Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền Quán - Tự Mình Làm Hòn Đảo - Thánh Trí Ngũ Uẩn

2026-03-03 00:55:48
Nikāya Thiền Quán

Tự Mình Làm Hòn Đảo

Thánh Trí Ngũ Uẩn

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tự mình làm hòn đảo PAGEREF _Toc182931252 \h 1

II. Thánh Trí Năm Uẩn PAGEREF _Toc182931253 \h 4

III. Trình pháp PAGEREF _Toc182931254 \h 7

IV. Tự mình làm hòn đảo 2 PAGEREF _Toc182931255 \h 14

I. Tự mình làm hòn đảo

Sư Phụ: Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta chiêm nghiệm Tương Ưng Uẩn, phẩm Tự Mình Làm Hòn Đảo, kinh Tự Mình Làm Hòn Đảo.

"-- Hãy sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỳ-kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác.

Với những ai sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỳ-kheo, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Lấy pháp làm hòn đảo, lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác, hãy như lý quán sát: 'Sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?'

Và này các Tỳ-kheo, sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán (samamupassati) sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Tự Mình Làm Hòn Đảo, I. Tự Mình Làm Hòn Ðảo)

Kẻ phàm phu không được nghe, không được học, không được thực hành Thánh pháp Nikāya, không gặp bậc chánh tri kiến, bậc chân nhân, không tu tập pháp của các ngài cho nên nhìn thân xác này cho rằng đây là mình, là ta, là tự ngã, nhìn gia sản này, những vật sở hữu này cho nó là ta, cho thân xác này là ta, ta ở trong thân xác này, thân xác này chính là ta, đó là ý nghĩ của câu "quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc".

Quán sắc như là tự ngã nghĩa là nhìn thân xác này như là mình hay mình là thân xác này hay thân xác này ở trong cái ta của mình hay mình ở trong thân xác này, chính vì cái nhìn sai lầm như vậy nên khi thân xác này biến hoại, đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên. Khi thân này bị tai nạn, khi bị bệnh, khi thân này bị tan hoại, bị biến đổi thì người này sẽ đau khổ, khóc lóc, sợ hãi, hoảng hốt, kinh hoàng.

"Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ...

Vị ấy quán tưởng như là tự ngã...

Vị ấy quán các hành như là tự ngã...

Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức này của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi thức của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Tự Mình Làm Hòn Đảo, I. Tự Mình Làm Hòn Ðảo)

Người này xem những cảm giác đó là mình, là của mình, mình ở trong cảm giác đó, cảm giác đó ở trong mình, cảm giác đó là mình, mình là cảm giác đó, kẻ vô văn phàm phu không biết Thánh trí ngũ uẩn, không nhận diện ngũ uẩn nên nhận lầm cảm giác. Ở trên là nhận lầm thân xác, còn bây giờ là nhận lầm cảm giác, do vì không gặp bậc chánh kiến, bậc chân nhân của Thế Tôn một cách chân truyền cho nên họ phải nhận những cảm giác đó là mình, mình là cảm giác đó, cảm giác đó ở trong mình, mình ở trong cảm giác đó, trong cảm giác đó có ta trong đó, có tao trong đó, có mình trong đó, có tôi trong đó, có bản ngã trong đó. Khi cảm giác đó biến đổi, thay đổi, đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên.

Vị ấy trong cho rằng những hình bóng trong tâm là mình, mình ở trong những hình bóng đó, những hình bóng đó ở trong mình, vị ấy cho rằng mình là các tưởng đó, các tưởng đó là mình, trong các tưởng đó có ta, có tôi, có mình trong đó và khi các tưởng này biến hoại, đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên.

Vị ấy cho những suy nghĩ đó là mình, mình là những suy nghĩ đó, những suy nghĩ đó ở trong mình, mình ở trong những suy nghĩ đó, tôi là những suy nghĩ đó, những suy nghĩ đó là tôi, tôi ở trong suy nghĩ đó, suy nghĩ đó ở trong tôi. Mọi ngõ ngách đều được Đức Phật phơi bày, trình bày để chúng ta thấy được góc độ của sự chấp thủ phàm phu, mê lầm, ngộ nhận, vô minh, si ám của chúng sanh. Ngày xưa khi đọc kinh con thường bỏ qua những câu được lặp lại như vầy nhưng giờ thì con thấy được rằng không thể bỏ bất cứ một chữ nào, chỉ có đọc kĩ như vầy mới đả phá được sự vô minh, chấp thủ, u mê, si ám của chúng sanh. Mỗi một uẩn được Đức Phật lặp lại sáu lần, cho suy nghĩ đó là mình hay mình là suy nghĩ đó, hay suy nghĩ đó ở trong tôi hay tôi ở trong suy nghĩ đó, như vậy khi suy nghĩ của vị ấy biến hoại, đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên.

Vị ấy cho rằng nhận thức, rõ biết này là tôi hay tôi có rõ biết này, rõ biết này ở trong tôi, tôi ở trong cái rõ biết này. Khi cái rõ biết đó bị biến hoại, đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, nào sẽ khởi lên, chúng ta nhìn thấy thầy Pháp An là tấm gương, mắt ông không còn thấy gì nữa, đó là khi thức bị biến hoại, đổi khác, nhãn thức không còn phương tiện gá vào để phát ra nhận thức nữa, giống như bóng đèn bị hư, tuy rằng có điện nhưng bóng hư không dùng được nữa, con mắt ví dụ cho bóng đèn, nhãn thức ví dụ cho điện, vì nó là pháp duyên sanh cho nên khi bóng đèn hư, dây điện bị hư thì không phát ra ánh sáng được. Nếu một người không biết tu sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não, sẽ bứt tóc, đấm ngực, sẽ sân si, bực bội, sân hận vì sự không thấy của mình, nhưng vì có tu biết được ngũ uẩn, biết được sự vô thường của các sắc pháp này nên thầy Pháp An được nhẹ nhàng, được an lạc, ít sầu, bi, khổ, ưu, não.

"Này các Tỳ-kheo, biết sắc là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả sắc xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỳ-kheo được gọi là (Tadanganibbuto) vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Tự Mình Làm Hòn Đảo, I. Tự Mình Làm Hòn Ðảo)

Ưu não là buồn lo, lo lắng và buồn phiền, không còn ưu não thì sống được an lạc, vị ấy thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái thứ vô thường, biến hoại nên vị ấy ly tham, hướng đến sự chấm dứt sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tâm vị ấy hướng đến sự ly tham, sự đoạn diệt vì vị ấy thấy nó là pháp biến hoại, vô thường. Vì tâm như vậy nên vị ấy càng thấy rõ hơn tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức xưa và nay là vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại, do thấy với chánh trí tuệ như vậy nên sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận, do chúng được đoạn tận nên vị ấy không bị ưu não, do không ưu não nên vị ấy sống an lành, an vui, an ổn, do vị ấy sống an lạc như vậy được gọi là vị Tỳ-kheo đã lắng dịu mọi tướng phần, nhất hướng Niết-bàn.

II. Thánh Trí Năm Uẩn

Sắc thân được lắng dịu, được an tịnh, các cảm giác được lắng dịu, được an tịnh, mọi hình bóng trong tâm được an tịnh, lắng dịu, mọi suy nghĩ được an tịnh, lắng dịu, mọi sự rõ biết đều an tịnh, lắng dịu, như vậy là nhất hướng Niết-bàn. Niết-bàn là Khổ-Diệt Thánh Đế, ở trên Đức Thế Tôn nói là ly tham, đoạn diệt nghĩa là đoạn diệt khổ, đó cũng là Diệt-Khổ Thánh Đế, hướng đến sự đoạn diệt khổ uẩn này, sống một đời sống luôn hướng đến sự đoạn diệt tham, sân, si, vô minh, bản ngã, sống một đời sống đưa đến sự chấm dứt các uẩn, hướng đến sự ly tham, nhàm chán, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn, đó là tâm của đệ tử Như Lai, tâm tư của những người đệ tử bậc Thánh chân chánh.

"Này các Tỳ-kheo, biết thọ là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt, vị ấy thấy tất cả thọ xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỳ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn..

Này các Tỳ-kheo, biết tưởng là vô thường...

Này các Tỳ-kheo, biết các hành là vô thường...

Này các Tỳ-kheo, biết thức là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả thức xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỳ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Tự Mình Làm Hòn Đảo, I. Tự Mình Làm Hòn Ðảo)

Vị ấy thấy tất cả những thọ; tưởng; hành; thức này từ xưa cho đến nay đều là vô thường, khổ đau, đều là thứ chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy nên tất cả buồn đau, sầu khổ, bất an đều được chấm dứt, gọi là đoạn tận, do chúng được đoạn tận nên vị ấy không còn lo lắng buồn phiền, do không còn buồn phiền nên vị ấy sống yên vui, an lành, do sống yên vui nên vị ấy được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần. Mọi tướng phần này cũng là chỉ cho ngũ uẩn. "Hãy sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỳ-kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác", pháp ở đây là trí tuệ về ngũ uẩn, sự thấy biết đúng sự thật về thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, cái thấy biết đó, cái trí tuệ đó chính là pháp, đó là nói trực chỉ, ngắn gọn nhất, còn nói rộng ra là Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn Ngũ Lực, Thất Bồ-đề phần, Bát Thánh Đạo.

Làm gì có ai để nương dựa được khi sắc; thọ; tưởng; hành; thức này biến động một cách bất thường, mau chóng, đột ngột? Nếu mình không có trí tuệ sắc bén để kiểm soát, quán chiếu, chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận thì làm sao người bên ngoài chạy lại kịp? Chính mình còn để cho nó qua mặt liên tục chứ đừng nói chi những cái mình không thấy không biết. Những cái mình thấy mình biết trong khi nhận diện mà nó còn qua mặt mình, còn lừa dối mình thì làm sao một mình bên ngoài có thể giúp mình nhiếp phục, đoạn tận trong suy nghĩ, nhận thức, cảm giác của mình được?

Cho nên hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác, hãy lấy cái pháp nhận diện ngũ uẩn đó làm hòn đảo đó, hãy lấy trí tuệ soi chiếu ngũ uẩn đó làm chỗ nương tựa chứ đừng nương tựa cái gì khác. Nhìn ra ngũ uẩn, nhìn ra lậu hoặc, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch bằng sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, hãy như lý quán sát tất cả sự đau khổ, sự bất an trên cuộc đời này có nguồn gốc từ sự nhận lầm ngũ uẩn, ngộ nhận, nhìn sai, lầm chấp.

Nếu chúng ta luôn nhắc nhở tác ý, luôn suy tư, quán chiếu, luôn nhìn bằng trí tuệ mà bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho chúng ta rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, những thân xác, cảm giác, tư tưởng, nhận thức này là cái không đáng để tham, là cái cần phải được chấm dứt và mình thấy tất cả những thứ này từ xưa đến nay chỉ là vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại. Nếu thấy được như vậy thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ được đoạn tận, sự lo lắng, buồn phiền, sự khổ sầu sẽ được chấm dứt, sẽ có một sự sống an lành, an lạc, lắng dịu.

Chúng ta vừa thiền quán xong bài kinh Tự Mình Làm Hòn Đảo, con mời đại chúng nhận diện ngũ uẩn, trình pháp, nhất là các vị mới về tu học như thế nào, vừa rồi thọ; tưởng; hành sanh khởi ra sao trước lời dạy của Đức Thế Tôn.

Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con pháp danh là Hiền Hiền, con xin được trình pháp, ngũ uẩn hiện tại của con là thân con đang đứng giữa đại chúng, còn cảnh vật ở đây là sắc, cảm giác của con là đang hồi hộp, rất vui được đến đây để học pháp để biết về thân tâm của mình. Hình bóng của con hiện tại là sư phụ ạ, suy nghĩ của con là đang và đã học được những bài học gì khi đến Linh Quy Pháp Ấn. Con xin chia sẻ từ ngày con đến Linh Quy Pháp Ấn đã học được những gì ạ.

Trước khi con đến Linh Quy Pháp Ấn thì con được sư cô Diệu Ngát chia sẻ, trước khi đến tu học thì con cũng chưa biết về chùa, về sư phụ và về pháp, con chỉ biết là con thích đến chùa, con thấy được an lạc, vui vẻ. Bây giờ là 13 ngày con ở Linh Quy Pháp Ấn và con đã học được rất nhiều điều mà trước khi đi con không nghĩ là sẽ học được như vậy, đem về cho bản thân những giá trị vô biên ấy. Con đến đây thì con học nhận diện được ngũ uẩn và được thực hành ngũ uẩn, con nhận diện được thân tâm mình, trước đây cái gì cũng cho là mình chứ không biết phân biệt thân và tâm.

Sau khi nhận biết ngũ uẩn và thực hành ngũ uẩn thì con biết làm chủ cảm xúc, biết sàng lọc những gì đúng và si, con biết thực hành ba pháp rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Sau khi biết thực hành ba pháp thì con biết nhìn lại tâm của mình và quán lại thọ; tưởng; hành thức của mình trong ngày, hiện tại con học được ngũ uẩn này là vô thường mà trước kia con lại chấp vào, cho nó là mình, không biết nó là vô thường. Con cám ơn sư phụ cùng các sư thầy, sư cô đã chỉ dạy cho con có được nhiều bài học quý giá. Nam mô A-di-đà Phật.

III. Trình pháp

Sư Cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch chư đại đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng. Trước hết con xin nhận diện ngũ uẩn của con trong lúc này, sắc con đang ngồi ở đây, thọ thì thọ khổ do con bị bệnh duyên nhưng thọ tâm thì hoan hỉ, hạnh phúc, con có hình bóng ngày con được cô Huệ Đức trị bệnh cho con, ý hành con nói rằng con thật hạnh phúc, sung sướng khi những điều con suy nghĩ từ bấy lâu nay thì hôm nay đã được sáng tỏ qua những bài pháp của sư phụ, trong ba ngày nay con rất thấm thía. Nó nói là "biết khổ chưa? Mỗi lần xuống núi là mỗi lần khổ sở như vậy đó", ý thức con rõ biết tất cả những điều đó. Nếu được sự cho phép của sư phụ thì con xin trình pháp.

Thật ra từ sáng giờ cảm giác của con rất dâng trào, từ lúc con lên ngồi thiền, lạy pháp bảo là con đã khóc rồi, ba ngày nay ngày nào con cũng khóc. Sáng nay khi nghe sư phụ giảng hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình thì nước mắt con lại tuôn trào, sư phụ lại giảng cho con nghe những lời dạy của Đức Thế Tôn, hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, con đã thấm thía sự khổ của con trong những ngày con bệnh, con không nương tựa được ai khác mà tự mình phải phấn đấu, nỗ lực để lên tu học cùng đại chúng. Đức Phật còn dạy dùng chánh pháp làm ngọn đèn, chánh pháp lúc nào cũng tỏ rạng trong con, lúc nào con cũng trú trong pháp, con sống với pháp, đi, đứng, nằm, ngồi, thở những hơi thở của pháp vì con nghĩ một ngày nào đó con nghĩ nếu không còn hơi thở để tu thì con đã sống trong pháp và chết trong pháp.

Đức Phật đã dạy mình phải nghĩ, phải nhìn rõ về thân tâm mình, ngũ uẩn duyên sanh, thân là duyên sanh, thọ; tưởng; hành; thức cũng là duyên sanh, thân là vô thường, thọ; tưởng; hành; thức cũng là vô thường, thân là phiền não, thọ; tưởng; hành; thức cũng là phiền não, thân này không phải là mình, thọ; tưởng; hành; thức cũng không phải là mình vì thế con xin từ bỏ thân này. Con nghĩ từ bỏ thân này con sẽ được giải thoát, thưa sư phụ, từng lời giảng của sư phụ như xoáy vào tim con, đánh thức tất cả những suy nghĩ, tư tưởng trong thời gian qua. Khi con xa rời Linh Quy Pháp Ấn những pháp bất thiện cũng mon men đến để xâm nhập con, con đã tìm cách đẩy ra không cho nó vào tâm con, nói thì nói vậy nhưng thật ra khi sống trong một môi trường có những người luôn tìm cách quấy rối mình, làm khổ mình, phiền não mình thì rất khó để không bị ảnh hưởng.

Thời gian con xa lìa Linh Quy Pháp Ấn là 3 tháng 20 ngày, con luôn nhớ nhung ở trên đây, tư tưởng hướng về đây và lúc nào cũng mong trở về đây sớm nhất. Mãi đến 1 tây con mới lên được đây và con cảm thấy một sự an toàn, một sự bảo bọc của sư phụ cùng đại chúng, những ngày qua tuy con bệnh nhưng con rất hạnh phúc, cái đau về thân không ảnh hưởng tâm con, con đã vượt qua và chiến thắng được nó. Con xin vâng lời sư phụ và con cũng kính tri ân sư phụ rất nhiều, khi nhìn thấy sư phụ là tâm con rất dễ chịu, hạnh phúc và lúc nào cũng cố gắng tu học để không phụ ơn sư phụ đã bao bọc, che chở và thương yêu con.

Con hứa là con sẽ vâng lời của Phật, vâng lời sư phụ, lúc nào cũng nương tựa vào hòn đảo chính mình, cũng sống trong chánh pháp, không nương tựa vào một điều gì khác mà nương tựa vào chính mình, lấy pháp làm ngọn đèn sáng nhất để soi vào tu tập, hành trì, mục đích cuối cùng là nhận ra được ngũ uẩn, thấu rõ bốn sự thật Khổ-Tập-Diệt Đạo, tiêu diệt tận hang ổ của khổ uẩn này để đi đến sự nhàm chán, ly tham và từ bỏ xác thân ô uế, bẩn thỉu, hèn hạ. Con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin được nhận diện ngũ uẩn trong lúc được nghe sư phụ thiền quán, lúc mới bước vào buổi thiền quán con nghe được âm thanh sư phụ đọc lên bài kinh tự mình làm hòn đảo cho chính mình, lúc đó con có suy nghĩ bài kinh này giống như bài kinh hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, lúc đó tưởng con nghĩ về bài kinh Tật Bệnh trong cuốn căn bản trí, con có ý nghĩ tất cả những gì Đức Phật dạy đều phải quay lại nhìn nhận thân tâm, đều phải nương tựa vào chính mình chứ không phải tìm sự giải thoát ở bên ngoài.

Khi sư phụ thiền quán đến đoạn tại sao mình bị sầu, bi, khổ, ưu, não là do mình không được học, không được nghe và không được tu tập pháp của bậc chân nhân, pháp của bậc Thánh, do mình không thấy ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức nên chấp vào nó, cho đây là tôi, đây là của tôi, lúc đó con quay lại nhìn nhận hơi thở của mình. Hơi thở đi vào và đi ra chính là sự biến đổi, vô thường chính nơi thân tâm này, ý hành nghĩ nếu bây giờ hơi thở này ngưng lại không thở nữa thì toàn bộ thân tâm này sẽ tan hoại, biến hoại, cái tưởng nhớ lại hình ảnh được xem khi quán chiếu là tất cả thân này sẽ tan hoại, bị giòi bò lúc nhúc, con có cảm thọ rất sợ vì mình chưa buông bỏ được, vì mình thấy sự tan hoại từng thân phần này. Con tác ý "cái này không thể thay đổi được, chắc chắn thân này phải như vậy, không một ai có thể an toàn trong pháp già, bệnh và chết".

Khi sư phụ thiền quán đến thọ; tưởng; hành và thức đều biến hoại, đều vô thường, chính vì sự chấp thủ cho rằng ngũ uẩn là mình, là của mình thì mình mới đau khổ, lúc đó con có hình bóng về cha mẹ và người thân của mình, con nghĩ nếu lúc này nhận được tin cha mẹ mất thì mình sẽ như thế nào, cảm thọ ưu não, khổ, con mới thấy vì chấp là cha mẹ hay người thân của mình cho nên mình mới đau khổ, còn nếu nghe một người bình thường không liên quan đến mình thì tại sao không đau khổ.

Khi đó con nhìn sâu vào cảm thọ thì từ từ nó nhả ra bớt, con tác ý "sự thật là như vậy, hãy lắng nghe và hãy cố gắng tu tập để không còn chấp thủ cái thân hay người thân của tôi, cái gì là tôi và của tôi cũng khiếp cho mình đau khổ". Khi con nghe sư phụ thiền quán đến đoạn nhận diện ngũ uẩn này, làm hòn đảo cho chính mình thì con rất xúc động, thật sự trong khi tu tập thì con thấy thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn là một kho báu với con, dù có tu tập lâu đến thế nào thì đó vẫn là pháp quyết định để thấy được thân tâm mình, những pháp khác là bổ trợ. Nếu không an trú vào thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn thì mình không có cách nào để nhìn rõ được thân tâm của mình, nó là pháp đầu tiên được học và cũng là pháp căn bản và quan trọng.

Con thấy được sự quý báu của mình khi được học cái pháp quan trọng này, cảm xúc trong con run lên, con tác ý "phải cố gắng bám chắc vào thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn, khi được nghe pháp thường xuyên hay được tu tập với đại chúng thì cái căn bản cuối cùng cũng phải tự mình nhìn nhận thân tâm để nhiếp phục, đoạn trừ được tham ưu". Lúc đó con có ý nghĩ về bài kinh Tứ Niệm Xứ, con thấy quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm để mục đích là nhiếp phục tham và ưu, chính cái pháp nhận diện ngũ uẩn để mình thấy ra tham và ưu để mình nhiếp phục. Con xin chân thành tri ân sư phụ, quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng, bài pháp sáng nay con rất tâm đắc và con sẽ lấy đây là hành trang và tư lương trong sự tu tập của bản thân. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con bạch trên sư phụ, con bạch trên quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin được nhận diện ngũ uẩn trong bài thiền quán của sư phụ mới dạy sáng nay. Bạch sư phụ, khi con nghe sư phụ dạy thiền quán tự mình làm hòn đảo cho chính mình, tự mình thắp đuốc lên mà đi thì cảm xúc trong con dâng trào, sắc của con biết con đang ngồi trong đại chúng, được nghe lời dạy của Thế Tôn qua sự truyền trao của sư phụ, con rất hỷ lạc nhưng đến khi sư phụ dạy thiền quán về thân này không phải là mình, mình không phải trong thân này, sắc này không phải là mình, mình không phải trong sắc này, thọ này cũng không phải là mình, mình cũng không phải trong thọ này, tưởng này cũng không phải là mình, mình cũng không phải tưởng này. Nói tóm lại tất cả là vô thường, vậy mà lâu nay con cứ nhận đây là mình nên con phải khổ, khi nghe sư phụ dạy thì cảm thọ con thật đau đớn, thật ưu não cho mình, bao lâu nay mình không nhận ra. Bây giờ về đây con đã nhận diện được ngũ uẩn, khi nghe lời dạy của sư phụ con cảm niệm sâu sắc về thân ngũ uẩn này, khi sư phụ dạy mình phải dùng Thánh trí để diệt tham ưu, tham ái, phải ly tham, lấy pháp để sửa đổi thân tâm mình để thân tâm được an tịnh, lắng dịu thì cảm thọ con được dịu lại, con trú vào đó để làm lắng dịu thân tâm.

Con tự nhắc mình phải lắng dịu, thanh tịnh để nghe từng lời dạy của sư phụ, lấy đó làm hành trang để sửa mình, thanh lọc thân tâm mình, ly tham, ly sân, không dính mắc vào tài sản bên ngoài và cũng không dính mắc vào thân thể này, không dính mắc vào năm uẩn này, không dính mắc vào tất cả các sự vật trên đời này vì tất cả đều không phải là mình. Con nghĩ nếu dựa theo trí năm uẩn, dựa theo lời dạy của Đức Phật theo sự truyền dạy của sư phụ là tự mình làm hòn đảo cho chính mình, tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, không thể nương dựa một ai khác mà chỉ có nương dựa vào pháp để tu tập để thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Con thấy hình ảnh của Đức Phật và chư Thánh Tăng đang hiện diện ở đây, ý hành con nghĩ từ nay trở đi phải cố gắng theo lời dạy của Đức Phật sửa mình trong từng giờ, từng phút, từng ngày mặc dù thân tâm này chứa một ổ bệnh tật, chứa một nỗi khổ mà từ lâu nay không biết, bây giờ biết thì phải cố lên, thân tâm này đã già rồi, cái chết kề cận rồi, cố gắng lên để làm một người đệ tử chân chánh của Đức Phật. Cái thức của con rõ biết từng cái thọ; tưởng; hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đó là nhận diện ngũ uẩn của con trong khi sư phụ dạy thiền quán.

Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin được nhận diện ngũ uẩn trong lúc thiền quán, khi bước vào buổi thiền quán sắc thân tứ đại con ngồi an trú vào thực hành ba pháp và cảm giác toàn thân, nhìn lại con thấy sự động chuyển hơi thở vào ra, ý hành con khởi lên "thân tứ đại này là một sự vay mượn, hơi thở đang vào ra, nếu trục trặc thì tứ đại này sẽ ngã xuống". Con thấy được sự vô thường của sắc thân này khi con nhìn lên màn ảnh, do duyên có mắt và hình ảnh của sư phụ trên màn hình, khởi lên sự rõ biết hình ảnh, ba pháp hội tụ, tiếp xúc thì lúc đó sanh khởi trong con cảm thọ dâng lên ngay lồng ngực, con lại quán chiếu về trí sanh diệt.

Tuy rằng thầy đang ngồi đó nhưng một ngày nào đó hình bóng này sẽ không còn nữa, dần dần thầy sẽ già, hơi thở và giọng nói sẽ yếu dần đi, không còn mạnh mẽ như bây giờ nữa, thầy sẽ nằm xuống trên gường bệnh, đến đây cảm thọ con xúc động. Trong tâm con có rất nhiều hình bóng, nào là những người chết vì đại dịch, những hình bóng ông bà, cha mẹ con đang già yếu, bệnh tật, di ảnh những người thân con trên bàn thờ, cảm thọ cứ dâng trào lên, ý hành con tác ý "đúng là như vậy".

Khi thầy đọc thiền quán hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình thì lúc này trong con là một thanh tưởng là một câu nói của thầy lúc trước là hãy quay lại nương tựa chính mình, thanh tưởng cứ vang trong đầu con "ai thấy pháp người đó thấy ta, ai thấy ta người đó thấy pháp, đang thấy pháp là thấy ta, đang thấy ta là thấy pháp". Chỉ có một con đường là nhìn lại chính mình thì mới phát giác ra những sắc; thọ; tưởng; hành; thức sanh diệt thế nào, biến đổi thế nào, bản chất của nó là khổ, vô thường, biến đổi, vô ngã, từ đó mình mới nhàm chán, có hướng thoát ra, từ bỏ.

Nhưng muốn thực hành được những điều này thì mỗi ngày phải có sự quán chiếu tứ đại, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán ba mươi hai thể trược, chính những Thánh trí tuệ như vậy mới giúp cho mình nhàm chán, hướng đến từ bỏ, thoát ra với ngũ uẩn, tuy nhiên trong cuộc sống hằng ngày cách nhìn của mọi người đều theo chiều hướng vô minh, họ cho sắc pháp này, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức bên trong đều theo chiều vô minh, cho là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên con phát hiện ra một chiều hướng nữa trong bài thiền quán của sư phụ là phải thay đổi nhận thức vô minh để chuyển sang thấy biết bằng trí tuệ bậc Thánh, đó là phải thấy được ngũ uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã, là trống rỗng, từ đó mới có hướng xuất ly khỏi ngũ uẩn.

Con thấy cái thức rất nguy hiểm, nếu mình biết theo chiều dục, ái, sân si, bản ngã thì rất nguy hại, còn nếu biết theo trí tuệ bậc Thánh thì nó sẽ giúp cho mình hướng đến nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Đó là thọ; tưởng; hành; thức trong khi con nghe thầy thiền quán, con tác ý như vậy, mong thầy chỉ dạy thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin được nhận diện ngũ uẩn, sắc uẩn con đang đứng, do duyên xúc ngũ uẩn con vận hành, con tập an trú nghe những lời pháp, những lời kinh từ âm thanh nơi thầy, cảm thọ tâm có dòng hỷ lạc trong lúc nghe. Những lời nói, âm thanh, những hình bóng, những xác thân vô thường, ốm đau, bệnh tật, hoạn nạn, trong đó ý hành có dòng suy nghĩ "đây là khổ, có sanh, già, chết, sầu, bi, ưu, não là khổ".

Từ chỗ khổ con an trú, lắng nghe pháp, tập an trú tâm trong pháp, khi con nghe rõ, biết rõ được lời nói, âm thanh "tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, lấy pháp làm chỗ nương tựa, tự thân làm hải đảo cho chính mình" thì dòng cảm thọ tiếp tục sanh khởi, ý hành nói "an lạc thay". Khi ý hành sanh khởi như vậy thì dòng cảm thọ có sự thay đổi và thức con rõ biết trước mặt con hình bóng, con quay lại an tịnh, lắng dịu. Con xin cảm ơn. Mô Phật, con xin hết.

Cô Nguyên Thủy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính kính bạch trên thầy tôn kính, con cung kính kính bạch trên chư tôn hiền đức Tăng Ni cùng quý chư hiền. Đệ tử con pháp danh Nguyên Thủy xin trình pháp nhận diện ngũ uẩn trong thời thiền sáng nay.

Thức con rõ biết trước mặt là hình ảnh của thầy tôn kính, thọ lúc này tỉnh táo, thanh tưởng là âm vọng của thầy truyền đạt cho con bài pháp, hành là con an trú trên bài pháp của thầy "hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình, hãy nương tựa nơi chính mình", thật sự mà nói bài pháp này là một bài pháp con rất tâm đắc vì lời Phật dạy trong kinh tất cả pháp là do duyên sanh, duyên chia ly là diệt, khi duyên sanh thì trùng trùng duyên khởi, cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái kia cũng diệt cho nên chúng con nhờ những lời dạy của thầy chúng con đã gặp được bậc chân nhân, nghe lời của bậc chân nhân để hiểu sâu sắc thêm bốn Thánh trí ngũ uẩn. Bốn Thánh trí đó đã soi rọi cho chúng con biết về sanh, lão, bệnh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não, tất cả năm thủ uẩn là khổ, chính vì vậy khi nắm rõ được những pháp đó thì chúng con không chấp trước và dính mắc vào đó. Hằng ngày chúng con luôn niệm câu thần chú "cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Bốn Thánh trí đã soi rọi cho chúng con thấy cái gì sanh rồi cũng diệt, cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan cho nên hằng ngày con quán chiếu, tư duy pháp bất tịnh, quán vô thường, quán khổ, ưu não để làm giảm thiểu lòng dục, nhiếp phục lòng tham, sân si. Con duy trì định tướng những lời Đức Phật dạy để con đưa thân về tâm, bản thân con nhìn thấy sự sanh diệt của chúng vì nhìn lại thân con từ khi sanh ra đến giờ qua nhiều giai đoạn thì con cũng là người có thể lực sung mãn, cho đến khi sự vận hành của ngũ uẩn trong thân những pháp vô thường vận hành như vậy mà con không nhận ra nó thì có bệnh tật thì con sẽ đau khổ, con luôn quán chiếu tư duy để từ bỏ lòng dục, tham, sân, ái, luôn nghĩ về những pháp hữu vi là vô thường làm kim chỉ nam trong sự tu học hiện tại. Đây là thọ; tưởng; hành; thức mà con đã nhìn ra trong lời dạy của thầy, con những cái vô minh con chưa nhìn ra được, kính mong trên thầy chỉ dạy thêm cho con. Con thành kính tri ân, nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

IV. Tự mình làm hòn đảo 2

Sư Phụ: Bài kinh hôm nay là chúng ta mới thiền quán chứ chưa học phần giảng dạy, ý nghĩa tổng quát của bài kinh này là chúng ta không nương dựa bất cứ một ai ở bên ngoài được nếu mình không nắm được pháp. Chúng ta nghe sư cô trình bày nằm trong bệnh viện, cái đau đớn đó, cái sự chịu đựng thống khổ đó không một ai thay thế cho mình được dù là vợ chồng, dù là cha mẹ, dù là anh em, dù là huynh đệ, tất cả mọi thứ đều phải tự mình thôi.

Nếu mình không biết thương mình, không biết làm chỗ dựa cho mình thì gặp chuyện mình sẽ khổ đau, hãy biết thương mình thật nhiều, hãy biết lo cho mình thật nhiều, biết chăm sóc cho cảm thọ mình thật nhiều bằng trí tuệ để thấy rõ được bản chất của đời sống này, của năm nhóm này, của đống khổ lớn này để có sự nhàm chán, thoát ra. Chính chỗ đó mới là chỗ dựa vững chắc nhất đem lại sự không sầu bi, đem lại sự an lành, đem lại sự lắng dịu, chính cái đó mới là sự thương mình sâu sắc, bảo hộ cho mình sâu sắc, chỗ nương dựa vững chắc nhất chính là nương dựa vào pháp.

Con mong đây sẽ là đề mục thiền quán cho tất cả chúng ta để quán chiếu suốt ngày nay. An trú vào cảm giác toàn thân chính là hòn đảo của chính mình, nhìn thấy rõ năm uẩn vận hành, nhìn ra các lậu hoặc, cấu nhiễm rồi nhiếp phục, đoạn tận, không để nó xâm chiếm, áp đảo là chúng ta đang dựa vào chỗ dựa tối thượng, là hòn đảo vững chắc nhất cho tự thân chúng ta.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.