách xác quyết tuyệt đối thì người đó vượt qua ranh giới của phàm phu. Đó là phước báo, phước lành, phước duyên, phước đức của bà cụ, Minh Thành chúc mừng cho mẹ của cô Mai Đỗ, chúc mừng cô đã báo hiếu được cho mẹ, đây cũng là tấm gương báo hiếu và cũng là bài học để những người con còn cha mẹ, nếu có thể hãy khuyến khích, tạo duyên, giúp cho cha mẹ tiếp xúc dòng pháp này để nghe được những sự thật của tất cả sự thật mà Đức Phật truyền trao trong những giây phút cuối đời của cuộc đời này, đó là đại phước đức nhân duyên. Tự thân mình còn trẻ thì càng được lợi ích nhiều hơn nữa, mình còn minh mẫn, còn sức khỏe, còn thời gian và nhất là thời điểm dịch bệnh này thì không còn thời gian nào thích hợp hơn để mình thực hành theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật.
Cầu chúc tất cả phước lành này trang trải cùng khắp hư không, pháp giới, chúng sanh.
./.