Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vạn Linh Pháp Thoại 1 - Chuyển Hoá Khổ Đau

2026-03-03 00:55:47
VẠN LINH PHÁP THOẠI 1 - CHUYỂN HOÁ KHỔ ĐAU

Thích Minh Thành

Cúi đầu kính lễ cố Hòa Thượng đạo sư Thượng Trí Hạ Tịnh, bậc tôn sư của toàn thể Tăng Ni Phật tử của Phật giáo Việt nam.

Kính bạch chư thượng tọa trụ trì ban trị sự cùng toàn thể chư tôn đức Tăng tại đạo tràng chùa Vạn Linh.

Sự tu học không phải chỉ dừng lại ở chỗ hình thức bên ngoài mà sự tu học còn đi sâu vào trong nội tâm. Vì nguồn gốc của khổ đau không phải là cảnh vật bên ngoài, không phải người bên ngoài mà nguồn gốc của nó đến từ trong nội tâm của mình. Tại sao mình khổ? Mọi người có biết tại sao Minh Thành hỏi câu này không? Trong kinh đã ghi lại như thế này:

Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.

Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỳ-kheo:

-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?

-- Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!

Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.

Và này các Tỳ-kheo, điều gì mà Ta nói? "Ðây là Khổ", này các Tỳ-kheo, là điều Ta nói. "Ðây là Khổ tập", là điều Ta nói. "Ðây là Khổ diệt", là điều Ta nói. "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", là điều Ta nói.

Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, 31.I. Simsapà)

Đây là bản chất của thế gian, nếu mình không hiểu được điều này thì sự tu của mình sẽ không đi đến chỗ rốt ráo. Cho nên bây giờ quý vị niệm Phật để cầu sanh về cực lạc, do mình khổ quá nên giờ mình tu để cầu về cực lạc, mọi người đã thấy rõ mục tiêu tu của mình chưa? Nếu mình không thấu triệt được cái khổ mà mình thấy nó là vui thì làm sao mình buông bỏ được nó. Mình thấy món đồ này đẹp, hấn dẫn, vui thích thì mình có buông bỏ được không? Cho nên Đức Phật nói những điều liên hệ đến mục đích mà mục đích tu hành của mình là chấm dứt cái khổ, muốn chấm dứt cái khổ thì phải biết nguyên nhân từ đâu sanh ra khổ thì mới chấm dứt được, chứ đâu phải cứ nói không muốn khổ nữa là hết khổ hay là cứ nói không muốn khổ chỉ muốn vui là hết khổ được, không phải muốn mà được.

Phải biết nguyên nhân từ đâu sanh ta đau khổ, người tu niệm Phật ai cũng quen thuộc với câu "Ái bất trọng bất sanh Ta Bà. Niệm bất nhất, bất sanh Tịnh Độ", nghĩa là người sinh ra ở cõi Ta Bà vì là dục ái quá nặng, muốn vãng sanh tịnh độ phải nhờ A-di-đà Phật. Đức Phật dạy cho mình biết có hai nguyên nhân cơ bản làm cho mình khổ đau là vô minh và tham ái. Hai cái này là cội gốc căn bản và mình phải y cứ theo đúng lời của Đức Phật chứ mình không thể nói là mình nghĩ vì cái nghĩ, cái tưởng của mình không đúng, phải y cứ theo đúng trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác thì tu tập mới có kết quả. Bây giờ làm sao để thấy được vô minh và tham ái? Đây là chuyện rất sâu sắc chứ không phải nói ở trên môi hay nói danh từ suông.

Vô minh là không sáng suốt nhưng không sáng suốt đối với cái gì? Tham ái đối với cái gì? Không thể nói chung chung được, quý vị ngồi đây có sáng suốt không? Nếu mình không thấy được chỗ này thì mình niệm Phật không thể đi đến chỗ nhất tâm. Đức Phật dạy niệm Phật là phải niệm bằng trí tuệ, phải thấy được khổ rồi buông xả thì cái niệm Phật của mình mới đi đến chỗ thành tựu, chứ không phải miệng thì niệm Phật, thân cũng ngồi niệm nhưng bị phóng tâm nhớ chồng con, cháu chắt vì mình chưa buông xả được, vì còn thấy nó là thật. Như vậy thấy thật là vô minh, cho nên bốn thánh trí về ngũ uẩn phải nắm thật vững, tất cả chúng ta tu học ở đây không ngoài vấn đề luôn nhìn lại thân và tâm của mình. Nếu mình không hiểu thân tâm mình thì mình không hiểu gì hết, những cái mình hiểu trước đây không có giá trị bao nhiêu vì chính mình mà mình còn không hiểu thì làm sao mình hiểu những cái khác. Cho nên đạo Phật gọi là tự giác giác tha, tự giác là biết được chính mình, chính mình mà mình không biết thì làm sao mình hết khổ được? Quý vị có biết mình là gì không? Mình là Trần Văn A, Nguyễn Thị B hay mình là cái gì? Bốn thánh trí về ngũ uẩn, tức là trí tuệ trong chánh tri kiến, Đức Phật dạy phải thấy được tự thân, tự tâm mình.

Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ (Trí về Ngũ uẩn).

Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và tham ái (Trí về Ngũ uẩn tập).

Ngũ uẩn diệt tận khi hết vô minh và hết tham ái (Trí về Ngũ uẩn diệt).

Phương Pháp Tám Đúng là phương pháp chân chánh đưa đến tẩy sạch vô minh, tẩy sạch tham ái đối với ngũ uẩn (Trí về Ngũ uẩn diệt đạo).

Tất cả sự tu của mình là tu nơi thân và tâm chính mình chứ không phải tu nơi thân người khác. Tu nơi thân; miệng; ý nhưng nói gọi chỉ có hai cái là thân và tâm, như vậy mọi người có hiểu chính bản thân mình không? Có hiểu về tự thân của mình không? Mỗi khi lên tụng kinh mình thường hay tụng Tâm Kinh Bát Nhã, câu đầu trong kinh là "Quán tự tại Bồ Tát…. chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách", mọi người thuộc lòng nhưng khi hỏi ngũ uẩn là gì thì lại không biết nên mới giỏi một phần thôi, hôm nay Minh Thành giới thiệu các Phật tử niệm Phật bằng trí tuệ, niệm Phật phải thấy được sự thật rồi buông bỏ thì mới đi đến chỗ cứu cánh. Sự thật ngay nơi tự thân, tự tâm của mình, mà tự thân và tự tâm của mình được Đức Phật nói có năm nhóm, ngũ uẩn tức là năm nhóm. Nhóm thứ nhất là sắc uẩn, nhóm thứ hai là cảm giác mà mình không biết có cảm giác, mình cứ nghĩ sắc này là mình, là tôi, là của tôi, cảm giác đó là tôi, là của tôi. Nhóm thứ ba là những hình bóng trong nội tâm, gọi là tưởng, khi ngồi niệm Phật mình thường hay vị vọng tưởng, trong đầu hiện ra hình ảnh đứa cháu nội hay người vợ, chồng, đó là tưởng uẩn. Nhóm thứ tư là hành uẩn, những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ trong nội tâm. Nhóm tứ năm là thức uẩn, là sự rõ biết cảm giác, những hình bóng và những suy nghĩ. Năm thứ này như bàn tay năm ngón kết hợp lại thành nắm tay, mở bàn tay ra lại thành năm ngón riêng lẻ, nắm lại thì thành một nắm tay, nhưng một nắm tay này không phải là một, sở dĩ có một là từ năm ngón. Cái thân này hiện tại do năm nhóm này kết hợp lại mà mình không thấy, chính chỗ lầm tưởng năm cái này là tôi, là của tôi thì cái lầm này là cái lầm vô lượng kiếp, cái lầm này là nguyên nhân của tất cả khổ đau.

Cái dễ biết nhất là sắc uẩn, mình lầm vô cùng, đại si mê một khối vô minh uẩn to lớn. Đầu tiên mình nhận lầm sắc uẩn là mình. Trong hàng trăm ngàn vạn ức người, có ai không nghĩ cái thân mấy chục kí lô này là tôi, là của tôi không? Đó là vô minh, chỗ này rất thâm sâu của đạo Phật, chỉ có duy nhất Đức Phật mới chỉ cái này cho mình, ngoài Phật ra không có ai nói về cái này, đây là trí tuệ của Chánh Đẳng Giác. Ngày nào cho đến khi nào, bất cứ tu cái gì mà mình còn nghĩ rằng cái thân thịt mấy chục kí này là tôi, là của tôi thì khổ vẫn còn tiếp diễn dài dài cho đến vô tận. Đầu tiên Đức Phật dạy mình phải biết sắc là gì, mình không biết sắc là sắc mà cho sắc là mình, đây là sai lầm thứ nhất. Thân này là sắc uẩn, là sự tập hợp của sắc, sự tụ hội của sắc.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)

Những cái sắc này nhất định phải bị thay đổi, bản chất của nó là thay đổi, cho nên mình bám vào cái sắc này và muốn cho nó không thay đổi nên gọi là vô minh. Chính vì mình không hiểu được bản chất của nó nên mình khổ đau dài dài, mình niệm Phật để tâm yên định, trí sáng tỏ thấy được bản chất của sắc uẩn, khi thấy được thì buông xả nó, lúc đó niệm Phật mới đi đến chỗ thành tựu tối thượng. Còn khi ngồi tụng kinh niệm Phật thấy mỏi quá hay buồn ngủ quá thì bỏ đi ngủ, nặng về sắc uẩn quá thì làm sao tu tiến được cho nên người xưa hay nói Xả Thân Cầu Đạo, Xả Phú Cầu Bần, bỏ cái giàu đi tìm cái nghèo, Đức Phật là thái tử chuẩn bị nối ngôi vua nhưng bỏ cái giàu đi tìm cái nghèo, bỏ cái thân đi cầu cái đạo vô thượng. Bây giờ mình học biết sắc là sắc mà mình cho sắc là mình thì vừa khó chịu là mình sẽ không chịu khó. Vì vậy đầu tiên mọi người phải biết sắc là sắc, sắc không phải là tôi, không phải là của tôi. Mình phải có sự thực tập, thường xuyên nghiền ngẫm sự thật của thân này vì Đức Phật đã dạy văn – tư – tu, phải quán chiếu cho sâu sắc, phải thấy được sắc uẩn này là tứ đại.

Sắc do tứ đại tạo thành, từ bông hoa, cái bàn, cái chuông… đều là sắc uẩn. Bây giờ một người lê lếch ăn xin ngoài đường cho đến một người là hoa hậu Hoàn Vũ thế giới cũng chỉ là sắc uẩn, cơm nguội với rau luộc chấm nước tương hay một bàn ăn có 30 món thịnh soạn hoặc buffet 300 món thì cũng chỉ là sắc uẩn, cũng là đất; nước; gió; lửa mà thôi. Phải tập nhìn như vậy thì trí huệ mới sanh, còn vào bàn ăn chỉ thấy món này là món ruột của mình, món này mình thích ăn lắm hoặc trái cây này nhập từ nước ngoài ngon lắm thì mình chỉ thấy giả tướng mà không thấy bản chất của nó là tứ đại. Tất cả rau củ quả từ đâu? Từ đất mà lớn lên, nó cũng cần nước, không khí, nắng gió để phát triển, như vậy tất cả những cái này đều là tứ đại nhưng tại sao mình không thấy đó là tứ đại mà chỉ thấy ngon dở, đẹp xấu, trắng đen… đó là mình chỉ thấy giả tướng bên ngoài mà không thấy bản chất của nó chỉ là tứ đại, một khi thấy được như vậy là có trí huệ, khi ngồi niệm Phật tâm rất dễ yên định, còn khi nhìn theo giả tướng bên ngoài khi nghe hoặc thấy mà tham sân mạnh mẽ quá thì không thể ngồi yên niệm Phật, vào ngồi thì giận quá quên niệm luôn, vì vậy khi niệm Phật kết hợp với trí huệ thì niệm rất thành công, niệm Phật thấy được sự thật, thấy được tứ đại là tứ đại, bước vào ngôi nhà tranh vách lá cho đến ngôi biệt thự nhà cao cửa rộng cũng chỉ là sắc uẩn chứ không có gì hết. Tập nhìn từ từ rồi mọi người sẽ làm được, còn nếu không tập mà thấy cái gì đẹp mình cũng thích, thấy cái xấu là ghét, không thích, như vậy là tham sân khởi lên, mà tham sân khởi thì ảnh hưởng đến tâm thanh tịnh của mình. Cho nên phải tập nhìn bằng thực tướng để thấu triệt được bản chất của nó thì tâm mình mới đi đến chỗ nhất tâm.

Thân mình cũng do tứ đại đất; nước; gió; lửa kết hợp tạo thành. Trong thân của mình bây giờ cái nào là đất, cái nào là nước, cái nào là gió, cái nào là lửa? Trưa nay 11h mình phải đi ăn cơm, uống nước, như vậy mình phải mượn vào mới tồn tại được.

Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Như vậy nhờ có thức ăn thì sắc mới sanh, không có thức ăn thì sắc bị hoại diệt. Mọi người có thấy sự lệ thuộc giữa sắc và thức ăn không? Có ai từ lúc sanh đến giờ không ăn uống gì hết không? Cho nên sắc này là cái pháp duyên sanh, là cái pháp lệ thuộc. Thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, thân này là vô thường, bại hoại, thân là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, nhất định phải tan rã, không có con đường nào khác vì bản chất của nó là vậy nên mình phải thấy được điều này rồi quán chiếu.

Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) (15) Một Ung Nhọt)

Nghe nói đến lông, móng, gân, da, tim, ga, tùy phế thận, hoành cách mô, đàm giải… thì mọi người có thấy ghê sợ không? Thân này như bao đựng đồ, lỡ như quẹt trúng làm rách da thì lúc đó cái gì đổ ra? Là máu. Còn rạch sâu vào nữa thì cái gì lòi ra? Là thịt. Sâu vào chút nữa thì tới xương, tủy. Đó là bản chất của thân này vậy mà mình mê vô cùng, cho nên Đức Phật dạy phải quán chiếu về tứ đại, bất tịnh và chín giai đoạn của một tử thi. Ngoài giờ niệm Phật mà mọi người còn nghiền ngẫm thêm cái này thì mới đạt đến chỗ dứt được tham ái trong cõi ta bà, trong cái thân này. Còn bây giờ cứ tụng niệm mà vào soi gương thấy mặt này cũng đẹp, già rồi cũng thấy đẹp lão thì làm sao vãng sanh, làm sao đạt đến Niết-bàn vì còn yêu thích cái thân này, mà còn yêu thích cái thân này thì chắc chắn kiếp sau mình sẽ trở lại tìm cái thân giống vầy nữa nên làm sao chấm dứt luân hồi, mình chưa nhàm chán, chưa lìa tham, chưa từ bỏ vì còn yêu thích, còn yêu thích thì còn đi lòng vòng trong 6 nẻo luân hồi, nhưng đường trời-người là cực kì khó đi. Hằng ngày tin tức cho chúng ta thấy chúng sanh lọt vào ba đường ác liên tục khi đời sống này diễn ra bao nhiêu vụ giết người cướp của, lừa gạt… Ba đường ác đạo này trong tích tắt là xuống được ngay nên Đức Phật dạy mình muốn thành tựu trí huệ diệt trừ tham ái thì phải quán bất tịnh. Ngồi lại bứt tóc trên đầu xuống, nhổ hết răng ra để xuống, lấy dao rạch từ đỉnh đầu xuống bụng thì lộ ra bên trong là tim gan, cật, phèo phổi, mình lấy ra từng món để xuống. Lấy bộ xương ra, xương sọ, xương sườn, xương ống chân, xương tay để riêng từng phần. Như vậy tim là mình hay thận là mình? Gan là mình hay ruột là mình? Đàm là mình hay nước tiểu là mình? Phân là mình hay cái nào là mình? Khi quán chiếu sâu sắc như vậy thì mọi người sẽ thấy bản chất nhơ nhớp, không sạch sẽ, không đáng yêu thích, không đáng chấp thủ đối với thân này, vào giờ niệm Phật quán chiếu như vậy thì mình mới xả được ta bà. Đức Phật đã nói nếu không quán bất tịnh thì không có một con đường nào khác để lìa tham ái, tham dục, dâm dục đối với thân này, đây là con đường duy nhất.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ -kheo quán sát thân này từ bàn chân trở lên trên, từ đảnh tóc trở xuống, được da bọc và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mũ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Bạch Thế Tôn, đây là chỗ để tùy niệm, tu tập như vậy, làm sung mãn như vậy, đưa đến đoạn tận tham dục. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (IX) (29) Udàyi)

Với mỗi một phiền não thì Đức Phật có phương thuốc khác nhau để trị, mình phải làm đúng theo phương thuốc đó mình mới trị được dục tham đối với thân của mình và với thân của người. Một tấm thân 60kg mà đi kiếm thêm một tấm thân 50kg nữa ở chung, rồi tạo ra thêm hai đứa nhỏ nữa, sau đó vào chùa lại "thầy ơi, hồi trẻ con mà biết là con đi theo thầy rồi, tại con không biết", cho nên quán chiếu bất tịnh để nhìn cho sâu sắc bản chất của thân này là như vậy, do mình không có trí huệ rồi nhìn vào lớp sơn bên ngoài, Đức Phật đã nói:

Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)

Bộ xương giống như khung sắt, thịt mỡ là gạch và xi măng, rồi mình sơn phết lên, lâu lâu bị tróc sơn là một màu đỏ chảy ra. Lên xe phóng nhanh vượt ẩu gây tai nạn rồi đắp chiếu, sau đó được một hủ cốt trên nốc tủ, đó là sự thật của thân này, tin tức hằng ngày đưa lên báo chí mà mình cứ nghĩ đó là chuyện của người ta, không phải chuyện của mình nhưng có chắc là mình không phải vậy không? Quý vị phải quán chiếu để thấy rằng thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ). Phải nhớ cho kĩ điều này và không được quên thì mình sẽ phá được vô minh, chấp ngã và tham ái. Nếu không quán chiếu cái này thì thực sự rất khó để phá được nó. Nhiều người gặp thầy nói là "con vô ngã rồi", nhưng gặp cái gì đẹp là ngã vô, phải có sự tư duy, quán chiếu, nghiền ngẫm, khi đã làm được rồi thì vào niệm Phật rất an tịnh vì đã thấy rõ bản chất này rồi nên cái tham cũng được giảm bớt, chỗ này là thiết thực, hiện tại.

Cuối cùng là quán chín giai đoạn của một tử thi. Sau khi niệm Phật xong thì mình ngồi lại quán chiếu: Lấy hơi lên rồi cứng người bất động, sau đó có bốn người khiêng, 2-3 ngày sau thân này sình lên, xanh bầm lại, đen nám rồi nứt nẻ ra, tanh hôi vô cùng, máu mủ chảy ra. Những con giòi từ trong bộ đồng lòng túa ra, ăn hết tay chân, từ đầu đến chân đầy giòi. Những con kên kên, quạ, chó rừng xé từng miếng thịt, còn lại bộ xương dính lại chút mỡ máu, thời gian sau bộ xương khô lại, qua vài năm sau xương sọ nằm đây, xương sườn nằm đó, xương ống tay chỗ nọ. Năm tháng trôi qua, bộ xương khô giờ chỉ còn lại cát bụi.

Trướng tưởng: Sau khi chết, tử thi bắt đầu phồng lên.

Thanh ứ tưởng: Sau khi phồng lên, thân này sình lên, xanh bầm, đen nám.

Hoại tưởng: Sau khi thây chết ngã màu xanh, nó bắt đầu nứt nẻ, vỡ ra.

Huyết đồ tưởng: Khi thân thể tan hoại, máu và các thứ dịch chảy ra.

Nùng lạn tưởng: Mủ bắt đầu rỉ ra ngoài thân và bắt đầu mục nát.

Trùng đạm tưởng: Mủ vỡ ra, thân rã mục, côn trùng, giòi đục khoét phần còn lại.

Phân tán tưởng: Thịt bắt đầu tiêu tan mất.

Bạch cốt tưởng: Khi thịt đã tiêu sạch, chỉ còn xương trắng.

Thiêu tưởng: Toàn thân bị thiêu và chỉ còn tro. Tro bay vào hư không và trở thành cát bụi, cuối cùng chẳng còn gì.

Đó là sự thật về tấm thân này của mình, nhất định mình phải đi đến chỗ đó chứ không thể đi đến chỗ nào khác và mình phải quán chiếu như vậy, đó là tu đến rốt ráo tấm thân này, đó là bản chất của cuộc đời này, đó là kết thúc một kiếp người. Vậy mà mình không nhớ, mình lãng quên rồi mình tranh danh đoạt lợi, hơn thua từng chút một. Đúng là vô minh! Đúng là si mê! Đúng là điên đảo vì không thấy bản chất của sắc uẩn này nên lầm tưởng đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi, mình bám chặt vào đây rồi suốt đời chạy theo cảm giác, chạy theo tham dục, chạy theo sự tranh đấu tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp, cuối cùng đẩy mình vào luân hồi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đẩy vào thân người bệnh hoạn nằm liệt gường liệt chiếu, đẩy vào cái thân đui, điếc, câm ngọng, mù lòa, đẩy vào cái thân sanh ra không có cha mẹ, bị bỏ rơi trước cổng chùa, trong đống rác phải vào cô nhi viện. Tạo ra bao nhiêu thứ ác nghiệp, từ bóng tối đi vào bóng tối, khi quán chiếu như vậy thì mình mới thấy tội nghiệp cho tấm thân này quá, đáng thương cho tấm thân này. Thật là ngu si! Tỉnh đi, ngộ đi, buông bỏ đi. Hãy nhìn cho xuyên thấu, hãy nhìn cho triệt để, hãy nhìn cho xuyên suốt bản chất của thân này là gì. Chẳng qua là mỗi ngày ăn uống vào, bài tiết ra, thở đều đặn, cơm áo mặc đều đều thì tồn tại nhưng đến khi có một cơn gió độc thổi qua, đi té cũng có thể nằm liệt gường liệt chiếu. Đức Thế Tôn nói thân này là món đồ gốm, tính chất bể đã ở trong đó rồi. Dù cho là đất sét hay đất đã được nung thì tính bể đã ở trong đó rồi. Dù ở trong bào thai hay đã được sanh ra thì tính chất của tử, của hoại diệt, của chết, của chấm dứt mạng sống đã ở ngay trong cái sanh rồi. Thân này là như vậy, không thể khác được.

Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Đại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu) 

Hãy nhìn sâu sắc như vậy thì mọi người sẽ thành tựu trí huệ nhàm chán, bớt tham muốn cho đến dứt tham muốn thì mọi người đạt đến chỗ giải thoát giác ngộ. Lúc đó mọi người nói không nhất tâm nhưng tự nhiên tâm mình cũng nhất, mọi người nói đừng buông thì cũng vẫn buông bỏ vì mình đã thấy nó là lửa nóng, là thuốc độc. Bây giờ mình nói tam độc tham sân si: Tham độc, sân độc, si độc là mình chỉ nói trên miệng thôi nhưng đụng chuyện thì nói "thưa thầy, con không thể tha thứ được" thì mình đâu có thấy độc, mình vẫn còn chấp nhận, nuôi dưỡng, dung túng nó thì mình không thấy nó là độc, còn khi đã thấy bản chất của thân này thì sẽ thành tựu trí huệ rất hay. Các bậc tổ sư đã thấy được điều này nên mỗi cái niệm của họ đều đi đến chỗ cứu cánh, còn mình niệm rồi vẫn cứ tham, si mê, sân hận thì làm sao giải thoát. Cho nên phải thành tựu trí huệ về sắc thì mình mới từ từ chuyển hóa được tham sân si, sáng hôm nay Minh Thành muốn nhấn mạnh trí huệ về sắc uẩn này, phải thấy được trí huệ về tự thân mình và phải có công phu nghiền ngẫm quán chiếu chứ không phải nói 2-3 câu là xong, ngồi đây nghe pháp thì cũng thấy lắng dịu nhưng khi về nhà cũng nóng hừng hực trở lại rồi cháy lan ra, mình bực mình khó chịu rồi đi cự luôn những người xung quanh mình. Vì vậy phần quán chiếu về sắc được Đức Phật chỉ dạy rất thâm sâu mà đó là sự thật thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, chỉ cần mọi người nhớ được bao nhiêu đây thôi thì tự nhiên cái tham sẽ được lắng dịu, cái tôi cũng hạ bớt, vậy là trí huệ mình được tỏ sáng trong thánh trí của Phật. Mình phải thật biết, thật thấy ngay tự thân của mình.

Ngoài ra mình còn phải biết được vị ngọt của sắc, sự nguy hại của sắc và sự xuất ly của sắc. Đây là ba loại trí huệ rất quan trọng.

Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)

Sắc thân này vô thường, luôn luôn biến động, khổ. Cái thân này đòi hỏi mình rất nhiều thứ, một ngày ăn ba bữa vẫn chưa chịu mà đòi phải ăn ngon, không vừa ý thì sân giận, nhiều khi chỉ vì miếng ăn mà cũng xảy ra chuyện lớn. Đi ba ngày mà không có nước tắm thì khó chịu. Cái ăn mặc, cái tắm giặt, chỗ ở đã có biết bao vấn đề cần nói mà cái này chỉ mới là phần thân thôi, còn trong người mình là có biết bao thứ bệnh, ăn không cẩn thận sẽ bị ngộ độc thực phẩm, đến nước uống cũng có thể gây bệnh, có đủ thứ nguyên nhân làm cho mình bệnh vì vậy phải thấy sự nguy hại của sắc thân này để không ham thích nó nữa "bao nhiêu đây cũng mệt mỏi lắm rồi, trong vòng luân hồi sanh tử". Đức Phật đã nói nước mắt mà các ông khóc vì sự ly biệt cha, ly biệt mẹ, khóc vì ly biệt vợ chồng, lìa xa anh em bạn bè, nước mắt các ông khóc trong dòng luân hồi còn nhiều hơn nước trong tứ đại hải dương.

Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

... các Ông chịu đựng con chết...

... các Ông chịu đựng con gái chết...

... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...

... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...

Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)

Máu mà các ông đã đổ ra trong vòng luân hồi này còn nhiều hơn nước bốn biển. Mình ngồi đây thấy an bình nhưng vừa rồi xem lại thời kì chiến tranh có hàng trăm ngàn người chết vì bom đạn, chết vì đói khổ không có thức ăn. Không phải mình chỉ mới sống ở kiếp này đâu mà mình đã sanh tử trong trăm ngàn vạn kiếp rồi, trong vô lượng vô biên kiếp rồi tất cả những cái đó mình đã trải qua hết chứ không phải mình chưa trải qua đâu nhưng vì mình không gặp được bậc thánh nhân, bậc chân nhân, bậc trí tuệ để đem ánh sáng vào trong bóng tối soi sáng cho mình, vì thế ngày giờ này mình còn lặn hụp trong vòng luân hồi này, vẫn còn mê muội, vào tu như vậy chứ khi trở ra cũng yêu thích như cũ. Cho nên sự tu tập đòi hỏi mình phải thực hành liên tục không gián đoạn, phải nghe pháp và tư duy thường xuyên đến độ chín muồi thì sẽ tự động buông xuống. Phải quán chiếu sâu sắc về sự nguy hiểm và tai hại của sắc, Minh Thành nhìn cảnh đứa bé mới ba tuổi mà bị ba nó đổ xăng vào người đốt cháy, từ đầu đến chân không còn nhận ra là một con người nhưng nó vẫn phải sống, hoặc một cô bị chồng ghen tuông đổ xăng đốt cháy thương tích đầy mình, cô nói "con không thể tưởng được cảnh này, chỉ có trong phim mà ngày giờ này chính bản thân con phải chịu như vậy". Tất cả những cái này đều là tham sân si từ nơi sắc uẩn này, tham dục xảy ra nhan nhản trên báo, già cả lại đi hãm hại những đứa trẻ chỉ mới có mấy tuổi, cái đó cũng từ nơi sắc uẩn này, từ nơi dục tham. Sân si là đốt nhà, giết người, hở tí là đâm chém, tất cả những cái đó trong hiện tại phải ở tù chung thân, sau khi chết còn đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dài lâu, không biết ngày nào thoát ra được. Tất cả những cái đó xuất phát từ nơi không thấy rõ sắc thân chính mình, cho nên trí huệ của Đức Phật khai mở cho mình rất quan trọng để mình thấy rõ bản chất chính tự thân mình, nếu mình không gặp Phật pháp thì trăm đời ngàn kiếp mình cho mấy chục kí lô này là mình, đến khi có chuyện gì đến thì mình sợ hãi, khiếp đảm, điên loạn, thậm chí có người tự vẫn vì chịu không nổi, hiện nay trên thế giới người trẻ tuổi tự vẫn rất nhiều vì không có người hướng dẫn, cả đời họ chỉ chạy đi tìm vật chất mà không biết chỗ dựa của tinh thần, của tâm linh, càng không thấy được trí huệ thâm sâu này, mà trí huệ này là trí huệ tự thân chứ không phải cái hiểu biết bên ngoài, bên ngoài có bao nhiêu bằng cấp tiến sĩ nhưng vẫn tham sân si, chấp ngã, đau khổ như thường, vẫn sầu bi khổ ưu não như thường, chỉ có thành tựu trí huệ Đức Phật truyền trao cho mình mới bớt khổ đau, giảm được khổ đau cho đến chấm dứt khổ đau, đây là nguyên nhân đạo Phật xuất hiện trên cuộc đời cũng là mục đích từ chư tổ, tất cả chư Tăng cho đến Hòa Thượng ở đây phiên dịch kinh điển và giảng dạy để mình thành tựu được trí huệ này chứ không phải cứ đọc tụng hoài rồi trở ra cũng vẫn như cũ, không được lợi ích bao nhiêu hết, vào chùa đọc kinh ro ro mà trở ra là bệnh nào tật nấy cho nên có đọc kinh 20 năm cũng không có lợi ích gì, nếu không khéo vào chùa công quả nhiều chừng nào thì bản ngã càng to chừng đó, làm được nhiều công việc cái ta càng lớn thì phản tác dụng, đi ngược lại với mục đích của đạo Phật, vì thế mà mình phải quán chiếu sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của sắc, phải nhìn cho kĩ, ngày nào Minh Thành cũng xem những cảnh tai nạn giao thông, ba đứa trẻ đi tắm hồ cuối cùng chết hết cả ba đứa, đây là pháp sống, đây là người thật việc thật trên đời này mà tại sao mình không thấy được, suốt ngày lên xem thể thao, các cuộc thi nhan sắc, thời trang nên mình bị vị ngọt của sắc che mắt.

Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)

Lạc hỷ là sự vui thích, khoan khoái, thích thú. Do có sắc mà tâm mình khởi lên sự yêu thích thì đó là vị ngọt của sắc và mình chết ngay chỗ vị ngọt này, Đức Thế Tôn nói rất rõ do có vị ngọt của sắc nên chúng ta mới đam mê sắc, mới bị sắc hấp dẫn, làm cho đảo điên, nếu không có vị ngọt thì chúng sanh không ham mê sắc. Vị ngọt này rất tạm thời, ngắn ngủi, mong manh nhưng cái nguy hại thì dài lâu vô lượng kiếp mà chúng sanh không thấy nên Đức Phật mới chuyển pháp luân, phải mở cái trí ra mình mới thấy. Ngoài đường đầy những thứ quảng cáo kem, quảng cáo tivi, máy lạnh, xe máy… những cái mà mình thích thú thì đó là vị ngọt, mà cái vị ngọt này như một chút ít mật ong dính ở đầu mũi dao, nó nguy hiểm như vậy nên bây giờ làm thế nào để xuất ly khỏi sắc?

Sự nhiếp phục dục và tham đối với sắc, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là xuất ly của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)

Nhiếp phục sự ham muốn, tham đắm, sự tìm kiếm thì mình sẽ giảm khổ, bớt khổ cho đến dứt khổ. Muốn nhiếp phục dục và tham thì trở lại quán tứ đại, quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi, đó là phương pháp nhiếp phục dục và tham. Phải thấy nó là tứ đại, không chạy theo cái đẹp nữa, không chạy theo vị ngọt mà hãy nhớ tới sự nguy hại của nó "thôi già rồi lo tu đi chứ già rồi còn ham vui, ham chơi. Ham vui, ham chơi, ham ăn thấy thì đơn giản nhưng để vượt qua nó thì không dễ chút nào, nhiều khi đến giờ tu mà có gì vui là muốn nghỉ tu, bộ phim yêu thích chiếu đúng giờ tu là "hôm nay tu trễ chút để xem tiếp phim coi ra sao", đây là vị ngọt nên mình phải thấy được nó rồi nhiếp phục để mình tu tinh tấn, giờ tu là tu chứ bây giờ cái tâm mình yếu như vậy đến khi gần chết cái nghiệp nó kéo mình đi theo nó liền, mình không có niệm lực, không có định lực không có đạo lực, mình không có trí sáng, không có sức tự chủ thì rất dễ bị lôi kéo, vì vậy phải nhiếp phục được dục và tham trong cái sắc, phải đoạn tận dục và tham trong sắc. Hễ thấy mình còn ham thích cái gì thì cái đó là khổ, ham thích những chuyện thế gian là không tốt còn ham tu học là tốt nhưng cái ham tu này cực kì ít ỏi, ngồi sáng đêm xem đá banh chứ không có bất kì ai ngồi sáng đêm để niệm Phật cho nên những gì thuộc về ngoài đời lôi kéo mình rất mạnh, còn cái đạo rất yếu vì thế tu là phải phát huy cái đạo lên, phát huy trí huệ, phát huy sự nỗ lực tinh tấn, tinh cần lên. Ở ngoài đời muốn làm giàu cũng không phải dễ, đâu phải cứ đi đứng, nằm ngủ là tự động tiền đổ vào túi mà phải đi làm cực khổ, phải tính toán các kiểu thậm chí ăn không ngon ngủ không được mới kiếm được tiền, như vậy cái đời bình thường đi tìm vật chất đã phải đầu tư nhiều như vậy huống chi mọi người đòi Niết-bàn, muốn giải thoát mà làm thì ít thì làm sao thành tựu? Cho nên mình phải có sự đầu tư, sự tinh tấn, thấy cái tâm còn tham cái gì thì phải quán chiếu, giảm bớt, cho đến khi mình giảm hết thì giải thoát, không còn gì trói buộc được. Nhìn lại trong tâm thấy cái gì mà mình quan trọng nhất thì cái đó làm khổ mình nhiều nhất, cái gì mà tâm mình quan trọng thì mình bị trói buộc vào cái đó thì phải tập quán chiếu "thân này vô thường, thân này tứ đại còn tan rã thì đâu có là tôi, đâu có là của tôi trong này nên buông bỏ, niệm Phật thì cứ lo niệm Phật", nhiếp tâm trở lại ngay trong giây phút hiện tại để lo tu tập thì mình sẽ nhiếp phục được nó. Mình bị những sợi dây tham ái trói buộc, trói càng chặt thì càng khó chịu nên mình phải mở ra từ từ, đến khi tháo gỡ ra hết thì tự do nên trong bài kinh Dây Thằng, Đức Phật đã nói:

Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)

Bị trói buộc trong năm uẩn này nên suốt ngày chỉ nghĩ trong năm uẩn, hôm nay ăn gì, hôm nay làm ăn lời lỗ ra sao, ngày mai đi chợ mua gì… suốt ngày chỉ nghĩ về cái thân này không thôi, cho nên cái cột đó chính là luân hồi, chạy lòng vòng trong đó không thoát ra được, mình bị trói cột bởi sợi dây vô hình trong tham ái, trong sự ràng buộc chấp thủ nơi sắc thân này, mình dùng trí huệ để mở sợi dây vô hình này, ngồi tĩnh tâm với cái trí sáng tỏ tháo gỡ sợi dây này ra thì tu tập sẽ thành công, mình niệm Phật sẽ đi đến chỗ nhất tâm bất loạn, đạt đến chỗ cứu cánh của tịnh độ. Cho nên buổi sáng hôm nay Minh Thành chia sẻ với quý vị niệm Phật bằng trí tuệ mới thấy được sự thật ngay nơi bản thân mình. Do mình hiểu lầm, ngộ nhận, mình tưởng rằng cái thân mấy chục kí này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi mà không biết rằng thân này chỉ là sắc, là đất nước gió lửa kết hợp, có trong có ngoài, có ăn uống, tắm gội kết hợp lại, sống trong sự vay mượn, tạm bợ mong manh của vô thường. Thân này là món đồ gốm và tính chất bể đã ở sẵn trong đó rồi, mình phải thấy được tính chất vô thường, tính chất bất toại nguyện, tính chất mong manh tạm bợ để chuyển đổi cái nhìn sai lầm trong nhận thức, đây gọi là phá thân kiến và người nào phá được kiến chấp sai lầm về thân này thì người này thể nhập dòng trí huệ pháp lưu vào dòng thánh, đây là trí huệ mà tất cả những người học Phật nỗ lực đều có thể làm được trong nhận thức chứ không phải mình tính là niệm được bao nhiêu, tụng được bao lâu, những cái này là ở bên ngoài, quan trọng là trí huệ của mình thấy được bản chất của thân này là tứ đại, sắc là sắc chứ không phải là tôi. Gỡ được quan niệm sai lầm đó thì mình thành tựu trí huệ, thành tựu trí huệ này rồi thì mình chính thức bước vào bốn đôi tám chúng, là đệ tử chân chính của Đức Thế Tôn, tuyên bố bắt đầu chấm dứt khổ đau cho đến từ từ chấm dứt thì quý vị đạt đến tận cùng biên tế của khổ đau, thành tựu trí huệ giải thoát giác ngộ, như vậy việc niệm Phật mà có trí huệ này gọi là siêu niệm, siêu trí, siêu tuệ và siêu sanh.

./.