Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Khóa Tu NIKAY Hà Nội Lần 1 - Duyên Sanh Pháp - Tác Ý - Phá Ảo Tưởng Cái Ta

2026-03-03 00:55:48
Soi Sáng Nikāya

DUYÊN SANH PHÁP - TÁC Ý - PHÁ ẢO TƯỞNG CÁI TA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhận diện dục, tham, ái PAGEREF _Toc75513282 \h 1

II.Phá ảo tưởng cái ta PAGEREF _Toc75513283 \h 4

III.Hỏi đáp tu học PAGEREF _Toc75513284 \h 8

1.Tác ý loại bỏ lạc thọ bất thiện PAGEREF _Toc75513285 \h 9

2.Biếng nhác và tinh cần PAGEREF _Toc75513286 \h 10

3.Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc75513287 \h 13

Nhận diện dục, tham, ái

Kính thưa đại chúng, quý vị đã được thực tập và hành trì từ sáng đến giờ, đây là thời pháp đàm cuối của khóa tu chúng ta. Trong giờ phút này chúng ta sẽ soi sáng pháp đàm, giải thích những vấn đề còn nghi vấn, thắc mắc trong sự nhận diện năm uẩn. Con mời quý sư cô, Phật tử còn gì chưa rõ trong sự nhận diện năm uẩn thì cứ nêu câu hỏi để chúng ta nắm vững trong sự thực tập về năm uẩn.

Chúng ta được chánh quán thọ thực lần đầu tiên, tức là học cách ăn cơm của Đức Phật và các bậc Thánh chúng, chư Tỳ-kheo thuở xưa thời Đức Phật cũng đã ăn cơm như vậy. Hôm nay chúng ta đã ăn cơm trong sự chánh quán, trong sự chánh niệm, trong sự soi chiếu thân tâm của mình. Quý vị thấy ngày hôm nay ăn cơm có đặc biệt không? Cảm ơn gia chủ đã cho mình bữa cơm trong sự thực tập tuyệt vời. Quý vị có cảm nhận gì trong khi ăn cơm?

Phật tử 1:

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy, hôm nay là lần đầu tiên con được thực hành pháp thọ thực, con chưa bao giờ được cảm nhận cảm giác toàn bộ thân tâm mình được tĩnh lặng, cảm nhận được từng miếng ăn, thức ăn được đưa vào miệng, từng cử chỉ con đều quán sát, con thấy mọi thứ xung quanh không gì tác động, ảnh hưởng được đến con vì toàn bộ thân tâm con lúc đó rất là tĩnh lặng, con có cảm giác rất nhẹ, mặc dù đang ăn nhưng không như những bữa ăn bình thường là mình vừa ăn vừa suy nghĩ nhiều việc. Hôm nay sau khi được thọ pháp, sau đó được thọ thực trong chánh niệm dưới sự hướng dẫn của quý thầy, con thấy vô cùng hỷ lạc.

Phật tử 2:

Con kính bạch sư phụ, con cám ơn sư phụ đã quan tâm đến đạo tràng non trẻ ở Hà Nội của chúng con. Sư phụ và quý thầy đã quan lâm đến đạo tràng chúng con làm chúng con rất xúc động và thành kính biết ơn sư phụ và quý thầy.

Con cũng rất biết ơn bài pháp sáng nay, con rất ấn tượng khi nghe sư phụ giảng về cảm giác toàn thân, sư phụ giảng rất ý nghĩa giúp chúng con hiểu rằng quan sát toàn thân để nhận ra nếu là thiện pháp thì tăng trưởng, phát triển, còn ác pháp thì đánh tan, con thấy có sự khác biệt về bài giảng hôm nay sư phụ mang đến cho chúng con và pháp bảo rất ý nghĩa với chúng con. Sư phụ giảng rất lôi cuốn, hấp dẫn, những lúc sư phụ gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh chúng con rất là mạnh mẽ và có sức thuyết phục.

Năm nay con gần 60 tuổi rồi nhưng đây là lần đầu con có bữa ăn ý nghĩa và đáng nhớ trong cuộc đời, vì chúng con được ăn bữa ăn rất là thanh tịnh và đúng Chánh Pháp, ăn trong chánh niệm, chúng con rất xúc động khi quý thầy không ăn mà ngồi hướng dẫn cho chúng con cách ăn để ngăn chặn tâm tham khởi lên. Chúng con rất biết ơn và chúng con sẽ học cách ăn của Đức Phật đã được quý thầy hướng dẫn để thực tập trong các bữa ăn hằng ngày để lìa tâm tham dục, tham ăn. Chúng con được quý thầy hướng dẫn rất tỉ mỉ, chu đáo gắp thức ăn như thế nào, nhai ra sao… những chi tiết đó rất quan trọng và quan trọng là nhận ra tâm tham để dừng lại. Nghiệp được huân tập từ nhiều đời nên trong lúc nhai thì tay lại chuẩn bị gắp, nhờ quý thầy nhắc nhở mà con dừng lại được, thức tỉnh con và quý thầy làm con nhớ lại hình ảnh của quý thầy nhắc chúng con hướng về nội tâm mình chứ đừng nhìn sang người ta để quan sát cảm giác toàn thân, khi có tâm tham khởi lên mình sẽ biết và phá tan nó đi. Con rất biết ơn sư phụ và quý thầy đã quan tâm giảng pháp cho chúng con và chúng con lại được thực tập những điều rất ý nghĩa và bổ ích trong bữa ăn, con thấy những điều này rất đơn giản nhưng lại vô cùng ý nghĩa và giá trị trong bước đường tu của chúng con, có lẽ đó là bữa ăn ấn tượng nhất trong cuộc đời con và sẽ theo con mãi mãi về sau. Con thành kính biết ơn sư phụ và quý thầy.

***

Chúng ta đang nói về chánh quán thọ thực, nhiều khi mình nghĩ rằng tu là tu với Phật, tu với quyển kinh, tu ở trong khóa tu. Nhưng sự tu học theo tinh thần của Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya là tu ở trong những sinh hoạt thường nhật của chúng ta.

Trưa nay chúng ta tu trong khi ăn, nếu không học duyên sanh pháp trong kinh Nikāya thì mình sẽ không biết hoặc sự vận hành của các pháp. Hoặc học chung chung thì chỉ biết cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái kia diệt… chúng ta sẽ không biết rõ ràng được. Trong kinh Nikāya, Đức Phật nói rất rõ do duyên có lưỡi và các vị (tức là món ăn), khởi lên sự rõ biết các vị gọi là thiệt thức – ba pháp này giao thoa, hội tụ gọi là sự tiếp xúc nơi lưỡi (thiệt xúc). Do có sự tiếp xúc nơi lưỡi nên sanh ra cảm thọ, cảm giác – cái này mỗi ngày chúng ta đều có trong sinh hoạt thường ngày, uống nước, ăn cơm cũng vậy. Nếu đó là món ngon sẽ có lạc thọ, nếu đó là món không vừa ý là khổ thọ. Trong cảm giác dễ chịu có tham, ái, mình thích, khoái, muốn ăn nhiều, gắp cho nhiều là tham. Chúng ta phải phân biệt được ba loại dục, ái, tham.

Dục: Sự thúc giục muốn ăn.

Ái: Khi món ăn tiếp xúc vào lưỡi sanh ra cảm giác dễ chịu, khoan khoái, ưa thích.

Tham: Muốn ăn thêm, muốn ăn nhanh, mau lẹ.

Đây là ba loại trạng thái hoạt động khác nhau của cảm giác. Trạng thái thứ nhất là sự thúc giục trong tâm; trạng thái thứ hai là khoan khoái, ưa thích; trạng thái thứ ba là muốn thêm nữa, nhai cho nhanh để gắp tiếp tục. Đó là thọ do thiệt xúc sanh, tức là cảm giác từ sự tiếp xúc của lưỡi sanh ra, sau đó sẽ có vị tưởng, vị tư, pháp tưởng, pháp tư, tức là hình bóng của vị đó và suy nghĩ về vị đó vận hành trong tâm. Ở đây chúng ta từ ăn uống mở rộng ra đến các hoạt động khác đều như vậy chứ không phải chỉ ăn mới có dục. Ví dụ chuẩn bị vào Sài Gòn hoặc ra nước ngoài thì trong lòng có cảm giác thúc giục, sáng đi thì tối ngủ không được, đó là dục. Khi đến cảnh đẹp thì mình thích, đó là ái. Sau đó chụp hình lưu lại cảnh đẹp ba tấm chưa vừa ý, muốn chụp thêm nhiều nữa thì đó là tham.

Như vậy, dục, tham, ái có mặt trong tất cả mọi sinh hoạt thường ngày trong cảm giác. Tại sao Đức Phật nói phải nhìn ra hoạt động của dục, tham và ái? Vì chính cái này là động cơ đưa mình đến khổ đau, nó đòi hỏi chúng ta phải có sự chiêm nghiệm sâu sắc, thực tập nhận diện các cảm giác, cảm thọ. Ví dụ muốn một điều gì đó mà người thân trong gia đình không đồng ý thì mình sẽ thế nào? Hoặc khi đang chụp hình ngay khung cảnh rất đẹp mà có người không cho chụp thì mình sẽ có cảm giác gì? Vì có sự ưa thích mới có ái và nắm giữ điều đó (thủ), nhưng do tất cả pháp trong ngũ uẩn không có cái gì là kiên cố, vững bền vì nó là vô thường, biến hoại, biến động, tan hoại cho nên muốn nắm giữ sẽ khổ đau.

Phá ảo tưởng cái ta

Nắm giữ sắc, nắm giữ thân xác này, tô điểm, yêu mến, dính mắc, chấp thủ thân xác này thì mình sẽ đau khổ vì thân xác này. Vì mình không thấy thân xác này là tan nát, hoại diệt cho nên nguyên nhân chính của vấn đề là vô minh và tham ái, đây là nguyên nhân sâu xa của tất cả hữu tình chúng sanh. Vô minh là không biết, không thấy ngũ uẩn và bản tánh của ngũ uẩn, vì không biết bản tánh của nó nên cái nào mình cũng nhận là mình, sắc cũng là sắc thủ uẩn, đây là tôi, là của tôi và tự ngã của tôi. Cảm giác cũng nắm giữ gọi là thọ thủ uẩn, mình muốn nắm giữ và kéo dài cảm giác vui sướng, nếu nó không còn nữa hoặc thay đổi thì mình đau khổ. Những hình bóng trong tâm là tưởng và mình cũng nắm giữ, cho rằng nó là tôi, là của tôi. Những suy nghĩ cũng nắm giữ và cho là tôi, là của tôi, mình suy nghĩ mà người ta cho rằng sai rồi, trật rồi thì mình khó chịu vì mình chấp suy nghĩ đó là đúng, là phải. Điều sâu xa là sự rõ biết (thức uẩn), chúng ta luôn nghĩ rằng cái biết của mình là đúng nhưng mình chưa đi vào Chánh kiến, chưa nhìn thấy bản chất thực sự của ngũ uẩn thì cái biết đó không đúng, ngay cả lúc mắt thấy tai nghe nhưng vẫn không đúng vì không thấy được bản chất của các pháp.

Có người rất thích hoa, trên đường đi thấy chỗ đó toàn hoa là hoa thì trong lòng họ phấn khởi, cái dục khởi lên muốn đi nhanh lẹ đến chỗ đó nhưng khi tới nơi nhận ra chỉ toàn đồ giả. Cũng giống vậy, do mình không thấy bản chất ngũ uẩn cho nên bị nhận lầm, cứ nghĩ nó đẹp, bền chắc vĩnh cửu nhưng hóa ra lại mong manh dễ vỡ, dễ tan nát, hủy hoại. Nhất là giai đoạn này, hôm nay hàng mấy chục triệu người nhiễm bệnh, hơn 1 triệu người chết vì dịch bệnh, không ai ngờ được trước đó thế giới lại lạnh lẽo, trống vắng, chỉ cần ho một cái là mọi người khiếp sợ, tránh xa, một tiếng ho có thể dẫn đến chết người. Đức Phật đã nói sắc uẩn là ổ chứa nhóm bệnh hoạn.

Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)

Hãy xem bong bóng đẹp,

Chỗ chất chứa vết thương,

Bệnh hoạn nhiều suy tư,

Thật không gì trường cửu.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)

Nhìn từ xa bong bóng rất đẹp nhưng bong bóng này là chỗ chất chứa những vết thương, bệnh hoạn, nhiều lo lắng, sợ hãi và suy tư. Trong mắt; tai; mũi; lưỡi… chỗ nào cũng có thể phát bệnh, chỗ nào cũng có thể đưa đến những chứng bệnh nan y, chúng ta luôn sống trong sự lo lắng và sợ hãi trong giai đoạn này. Ở miền Trung qua một đêm là toàn bộ tài sản, mạng người đều không còn, vợ xa chồng, con mất cha mẹ người thân, cả xóm làng bị cuốn trôi như Đức Phật nói trong kinh như lụt trôi làng ngủ.

Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say, tham nhiễm,

Bị thần chết mang đi,

Như lụt trôi làng ngủ.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 47)

Cả làng đang ngủ say sưa đều bị lụt cuốn trôi, tất cả chúng sanh cũng giống vậy, là những kẻ ngủ say trong vô minh, si mê, hôn ám, ngủ trong sự không hiểu biết, ngủ trong trường dạ bóng đêm vì không nhìn thấy năm uẩn và bản tánh của năm uẩn, không nhìn thấy sự biến hoại, duyên sanh, sự giả dối, lắp ráp, hư ảo của nó. Cứ thế cả cuộc đời chúng ta chỉ là những cảm giác thúc giục, đòi hỏi, tìm kiếm, chưa tìm được thì khổ nhưng tìm được rồi có thật sự vui không?

Chưa lập gia đình thì nghĩ lập gia đình hạnh phúc lắm, đó là do mình tưởng tượng, trong sự ảo tưởng của mình là như thế nhưng đến khi bước vào hôn nhân rồi lại có những cái khổ mới, nếu những người thân thương của mình mất đi lại càng đau khổ hơn nữa trong bóng đêm của si mê và vô minh. Cứ như thế cả ba thời đều đau khổ, quá khứ khổ, hiện tại khổ và tương lai cũng tiếp tục khổ đau nếu không nhìn thấy được bản chất của đời sống này, sự thật của thân xác này, sự thật của những gì đang vận hành trong nội tâm chúng ta. Chúng ta phải nhìn thật rõ, thật kĩ để không còn ngủ say nữa, để cơn lũ lụt không ập đến cuốn phăng những gì đáng yêu, quý trọng. Những gì mình gom góp, tích lũy trong cả cuộc đời trong tích tắc là đổ vỡ, tan nát, hủy hoại mọi thứ, chỉ cần ngã xuống thôi là mất hết mọi thứ, đó là bản chất của thân xác này.

Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).

Bản chất của đời sống này là vô thường, là tan biến, bất trắc, biến đổi, không lường trước được nhưng tại sao trong đầu chúng ta có suy nghĩ nó cứ như vậy hoài, nó sẽ như vậy. Cái chuông này chỉ cần lỡ tay rớt xuống sẽ hư nát, lỡ tay thì ly này thành đống miểng chai, không những bị bể mà nó còn gây ra nguy hiểm làm đứt tay chảy máu, Đức Phật dạy mình phải quán tính chất nguy hiểm và tác hại của năm thủ uẩn để bớt tham ái, bớt dục thì sẽ bớt khổ. Phải nhìn cho thật sâu, không phải chỉ những người ở miền Trung mới bị lũ lụt, còn một cơn lũ nguy hiểm hơn lũ ở miền Trung rất nhiều, đó là cơn lũ của dục, ái, tham cuốn chúng ta trong bấp bênh vô định, chìm nổi vô lượng vô biên kiếp trong dòng sanh tử này, cơn lũ của những dòng cảm giác, cảm xúc, cơn lũ của những hình bóng bên trong tâm ám ảnh, cơn lũ của những suy nghĩ, suy tính và có những người vì suy nghĩ có thể đi đến điên loạn, đó là dòng thác lũ của ngũ uẩn.

Sắc là dòng thác lũ, mọi người có nhìn thấy vì một chút đồng tiền, thậm chí chỉ vì 5000 tiền gửi xe mà xảy ra án mạng, nói với nhau vài câu hơn thua, gây gổ rồi sau đó là đổ máu. Âm thanh là dòng thác lũ, mùi là dòng thác lũ, vị của món ăn là dòng thác lũ. Vì món ăn có thể không nhìn mặt nhau, có thể gây thù hận chiến tranh. Sự tiếp xúc đụng chạm là dòng thác lũ. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới phơi bày cho chúng ta thấy sự đụng chạm, tiếp xúc đó, tham ái, tham đắm nên nhà tan cửa nát, vợ con xấu hổ, thậm chí bản thân tù tội, thân bại danh liệt. Chỉ vì sự thúc giục bên trong, sự ham muốn đụng chạm mà dòng thác lũ đó làm cho người này thân bại danh liệt, tan nhà nát cửa, thậm chí tù tội, mất mạng. Sắc là dòng thác lũ, thọ là dòng thác lũ, tưởng là dòng thác lũ, những hình bóng, cảm giác là dòng thác lũ, tài sản là dòng thác lũ, chính vì những cái này mà mình bị cuốn trôi trong dòng xoáy, nhận thức theo vô minh để sanh khởi tham, sân, si là dòng thác lũ, thức là dòng thác lũ. Sắc; thanh; hương; vị; xúc là dòng thác lũ, những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm là dòng thác lũ, đó là pháp trần. Tiếng khen là dòng thác lũ, lời chỉ trích là dòng thác lũ, những thị phi trong cuộc đời này là dòng thác lũ. Tất cả những thứ đó cuốn trôi, nhận chìm hết tất cả thế giới này.

Hãy đặc biệt cẩn thận trước dòng thác lũ của thế gian này, của cuộc đời này!

Hãy hộ trì căn, hãy giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, hãy luôn luôn an trú trong Tứ Niệm Xứ, nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và các pháp thiện và bất thiện đang vận hành bên trong, phải nhìn thấy và trú vững trong đó, đó là căn nhà bình an nhất mà Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta. Căn nhà bình an nhất là an trú trong Tứ Niệm Xứ, an trú trong Thân Hành Niệm, nhìn thấy sự thật về thân thể, đời sống, cảm giác, nhìn thấy bên trong nội tâm đang có gì để làm chủ căn nhà nội tâm của mình, leo lầu cao trí tuệ làm ốc đảo cho tự thân, nếu không chúng ta sẽ bị cuốn theo dòng thác đó.

Chúng ta đã bị dòng thác lũ này cuốn trôi trong trăm ngàn vạn kiếp, trong vô lượng vô biên kiếp rồi. Hãy trú vững trong pháp, hãy nắm chặt chiếc phao Thánh Pháp này, đừng bao giờ để vuột mất, nếu không là hiểm nguy, tai nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan, nếu chúng ta rời xa Thánh trí năm uẩn này, rời xa khỏi Tứ Niệm Xứ, rời ra khỏi trí tuệ để phá vỡ kiến chấp trong ngũ uẩn này sẽ gặp hiểm nguy và tai họa, gặp lũ lụt, chúng ta sẽ bị cuốn trôi theo những tham, sân, si, cuốn trôi theo cái được mất, thị phi nhân ngã của cuộc đời, thậm chí sự nghiệp tu tập của chúng ta sẽ sụp đổ hết tất cả. Có những người vì tâm sân hận là bỏ tu, không làm phước nữa. Tâm không trú vững trong pháp rất dễ bị ngoại cảnh tác động.

Cho nên phải thể nhập thật sâu trong dòng pháp, siêng năng nghe pháp, thực tập thiền quán, thiền định, lễ lạy sám hối diệt ngã đức hạnh ngài Xá-lợi-phất. Tu tập tâm hiền, tâm từ, quán chiếu Thân Hành Niệm, tứ đại, 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi phải thiện xảo, điêu luyện vững chắc, đó chính là thương mình. Phải thương mình thật nhiều để mình cố gắng thoát ra khỏi dòng thác lũ này, nếu không sẽ bị cuốn phăng đi theo sắc, theo thanh; hương; vị; xúc; pháp, bị cuốn theo sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Những sự lòe loẹt trên cuộc đời này sẽ cuốn mình đi. Phải làm ốc đảo cho tự thân mình trong Thánh trí ngũ uẩn, Thánh pháp Tứ Niệm Xứ.

Này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỳ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đời, vị Tỳ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Hỏi đáp tu học

Tác ý loại bỏ lạc thọ bất thiện

Câu hỏi: "Nếu con thấy người con ghét bị mắng, tâm con có cảm thọ sướng, đã đời, cho đáng đời người đó. Một cảm giác được thỏa mãn sự trả thù, cảm thọ đó làm con vui sướng nhưng con cũng biết cảm thọ này không phải là cảm thọ thiện lành. Như vậy đó là thọ lạc hay thọ khổ ạ?"

Đang cảm thấy sướng thì làm sao là thọ khổ? Người mình ghét, mình không ưa mà họ bị mắng thì lúc đó mình có thọ sướng, đáng đời. Mình có cảm giác được thỏa mãn sự trả thù thì cảm thọ đó là lạc thọ nhưng thuộc về bất thiện pháp. Lạc thọ đối với người mình ghét, nhưng họ trong tình cảnh bị mắng chửi là khổ thọ, cái này gọi là vui trên sự đau khổ của người khác. Điều này là thực tế và diễn ra thường xuyên trong cuộc sống, mình cũng bị như vậy. Khi người mình không ưa, không thích gặp chuyện gì đó là mình thấy đáng đời họ, vui thích trong đó thì cảm thọ đó là lạc thọ nhưng lại là lạc thọ bất thiện pháp.

Cảm thọ này cần tác ý để đánh đuổi: "Vui gì mà vui, sướng gì mà sướng, đã gì mà đã? Người ta bị mắng chửi, bị sỉ nhục nên người ta đau khổ, xấu hổ thì tại sao mình lại vui? Đây là cái vui bất thiện, cái vui xấu ác, cái vui này là từ cái tâm sân hận, cái tâm thù hằn, đây cũng là tâm đau khổ, bị thiêu đốt".

Chúng ta không trú trong lạc thọ mà phải trải tâm từ đến mình, đến người đang bị khổ đó "Thật là tội lỗi cho ta khi ta vui cười trên sự đau khổ của người khác. Thật là si mê cho ta khi ta vui sướng trên niềm đau của họ. Chính cái tâm sân hận, thù hận, ganh ghét này đã hại ta trong vô lượng vô biên kiếp, đã thiêu đốt ta và thiêu đốt chúng sanh từ vô thỉ kiếp rồi. Cảm thông ơi! Tình thương ơi! Từ tâm ơi. Trong ta có rất nhiều tình thương, có rất nhiều từ tâm, ta làm khơi dậy trong ta tình thương và từ tâm. Ta thương chính thân ta đã khổ đau vì sân hận này, vì cái tâm bực bội, bức xúc thiêu đốt, đốt cháy này đã đốt ta trong ngọn lửa của địa ngục, của súc sanh, ngạ quỷ, cô hồn vất vơ vất vưởng vô lượng vô biên kiếp vì tâm sân hận này. Ta khơi dậy trong ta một tình thương, một sự cảm thông, một sự bi mẫn, một lòng trắc ẩn xót thương đến tự thân và đến những người làm ta đau khổ. Nhưng vì họ không biết họ cũng là nạn nhân của lòng sân hận, khi ta sân hận ta cũng đau khổ và khi đối tượng sân hận cũng khổ đau, tất cả chúng ta là những nạn nhân, những kẻ gặp hoạn nạn, ác nạn, nguy nan trong sân hận này, cho nên đừng làm đau khổ cho nhau nữa vì mỗi người đều có nỗi khổ, niềm đau riêng. Xin hãy thấu hiểu cho nhau, đừng tạo thêm khổ nữa".

Tác ý như vậy để tâm từ gội rửa cái tâm sung sướng khi người ta khổ, tẩy rửa cảm thọ đó và làm cho cảm thọ tâm từ tuôn tràn, lan tỏa ra, đưa dòng cảm thọ từ tâm bao trùm lấy người mình sân hận. Tập luyện từ từ sẽ được, tu tập tâm từ cho nhuần nhuyễn, điêu luyện, thuần thục, làm nó thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách. Phải tu tập tâm từ thật nhiều trong bất cứ lúc nào có thể, không đợi lên chánh điện, bàn Phật, thiền đường mà bất cứ khi nào có thời gian hãy cứ trải tâm từ, đó là suối nguồn của công đức và sự bình an, chính là tâm từ. Mình giận người ta thì lúc đó có được vui không? Nói những lời nặng nề về người mình giận thì mình có mát mẻ không? Suy nghĩ về đối tượng mình giận thì lòng có được an tịnh không? Chỉ toàn khổ là khổ cho nên giận không được lợi ích, lợi lạc gì.

Vì thế giận hờn là liều thuốc độc đổ vào dòng tái sanh làm cho mình tiều tụy, ốm o gầy mòn, bứt rứt. Cho nên, chúng ta phải quyết tâm diệt sạch tâm sân hận đồng thời luôn trú trong từ tâm, tình thương, cảm giác thương yêu ngọt ngào chứa chan và lan tỏa điều đó ra bằng từ tâm, tình thương.

Biếng nhác và tinh cần

Câu hỏi: "Thưa thầy, do xương khớp con bị thoái hóa nên không ngồi bán già hoặc ngồi kiết già khi ngồi thiền được. Con chỉ ngồi được trên ghế cao có tựa lưng mới không bị đau, con rất muốn ngồi bán già hoặc kiết già nhưng sức khỏe con như vậy thì phải làm sao ạ?"

Chúng ta được ngồi ngay ngắn nghe pháp hoặc ngồi thiền là cả một phước báu của mỗi người, cho nên phải biết trân trọng, nhất là còn ngồi được bằng kiết già hoặc bán già. Nghe câu hỏi này rồi chúng ta nhìn lại bản thân, được ngồi kiết già hoặc bán già là mình rất có phước báu vì không phải dễ được nghe Chánh Pháp, hiểu Chánh Pháp và thực tập Chánh Pháp là thêm phước báu công đức, đây là điều hy hữu hiếm có khó được nên phải biết trân trọng.

Khi nghe pháp, tụng kinh Nikāya, khi ngồi thiền hoặc thiền quán thì phải tác ý những lúc buồn chán, làm biếng "Đây là điều quý báu, thiêng liêng" để làm cho thân tâm hân hoan, thích thú, vui sướng trong sự tu học. Nếu không sẽ thấy đời hấp dẫn hơn đạo, đạo tẻ nhạt, nhất là khi ngồi thiền một mình thì còn nản hơn nữa, vậy là hôm đó không ngồi thiền mà nằm luôn, nằm được một bữa thì bữa sau cũng nằm tiếp, vậy là buông lung luôn. Lỡ như hôm đó có công việc mệt mỏi mà lên ngồi thiền là ý hành nói trong đầu "hôm nay mệt lắm coi chừng bệnh", lý do này quá hợp lý nên nghỉ thiền luôn. Đức Phật đã nói tám căn cứ của sự làm biếng trong Tăng Chi Bộ kinh: Chuẩn bị đi xa thì nghĩ chuẩn bị đi xa nên nghỉ, mới làm công chuyện xong thì nghĩ mệt quá nên nghỉ, chuẩn bị làm công việc thì nghĩ dưỡng sức để làm việc nên nghỉ, thân mệt sắp sửa bệnh hoặc mới hết bệnh cũng đòi nghỉ dưỡng.

Này các Tỳ-kheo, có tám căn cứ này để biếng nhác. Thế nào là tám?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có việc phải làm, vị ấy nghĩ: "Có việc ta sẽ phải làm. Nhưng nếu ta làm, thời thân sẽ mệt mỏi, vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ nhất.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có việc phải làm. Vị ấy suy nghĩ: "Có việc ta đã làm, do ta đã làm, thân bị mệt mỏi, vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng tinh tấn để đạt những gì chưa đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ hai.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, có con đường Tỳ-kheo cần phải đi. Vị ấy suy nghĩ: "Có con đường ta sẽ phải đi. Nếu ta đi, thời thân sẽ mệt mỏi, vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ ba.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, có con đường Tỳ-kheo đã đi. Vị ấy suy nghĩ: "Ta đã đi con đường. Do ta đã đi con đường, nên thân bị mệt mỏi, vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ tư.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, không nhận được các đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy suy nghĩ: "Ta đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, không nhận được các đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ như ý muốn. Nay thân ta mệt mỏi, không có thể chịu đựng. Vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ năm.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, nhận được các đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy suy nghĩ: "Ta đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, nhận được các đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ như ý muốn. Nay thân ta nặng nề, không có thể chịu đựng, nặng nề như loại đậu bị ngâm nước. Vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ sáu.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo bị bệnh nhẹ. Vị ấy suy nghĩ: "Nay bệnh nhẹ này khởi lên nơi ta, có lý do để nằm xuống, vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ bảy.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đau bệnh mới khỏi, mới khỏi bệnh không bao lâu, vị ấy suy nghĩ: "Ta đau bệnh mới khỏi, mới khỏi bệnh không bao lâu, thân ta do bệnh bị yếu, không có thể chịu đựng, vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ tám. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VIII. Phẩm Song Đôi, (X) Tám Căn Cứ Để Biếng Nhác và Tinh Tấn)

Người tinh tấn mà chuẩn bị đi xa sẽ nghĩ "mình chuẩn bị đi không có thời gian tu nên bây giờ phải tu", "mình mới đi xa về không được tu nên giờ về tu", "sắp sửa bệnh thì phải lo tu để bệnh rồi tu không được". Mình chuyển suy nghĩ thành tinh tấn còn không thì thành giải đãi, làm biếng nhưng sự lười nhác, làm biếng nhiều hơn tinh tấn, khi vừa bớt bệnh thì nghĩ "bệnh không tu được nên giờ bớt rồi phải tu", "bây giờ già gần chết rồi phải tu để không kịp, trẻ còn sức khỏe phải tu để mai đây già yếu bệnh hoạn không tu được". Vì vậy tất cả mọi chuyện đều do sự tác ý của mình.

Này chư Hiền, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).

Tác ý là sự tác động tâm ý, đây là điều tuyệt đối quan trọng trong sự tu. Mình đặt tâm đúng hướng thì suy nghĩ đó đưa mình đến tinh tấn, nỗ lực, hân hoan, vui vẻ. Đặt tâm sai hướng thì đưa đến buông lung, buông thả. Do sự tác động tâm ý dẫn dắt suy nghĩ theo hướng của pháp, theo hướng tiến lên, tăng thượng, phát triển nên điều này cực kì quan trọng. Vì thế phải suy nghĩ theo chiều hướng tích cực "đi xa về mất thời gian tu nên giờ phải tu bù", "chuẩn bị làm việc nên phải tu chứ làm rồi tu không được", "mới làm việc xong phải tu bù thời gian bị mất", chuyển đổi suy nghĩ theo hướng tích cực thì tinh tấn, ngược lại sẽ biếng nhác, buông lung, giải đãi. Nếu sức khỏe không cho phép, bắt buộc ngồi ghế tựa thì không sao hết, đó là do bệnh tật chứ không phải mình làm biếng. Trong bất cứ việc gì cũng cần phải có sự quyết tâm, thế giới có nhiều người tật nguyền rất nổi tiếng, không có chân hoặc chỉ có một cánh tay, thậm chí mất nửa người nhưng họ làm được việc mà người có tay chân không làm được, đó là do ý chí, quyết tâm, nỗ lực của họ. Trong sự tu hành cũng đòi hỏi mình phải có quyết tâm, nỗ lực và nỗ lực này đòi hỏi phải có sự kiên trì, bền bỉ, không phải như đống rơm phựt cháy trong phút chốc lại tàn lụi. Vì vậy tinh tấn nhưng vẫn bền chí, trường viễn.

Duyên sanh pháp

Câu hỏi: "Nếu có một đồ vật mà cả mắt đều nhìn thấy, tay xúc chạm vào thì lúc này tưởng hiện lên trong đầu sẽ là sắc tưởng hay là xúc tưởng ạ?".

Để quý vị không thấy phức tạp nên chúng ta chỉ học ở mức vừa phải để người mới theo kịp. Khi nhìn thấy bình bông, chút nữa mình về nhà ngồi thiền thì hình bóng của buổi pháp thoại này hiện ra làm mình nhớ lại có bình bông, có đại chúng… Hình bóng hiện ra chính là sắc tưởng, lúc đó mình nhớ lại mình đã chạm vào cây bông, khi nhớ lại lúc cái tay mình tiếp xúc vào bông có cảm giác thì đó là xúc tưởng. Nghĩa là những hình bóng sau khi tiếp xúc hiện khởi trở lại trong tâm gọi là xúc tưởng, còn sắc tướng khi mình tiếp xúc hiện lại trong tâm thì cái đó gọi là sắc tưởng.

Câu hỏi: "Nếu đang đi mà chân xúc chạm với mặt đất nhưng đầu lại tưởng về những hình ảnh linh tinh như ăn uống, mặc đẹp không liên quan đến xúc tưởng. Vậy tưởng đó có phải là xúc tưởng do thân căn tiếp xúc với xúc trần không ạ hay tưởng xuất hiện do vô minh ạ?"

Đây là những hình ảnh rất thực tế để học hỏi, lúc đang đi chân tiếp xúc mặt đấu nhưng trong đầu lại nghĩ đến chuyện khác mà mình không để ý đến sự tiếp xúc của chân với mặt đất thì đây là vọng tưởng. Hình bóng hiện ra trong tâm là tưởng uẩn, bất cứ hình bóng gì hiện ra trong tâm thì đó là tưởng nhưng đây là tưởng của quá khứ, cảm giác này là thọ của quá khứ, suy nghĩ là hành, nếu suy nghĩ về quá khứ thì hành này thuộc về quá khứ cho nên đó là một sự phóng tâm, vọng tưởng, lúc đó mình trở về chánh niệm "chú tâm vào bước đi, đừng lo nghĩ ăn uống thì coi chừng té". Đức Phật dạy trong Thân Hành Niệm phải biết rõ việc mình đang làm, khi đi phải rõ biết mình đang đi, khi đang đứng biết rõ mình đang đứng…

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Mình đem lời kinh để nhắc nhở bản thân, mình đem sự tác ý quay trở về ngay giây phút hiện tại, trú tâm vào Thân Hành Niệm. Nếu nhớ lại đã từng tiếp xúc với cái gì đó thì đó là xúc tưởng, nhớ hình bóng là sắc tưởng, nhớ cảm giác là những hình bóng của thọ, tưởng lại những cảm giác đó.

Câu hỏi: "Nếu tai nghe tiếng đàn Guitar, nhĩ thức sinh ra rồi sinh ra nhĩ xúc nhưng cùng lúc này mắt con cũng nhìn thấy đàn Guitar đó thì tưởng trong con là rỗng không, không hề có tưởng về cây đàn hay những gì liên quan đến nó. Có phải do con mắt đã nhìn thấy hình ảnh thực tế nên phá tan cái tưởng bên trong không ạ?"

Duyên sanh pháp của lỗ tai: Do duyên có lỗ tai, có âm thanh sanh khởi ra sự rõ biết âm thanh (nhĩ thức). Ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc với nhau là nhĩ xúc. Do có sự tiếp xúc sanh khởi ra cảm giác gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó có thanh tưởng, thanh tư, tức là hình bóng của âm thanh, suy nghĩ về âm thanh đó hiện trở lại. Như vậy do có tai nghe tiếng đàn sanh khởi lên sự rõ biết âm thanh, ba pháp này giao tiếp với nhau, đó là sự tiếp xúc của tai sanh ra cảm giác, đương nhiên tiếng nhạc sẽ có cảm giác dễ chịu. Cùng lúc mắt nhìn đàn nhưng tưởng lại rỗng không là do tu tập để phá sắc tưởng đó, đây là sự thực tập vô ngã tướng.

Ví dụ khi đi ra ngoài mà thấy có món đồ vừa ý, khi trở về nhà hình bóng món đồ đó hiện ra trong tâm, trong lòng cứ thích rồi muốn trong khi món đồ đó không cần thiết, lúc đó dùng trí huệ quán chiếu phá hình bóng, sắc tưởng trong tâm, quán chiếu tính vô thường, biến hoại, tan nát của nó, cuối cùng nó cũng trống không, có gì đâu mà để nó thúc giục, ám ảnh mình hoài. Mình quán chiếu tính vô thường, đoạn diệt, trống rỗng của nó, đó là quán về vô ngã, trống không để phá sắc tưởng trong tâm vì chúng ta bị sắc ám ảnh, bị những âm thanh, con người, cảm giác ám ảnh. Phải dùng sự tu tập để phá vì có những cái ở trong tâm mình đã rất lâu, có khi nhiều năm thậm chí mấy chục năm hoặc cả một cuộc đời mà hình bóng đó không tan biến được nên phải có sự tu tập để phá nó.

Đi sâu hơn là phá hình ảnh thân kiến của chính mình, điều này rất sâu sắc nhưng cũng rất thực tế. Sáng dậy soi gương chỉnh trang đầu tóc rồi cười "mặt mình xem cũng được", thấy có vẻ thích hình bóng trong gương đó. Bây giờ tu tập vô ngã, phá kiến chấp về thân thì phải tác ý:

"Hình bóng này do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành nên vô thường, tan hoại, hủy hoại. Không bao lâu nữa sẽ nằm dưới đáy mồ thành bộ xương hoặc thành đống tro tàn. Gương mặt này không được bền lâu, gương mặt này sẽ trở thành đầu lâu, trở thành đống tro, trở thành cát bụi".

"Con xin xả bỏ cái tâm luyến ái, bám chấp vào gương mặt này. Con xin từ bỏ, buông xả với tấm thân vô thường, tan nát, biến diệt này. Chính vì hình bóng này mà vô minh và tham ái mới hình thành, chính vì ảo ảnh này mà thân kiến cứng chắc, bám chặt. Chính vì hình ảnh này là dục, tham, ái sanh và chấp thủ sanh. Chính vì hình ảnh này mà đời đời kiếp kiếp sanh sanh tử tử từ vô thỉ đến nay con không ra khỏi được sắc uẩn. Nguyện cho con thành tựu thánh trí tuệ, nhìn thấu được bản chất trống không, trống rỗng của thân xác này để buông xả tất cả tham luyến, chấp thủ, đam mê, dính chặt trong một thân xác đầy bất tịnh, máu mủ, gan ruột, phân và nước tiểu này. Con xin buông xả, con xin viễn ly, con xin được thoát ra thân trống rỗng”.

Thân trống rỗng không ai trong đó,

Chỉ có tim gan, máu, thịt, xương,

Phủ ngoài một lớp da trơn láng,

Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.

Thân trống rỗng này không còn một cái ta nào trong này cả, chỉ là những cảm giác, nghĩ tưởng, sự chấp thủ, vô minh và tham ái rồi đau khổ, nhận lấy những nghiệp quả sầu bi. Thân này chỉ là một đống máu mủ, tim gan, phèo phổi, phân và nước tiểu nhưng vì lớp da mặt phủ ngoài nên tất cả chúng ta bị lớp da này lừa gạt, lừa dối. Chỉ cần rọc lớp da này ra, lột da xuống thì thật sự nhơ nhớp, tanh hôi, bất tịnh, chỉ là một đống bầy nhầy chứ không có ai, không có cái ta nào trong đây. Chỉ là 32 thể trược chất chứa, do chấp thủ mà hình thành cái ảo tưởng về tự ngã, ảo tưởng về tự thân, ảo tưởng về một cái tôi rồi khát ái, chấp thủ, hơn thua, sân si, ganh tị, khen mình chê người, dương dương tự đắc rồi lại sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, tính toán, sợ hãi và khổ đau tiếp diễn và tiếp diễn tới vô tận. Sự bất tận của dòng luân hồi này chính là sự ám ảnh về một cái tôi.

Hãy lạy sám hối diệt ngã mỗi ngày: "Xin cho con xả bỏ cái tôi này, cái ta, tao, mi. Chính vì nó mà vợ xa chồng, mẹ con không nhìn mặt nhau, huynh đệ tương tàn, vong ơn bội nghĩa, tan nát tất cả tình thương, chính vì cái tôi ác độc, cái tôi vô minh, si mê này mà hủy hoại tất cả đạo đức, nhân nghĩa, tình thương trên cuộc đời này. Con nguyện con xả bỏ cái tôi này, con buông bỏ, rời xa cái tôi này, con phá vỡ cái tôi, cái bản ngã si mê, ác độc này". Sau đó lạy xuống và phát nguyện, đọc bài Sám Hối Diệt Ngã, mỗi ngày phải bào mòn cái tôi này, bắt nó khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhường, khiêm nhã. Năm khiêm hai khéo phải được thực hiện nhuần nhuyễn, thiện xảo và phải được thành tựu.

Mọi người có thấy pháp của Đức Phật tuyệt vời không? Nếu không học pháp này thì không ai có thể làm cái tôi của mình cúi xuống được, ngay cả cha mẹ mà mình còn hờn giận, trách móc trong khi mình chưa làm được gì cho họ, đợi đến cha mẹ chết rồi thì lạy làm gì nữa. Cho nên phải lạy từ bây giờ, hãy xem lại những bài Tứ Trọng Ân 49 ngày, Sự Ra Đi An Lành Của Mẹ, Tri Ân và Báo Ân, xem để tập hạ xuống cái tôi của mình và mình sẽ thấy hạnh phúc, bình an, sẽ thấy phép màu gắn kết tình thâ. Đối với ngay cả người oán ghét mình thì mình cũng thực tập được tâm từ, tâm hiền. Hãy nỗ lực và hành trì.

Câu hỏi: "Thưa thầy thức có mặt do căn tiếp xúc với trần nhưng nếu ngồi thiền hai tay đan vào nhau hoặc khi rửa mặt thì hai tay chạm vào mặt, lúc này chỉ có căn của thân, không có xúc trần. Ta biết rõ hai tay đang chạm vào nhau hoặc biết rõ tay đang chạm vào mặt vậy duyên sanh pháp sẽ như thế nào ạ? Bình thường mình sẽ nói do căn thân tiếp xúc với xúc trần nên có thân thức là sự biết rõ, nhưng ở đây không có xúc trần. Như vậy là thân thức biết rõ sự xúc chạm hay ý thức? Thọ; tưởng; hành sẽ như thế nào ạ? Nếu là thân thức biết rõ thì khi con có ý hành “hai tay đan xen nhau” thì lúc đó sự rõ biết là ý thức phải không ạ?"

Phật tử này chưa nắm rõ được duyên sanh pháp của thân. Khi ngồi thiền, hai tay để lên nhau chứ không phải đan vào nhau nên có sự tiếp xúc của hai tay, chỗ đụng chạm đó là xúc. Xúc tức là sự tiếp xúc, sự đụng chạm. Nói về duyên sanh pháp của thân: Duyên có thân, có sự đụng chạm, khởi lên sự rõ biết đụng chạm đó – ba pháp này hội tụ, giao thoa trở thành sự tiếp xúc của thân là thân xúc, từ đó khởi lên thọ do thân xúc sanh, tức là cảm thọ, cảm giác do thân tiếp xúc sanh ra. Sau đó có xúc tưởng, xúc tư, tức là hình bóng của cảm giác sẽ hiện khởi trong tâm và suy nghĩ về cảm xúc đó sanh ra. Khi nắm vững được duyên sanh pháp sẽ thấy rất rõ.

Khi đang ngồi trên tọa cụ, để ý lại thì thấy bị vướng tấm áo tràng nên mình điều chỉnh lại áo, qua đó, chúng ta nhận thấy sự tiếp xúc chân của mình chạm vào tọa cụ. Như vậy là do duyên có thân, có sự đụng chạm giữa chân và tọa cụ khởi lên sự rõ biết sự đụng chạm đó – ba pháp này tiếp xúc với nhau có cảm giác hơi khó chịu vì mỏi hoặc tê, đau chân, đó là thọ do thân xúc sanh. Khi đi về hoặc hôm sau nhớ lại điều đó, nhớ lại sự tiếp xúc bị vướng áo hoặc bị tê chân thì đó gọi là xúc tưởng, hình bóng đó hiện trở lại, mình suy nghĩ về điều đó là xúc tư.

Cô Linh rất chân thành cung kính Tam bảo, khi Minh Thành đến sân bay thì cô cầm hoa ra đón rất xúc động và lạy xuống, cô đem cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về Tam bảo lạy xuống. Bàn tay cô lạy xuống chạm đến đầu ngón chân của quý thầy, đỉnh đầu và trán chạm xuống đất, cô lễ 3 lễ trong dòng nước mắt cảm xúc hạnh phúc. Như vậy do duyên có thân, có sự tiếp xúc của trán chạm xuống mặt đất, có sự rõ biết sự đụng chạm đó, ba pháp này giao thoa, hội tụ gọi là sự tiếp xúc của thân. Cái trán cô chạm vào đầu ngón chân quý thầy, đó là thân xúc sanh ra cảm thọ cung kính, biết ơn, hạnh phúc, như vậy là thọ do thân xúc sanh. Sau khi cô về hình bóng đó còn lại trong tâm mình, cô sẽ nghĩ về cảm xúc đó gọi là xúc tưởng, cô suy nghĩ về cảm xúc đó là xúc tư.

Ví dụ mình đi chơi mà phải ngồi xe 8-9 tiếng có mỏi lưng, đau chân không? Cũng giống vậy, được tu cho nên dù đau vẫn vui "cái đau này đưa đến thiện pháp, đưa đến trí huệ, đưa đến phước lành, công đức cho nên thân là khổ thọ nhưng tâm thì lạc thọ", vì thế phải phân biệt được cảm thọ của thân và của tâm. Thân khổ nhưng tâm vui, có khi thân vui nhưng tâm khổ, trong cái vui khổ đó còn có thiện hay bất thiện, tu tập từ từ rồi sẽ phân biệt được rạch ròi cái nào là cảm thọ thân, cái nào là cảm thọ tâm, cái nào là cảm thọ thiện pháp và cái nào là bất thiện pháp. Nếu là thiện pháp thì phát huy, tăng trưởng, phát triển, tu tập viên mãn đầy đủ.

Khi chúng ta tu học đúng Chánh Pháp thì cảm thọ sẽ được khơi mở. Dòng cảm thọ trí tuệ, thiện pháp của mình lâu nay bị bịt kín, tắc nghẽn giống như long mạch không được phát hiện. Khi tu đúng Chánh Pháp sẽ đào xuống, khơi lên, mở ra trúng long mạch sẽ bung lên tất cả dòng nước mát, ngọt ngào nhất tiềm ẩn bên dưới. Cho nên cảm xúc của thiện pháp, trí huệ, từ bi, cảm ơn, nhớ ơn, đền ơn là dòng long mạch, pháp mạch, Thánh trí mạch trong thân tâm sẽ được Thánh Pháp khơi mở, làm tuôn trào dào dạt thân tâm. Và mình được thấm nhuần Thánh trí huệ, thấm nhuần thiện pháp, cảm giác hạnh phúc, cảm giác của việc chạm tới sự thật và nước mắt sẽ tuôn trào, những dòng cảm giác xúc động mãnh liệt trong thân tâm sẽ được tưới tẩm, tu tập quảng đại viên mãn trong Thánh Pháp này.

Cho nên quý Phật tử hãy hân hoan, hạnh phúc, sung sướng lên, tự khích lệ mình tăng trưởng, tinh tấn, nỗ lực hành trì Chánh Pháp vô thượng này. Đó là con đường độc nhất đưa chúng sanh vượt khỏi sầu ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn chính là con đường Tứ Niệm Xứ, Thánh trí ngũ uẩn. Chính là con đường phá trừ thân kiến, đập vỡ cái tôi. Chính là con đường nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si. Chính là con đường nuôi lớn, tăng trưởng, phát triển và làm cho sung mãn từ tâm vô lượng sẽ lan tỏa cùng khắp thân tâm từ đỉnh đầu đến gót chân, bao phủ những người xung quanh mình, lan tỏa và thấm nhuần tất cả những người trong thân tộc gia quyến của mình, lan tỏa cùng khắp tất cả chúng sanh nào có nhân duyên với Thánh Pháp này. Hãy cố gắng lên, nỗ lực lên, tinh tấn, phấn khởi, hân hoan và hạnh phúc để bước trên con đường Thánh Pháp vi diệu này.

./.