Quán Chiếu Thâm Sâu Về Cảm Thọ 1
QUÁN CHIẾU THÂM SÂU VỀ CẢM THỌ 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện cảm thọ PAGEREF _Toc112838826 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc112838827 \h 4
III. Ba loại cảm thọ, tham – sân - si PAGEREF _Toc112838828 \h 11
IV. Vô thường PAGEREF _Toc112838829 \h 19
I. Nhận diện cảm thọ
Có một người đang nói cười vui vẻ, bỗng nhiên nghe xong cuộc gọi điện thoại là rã rời, có thể ngất xỉu. Khi lỗ tai nghe tiếp sanh ra cảm thọ và cảm thọ này có thể xâm chiếm toàn bộ thân tâm, ví dụ người này được báo tin người thân bị tai nạn giao thông. Cách đây không lâu một sự việc có thật xảy ra, người con đưa mẹ đến chỗ làm, khi đưa đến nơi bà mẹ vừa xuống xe, người con quay xe để về thì bị khuất tầm nhìn mà phía trước có xe tải chạy đến cán nát người, người mẹ thấy con mình như vậy thì té xỉu lập tức. Như vậy cảm thọ sanh khởi lên xâm chiếm toàn bộ thân tâm làm cho người này gục ngã, sụp đổ, vì thế trong đời sống của chúng ta, sự tu học thực tập cảm thọ là tuyệt đối quan trọng.
Thứ nhất phải biết cảm thọ là cảm thọ, vì không học ngũ uẩn, không thực tập Tứ Niệm Xứ thì không biết cảm thọ chỉ là cảm thọ mà mình chỉ biết tôi đang buồn, tôi đang vui, tôi đang khó chịu, cho nên bước đầu tiên phải nhìn nhận được cảm giác chỉ là cảm giác. Khi nhìn nhận được như vậy thì có khả năng bước ra khỏi nó, bước sơ đẳng đầu tiên khi nhìn ra được cảm thọ là cảm thọ thì cái nhìn đó là trí tuệ, còn lúc trước mình nhập cuộc với nó. Ví dụ giận lên là hoàn toàn bị cảm thọ sân hận sanh khởi, xâm chiếm, áp đảo, điều khiển, chi phối, thao túng và mình không còn sức tự chủ nên đi theo cảm thọ giận đó. Mỗi lần lên lớp Minh Thành dành 5 phút đầu tiên thực tập cảm giác toàn thân để chúng ta làm quen và nhận diện được cảm thọ, nhìn lại cảm giác. Vì thế phải biết thọ là thọ, đó là thành tựu một loại trí tuệ ban đầu, tức là biết thọ chỉ là thọ cho nên thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi mà cảm thọ này là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, cảm thọ.
Thứ hai là nhận diện các loại cảm thọ. Phải để ý cảm thọ của mình khi sanh khởi lên thì thuộc về cảm giác gì, khi có cảm giác sân hận, bức xúc, gay gắt, cộc cằn, cao ngạo, hơn thua… có rất nhiều cảm thọ nhưng ở đây phân biệt có 3 loại, từ từ đi sâu vào mới nhìn ra được những cái nhỏ nhiệm, vi tế, còn ở đây nói tổng quát có 3 loại cảm thọ. Phải xem cảm thọ khổ sanh khởi ra sao, khi sanh khởi lên nó như thế nào, khi an trú thì biến đổi ra sao và chấm dứt như thế nào, Đức Phật gọi là chánh niệm tỉnh giác, tức là thấy được sự sanh khởi của các cảm thọ, sự an trú của các cảm thọ và sự chấm dứt của các thọ; tưởng; hành.
Phải tập để ý cảm thọ vui sanh khởi lên như thế nào, lúc nó có mặt như thế nào, lúc nó tan ra, hoại diệt thì như thế nào. Phải tập nhận diện các loại cảm thọ, cảm xúc cho nên không có thiền định thì không thể nào tu thành tựu, đây là điều quyết định, một người chỉ hướng ngoại, nhìn ra ngoài tìm sắc, âm thanh, mùi vị thì người này không thể tu được, cho nên sự tu học đòi hỏi phải có sự để ý, nội quán còn không thì không thể thấy được thân tâm. Cảm thọ bất khổ bất lạc có mặt rất nhiều và mình chết với cảm thọ này không biết bao nhiêu lần, khi mới tu thì cảm thọ sân giận rất dễ thấy, cảm thọ vui sướng cũng nhận diện được nhưng cảm thọ không vui không khổ rất nhiều và mình thường xuyên ở trong cảm thọ này.
Khi nhìn lại thân tâm thấy đang có cảm thọ không vui không khổ thì mình không thể tách ra khỏi nó cho nên phải quán thọ trong các cảm thọ, còn không quán chiếu cảm xúc, cảm giác thì "tôi thấy cũng bình thường, không vui không khổ" nhưng mình không thấy rằng đang có cảm thọ không khổ không vui, cảm thọ đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Do có thân này nên mới có cảm thọ mà thân này là vô thường, là duyên sanh, là tạm bợ cho nên các cảm thọ làm sao thường được. Ví dụ khi sanh khởi cảm thọ khổ thì quán chiếu ngược lại là tìm nguyên nhân có mặt nó, do mình thấy, mình nghe hoặc tiếp xúc với ai đó nên có ra cảm thọ này, như vậy cảm thọ này từ sự tiếp xúc, thấy, nghe kia mà sanh khởi ra, nó là pháp duyên sanh. Sự tiếp xúc này là do con mắt tiếp xúc, lỗ tai tiếp xúc hoặc thân tiếp xúc nhưng tất cả sự tiếp xúc này y cứ ở thân, an trú ở thân và bắt nguồn từ thân, trong khi thân là tứ đại, là vô thường. Cái thân vô thường sanh ra sự tiếp xúc, sanh ra cảm thọ thì cảm thọ này làm sao thường được? Thân là khổ, là đau bệnh, là phiền não thì làm sao sanh ra cảm thọ lạc, an vui tuyệt đối được? Không có thọ vui nào là vui thật sự dù cho đó là lạc thọ.
Thứ ba là tìm hiểu trong cảm thọ có gì trong đó, bất cứ lúc nào có cảm giác vui sướng thì lúc đó đều có tham đi theo miên man, gọi là tham tùy miên. Bất cứ lúc nào có cảm thọ vui sướng, khoan khoái, thích thú đều có tham trú ngụ trong đó, ví dụ được cúng dường tấm y áo mới, trong lúc con mắt thấy đồ, tay cầm y áo thì tất cả pháp diễn ra mà mình không thấy được. Khi nghe câu "con cúng dường cho thầy…", mắt thấy món đồ, tay cầm đồ thì tất cả pháp đều vận hành mà mình hoàn toàn không thấy, không biết.
Đó là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, trong đó có tham tùy miên sanh khởi. Khi sanh khởi thì có suy nghĩ "không biết tấm y này loại gì mà có kim tuyến", sau đó về phòng mặc vào, soi gương chỉnh dáng, chụp hình đăng Facebook… như vậy là biết bao nhiêu pháp vận hành mà mình không hề hay biết, chỉ mới nói tấm y áo là pháp khí mà còn tham luyến như vậy, ái dục như vậy thì đừng nói gì đến xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa hoặc con người thì còn khủng khiếp hơn nữa. Như vậy khi thọ sanh khởi thì tưởng; hành sẽ có mặt theo đó, xúc sanh ra thọ; tưởng; hành. Khi tiếp xúc sanh ra cảm giác, hình bóng trong tâm hiện ra cảnh mình mặc chiếc y áo, tiếp theo có suy nghĩ về nó, vì thế tất cả pháp lúc đó đều vận hành trong tham, ái, dục, bản ngã, muốn thể hiện mình mặc đẹp, ngon lành, sang trọng, cao quý.
Chỉ trong một sự cúng dường chút ít đó thôi là vô minh, tham ái, bản ngã vận hành, nếu không có sự tu tập, không có sự quán chiếu thì chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ giết chết mình, thành ra sự tu học này rất sâu sắc, nhìn ra những gì đang vận hành, gọi là phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, đó là công năng tác dụng của kinh tạng Nikāya, của những lời Đức Phật đã dạy.
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!”
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).
Tại sao trong giới luật của Tỳ-kheo chỉ toàn nói về ăn uống, đi đứng? Vì khi ăn có dục ái tham sanh khởi, Bách Chúng Học cả trăm cái cũng chỉ nói về tiểu tiện, ăn uống, đi đứng, ngủ nghỉ, chỉ toàn là những điều bình thường trong cuộc sống nhưng đó là để nhiếp phục cảm thọ dục tham. Lúc ăn không được húp lớn tiếng vì đó là dục tham hoạt động nên tạo ra tiếng động thô tháo. Lúc lấy cơm che bát lại vì sợ người ta thấy trong đó có đồ ăn nhiều thì đó là tham, nhưng luật là điều cụ thể ra hình tướng ở bên ngoài còn điều sâu xa là quy về pháp, chính vì pháp không thành tựu nên Đức Phật mới chế định ra luật, còn trước khi luật ra đời 12 năm chỉ toàn là các bậc thánh Tăng, sau này những pháp hữu lậu sanh khởi nên Đức Thế Tôn mới chế ra giới luật cho nên luật để hỗ trợ thành tựu pháp.
II. Huấn luyện cảm thọ
Khi chạy xe có lạc thọ, dục tham trong đó không? Phải nhìn ra được thì mới thấy, cái ngủ có tham không? Hành động dội nước lúc tắm cũng biểu hiện người đó có tu tập hay không vì lúc đó mình bị cảm giác lạc thọ dẫn dắt nên không có sự quán chiếu, tu tập làm phung phí nước và làm mất oai nghi. Việc tiểu tiện cũng vậy, vào toilet tạo ra âm thanh nhạy cảm làm người ở ngoài cũng thấy xấu hổ, đó chính là việc kiểm soát các cảm thọ trên nền tảng hành vi, cử chỉ.
Nếu không kiểm soát cảm thọ, không để ý hành vi, không niệm oai nghi, hành động thì cử chỉ của mình rất thô tháo, thô thiển, thô bạo, người ta gọi là ác Tỳ-kheo trong luật. Vì thế phải cực kì để ý và kiểm soát khi có cảm giác vui sanh khởi lên, khi được khen ngợi, xưng tán, vỗ tay thì lúc đó mình đừng nhìn ra những người đang khen ngợi, xưng tán, cúng dường đó mà quay ngược trở lại nhìn cảm thọ trong lồng ngực lúc đó như thế nào, an trú trong cảm giác toàn thân và xem cảm thọ lạc đó như thế nào, đó gọi là tu tâm.
Phải có sự an tịnh, lắng dịu chứ không được hồ hởi, tỏ vẻ ta đây, nếu vậy là người không biết tu tập Tứ Niệm Xứ, không biết nhiếp phục cảm thọ, phải xem lại hành uẩn lúc đó nói gì khi được khen ngợi, có hình bóng của mình hiện ra không. Nếu có sự khoan khoái, thích thú, ta đây khi được khen thì sự tác động tâm ý đúng như chân lý (Như lý tác ý) là cực kì quan trọng. Trong Tương Ưng Giác Chi, Đức Phật nói do mình tác ý, suy nghĩ không đúng chánh pháp cho nên làm chỗ cư trú cho tham dục sanh khởi, tham dục chưa sanh sẽ sanh, tham dục đã sanh sẽ tăng trưởng, phát triển.
“Do phi như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh khởi đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Và này các Tỳ-kheo, nếu như lý tác ý, dục tham chưa sanh không thể sanh khởi; và dục tham đã sanh bị đoạn tận.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, IV. Phi Như Lý)
Khi nhận cúng dường y áo, nếu suy nghĩ đúng chánh pháp thì phải tác ý như thế nào? "Đức độ mình chưa đủ, giới đức mình chưa đủ, mình còn nhỏ trong khi đây là Hồng Y Hiệp Chưởng nên mình để giành cúng dường cho các bậc tôn đức", hoặc là suy nghĩ "cái này cũng chỉ là sắc tướng, tứ đại vô thường, không có gì đáng để ưa thích, khoan khoái, nhận cái này là thiếu nợ nên phải cố gắng tu".
Tác ý như vậy gọi là Như lý tác ý còn tác ý mình đẹp, mặc vào thấy sang trọng, làm ra vẻ ta đây thì gọi là phi Như lý tác ý, tức là suy nghĩ phi pháp, suy nghĩ đúng pháp mới đưa đến ly tham, nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ. Nếu mình phi Như lý tác ý, suy nghĩ phi pháp không đúng chánh pháp thì dục tham chưa sanh sẽ sanh khởi, dục tham đã sanh sẽ tăng trưởng, phát triển quảng đại, sẽ lớn mạnh. Đức Phật đã dạy quán bất tịnh mới trị được tham dục thân xác, tham sắc dục chỉ có duy nhất bất tịnh quán mới trị được tận gốc, triệt để.
Trong cảm giác khổ thọ có sân tùy miên trong đó, tức là sân đi theo miên man trong khổ thọ. Bỏ qua những cái thô, mình đi vào cái tế ví dụ như ngay lúc học pháp nhưng có ý kiến khác với suy nghĩ của mình là mình khó chịu, không nói ra miệng nhưng bên trong thân tâm có ý nghĩ chống đối. Đừng nói chi nghe pháp, trong tâm mình có những suy nghĩ tạm gọi là suy nghĩ 1, sau đó lại có suy nghĩ 2, vậy là hai suy nghĩ đó chống đối lẫn nhau giữa cái thiện và bất thiện, như vậy là khó chịu.
Vì thế phải cố gắng nhìn ra được nó và quán chiếu thì mới thấy rõ được nó vì đây là thánh trí về tham sân si, nếu không có người hướng dẫn, chia sẻ thì có học suốt đời cũng không biết được hang ổ, sào huyệt của tham sân si trú ngụ trong cảm giác. Có những cảm giác không khởi lên ý hành, không khởi lên hình bóng mà chỉ có sự khó chịu một chút thôi thì đó vẫn là sân, mà từ ngữ Tiếng Việt dùng để chỉ trạng thái đó là hờn dỗi, hờn mác… Cảm thọ khó chịu này rất dễ sanh khởi, đang ngủ có người gọi dậy là bắt đầu cảm thấy không vui, khó chịu cho nên tham sân si lúc nào cũng hiện hữu trong từng hoạt động thường ngày vì thế đừng nghĩ rằng ăn cắp, ăn trộm mới là tham, đánh lộn mới là sân.
Thân thể này là nơi chất chứa phiền não chứ không có chất chứa pháp, chỉ trừ bậc hướng Dự lưu và Nhập lưu mới thành pháp khí, còn khi nào chưa thành tựu chánh kiến, chưa nhìn ra được ngũ uẩn thì trong thân tâm là nơi chất chứa muộn phiền, sầu não, thậm chí đến bậc Nhập lưu vẫn còn những thứ đó vì trong thập triền họ chỉ mới phá được 3 thứ là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ, họ còn đến 7 thứ khác chưa phá được.
Cho nên trong bản thân mỗi người đền đầy rẫy những thứ xú uế từ trong ra ngoài mà mình không biết, do còn vô minh, tham ái nên chỉ thấy mình cao thượng, đẹp đẽ, tốt bụng, từ bi nhưng những suy nghĩ đó là bản ngã, không phải là suy nghĩ của chánh quán, chánh kiến, chánh trí. "Lúc nào tôi cũng tốt với mọi người mà tại sao mọi người lại đối xử với tôi như vậy? Không ai hiểu tôi hết", nhưng thật sự cái nhìn của mình không đúng, đó là cái nhìn của bản ngã, tham ái tự thân, nghĩa là mình không hiểu đúng về tự thân chính mình nên bị gọi là vô minh, đây là một điều đau đớn và chính vì thế mình khổ đau vì không biết mình, không biết đúng thật sự về mình.
Cảm thọ của mình ra sao mình không biết, tưởng như thế nào không biết, hành đang diễn biến ra sao cũng không biết, hoàn toàn không biết gì hết nên ở trong bóng đêm của vô minh, tham ái cho nên Đức Phật nói con mắt là mù lòa, các sắc là mù lòa, nhãn thức là mù lòa, ba pháp này hội tụ tạo ra nhãn xúc cũng mù lòa, con mắt tiếp xúc sanh ra cảm thọ gọi là thọ do nhãn xúc sanh cũng là mù lòa, từ cái thọ đó sanh khởi ra tham sân si cũng mù lòa vì thế tất cả là mù lòa.
“Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Tại sao lại như vậy? Vì mình hoàn toàn không thấy, không biết sự thật mà chỉ thấy theo nghiệp, bản ngã, dục tham ái và vô minh, không thấy bằng chánh trí nên cái thấy đó bị méo mó, không đúng sự thật. Mình sân hận, đau khổ rồi trách người ta nhưng bên kia lại trách ngược lại mình, mình thấy người ta lỗi nhưng họ lại thấy mình mới là người có lỗi, đó là do mình chưa thành tựu chánh trí nên chỉ thấy theo nghiệp, bản ngã, tập khí, thói quen và cũng chính cái thấy này làm mình khổ nên mới nói thức thủ uẩn là khổ đau. Sắc là khổ, thọ; tưởng; hành là khổ nhưng tại sao thức lại khổ? Vì do nhận thức của mình là nhận thức theo tham ái, vô minh, dục, sân nên cái nhận thức đó đưa đến khổ đau. Như vậy chỉ có trải tâm từ (từ vô lượng tâm) mới trị tận gốc rễ tâm sân giận vì thế Đức Phật nói phải tu tập tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa vững chắc và an định, quảng đại rộng lớn, không hận không sân.
“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
Tâm từ này gội rửa những cảm thọ sân, khi tu tập về cảm thọ, trí ngũ uẩn thì chúng ta sẽ thấy vô cùng thực tế, khoa học, rất nhân quả. Phải dùng cái này rửa cái kia mới sạch được, tâm cần phải rửa chứ không phải ngồi yên là tự động đại ngộ, như vậy là phi nhân quả, phải dùng từng pháp đối trị với nhau cho nên Phật đã nói trong giáo pháp Như Lai không có chuyện đột ngộ chứng ngộ mà phải có con đường, đạo lộ tu tập tuần tự
“Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Cho nên việc hoát nhiên đại ngộ là không thể xảy ra, học hỏi một thời gian thì hiểu ra được vấn đền nào đó thì có nhưng cái đó chỉ là ý hành, là sự suy nghĩ, tưởng tượng thôi chứ không phải sự chứng ngộ như Đức Phật nói. Sự chứng ngộ như Đức Phật là trải qua thời gian tu tập tâm từ mới gội rửa những cảm thọ sân hận, gắt gỏng, cộc cằn, cau có, hơn thua cho đến khi tẩy sạch hoàn toàn sân thì đó là bậc thánh quả thứ ba A-na-hàm, không còn sân nữa, bứng tận gốc rễ, phá được 5 kiết sử nặng nề đầu tiên: Thân kiến; hoài nghi; giới cấm thủ; dục tham; sân hận, đây là thánh quả thứ ba cũng gọi là bậc Bất lai, không còn trở lại thế giới loài người nữa vì không còn dục tham, ưa thích nữa thì trở lại làm gì.
Minh Thành thường ví dụ khi đi trên đường mà cần tìm gấp nhà vệ sinh nên gọi tài xế tìm chỗ dừng lại như cây xăng chẳng hạn, khi vào mở cửa toilet ra là choáng váng đầu óc nên mình nói "từ nay về sau không trở lại cây xăng này nữa, dơ khủng khiếp", thì đó là Bất lai – không bao giờ trở lại nữa. Các bậc thánh quả này xem thế giới này, thân thể này là toilet không bao giờ chùi rửa cho nên người ta không trở lại nữa, còn mình vẫn ham mê, thích thú sự dơ bẩn này nên phải trở lại thân này.
Cảm giác bất khổ bất lạc này hiện diện rất nhiều. Khi sân sanh khởi lên mà mình có tu tập quán thọ trên các thọ thì lúc đó mình biết đang có cảm thọ sân nên phải cẩn thận, tìm cách dập tắt, lắng dịu, như vậy là tìm cách tách ra khỏi cảm thọ, còn không tu tập mà sân sanh khởi là mình nhập cuộc chung với nó. Bây giờ cảm thọ trơ trơ, không khổ không vui này là "tôi thấy bình thường, không vui cũng không chán nản", như vậy đó là trạng thái si tùy miên, cái si và vô minh miên man nếu không biết đây là cảm giác không khổ không vui. Đức Phật dạy phải phát khởi tinh cần giới, dõng mãnh giới, nhiệt tâm, nỗ lực tác ý cho mạnh mẽ, phải có ước muốn sắc bén trong Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, phải tác ý mới phá được bất khổ bất lạc thọ.
“Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Bất khổ bất lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên làm sao sẽ thường trú được?" Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Không tác ý là không thể phá được, vào ngồi thiền cũng ngồi cho có, thỉnh thoảng nhìn đồng hồ xem gần hết giờ chưa, đúng giờ thì xuống, lên tụng kinh cũng vậy, không thấy sự hứng thú trong đó, tu như người máy. Những lúc như vậy phải tác ý tinh tấn, nỗ lực, phát khởi lên ước muốn mạnh mẽ, quán chiếu và Như lý tác ý thì mới đi ra khỏi cảm giác bất khổ bất lạc thọ đó, nếu không sẽ bị trói buộc trong đó. Chúng ta đã nói khái quát trong sự tu tập cảm thọ, đầu tiên phải biết cảm thọ là cảm thọ, thứ hai là phân loại cảm thọ, thứ ba là phải biết trong cảm thọ có gì, thứ tư là phương pháp đối trị các cảm thọ.
III. Ba loại cảm thọ, tham – sân - si
Xin thưa với mọi người, cảm thọ này là thánh phàm mê ngộ. Tại sao lại vậy? Do sắc uẩn là vô tri, bị tai nạn giao thông là nằm đó không biết gì hoặc chết rồi thì ai muốn khiêng, muốn làm gì thì làm vì còn biết gì nữa đâu cho nên sắc uẩn là vô tri. Khi hỏi có hình bóng (tưởng uẩn) gì trong tâm mà mình còn không biết, phải nhìn lại trong tâm mới nhận ra còn nhìn ra ngoài sẽ không thấy được hoặc hình bóng đó khởi lên, thoáng qua là mất, suy nghĩ rồi sau đó cũng không nhớ là mình đang nghĩ cái gì, cái thức không có hình tướng nhưng cảm thọ này rất ghê gớm, cảm thọ này gắn liền sắc và tâm, chỗ ghê gớm là khi giận lên ai cũng biết vì nó biểu hiện ra bên ngoài rõ ràng và mình có khả năng hóa giải hiệu quả ngay trên thân.
Khi cảm thọ khó chịu sanh khởi lên sẽ xâm chiếm thân tâm, nóng trong lồng ngực, bốc lên tai, mặt, con mắt, gương mặt đỏ lên, sau đó quơ tay múa chân nhưng đầu tiên khi nó sanh khởi làm cho mình khó chịu, nhiệt não nhưng không phải giận lên lúc đó là xong, nếu hết thì tại sao lại giận nhau một tuần, 3 tháng, một năm, thậm chí giận nhau cả đời, như vậy tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, lấy thọ làm chỗ quy tụ.
“Này chư Hiền, tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tại sao cảm giác giận đã qua rồi mà một tuần sau vẫn còn nhớ? Một tháng sau, ba năm sau còn tức, thậm chí còn nói "quân tử trả thù mười năm chưa muộn", chẳng những mình giận mà còn truyền lại cho con cháu đời sau để tiếp tục trả thù. Cảm thọ này chính là kho tàng của tâm thức, trong kinh Nikāya, cảm thọ chính là tàng thức, là nơi chứa đựng tất cả pháp, còn duy thức học là sau khi Đức Phật nhập diệt 500 năm mới ra đời của những người đi sau.
Thọ uẩn là kho chứa tất cả pháp trong Nikāya cho nên muốn biết trong tâm đang có gì chỉ cần hướng vào cảm thọ, lắng dịu lại để nhìn sâu vào sẽ nhìn ra được tất cả pháp trong cảm thọ, đều này cần phải có thiền tập, lắng tâm, để ý mới nhìn thấy được. Cái sân là vô tri, suy nghĩ phớt qua rồi quên, hình bóng trong tâm hiện lên cũng mất, nhận thức không có hình tướng nhưng cảm thọ để lại ấn tượng, cảm xúc suốt đời không quên, cho nên mới nói có những con người đi qua cuộc đời, có những kỉ niệm, sự vật, sự việc đã trải qua nhưng có những cảm xúc không thể quên được, chính là chỗ tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.
Đó là câu nói dân gian nhưng lại nói lên được sự thật trong kinh Nikāya. Cảm thọ sân trong lồng ngực bốc lên mặt. Cảm thọ dục ở chỗ phát dục, khi tâm suy nghĩ sẽ có hình bóng hiện lên làm dục tầm, dục tư, dục tưởng sanh khởi. Dục tưởng là những hình bóng về dục trong tâm, dục tầm là sự hướng tâm về dục, dục tư là suy nghĩ về dục. Khi sanh khởi lên là mình nhập cuộc chứ không phân biệt được cái nào là dục tầm, cái nào là dục tư, dục tưởng, nói gọn là dục thọ; dục tưởng; dục hành, chính xác là ngũ uẩn lúc đó bị dục xâm chiếm toàn bộ.
Sắc thân là nơi phát dục, cảm thọ của mình là một cảm giác thúc giục, hình bóng trong tâm là dục, suy nghĩ trong tâm là toàn nghĩ về dục, nhận thức trong tâm lúc đó chỉ biết bao nhiêu đó, ngoài ra không biết gì khác nên mới có những vụ án hãm hiếp xảy ra, lúc đó không còn biết gì nữa, chỉ biết suy nghĩ làm sao để thực hiện hành vi nhằm thỏa mãn cảm giác thúc giục đó, sau đó cảm giác hạ xuống bớt mới hối hận thì đã muộn, vào tù hoặc tan nhà nát cửa.
Lúc đó toàn bộ cái dục, dục sắc; dục tưởng; dục hành; dục thức đè xuống như ngũ hành sơn không thể thoát ra được vì vô văn phàm phu không biết ngũ uẩn. Dục sanh khởi trên thân, cảm giác là sự thúc đầy, hình bóng là dục, suy nghĩ toàn dục, nhận thức lúc đó chỉ biết những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác về dục chứ không còn biết luân thường đạo lý, tù tội gì nữa, nó thúc đẩy người này thực hiện hành vi đó rồi cuối cùng sụp đổ hoàn toàn, mất tương lai, danh dự, tan nhà nát cửa, lúc đó dục xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn như ngũ hành sơn đè xuống.
Sân cũng giống như vậy, lúc sân lên gương mặt đổi màu đỏ, quơ tay múa chân là sắc sân, trong tâm có cảm thọ rực lửa, hình bóng thực hiện cho hả dạ, suy nghĩ về cái sân đó, cái thức chỉ biết bao nhiêu đó, như vậy sắc sân; thọ sân; tưởng sân; hành sân; thức sân chụp xuống thân tâm thì làm sao mình thoát ra được, cho nên người xưa nói: “Biển cả khô rồi còn thấy đáy. Người đời đến chết chẳng biết tâm”, tức là không biết được thánh trí ngũ uẩn, khi có cảm thọ sanh khởi là bao trùm hết ngũ uẩn và người này lòng vòng trong đó không biết đường ra, si tình và tương tư cũng giống như thế.
Thánh trí ngũ uẩn này giải thích toàn bộ bệnh trầm cảm, tự kỉ, các vấn đề nhân sinh vũ trụ, không chỉ riêng loài người mà giải quyết cả chư thiên, sáu nẻo luân hồi, không còn vấn đề gì không được phơi bày trong thánh trí này, nó giải mã nhân sinh vũ trụ toàn thế giới. Phải chịu khó học hỏi và thực tập rồi mình sẽ mở được cánh cửa nội tâm của chính mình, khai mở được trí tuệ tâm linh tự thân.
Dục có chỗ cư trú nên khi phát dục lên là chỗ phát dục sanh khởi, khi tác ý dùng con mắt tâm hướng vào ngay đó tác ý "chính cái này làm khổ mình, chính cái này sai khiến làm mình trở thành đầy tớ, nô lệ phục dịch cho nó vô lượng vô biên kiếp rồi mà vẫn cứ đòi hỏi, khát khao hoài. Mày hãy tan biến hoàn toàn đi, cái thứ ma quỷ, yêu tinh này tan biến hoàn toàn đi, đừng quậy ta nữa mà hãy tan thành khói, thành mây, thành tro bụi đi", tan biến và diệt tận hoàn toàn, đừng sanh khởi trở lại trong tương lai nữa, khi hướng tâm và tác ý liên tục nó sẽ lắng dịu từ từ. Sự tu tập để tâm, tác ý liên tục xuyên suốt nhiều tháng, nhiều năm sẽ làm cho thân tâm đạt được trạng thái khinh an giống như không còn dục nữa, muốn như vậy đòi hỏi sự tu tập rất nhiều, cực kì tinh tấn.
Cảm giác si nằm ở con mắt, lúc đó con mắt lờ đờ, cái đầu nặng rồi gục xuống. Cho nên lúc đó phải tác ý ngay con mắt, khi thực tập ba pháp: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, vì rõ biết trước mặt là tầm nhìn của mình rộng mở để không sụp xuống, nếu ngồi mà nhắm mắt sẽ đi vào si thì làm sao thành tựu trí huệ, chỗ đau đớn nhất là không ngồi thiền lại tỉnh hơn lúc ngồi thiền vì không ngồi thiền còn mở mắt, còn nhận thức đến khi vào thiền thì nhắm mắt, thở ra thở vào rồi ngủ gục, ngồi thiền như vậy thì đến khi nào quang sanh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh, chính mình đưa mình vào bóng đêm. Cho nên muốn phá được cảm giác si mê, vô minh tùy miên thì phải tác ý ngay cái đầu và con mắt, cảm giác thật mạnh về ánh sáng, Đức Phật đã chỉ nhiều cách cho tôn giả Mục-kiền-liên khi ngồi thiền bị ngủ gục.
“Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, tại vườn Nai. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thấy vậy, như nhà lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thế Tôn biến mất giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai, rồi hiện ra trước mặt Tôn giả Mahàmoggallàna, tại làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
- Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục? Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục?
- Thưa phải, bạch Thế Tôn.
Do vậy, này Moggallàna, khi nào Thầy trú có tưởng và thụy miên xâm nhập Thầy, chớ có tác ý đến nó, chớ có tưởng nhiều đến nó. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna, với tâm của Thầy, hãy tùy tâm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy đọc tụng pháp một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy kéo hai lỗ tai của Thầy, và lấy tay xoa bóp tay chân. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy từ chỗ ngồi, đứng dậy lấy nước chùi mắt, nhìn về phía chân trời và nhìn lên các sao lấp lánh. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy tác ý đến quang tưởng và an trú vào tưởng ban ngày. Như ban ngày, ban đêm cũng vậy. Như ban đêm, ban ngày cũng vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không có hạn chế. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy trú tâm trên chỗ kinh hành, với tưởng trước mặt và sau lưng, với căn hướng nội, với ý không hướng ngoại. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy nằm như dáng nằm con sư tử, về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý với tưởng thức dậy. Và khi thức dậy, này Moggallàna, Thầy hãy thức dậy thật mau, nghĩ rằng: "Ta sẽ trú, không có chú tâm đến lạc nằm ngủ, lạc nằm xuống một bên, lạc thụy miên". Như vậy, này Moggallàna, Thầy cần phải học tập.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII) Ngủ Gục)
Trong tâm phải tác ý tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, còn thân thì hướng vào cảm thọ si đó trú ẩn để tác ý cho bung ra cảm giác đó để nó tan biến hoàn toàn. Trên đây là chỗ cư trú của tham sân si trên thân, phải thường xuyên tác ý và quán chiếu.
Dục là ở chỗ phát dục.
Sân ở ngay lồng ngực.
Si ở ngay trên đầu và con mắt.
Đó là ba chỗ tham sân si trú ngụ trên thân chứ không phải là không có chỗ. Sự khác biệt giữa đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu, tức là sự khác biệt giữa người tu và người không tu ở chỗ người không tu thường thích vui sướng, lạc thọ và ghét khổ thọ, nếu có cảm giác vui sướng thì người ta nói vui và họ tìm kiếm, mong muốn cảm giác này, người ta ghét bỏ, muốn tiêu diệt khổ thọ.
Nhưng lạc thọ và khổ thọ song song với nhau như hai mặt của bàn tay, làm sao chỉ có được lạc thọ mà không có khổ thọ được? Chính vì thế mà mãi mãi vô văn phàm phu không bao giờ đạt được lạc thọ dù cho có tiền vàng chất đống, dù cho quyền uy, giàu có nhất thế giới. Cảm thọ lúc nào cũng có 3 loại và mình thường xuyên ở trong cảm thọ đó mà cứ muốn chỉ có lạc thọ thì chừng nào mới hết khổ? Còn bậc đa văn thánh đệ tử nhìn tất cả cảm thọ đều là khổ, đây là chỗ có cạo đầu suốt đời cũng chưa chắc được biết.
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Ða văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ, ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc bởi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Bậc đa văn thánh đệ tử tu tập theo trí huệ của Như Lai đều nhìn thấy ba loại cảm thọ đó là khổ. Ví dụ sử dụng xì ke, ma túy, cỏ Mỹ sẽ có lạc thọ nhưng thực tế làm gì có lạc thật sự vì sau đó không có để sử dụng là bứt rứt, khó chịu. Hai người quen nhau, suy nghĩ chỉ cần được sống có nhau sẽ hạnh phúc lắm nhưng cưới được một thời gian là cãi nhau, thậm chí đánh nhau rồi ly dị thì có khổ không? Người nghèo là khổ, người giàu là sướng nhưng thật tế người giàu có khổ không? Người giàu có cái khổ của người giàu. Người xấu xí nhìn gương nói mình khổ, người đẹp đẽ, cao sang là sướng nhưng người đẹp có cái khổ riêng của họ. Người lùn muốn cao lên nên vào bệnh viện kéo xương nhưng người cao sẵn rồi có khổ không? Họ không khổ về chiều cao mà họ khổ cái khác, đó là nói cái thô để thấy cho dễ.
IV. Vô thường
Tất cả cảm thọ vui đều có khổ trong đó. Một cô gái đóng tiền ăn buffet, ăn ít thì uổng nên cố ăn cho nhiều để xứng đáng với đồng tiền bỏ ra nhưng sau đó lại phải vào bệnh viện, cho nên lúc đầu là lạc thọ nhưng sau đó lại thành khổ thọ. Cho nên Đức Phật đã nói cái gì được cảm thọ cái ấy đều nằm trong đau khổ.
“Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Chính vì vậy mà bậc đa văn thánh đệ tử mới tu để xuất ly khỏi cảm thọ, không nhìn ra được điều này thì ngồi trong chùa nhưng lại ao ước, tưởng mơ, trông chờ, tìm kiếm, khao khát và sự khát ái này không bao giờ được chấm dứt nếu không nhìn thấy khổ. Nếu không nhìn ra được điều này thì lòng khao, lòng khát, lòng dục, lòng tham không bao giờ được dập tắt vì thế bậc đa văn thánh đệ tử là hoàn toàn đoạn diệt khát ái.
“Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.
Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... xả giác chi.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VI. Ðoạn Tận)
Con đường đó là con đường quán chiếu tất cả cảm thọ là vô thường, khổ, vô ngã, đây là chỗ cực kì thâm sâu cho nên khi tìm ra dòng thánh pháp này còn hơn tìm được kho báu, trí huệ của Đức Phật thật sự là vậy. Đức Phật đã nói kẻ vô văn phàm phu cảm thọ cảm giác lạc thọ thì người này giống như đang bị trói buộc.
“Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Dính mắc vào người con gái nào là bị trói buộc vào người con gái ấy, dính vào món ăn, chiếc xe, cây kiểng nào đó là bị trói chặt vào đó. Khi có cảm thọ khó chịu, bực tức như vậy cũng bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu có cảm thọ không khổ không vui cũng giống như người bị trói buộc, mình nghĩ tu đều đều một ngày hai thời công phu là được rồi thì mình bị trói buộc trong cái đều đều, bình an đó, gọi làm gì cũng không muốn làm cứ thích ở yên như vậy, thành ra kẻ vô văn phàm phu đều bị trói buộc trong ba loại cảm thọ. Xin thưa với các thầy, con thường trú trong vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng và tưởng là sự quán chiếu, những phép quán tưởng này được chính Đức Phật dạy.
“Vô thường tưởng cần phải tu tập để nhổ lên kiêu mạn, tôi là. Này Meghiya, với ai có tưởng vô thường, tưởng vô ngã được an trú. Với ai có tưởng vô ngã, vị ấy đạt được sự nhổ lên kiêu mạn: tôi là, Niết-bàn ngay trong hiện tại.”
(Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Tự Thuyết, Chương 4, Phẩm Meghiya, (I) Udàna 34)
“Và này Ananda, thế nào là tưởng vô thường?
Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: "Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường." Như vậy vị ấy trú, tùy quán vô thường, trong năm thú uẩn này. Này Ananda, đây gọi là tưởng vô thường.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (X) (60) Girimananda)
“Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người làm ruộng, vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, X. Vô Thường Tánh)
Những người bị nhiễm dịch bệnh có nghĩ rằng họ bị nhiễm không? Những người bị rơi máy bay có nghĩ rằng họ chết vì rớt máy bay không? Những người chết vì đột quỵ có nghĩ rằng họ sẽ chết vì đột quỵ không? Vì thế Đức Phật nói trú trong vô thường tưởng, vô ngã tưởng, khổ tưởng này không có giới hạn, nghĩa là những pháp khác có giới hạn, lúc thì thế này lúc lại thế khác nhưng riêng những pháp quán tưởng này trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chỗ không giới hạn sự tu, bất cứ đối tượng nào, bất cứ trường hợp nào, bất cứ thời gian nào tu pháp này không bị giới hạn.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện cảm thọ PAGEREF _Toc112838826 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc112838827 \h 4
III. Ba loại cảm thọ, tham – sân - si PAGEREF _Toc112838828 \h 11
IV. Vô thường PAGEREF _Toc112838829 \h 19
I. Nhận diện cảm thọ
Có một người đang nói cười vui vẻ, bỗng nhiên nghe xong cuộc gọi điện thoại là rã rời, có thể ngất xỉu. Khi lỗ tai nghe tiếp sanh ra cảm thọ và cảm thọ này có thể xâm chiếm toàn bộ thân tâm, ví dụ người này được báo tin người thân bị tai nạn giao thông. Cách đây không lâu một sự việc có thật xảy ra, người con đưa mẹ đến chỗ làm, khi đưa đến nơi bà mẹ vừa xuống xe, người con quay xe để về thì bị khuất tầm nhìn mà phía trước có xe tải chạy đến cán nát người, người mẹ thấy con mình như vậy thì té xỉu lập tức. Như vậy cảm thọ sanh khởi lên xâm chiếm toàn bộ thân tâm làm cho người này gục ngã, sụp đổ, vì thế trong đời sống của chúng ta, sự tu học thực tập cảm thọ là tuyệt đối quan trọng.
Thứ nhất phải biết cảm thọ là cảm thọ, vì không học ngũ uẩn, không thực tập Tứ Niệm Xứ thì không biết cảm thọ chỉ là cảm thọ mà mình chỉ biết tôi đang buồn, tôi đang vui, tôi đang khó chịu, cho nên bước đầu tiên phải nhìn nhận được cảm giác chỉ là cảm giác. Khi nhìn nhận được như vậy thì có khả năng bước ra khỏi nó, bước sơ đẳng đầu tiên khi nhìn ra được cảm thọ là cảm thọ thì cái nhìn đó là trí tuệ, còn lúc trước mình nhập cuộc với nó. Ví dụ giận lên là hoàn toàn bị cảm thọ sân hận sanh khởi, xâm chiếm, áp đảo, điều khiển, chi phối, thao túng và mình không còn sức tự chủ nên đi theo cảm thọ giận đó. Mỗi lần lên lớp Minh Thành dành 5 phút đầu tiên thực tập cảm giác toàn thân để chúng ta làm quen và nhận diện được cảm thọ, nhìn lại cảm giác. Vì thế phải biết thọ là thọ, đó là thành tựu một loại trí tuệ ban đầu, tức là biết thọ chỉ là thọ cho nên thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi mà cảm thọ này là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, cảm thọ.
Thứ hai là nhận diện các loại cảm thọ. Phải để ý cảm thọ của mình khi sanh khởi lên thì thuộc về cảm giác gì, khi có cảm giác sân hận, bức xúc, gay gắt, cộc cằn, cao ngạo, hơn thua… có rất nhiều cảm thọ nhưng ở đây phân biệt có 3 loại, từ từ đi sâu vào mới nhìn ra được những cái nhỏ nhiệm, vi tế, còn ở đây nói tổng quát có 3 loại cảm thọ. Phải xem cảm thọ khổ sanh khởi ra sao, khi sanh khởi lên nó như thế nào, khi an trú thì biến đổi ra sao và chấm dứt như thế nào, Đức Phật gọi là chánh niệm tỉnh giác, tức là thấy được sự sanh khởi của các cảm thọ, sự an trú của các cảm thọ và sự chấm dứt của các thọ; tưởng; hành.
Phải tập để ý cảm thọ vui sanh khởi lên như thế nào, lúc nó có mặt như thế nào, lúc nó tan ra, hoại diệt thì như thế nào. Phải tập nhận diện các loại cảm thọ, cảm xúc cho nên không có thiền định thì không thể nào tu thành tựu, đây là điều quyết định, một người chỉ hướng ngoại, nhìn ra ngoài tìm sắc, âm thanh, mùi vị thì người này không thể tu được, cho nên sự tu học đòi hỏi phải có sự để ý, nội quán còn không thì không thể thấy được thân tâm. Cảm thọ bất khổ bất lạc có mặt rất nhiều và mình chết với cảm thọ này không biết bao nhiêu lần, khi mới tu thì cảm thọ sân giận rất dễ thấy, cảm thọ vui sướng cũng nhận diện được nhưng cảm thọ không vui không khổ rất nhiều và mình thường xuyên ở trong cảm thọ này.
Khi nhìn lại thân tâm thấy đang có cảm thọ không vui không khổ thì mình không thể tách ra khỏi nó cho nên phải quán thọ trong các cảm thọ, còn không quán chiếu cảm xúc, cảm giác thì "tôi thấy cũng bình thường, không vui không khổ" nhưng mình không thấy rằng đang có cảm thọ không khổ không vui, cảm thọ đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Do có thân này nên mới có cảm thọ mà thân này là vô thường, là duyên sanh, là tạm bợ cho nên các cảm thọ làm sao thường được. Ví dụ khi sanh khởi cảm thọ khổ thì quán chiếu ngược lại là tìm nguyên nhân có mặt nó, do mình thấy, mình nghe hoặc tiếp xúc với ai đó nên có ra cảm thọ này, như vậy cảm thọ này từ sự tiếp xúc, thấy, nghe kia mà sanh khởi ra, nó là pháp duyên sanh. Sự tiếp xúc này là do con mắt tiếp xúc, lỗ tai tiếp xúc hoặc thân tiếp xúc nhưng tất cả sự tiếp xúc này y cứ ở thân, an trú ở thân và bắt nguồn từ thân, trong khi thân là tứ đại, là vô thường. Cái thân vô thường sanh ra sự tiếp xúc, sanh ra cảm thọ thì cảm thọ này làm sao thường được? Thân là khổ, là đau bệnh, là phiền não thì làm sao sanh ra cảm thọ lạc, an vui tuyệt đối được? Không có thọ vui nào là vui thật sự dù cho đó là lạc thọ.
Thứ ba là tìm hiểu trong cảm thọ có gì trong đó, bất cứ lúc nào có cảm giác vui sướng thì lúc đó đều có tham đi theo miên man, gọi là tham tùy miên. Bất cứ lúc nào có cảm thọ vui sướng, khoan khoái, thích thú đều có tham trú ngụ trong đó, ví dụ được cúng dường tấm y áo mới, trong lúc con mắt thấy đồ, tay cầm y áo thì tất cả pháp diễn ra mà mình không thấy được. Khi nghe câu "con cúng dường cho thầy…", mắt thấy món đồ, tay cầm đồ thì tất cả pháp đều vận hành mà mình hoàn toàn không thấy, không biết.
Đó là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, trong đó có tham tùy miên sanh khởi. Khi sanh khởi thì có suy nghĩ "không biết tấm y này loại gì mà có kim tuyến", sau đó về phòng mặc vào, soi gương chỉnh dáng, chụp hình đăng Facebook… như vậy là biết bao nhiêu pháp vận hành mà mình không hề hay biết, chỉ mới nói tấm y áo là pháp khí mà còn tham luyến như vậy, ái dục như vậy thì đừng nói gì đến xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa hoặc con người thì còn khủng khiếp hơn nữa. Như vậy khi thọ sanh khởi thì tưởng; hành sẽ có mặt theo đó, xúc sanh ra thọ; tưởng; hành. Khi tiếp xúc sanh ra cảm giác, hình bóng trong tâm hiện ra cảnh mình mặc chiếc y áo, tiếp theo có suy nghĩ về nó, vì thế tất cả pháp lúc đó đều vận hành trong tham, ái, dục, bản ngã, muốn thể hiện mình mặc đẹp, ngon lành, sang trọng, cao quý.
Chỉ trong một sự cúng dường chút ít đó thôi là vô minh, tham ái, bản ngã vận hành, nếu không có sự tu tập, không có sự quán chiếu thì chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ giết chết mình, thành ra sự tu học này rất sâu sắc, nhìn ra những gì đang vận hành, gọi là phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, đó là công năng tác dụng của kinh tạng Nikāya, của những lời Đức Phật đã dạy.
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!”
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).
Tại sao trong giới luật của Tỳ-kheo chỉ toàn nói về ăn uống, đi đứng? Vì khi ăn có dục ái tham sanh khởi, Bách Chúng Học cả trăm cái cũng chỉ nói về tiểu tiện, ăn uống, đi đứng, ngủ nghỉ, chỉ toàn là những điều bình thường trong cuộc sống nhưng đó là để nhiếp phục cảm thọ dục tham. Lúc ăn không được húp lớn tiếng vì đó là dục tham hoạt động nên tạo ra tiếng động thô tháo. Lúc lấy cơm che bát lại vì sợ người ta thấy trong đó có đồ ăn nhiều thì đó là tham, nhưng luật là điều cụ thể ra hình tướng ở bên ngoài còn điều sâu xa là quy về pháp, chính vì pháp không thành tựu nên Đức Phật mới chế định ra luật, còn trước khi luật ra đời 12 năm chỉ toàn là các bậc thánh Tăng, sau này những pháp hữu lậu sanh khởi nên Đức Thế Tôn mới chế ra giới luật cho nên luật để hỗ trợ thành tựu pháp.
II. Huấn luyện cảm thọ
Khi chạy xe có lạc thọ, dục tham trong đó không? Phải nhìn ra được thì mới thấy, cái ngủ có tham không? Hành động dội nước lúc tắm cũng biểu hiện người đó có tu tập hay không vì lúc đó mình bị cảm giác lạc thọ dẫn dắt nên không có sự quán chiếu, tu tập làm phung phí nước và làm mất oai nghi. Việc tiểu tiện cũng vậy, vào toilet tạo ra âm thanh nhạy cảm làm người ở ngoài cũng thấy xấu hổ, đó chính là việc kiểm soát các cảm thọ trên nền tảng hành vi, cử chỉ.
Nếu không kiểm soát cảm thọ, không để ý hành vi, không niệm oai nghi, hành động thì cử chỉ của mình rất thô tháo, thô thiển, thô bạo, người ta gọi là ác Tỳ-kheo trong luật. Vì thế phải cực kì để ý và kiểm soát khi có cảm giác vui sanh khởi lên, khi được khen ngợi, xưng tán, vỗ tay thì lúc đó mình đừng nhìn ra những người đang khen ngợi, xưng tán, cúng dường đó mà quay ngược trở lại nhìn cảm thọ trong lồng ngực lúc đó như thế nào, an trú trong cảm giác toàn thân và xem cảm thọ lạc đó như thế nào, đó gọi là tu tâm.
Phải có sự an tịnh, lắng dịu chứ không được hồ hởi, tỏ vẻ ta đây, nếu vậy là người không biết tu tập Tứ Niệm Xứ, không biết nhiếp phục cảm thọ, phải xem lại hành uẩn lúc đó nói gì khi được khen ngợi, có hình bóng của mình hiện ra không. Nếu có sự khoan khoái, thích thú, ta đây khi được khen thì sự tác động tâm ý đúng như chân lý (Như lý tác ý) là cực kì quan trọng. Trong Tương Ưng Giác Chi, Đức Phật nói do mình tác ý, suy nghĩ không đúng chánh pháp cho nên làm chỗ cư trú cho tham dục sanh khởi, tham dục chưa sanh sẽ sanh, tham dục đã sanh sẽ tăng trưởng, phát triển.
“Do phi như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh khởi đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Và này các Tỳ-kheo, nếu như lý tác ý, dục tham chưa sanh không thể sanh khởi; và dục tham đã sanh bị đoạn tận.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, IV. Phi Như Lý)
Khi nhận cúng dường y áo, nếu suy nghĩ đúng chánh pháp thì phải tác ý như thế nào? "Đức độ mình chưa đủ, giới đức mình chưa đủ, mình còn nhỏ trong khi đây là Hồng Y Hiệp Chưởng nên mình để giành cúng dường cho các bậc tôn đức", hoặc là suy nghĩ "cái này cũng chỉ là sắc tướng, tứ đại vô thường, không có gì đáng để ưa thích, khoan khoái, nhận cái này là thiếu nợ nên phải cố gắng tu".
Tác ý như vậy gọi là Như lý tác ý còn tác ý mình đẹp, mặc vào thấy sang trọng, làm ra vẻ ta đây thì gọi là phi Như lý tác ý, tức là suy nghĩ phi pháp, suy nghĩ đúng pháp mới đưa đến ly tham, nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ. Nếu mình phi Như lý tác ý, suy nghĩ phi pháp không đúng chánh pháp thì dục tham chưa sanh sẽ sanh khởi, dục tham đã sanh sẽ tăng trưởng, phát triển quảng đại, sẽ lớn mạnh. Đức Phật đã dạy quán bất tịnh mới trị được tham dục thân xác, tham sắc dục chỉ có duy nhất bất tịnh quán mới trị được tận gốc, triệt để.
Trong cảm giác khổ thọ có sân tùy miên trong đó, tức là sân đi theo miên man trong khổ thọ. Bỏ qua những cái thô, mình đi vào cái tế ví dụ như ngay lúc học pháp nhưng có ý kiến khác với suy nghĩ của mình là mình khó chịu, không nói ra miệng nhưng bên trong thân tâm có ý nghĩ chống đối. Đừng nói chi nghe pháp, trong tâm mình có những suy nghĩ tạm gọi là suy nghĩ 1, sau đó lại có suy nghĩ 2, vậy là hai suy nghĩ đó chống đối lẫn nhau giữa cái thiện và bất thiện, như vậy là khó chịu.
Vì thế phải cố gắng nhìn ra được nó và quán chiếu thì mới thấy rõ được nó vì đây là thánh trí về tham sân si, nếu không có người hướng dẫn, chia sẻ thì có học suốt đời cũng không biết được hang ổ, sào huyệt của tham sân si trú ngụ trong cảm giác. Có những cảm giác không khởi lên ý hành, không khởi lên hình bóng mà chỉ có sự khó chịu một chút thôi thì đó vẫn là sân, mà từ ngữ Tiếng Việt dùng để chỉ trạng thái đó là hờn dỗi, hờn mác… Cảm thọ khó chịu này rất dễ sanh khởi, đang ngủ có người gọi dậy là bắt đầu cảm thấy không vui, khó chịu cho nên tham sân si lúc nào cũng hiện hữu trong từng hoạt động thường ngày vì thế đừng nghĩ rằng ăn cắp, ăn trộm mới là tham, đánh lộn mới là sân.
Thân thể này là nơi chất chứa phiền não chứ không có chất chứa pháp, chỉ trừ bậc hướng Dự lưu và Nhập lưu mới thành pháp khí, còn khi nào chưa thành tựu chánh kiến, chưa nhìn ra được ngũ uẩn thì trong thân tâm là nơi chất chứa muộn phiền, sầu não, thậm chí đến bậc Nhập lưu vẫn còn những thứ đó vì trong thập triền họ chỉ mới phá được 3 thứ là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ, họ còn đến 7 thứ khác chưa phá được.
Cho nên trong bản thân mỗi người đền đầy rẫy những thứ xú uế từ trong ra ngoài mà mình không biết, do còn vô minh, tham ái nên chỉ thấy mình cao thượng, đẹp đẽ, tốt bụng, từ bi nhưng những suy nghĩ đó là bản ngã, không phải là suy nghĩ của chánh quán, chánh kiến, chánh trí. "Lúc nào tôi cũng tốt với mọi người mà tại sao mọi người lại đối xử với tôi như vậy? Không ai hiểu tôi hết", nhưng thật sự cái nhìn của mình không đúng, đó là cái nhìn của bản ngã, tham ái tự thân, nghĩa là mình không hiểu đúng về tự thân chính mình nên bị gọi là vô minh, đây là một điều đau đớn và chính vì thế mình khổ đau vì không biết mình, không biết đúng thật sự về mình.
Cảm thọ của mình ra sao mình không biết, tưởng như thế nào không biết, hành đang diễn biến ra sao cũng không biết, hoàn toàn không biết gì hết nên ở trong bóng đêm của vô minh, tham ái cho nên Đức Phật nói con mắt là mù lòa, các sắc là mù lòa, nhãn thức là mù lòa, ba pháp này hội tụ tạo ra nhãn xúc cũng mù lòa, con mắt tiếp xúc sanh ra cảm thọ gọi là thọ do nhãn xúc sanh cũng là mù lòa, từ cái thọ đó sanh khởi ra tham sân si cũng mù lòa vì thế tất cả là mù lòa.
“Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Tại sao lại như vậy? Vì mình hoàn toàn không thấy, không biết sự thật mà chỉ thấy theo nghiệp, bản ngã, dục tham ái và vô minh, không thấy bằng chánh trí nên cái thấy đó bị méo mó, không đúng sự thật. Mình sân hận, đau khổ rồi trách người ta nhưng bên kia lại trách ngược lại mình, mình thấy người ta lỗi nhưng họ lại thấy mình mới là người có lỗi, đó là do mình chưa thành tựu chánh trí nên chỉ thấy theo nghiệp, bản ngã, tập khí, thói quen và cũng chính cái thấy này làm mình khổ nên mới nói thức thủ uẩn là khổ đau. Sắc là khổ, thọ; tưởng; hành là khổ nhưng tại sao thức lại khổ? Vì do nhận thức của mình là nhận thức theo tham ái, vô minh, dục, sân nên cái nhận thức đó đưa đến khổ đau. Như vậy chỉ có trải tâm từ (từ vô lượng tâm) mới trị tận gốc rễ tâm sân giận vì thế Đức Phật nói phải tu tập tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa vững chắc và an định, quảng đại rộng lớn, không hận không sân.
“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
Tâm từ này gội rửa những cảm thọ sân, khi tu tập về cảm thọ, trí ngũ uẩn thì chúng ta sẽ thấy vô cùng thực tế, khoa học, rất nhân quả. Phải dùng cái này rửa cái kia mới sạch được, tâm cần phải rửa chứ không phải ngồi yên là tự động đại ngộ, như vậy là phi nhân quả, phải dùng từng pháp đối trị với nhau cho nên Phật đã nói trong giáo pháp Như Lai không có chuyện đột ngộ chứng ngộ mà phải có con đường, đạo lộ tu tập tuần tự
“Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Cho nên việc hoát nhiên đại ngộ là không thể xảy ra, học hỏi một thời gian thì hiểu ra được vấn đền nào đó thì có nhưng cái đó chỉ là ý hành, là sự suy nghĩ, tưởng tượng thôi chứ không phải sự chứng ngộ như Đức Phật nói. Sự chứng ngộ như Đức Phật là trải qua thời gian tu tập tâm từ mới gội rửa những cảm thọ sân hận, gắt gỏng, cộc cằn, cau có, hơn thua cho đến khi tẩy sạch hoàn toàn sân thì đó là bậc thánh quả thứ ba A-na-hàm, không còn sân nữa, bứng tận gốc rễ, phá được 5 kiết sử nặng nề đầu tiên: Thân kiến; hoài nghi; giới cấm thủ; dục tham; sân hận, đây là thánh quả thứ ba cũng gọi là bậc Bất lai, không còn trở lại thế giới loài người nữa vì không còn dục tham, ưa thích nữa thì trở lại làm gì.
Minh Thành thường ví dụ khi đi trên đường mà cần tìm gấp nhà vệ sinh nên gọi tài xế tìm chỗ dừng lại như cây xăng chẳng hạn, khi vào mở cửa toilet ra là choáng váng đầu óc nên mình nói "từ nay về sau không trở lại cây xăng này nữa, dơ khủng khiếp", thì đó là Bất lai – không bao giờ trở lại nữa. Các bậc thánh quả này xem thế giới này, thân thể này là toilet không bao giờ chùi rửa cho nên người ta không trở lại nữa, còn mình vẫn ham mê, thích thú sự dơ bẩn này nên phải trở lại thân này.
Cảm giác bất khổ bất lạc này hiện diện rất nhiều. Khi sân sanh khởi lên mà mình có tu tập quán thọ trên các thọ thì lúc đó mình biết đang có cảm thọ sân nên phải cẩn thận, tìm cách dập tắt, lắng dịu, như vậy là tìm cách tách ra khỏi cảm thọ, còn không tu tập mà sân sanh khởi là mình nhập cuộc chung với nó. Bây giờ cảm thọ trơ trơ, không khổ không vui này là "tôi thấy bình thường, không vui cũng không chán nản", như vậy đó là trạng thái si tùy miên, cái si và vô minh miên man nếu không biết đây là cảm giác không khổ không vui. Đức Phật dạy phải phát khởi tinh cần giới, dõng mãnh giới, nhiệt tâm, nỗ lực tác ý cho mạnh mẽ, phải có ước muốn sắc bén trong Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, phải tác ý mới phá được bất khổ bất lạc thọ.
“Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Bất khổ bất lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên làm sao sẽ thường trú được?" Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Không tác ý là không thể phá được, vào ngồi thiền cũng ngồi cho có, thỉnh thoảng nhìn đồng hồ xem gần hết giờ chưa, đúng giờ thì xuống, lên tụng kinh cũng vậy, không thấy sự hứng thú trong đó, tu như người máy. Những lúc như vậy phải tác ý tinh tấn, nỗ lực, phát khởi lên ước muốn mạnh mẽ, quán chiếu và Như lý tác ý thì mới đi ra khỏi cảm giác bất khổ bất lạc thọ đó, nếu không sẽ bị trói buộc trong đó. Chúng ta đã nói khái quát trong sự tu tập cảm thọ, đầu tiên phải biết cảm thọ là cảm thọ, thứ hai là phân loại cảm thọ, thứ ba là phải biết trong cảm thọ có gì, thứ tư là phương pháp đối trị các cảm thọ.
III. Ba loại cảm thọ, tham – sân - si
Xin thưa với mọi người, cảm thọ này là thánh phàm mê ngộ. Tại sao lại vậy? Do sắc uẩn là vô tri, bị tai nạn giao thông là nằm đó không biết gì hoặc chết rồi thì ai muốn khiêng, muốn làm gì thì làm vì còn biết gì nữa đâu cho nên sắc uẩn là vô tri. Khi hỏi có hình bóng (tưởng uẩn) gì trong tâm mà mình còn không biết, phải nhìn lại trong tâm mới nhận ra còn nhìn ra ngoài sẽ không thấy được hoặc hình bóng đó khởi lên, thoáng qua là mất, suy nghĩ rồi sau đó cũng không nhớ là mình đang nghĩ cái gì, cái thức không có hình tướng nhưng cảm thọ này rất ghê gớm, cảm thọ này gắn liền sắc và tâm, chỗ ghê gớm là khi giận lên ai cũng biết vì nó biểu hiện ra bên ngoài rõ ràng và mình có khả năng hóa giải hiệu quả ngay trên thân.
Khi cảm thọ khó chịu sanh khởi lên sẽ xâm chiếm thân tâm, nóng trong lồng ngực, bốc lên tai, mặt, con mắt, gương mặt đỏ lên, sau đó quơ tay múa chân nhưng đầu tiên khi nó sanh khởi làm cho mình khó chịu, nhiệt não nhưng không phải giận lên lúc đó là xong, nếu hết thì tại sao lại giận nhau một tuần, 3 tháng, một năm, thậm chí giận nhau cả đời, như vậy tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, lấy thọ làm chỗ quy tụ.
“Này chư Hiền, tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tại sao cảm giác giận đã qua rồi mà một tuần sau vẫn còn nhớ? Một tháng sau, ba năm sau còn tức, thậm chí còn nói "quân tử trả thù mười năm chưa muộn", chẳng những mình giận mà còn truyền lại cho con cháu đời sau để tiếp tục trả thù. Cảm thọ này chính là kho tàng của tâm thức, trong kinh Nikāya, cảm thọ chính là tàng thức, là nơi chứa đựng tất cả pháp, còn duy thức học là sau khi Đức Phật nhập diệt 500 năm mới ra đời của những người đi sau.
Thọ uẩn là kho chứa tất cả pháp trong Nikāya cho nên muốn biết trong tâm đang có gì chỉ cần hướng vào cảm thọ, lắng dịu lại để nhìn sâu vào sẽ nhìn ra được tất cả pháp trong cảm thọ, đều này cần phải có thiền tập, lắng tâm, để ý mới nhìn thấy được. Cái sân là vô tri, suy nghĩ phớt qua rồi quên, hình bóng trong tâm hiện lên cũng mất, nhận thức không có hình tướng nhưng cảm thọ để lại ấn tượng, cảm xúc suốt đời không quên, cho nên mới nói có những con người đi qua cuộc đời, có những kỉ niệm, sự vật, sự việc đã trải qua nhưng có những cảm xúc không thể quên được, chính là chỗ tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.
Đó là câu nói dân gian nhưng lại nói lên được sự thật trong kinh Nikāya. Cảm thọ sân trong lồng ngực bốc lên mặt. Cảm thọ dục ở chỗ phát dục, khi tâm suy nghĩ sẽ có hình bóng hiện lên làm dục tầm, dục tư, dục tưởng sanh khởi. Dục tưởng là những hình bóng về dục trong tâm, dục tầm là sự hướng tâm về dục, dục tư là suy nghĩ về dục. Khi sanh khởi lên là mình nhập cuộc chứ không phân biệt được cái nào là dục tầm, cái nào là dục tư, dục tưởng, nói gọn là dục thọ; dục tưởng; dục hành, chính xác là ngũ uẩn lúc đó bị dục xâm chiếm toàn bộ.
Sắc thân là nơi phát dục, cảm thọ của mình là một cảm giác thúc giục, hình bóng trong tâm là dục, suy nghĩ trong tâm là toàn nghĩ về dục, nhận thức trong tâm lúc đó chỉ biết bao nhiêu đó, ngoài ra không biết gì khác nên mới có những vụ án hãm hiếp xảy ra, lúc đó không còn biết gì nữa, chỉ biết suy nghĩ làm sao để thực hiện hành vi nhằm thỏa mãn cảm giác thúc giục đó, sau đó cảm giác hạ xuống bớt mới hối hận thì đã muộn, vào tù hoặc tan nhà nát cửa.
Lúc đó toàn bộ cái dục, dục sắc; dục tưởng; dục hành; dục thức đè xuống như ngũ hành sơn không thể thoát ra được vì vô văn phàm phu không biết ngũ uẩn. Dục sanh khởi trên thân, cảm giác là sự thúc đầy, hình bóng là dục, suy nghĩ toàn dục, nhận thức lúc đó chỉ biết những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác về dục chứ không còn biết luân thường đạo lý, tù tội gì nữa, nó thúc đẩy người này thực hiện hành vi đó rồi cuối cùng sụp đổ hoàn toàn, mất tương lai, danh dự, tan nhà nát cửa, lúc đó dục xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn như ngũ hành sơn đè xuống.
Sân cũng giống như vậy, lúc sân lên gương mặt đổi màu đỏ, quơ tay múa chân là sắc sân, trong tâm có cảm thọ rực lửa, hình bóng thực hiện cho hả dạ, suy nghĩ về cái sân đó, cái thức chỉ biết bao nhiêu đó, như vậy sắc sân; thọ sân; tưởng sân; hành sân; thức sân chụp xuống thân tâm thì làm sao mình thoát ra được, cho nên người xưa nói: “Biển cả khô rồi còn thấy đáy. Người đời đến chết chẳng biết tâm”, tức là không biết được thánh trí ngũ uẩn, khi có cảm thọ sanh khởi là bao trùm hết ngũ uẩn và người này lòng vòng trong đó không biết đường ra, si tình và tương tư cũng giống như thế.
Thánh trí ngũ uẩn này giải thích toàn bộ bệnh trầm cảm, tự kỉ, các vấn đề nhân sinh vũ trụ, không chỉ riêng loài người mà giải quyết cả chư thiên, sáu nẻo luân hồi, không còn vấn đề gì không được phơi bày trong thánh trí này, nó giải mã nhân sinh vũ trụ toàn thế giới. Phải chịu khó học hỏi và thực tập rồi mình sẽ mở được cánh cửa nội tâm của chính mình, khai mở được trí tuệ tâm linh tự thân.
Dục có chỗ cư trú nên khi phát dục lên là chỗ phát dục sanh khởi, khi tác ý dùng con mắt tâm hướng vào ngay đó tác ý "chính cái này làm khổ mình, chính cái này sai khiến làm mình trở thành đầy tớ, nô lệ phục dịch cho nó vô lượng vô biên kiếp rồi mà vẫn cứ đòi hỏi, khát khao hoài. Mày hãy tan biến hoàn toàn đi, cái thứ ma quỷ, yêu tinh này tan biến hoàn toàn đi, đừng quậy ta nữa mà hãy tan thành khói, thành mây, thành tro bụi đi", tan biến và diệt tận hoàn toàn, đừng sanh khởi trở lại trong tương lai nữa, khi hướng tâm và tác ý liên tục nó sẽ lắng dịu từ từ. Sự tu tập để tâm, tác ý liên tục xuyên suốt nhiều tháng, nhiều năm sẽ làm cho thân tâm đạt được trạng thái khinh an giống như không còn dục nữa, muốn như vậy đòi hỏi sự tu tập rất nhiều, cực kì tinh tấn.
Cảm giác si nằm ở con mắt, lúc đó con mắt lờ đờ, cái đầu nặng rồi gục xuống. Cho nên lúc đó phải tác ý ngay con mắt, khi thực tập ba pháp: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, vì rõ biết trước mặt là tầm nhìn của mình rộng mở để không sụp xuống, nếu ngồi mà nhắm mắt sẽ đi vào si thì làm sao thành tựu trí huệ, chỗ đau đớn nhất là không ngồi thiền lại tỉnh hơn lúc ngồi thiền vì không ngồi thiền còn mở mắt, còn nhận thức đến khi vào thiền thì nhắm mắt, thở ra thở vào rồi ngủ gục, ngồi thiền như vậy thì đến khi nào quang sanh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh, chính mình đưa mình vào bóng đêm. Cho nên muốn phá được cảm giác si mê, vô minh tùy miên thì phải tác ý ngay cái đầu và con mắt, cảm giác thật mạnh về ánh sáng, Đức Phật đã chỉ nhiều cách cho tôn giả Mục-kiền-liên khi ngồi thiền bị ngủ gục.
“Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, tại vườn Nai. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thấy vậy, như nhà lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thế Tôn biến mất giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai, rồi hiện ra trước mặt Tôn giả Mahàmoggallàna, tại làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
- Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục? Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục?
- Thưa phải, bạch Thế Tôn.
Do vậy, này Moggallàna, khi nào Thầy trú có tưởng và thụy miên xâm nhập Thầy, chớ có tác ý đến nó, chớ có tưởng nhiều đến nó. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna, với tâm của Thầy, hãy tùy tâm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy đọc tụng pháp một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy kéo hai lỗ tai của Thầy, và lấy tay xoa bóp tay chân. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy từ chỗ ngồi, đứng dậy lấy nước chùi mắt, nhìn về phía chân trời và nhìn lên các sao lấp lánh. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy tác ý đến quang tưởng và an trú vào tưởng ban ngày. Như ban ngày, ban đêm cũng vậy. Như ban đêm, ban ngày cũng vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không có hạn chế. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy trú tâm trên chỗ kinh hành, với tưởng trước mặt và sau lưng, với căn hướng nội, với ý không hướng ngoại. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy nằm như dáng nằm con sư tử, về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý với tưởng thức dậy. Và khi thức dậy, này Moggallàna, Thầy hãy thức dậy thật mau, nghĩ rằng: "Ta sẽ trú, không có chú tâm đến lạc nằm ngủ, lạc nằm xuống một bên, lạc thụy miên". Như vậy, này Moggallàna, Thầy cần phải học tập.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII) Ngủ Gục)
Trong tâm phải tác ý tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, còn thân thì hướng vào cảm thọ si đó trú ẩn để tác ý cho bung ra cảm giác đó để nó tan biến hoàn toàn. Trên đây là chỗ cư trú của tham sân si trên thân, phải thường xuyên tác ý và quán chiếu.
Dục là ở chỗ phát dục.
Sân ở ngay lồng ngực.
Si ở ngay trên đầu và con mắt.
Đó là ba chỗ tham sân si trú ngụ trên thân chứ không phải là không có chỗ. Sự khác biệt giữa đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu, tức là sự khác biệt giữa người tu và người không tu ở chỗ người không tu thường thích vui sướng, lạc thọ và ghét khổ thọ, nếu có cảm giác vui sướng thì người ta nói vui và họ tìm kiếm, mong muốn cảm giác này, người ta ghét bỏ, muốn tiêu diệt khổ thọ.
Nhưng lạc thọ và khổ thọ song song với nhau như hai mặt của bàn tay, làm sao chỉ có được lạc thọ mà không có khổ thọ được? Chính vì thế mà mãi mãi vô văn phàm phu không bao giờ đạt được lạc thọ dù cho có tiền vàng chất đống, dù cho quyền uy, giàu có nhất thế giới. Cảm thọ lúc nào cũng có 3 loại và mình thường xuyên ở trong cảm thọ đó mà cứ muốn chỉ có lạc thọ thì chừng nào mới hết khổ? Còn bậc đa văn thánh đệ tử nhìn tất cả cảm thọ đều là khổ, đây là chỗ có cạo đầu suốt đời cũng chưa chắc được biết.
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Ða văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ, ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc bởi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Bậc đa văn thánh đệ tử tu tập theo trí huệ của Như Lai đều nhìn thấy ba loại cảm thọ đó là khổ. Ví dụ sử dụng xì ke, ma túy, cỏ Mỹ sẽ có lạc thọ nhưng thực tế làm gì có lạc thật sự vì sau đó không có để sử dụng là bứt rứt, khó chịu. Hai người quen nhau, suy nghĩ chỉ cần được sống có nhau sẽ hạnh phúc lắm nhưng cưới được một thời gian là cãi nhau, thậm chí đánh nhau rồi ly dị thì có khổ không? Người nghèo là khổ, người giàu là sướng nhưng thật tế người giàu có khổ không? Người giàu có cái khổ của người giàu. Người xấu xí nhìn gương nói mình khổ, người đẹp đẽ, cao sang là sướng nhưng người đẹp có cái khổ riêng của họ. Người lùn muốn cao lên nên vào bệnh viện kéo xương nhưng người cao sẵn rồi có khổ không? Họ không khổ về chiều cao mà họ khổ cái khác, đó là nói cái thô để thấy cho dễ.
IV. Vô thường
Tất cả cảm thọ vui đều có khổ trong đó. Một cô gái đóng tiền ăn buffet, ăn ít thì uổng nên cố ăn cho nhiều để xứng đáng với đồng tiền bỏ ra nhưng sau đó lại phải vào bệnh viện, cho nên lúc đầu là lạc thọ nhưng sau đó lại thành khổ thọ. Cho nên Đức Phật đã nói cái gì được cảm thọ cái ấy đều nằm trong đau khổ.
“Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Chính vì vậy mà bậc đa văn thánh đệ tử mới tu để xuất ly khỏi cảm thọ, không nhìn ra được điều này thì ngồi trong chùa nhưng lại ao ước, tưởng mơ, trông chờ, tìm kiếm, khao khát và sự khát ái này không bao giờ được chấm dứt nếu không nhìn thấy khổ. Nếu không nhìn ra được điều này thì lòng khao, lòng khát, lòng dục, lòng tham không bao giờ được dập tắt vì thế bậc đa văn thánh đệ tử là hoàn toàn đoạn diệt khát ái.
“Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.
Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỳ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... xả giác chi.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VI. Ðoạn Tận)
Con đường đó là con đường quán chiếu tất cả cảm thọ là vô thường, khổ, vô ngã, đây là chỗ cực kì thâm sâu cho nên khi tìm ra dòng thánh pháp này còn hơn tìm được kho báu, trí huệ của Đức Phật thật sự là vậy. Đức Phật đã nói kẻ vô văn phàm phu cảm thọ cảm giác lạc thọ thì người này giống như đang bị trói buộc.
“Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Dính mắc vào người con gái nào là bị trói buộc vào người con gái ấy, dính vào món ăn, chiếc xe, cây kiểng nào đó là bị trói chặt vào đó. Khi có cảm thọ khó chịu, bực tức như vậy cũng bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu có cảm thọ không khổ không vui cũng giống như người bị trói buộc, mình nghĩ tu đều đều một ngày hai thời công phu là được rồi thì mình bị trói buộc trong cái đều đều, bình an đó, gọi làm gì cũng không muốn làm cứ thích ở yên như vậy, thành ra kẻ vô văn phàm phu đều bị trói buộc trong ba loại cảm thọ. Xin thưa với các thầy, con thường trú trong vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng và tưởng là sự quán chiếu, những phép quán tưởng này được chính Đức Phật dạy.
“Vô thường tưởng cần phải tu tập để nhổ lên kiêu mạn, tôi là. Này Meghiya, với ai có tưởng vô thường, tưởng vô ngã được an trú. Với ai có tưởng vô ngã, vị ấy đạt được sự nhổ lên kiêu mạn: tôi là, Niết-bàn ngay trong hiện tại.”
(Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Tự Thuyết, Chương 4, Phẩm Meghiya, (I) Udàna 34)
“Và này Ananda, thế nào là tưởng vô thường?
Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: "Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường." Như vậy vị ấy trú, tùy quán vô thường, trong năm thú uẩn này. Này Ananda, đây gọi là tưởng vô thường.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (X) (60) Girimananda)
“Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người làm ruộng, vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, X. Vô Thường Tánh)
Những người bị nhiễm dịch bệnh có nghĩ rằng họ bị nhiễm không? Những người bị rơi máy bay có nghĩ rằng họ chết vì rớt máy bay không? Những người chết vì đột quỵ có nghĩ rằng họ sẽ chết vì đột quỵ không? Vì thế Đức Phật nói trú trong vô thường tưởng, vô ngã tưởng, khổ tưởng này không có giới hạn, nghĩa là những pháp khác có giới hạn, lúc thì thế này lúc lại thế khác nhưng riêng những pháp quán tưởng này trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chỗ không giới hạn sự tu, bất cứ đối tượng nào, bất cứ trường hợp nào, bất cứ thời gian nào tu pháp này không bị giới hạn.
./.