Thành Quả Người Xuất Gia 2 – Kinh Ratthapala – Trung Bộ
THÀNH QUẢ NGƯỜI XUẤT GIA 2
KINH RATTHAPALA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đời sống vô thường PAGEREF _Toc114230581 \h 1
II. Bất tịnh quán PAGEREF _Toc114230582 \h 4
III. Bản chất thế giới PAGEREF _Toc114230583 \h 9
I. Đời sống vô thường
Hôm nay là ngày Bố Tát, giờ này ở chùa Bửu liên có hàng trăm vị Tăng Ni trở về để tụng giới. Giờ này mẹ con cũng đang bệnh nan y là ung thư gan giai đoạn cuối, hai người cô thì đang nhập viện dưới quê, chú vì lo cho cô phải nhập viện mà ăn trộm vào lấy hết đồ. Chính giờ phút này thế giới đang ngập chìm trong đau khổ, chết chóc vì dịch bệnh. Chính trong giờ phút này có rất nhiều người đang quằn quại trên gường bệnh, nhà xác không chứa hết nên phải nằm trong những xe đông lạnh.
Có biết bao người đang lầm than, cũng trong giờ phút này lũ lụt đang tràn ngập khắp Trung Quốc làm mấy chục triệu người không nhà cửa phải lang thang, chết không thấy xác, xe trôi lềnh bềnh, nhà sụp đổ, bao nhiêu cảnh lầm than, sanh ly tử biệt. Thiên tai, lũ lụt, động đất, dịch bệnh, đói khát, nghèo khổ, mất nhà mất người thân đang là hiện trạng của thế giới bây giờ, con mong rằng chúng ta hãy chiêm nghiệm một chút, đừng sống trong sự vô tư, sự quên lãng, sự si ám, vô minh, không thấy không biết những việc đang diễn ra chung quanh chúng ta. Một mai nó đến bên thân thì mình sẽ hoảng loạn, bàng hoàng, đau khổ, giai đoạn này mà chúng ta không thức tỉnh thì không biết đến khi nào mới thức tỉnh, nếu trong hoàn cảnh này không nhìn lại thì đến hoàn cảnh nào mới có cơ hội nhìn lại.
Xót thương cho một đời sống si ám!
Xót thương cho một đời sống trong bóng đêm!
Xót thương cho một đời sống vô tri, mê muội!
Một đời sống không có sự chuẩn bị rồi một khi bệnh khổ, vô thường, tai nạn, hoạn nạn ập đến thì mình sẽ bị hoảng loạn mà Đức Thế Tôn gọi là chết bất thường. Khi nội tâm mình còn đầy rẫy dục tham, sân hận, si mê, bản ngã thì lúc đó mình chết thì được Đức Phật gọi là chết bất thường. Khi thấy những điều này phải thức tỉnh, cố gắng để niệm tử, niệm khổ thánh đế, chiêm nghiệm sâu sắc về sự thật mà Đức Thế Tôn đã chứng ngộ, truyền trao cho chúng ta.
Chúng ta còn chưa biết mình ngồi đây được thêm mấy buổi nữa, chỉ cần dịch bệnh bùng phát thì tất cả đều gặp nguy hiểm, chưa biết sau mùa dịch chúng ta còn sống không nên mỗi một buổi học phải nghĩ đây là giờ học cuối cùng, có thể mình không còn được học nữa, mỗi giờ tu phải quán chiếu đây có thể là thời tu sau chót, không còn cơ hội tu tập nữa, mỗi việc mình làm công quả cho tam bảo thì nghĩ có thể không còn cơ hội thứ hai để mình làm nữa.
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Một thân chứa đầy ổ tật bệnh, nơi đầy rẫy những vi trùng, vi khuẩn, trong đó chất chứa rất nhiều tư tưởng tham dục, tham danh vọng, tài sắc, tiền của, tham ăn trên ngồi trước, tham được mọi người cung kính tôn trọng, đảnh lễ cúng dường. Đầy rẫy trong tâm là đống rác bẩn hôi thối, nhơ nhớp. Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều, thân bệnh già nhưng vẫn còn tính toán, người tu cũng tham muốn đủ thứ giống người đời. Đau khổ cho một đời sống đầy rẫy tham dục, bị những cảm giác thúc giục, đòi hỏi đó sai khiến, lôi kéo, dẫn dắt và suốt đời sống trong khát khao, thiếu thốn, không thấy đủ, không thấy vừa lòng, mãn nguyện. Đó là sự đau khổ của chúng sanh trong dục giới, là thế giới của dục.
Hãy nhìn dung mạo trang sức này,
Với các châu báu, với vòng tai,
Một bộ xương được da bao phủ,
Ðược y phục làm cho sáng chói.
Chân được sơn với son với sáp,
Mặt được thoa với phấn, với bột,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Hãy nhìn dung mạo, trang sức, vòng vàng, hoa tai, dây chuyền… được phủ ngoài một lớp da còn bên trong là một bộ xương, là máu, là thịt, là mỡ, gan, ruột, lá lách, dạ dày, là những đống phân và bọng đái chứa đầy những sự tanh hôi, phân tiểu để mê hoặc kẻ ngu. Y phục, lớp quần áo đó được phủ lên những màu sắc làm cho chói sáng, sơn móng tay móng chân, mặt hoa da phấn nhưng bên trong đó là bộ xương, máu, gan ruột, những đống phân, lâu lâu ói ra một thau bốc lên một mùi khủng khiếp, lâu lâu ợ lên một mùi ghê tởm.
Mỗi một ngày phải đi đào thải, đây là nhà máy sản xuất phân, công ty xuất nhập nguồn nước tiểu thì có gì để kiêu căng, cơ thể này là một nhà máy hằng ngày phải sản xuất phân, nước đưa vào đưa ra là công ty xuất nhập nguồn nước tiểu. Mọi người phải luôn nhìn lại tấm thân này trong mỗi khi đại tiểu tiện để thấy cái mình cho là tôi, là của tôi, là sạch sẽ thơm tho mà nó bẩn thỉu, tanh hôi vậy đó. Mình phải quán chiếu sâu sắc mỗi khi mình đi vào chỗ để đào thải ra những chất cặn bã, nhơ nhớp, đừng vội gạt nước mà hãy nhìn cho kĩ và ngửi cái mùi đó.
Mùi đó là mùi của chính mình, vì đống phân này, vì thứ tanh hôi này mà mình đam mê, ngu si, vô minh, khát ái trong đó. Mỗi khi thiền quán hay mỗi khi vào toilet thì hãy nhìn cho kĩ, cảm nhận cho sâu sắc đó là chân tướng, bản chất của thân này để mình tẩy rửa, loại trừ, đào thải những cái nhìn ngu si, tham chấp cho rằng nó sạch sẽ, đẹp đẽ, cao quý. Cái nhìn đó chỉ là ngu si tưởng, điên đảo tưởng, chỉ là sự vọng tưởng, ngã kiến, đảo kiến.
II. Bất tịnh quán
Đức Phật nói có một pháp tu đem lại lợi lạc, lợi ích lớn, đem lại hạnh phúc, giác ngộ, Niết-bàn đó là bạch cốt tưởng, tức là phải thường xuyên quán tưởng về bộ xương trắng.
“Tu tập cốt tưởng, này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn)
“Tu tập cốt tưởng như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, này các Tỳ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, II. Trí Và Bất Hoàn (Annàsativà)).
Trước cổng đi vào thiền viện lớn ở Myanmar có treo một bộ xương rất cao, bộ xương đó được một hoa hậu Myanmar cúng dường. Cô này là một hoa hậu nổi tiếng ở Myanmar nhưng cô có nguyện vọng khi cô chết thì đem bộ xương của cô treo trong thiền viện, ngay chỗ cổng vào để cho tất cả mọi người thấy được bản chất thật sự của thân xác này chỉ là bộ xương trắng, ngay bây giờ cũng chỉ là bộ xương trắng nhưng do bị lớp da che phủ nên mình không thấy được.
Chỉ cần phủ bên ngoài lớp da trơn láng là che đậy vô vàng thứ nhớp nhơ, bị lớp da này che phủ làm mình ngu si không nhìn ra sự thật trong vô số kiếp, chính tự thân mình bị lừa gạt trong lớp da đó nên phải quán chiếu về bất tịnh, về tứ đại, về ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi trong ngàn vạn lần thì mới chứng nhập được trí bất tịnh chứ không phải quán đôi ba lần không được là bỏ ngang, chính vì mình không thâm nhập những hình ảnh, những sự thật đó nên dục ái không từ bỏ được, mình bị sắc ám ảnh nên khi mình ở một mình là những hình bóng hiện ra, những cảm giác đó xâm chiếm thân tâm mình, nó lôi mình trở về cuộc sống của dục, nó làm cho mình bị mê hoặc.
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác, câu này là Ngài đang nói tự thân của Ngài, Ngài đã chứng được trí tuệ bất tịnh cứu cánh viên mãn của một bậc A-la-hán. Nên bây giờ tu mà không quán bất tịnh thì vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ ly tham đối với dục, chỉ có một phương pháp duy nhất này được bậc A-la-hán chứng ngộ, dù cho người đó có ly dục nhưng người đó không thâm nhập trí bất tịnh cứu cánh này thì cái ly dục đó chỉ là tạm thời thôi, nó chỉ ngủ thôi chứ không bỏ hoàn toàn được, chừng nào đủ nhân đủ duyên thì cái dục đó sẽ sống lại, vì vậy người xuất gia nào không quán bất tịnh thì người đó không phải đệ tử của Phật.
Vì do quán bất tịnh mà Đức Phật đã chứng ngộ, do quán bất tịnh mà Đức Phật đạt đến chỗ đoạn tận tất cả dục ái tham thì không thể có một người có phương pháp khác Đức Phật mà có thể chứng ngộ được. Bây giờ chúng ta thấy trong chùa, nhất là tuổi trẻ của mình nếu không có những phương pháp này thì đời sống xuất gia của mình rất khó khăn và khốn khổ, giới hạnh không được đầy đủ. Làm sao mình có thể nhiếp phục được nếu không có những phương pháp quán đầy đủ như vầy? Ngoài quán bất tịnh còn có quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán tứ đại, quán bộ xương… có rất nhiều phương pháp quán chứ không chỉ có một phép quán là hết.
“Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp,
Mắt được xoa với thuốc, với son,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Uốn tóc, thoa son, kẻ mắt… bao nhiêu đây cũng đủ để làm mê hoặc kẻ ngu. Đưa hình lên mạng xã hội thấy đẹp đẽ còn gặp ngoài đời thật thì khác xa, dùng phần mềm chỉnh sửa hình ảnh để lừa gạt người khác. Cái tu của mình bây giờ giống như tu văn nghệ, tu để gieo duyên, chỉ có cái tu thật sự như Đức Phật dạy mới có khả năng nhiếp phục và đoạn tận được tham sân si, người tu thật sự phải rất nỗ lực và dùng rất nhiều phương pháp, cái tu đó còn hơn những nhà khoa học vĩ đại, lúc ngồi thiền hằng ngày đánh phá các dục tham, sân si, bản ngã, nhiếp phục các lậu hoặc còn hơn tướng quân ra trận.
Người tu thật sự như Đức Phật bây giờ tìm không thấy, để hiểu được lời Đức Phật nói đã khó chứ đừng nói gì đến việc thực hành. Cho nên chúng ta cần phải hiểu để biết mình đang ở đâu nếu không cứ nghĩ mình tu cũng gần đạt được rồi, ở ngoài đời bây giờ cái gì cũng dùng từ thánh như thánh ăn, thánh chửi trong khi từ thánh hết sức cao quý, thiêng liêng, như vậy là loạn chuẩn tắc, làm cho đạo đức, ngôn ngữ đảo lộn, nhân nghĩa đảo lộn, đây là thời mạt tận sẽ đi đến chỗ diệt tận tất cả.
Tin tức mới nhất đưa tin sư cô bị hiếp và cướp ngay trong chùa, đạo đức bây giờ bị sụp đổ nghiêm trọng, thầy trụ trì bị giết, mượn tiền không được là giết, những thùng tam bảo của chùa bị ăn cắp đều đặn, thành ra chúng ta phải hết sức cẩn thận. Cẩn thận không phải là để giữ các món đồ mà cẩn thận trong nội tâm chánh niệm tỉnh giác vì có những chuyện mình không lường trước được, có vài vụ kiện hết sức đơn giản nhưng hở chút là đưa lên mạng làm ảnh hưởng chung đến Phật giáo, bây giờ tìm ẩn rất nhiều hiểm họa, hiểm nạn khắp mọi chốn mọi nơi, trong những năm gần đây chuyện này hay xảy ra trong giới tu hành với những người xuất gia.
Cho nên những lời Đức Phật dạy luôn có giá trị siêu việt thời gian không gian, mình có giữ gìn, có tu tập thì nó bao bọc che chắn cho mình sự bình an còn nếu không mình sẽ rơi vào tai họa, hiểm nạn hết sức nguy hiểm. Đó là những tiếng đại hồng chung vang vọng báo động cho mình thấy.
“Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ,
Là uế thân được điểm thời trang,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Như cái hộp để thuốc được trang trí bên ngoài nhưng bên trong nó là cái thân xú uế. Bên ngoài được trang điểm thời trang, thời thượng nên kẻ ngu bị mê hoặc nếu không quán chiếu, không tu tập, không thâm nhập trí tuệ mà Đức Phật đã dạy trong Thân Hành Niệm. Đây là pháp tu căn bản, là pháp hành thường trực được tu tập lúc Đức Phật còn tại thế.
“Người thợ săn đặt bày lưới sập,
Loài nai khôn chẳng chạm bén chân,
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường,
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Đoạn này Tôn giả Ratthapala nói về cha của Ngài, về người vợ cũ của Ngài giống như thợ săn đặt lưới để dụ dẫn Ngài đi hoàn tục, trở về hưởng thụ gia tài của tổ tiên, cha mẹ để lại, hưởng dục lạc. Ngài nói đó là thợ săn đặt bày lưới sập, loài nai khôn chẳng chạm bén chân. Ngài hoàn toàn không hề đụng đến, nói rộng ra là ác ma giăng bẫy khắp tất cả hữu tình chúng sanh nhưng loài nai khôn thì không hề chạm đến. Trong bài kinh Bẫy Mồi, đàn nai khôn sẽ không ăn mồi, không bị mắc bẫy. Ăn lúa xong, chúng ta lên đường, ở đây ý nói đến việc khất thực, khi đã khất thực thọ trai xong thì lên đường, Mặc cho kẻ bắt nai than khóc tức là mặc cho cha mẹ, vợ cũ của Ngài than khóc, muốn bắt Ngài đi vào trong bẫy sập của ái dục, vô minh nhưng Ngài vẫn cứ ra đi. Đó là cách ứng xử trong gia đình của bậc A-la-hán, rất là tuyệt vời và tối thượng.
III. Bản chất thế giới
“Tôn giả Ratthapala đọc bài kệ xong đứng dậy, liền đi đến vườn Lộc Uyển của vua Koravya, sau khi đến liền ngồi xuống nghỉ trưa dưới một gốc cây.
Rồi vua Koravya nói với người thợ săn:
-- Này thợ Săn, hãy dọn dẹp đất vườn ở Lộc Uyển, ta muốn đi thăm viếng cảnh đẹp.
-- Thưa vâng, Ðại vương.
Người thợ săn vâng đáp vua Koravya, trong khi dọn dẹp vườn Nai, thấy Tôn giả Ratthapala đang ngồi dưới gốc cây để nghỉ trưa. Sau khi thấy vậy, người ấy liền đến vua Koravya, sau khi đến liền tâu vua Koravya:
-- Tâu Ðại vương, vườn Nai đã được dọn dẹp. Và ở đấy có thiện nam tử tên là Ratthapala là con một thế gia ở Thullakotthita mà Ðại vương thường hay tán thán, vị ấy đang ngồi dưới một gốc cây để nghỉ trưa.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Bậc A-la-hán nghỉ trưa là không phải ngủ như mình mà là các ngài ngồi thiền định dưới gốc cây. Buổi trưa có khi Đức Thế Tôn đi một mình vào rừng ngồi thiền, như vậy gọi là nghỉ trưa. Các vị thời Đức Phật còn tại thế là thường trực đi khất thực, thiền định rồi nghe pháp cho nên tu chắc chắn chứng ngộ. Việc đi khất thực là sự vận động, vừa để gieo duyên cho chúng sanh vừa để kiểm soát cái tâm của mình khi xúc cảnh đối duyên. Sau đó các ngài trở về quán chiếu để giải trừ các tập khí, phiền não, cấu uế, lậu hoặc.
“-- Này Thợ săn, hôm nay thế là vừa đủ về vườn cảnh. Nay chúng ta muốn cung kính cúng dường Tôn giả Ratthapala.
Rồi vua Koravya, sau khi nói: "Ở đây, hãy đem bố thí tất cả món ăn đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm", ra lệnh cho thắng nhiều cỗ xe thù thắng, leo lên một cỗ xe thù thắng, liền cùng với các cỗ xe đi ra khỏi Thullakotthita để yết kiến Tôn giả Ratthapala với đại uy phong của bậc đế vương. Sau khi cỡi xe cho đến chỗ đất còn có thể cỡi xe được, Ngài xuống xe, đi bộ, cùng với hàng tùy tùng vương hầu, đến chỗ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ratthapala, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên. Ðứng một bên, vua Koravya bạch Tôn giả Ratthapala:
-- Ở đây xin mời Tôn giả Ratthapala ngồi xuống trên nệm voi.
-- Thôi vừa rồi, Ðại vương! Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Nếu gặp kẻ phàm phu như người bình thường khi nghe vua mời ngồi trên nệm voi thì mừng rỡ, người bình thường sợ rằng nếu không ngồi sẽ làm vua buồn còn bậc A-la-hán thì từ chối Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi. Từ những cái nhỏ nhiệm này mình phải xem cách ứng xử của một bậc thánh Tăng, bậc đã lậu tận.
“Rồi vua Koravya ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Koravya bạch Tôn giả Ratthapala:
-- Bạch Tôn giả Ratthapala, có bốn sự suy vong này. Chính do thành tựu bốn sự suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn? Lão suy vong, bệnh suy vong, tài sản suy vong, thân tộc suy vong.
Này Tôn giả Ratthapala, thế nào là lão suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Vị ấy suy tư như sau: "Nay ta đã già, niên cao lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này, do thành tựu lão suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala được gọi là lão suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala nay còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong sơ kỳ tuổi đời; Tôn giả Ratthapala đâu có lão suy vong? Vậy Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Thứ nhất là già mới đi tu, thứ hai là bệnh mới đi tu, mang trọng bệnh trong người thì mới có suy nghĩ đi xuất gia.
“Và thưa Tôn giả Ratthapala, thế nào là bệnh suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala, có người bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh, thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu bệnh suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, được gọi là bệnh suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala nay ít bệnh, ít não, tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng; Tôn giả Ratthapala đâu có bệnh suy vong? Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Những bài kinh này là bảo bối của chúng ta, vừa tự tu vừa để trả lời khi người ta hỏi mình. Đây là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha chính từ những bài kinh này được mình học và thực hành. Ngài không phải là người già, cũng không phải là người bệnh thì tại sao ngài lại đi tu? Tiếp theo là đến tài sản của ngài
“Và thưa Tôn giả Ratthapala, thế nào là tài sản suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người giàu sang, tiền của nhiều, tài vật nhiều, và những tài vật của vị ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta trước đây giàu sang, tiền của nhiều, tài sản nhiều. Những tài vật ấy của ta dần dần đã đi đến suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu tài suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala được gọi là tài suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala chính tại Thullakotthita này, là con của một lương gia đệ nhất; Tôn giả Ratthapala đâu có tài sản suy vong? Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Tôn giả không bị tài sản suy vong, Tôn giả giàu có bậc nhất ở vùng này, như vậy tôn giả đã biết gì, thấy gì hay nghe gì mà tôn giả đi tu?
“Và này Tôn giả Ratthapala, thế nào là thân tộc suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, những thân hữu quyến thuộc của người ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Người ấy suy tư như sau: "Trước kia, ta có nhiều người thân hữu quen biết, bà con huyết thống. Những thân hữu quyến thuộc ấy của ta dần dần đi đến chỗ suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu thân tộc suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, được gọi là thân tộc suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala ở chính tại Thullakotthita này, có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, Tôn giả Ratthapala đâu có thân tộc suy vong? Vậy Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
Thưa Tôn giả Ratthapala, đây là bốn loại suy vong, do thành tựu bốn loại suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; Tôn giả Ratthapala đâu có những loại ấy? Vậy Tôn giả đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Sau đây là tiếng gầm sư tử, chúng ta sẽ thấy một bậc đại thánh giả đã lậu tận nói với đại vương
“-- Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
"Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả", thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Chúng ta phải nhớ rằng, trong đây dùng từ thế giới là đồng nghĩa với ngũ uẩn và thân này. Trong kinh Nikāya nói thế giới thì phải hiểu nó là ngũ uẩn hoặc là thân này. Trong quyển Tu học kinh Nikāya ghi thân này là vô thường, đi đến hủy diệt. Thân này là vô hộ, vô chủ. Thân này là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả. Thân này là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
“-- Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt," ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, khi tôi được 20 hay 25 tuổi, tôi thiện nghệ về voi, tôi thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh, và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi cảm thấy có thần lực và xem không ai có thể bằng tôi về sức mạnh.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nay Ðại vương vẫn còn bắp vế mạnh, cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ đánh giặc như vậy không?
-- Không như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi nghĩ: "Ở đây, ta sẽ bước chân", nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
-- Thật vi diệu thay, Tôn Giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.
Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi có bệnh phong kinh niên. Nhiều khi, thân hữu quen biết, bà con huyết thống đứng xung quanh tôi và nói: "Nay vua Koravya sẽ mệnh chung, nay vua Koravya sẽ mệnh chung".
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có thể nói chăng, với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của Ðại vương: "Mong rằng Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi! Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này, để tôi có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; hay là Ðại vương chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi không có thể nói với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của tôi: "Mong rằng các Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi. Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này để có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; và tôi chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình".
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
Mình không thể ra lệnh cho thân này khỏe mạnh, tồn tại mãi được mà nó phải đi đến việc già, bệnh, ốm đau, cho nên thân này là vô hộ, vô chủ, không ai bảo hộ cho nó được. Mình không có quyền làm chủ, ra lệnh cho nó được.
“-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô hộ, vô chủ.
Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này có rất nhiều vàng nén và tiền vàng dưới đất và trên mặt đất". Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Dầu cho nay Ðại vương sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng, Ðại vương có thể nói được như sau: "Chính như vậy, tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng này"; hay là người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn Ðại vương sẽ phải đi theo nghiệp của mình?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, dầu cho nay tôi sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng. Tôi không có thể nói được như sau: "Chính như vậy tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng này". Chính người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn tôi phải đi theo nghiệp của tôi
Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Có phải Ðại vương trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh?
-- Thưa vâng, Tôn giả Ratthapala. Tôi trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có người đáng tin cậy, chánh trực đến với Ðại vương từ phương Ðông, và sau khi đến tâu với Ðại Vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ phương Ðông lại. Ở đấy, tôi có thấy một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi, tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục!" Ðại vương sẽ hành động như thế nào?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây có người đến với Ðại vương từ phương Tây ... từ phương Bắc ... từ phương Nam ... từ bờ biển bên kia, người ấy đáng tin cậy, chánh trực, tâu với Ðại vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ bờ biển bên kia lại. Ở đây, tôi thấy có một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi. Tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục". Ðại vương sẽ hành động như thế nào?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái" và tôi sau khi biết, sau khi thấy, sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Đã là vua thống trị một cõi vậy mà cũng còn khao khát, cảm thấy thiếu thốn nên muốn xâm lăng, muốn thống trị nhiều đất đai, vương quốc hơn nữa cho nên thân này là thiếu thốn, thân là khát kháo, thân này là nô lệ cho tham ái.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
Tôn giả Ratthapala đã giảng như vậy, sau khi giảng như vậy xong, lại nói thêm như sau:
Ta thấy người giàu sang ở đời,
Có của vì si không bố thí.
Vì tham, họ tích tụ tài vật,
Và chạy theo dục vọng càng nhiều.
Dùng bạo lực, chinh phục quả đất,
Vua trị vì cho đến hải biên,
Không thỏa mãn bờ biển bên này,
Và chạy theo bờ biển bên kia.
Sự thật 3000 năm trước đang hiển hiện nhãn tiền trước mắt, đó là sự giành giật, xâm lấn.
Vua cùng rất nhiều loại người khác,
Ái chưa ly, mạng chung đã đến,
Bị thiếu thốn, không bỏ thân họ,
Không thỏa mãn lòng dục ở đời.
Quyến thuộc tán loạn, khóc người ấy:
"Than ôi, người ấy không bất tử! ".
Mạng thân người ấy vải bao phủ,
Họ đốt lửa làm lễ hỏa thiêu.
Bị thọc với cây, người ấy cháy,
Ðộc mảnh vải, bỏ tiền của lại.
Ở đây, quyến thuộc cùng thân hữu,
Không nơi nương tựa cho kẻ chết.
Kẻ thừa tự, nhận mang tài sản,
Riêng con người, theo nghiệp phải đi,
Tiền của đâu có theo người chết,
Cả vợ con, tài sản, quốc độ.
Tài sản không mua được trường thọ,
Phú quý không tránh được già suy,
Kẻ trí nói đời này thật ngắn,
Thật vô thường, biến đổi luôn luôn.
Kẻ giàu, kẻ nghèo đều cảm xúc,
Người ngu, kẻ trí đồng cảm thọ,
Kẻ ngu bị ngu đánh nằm ngã,
Bậc trí cảm xúc, không run sợ.
Do vậy, trí tuệ thắng tài vật,
Nhờ trí, ở đây được viên thành.
Không thành mãn trong hữu, phi hữu,
Kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp.
Nhập thai thác sanh thế giới khác,
Người ấy luân hồi, tiếp tục sanh,
Kẻ thiểu trí chắc hẳn phải là
Nhập thai và sanh thế giới khác.
Như kẻ trộm bị bắt khi trộm,
Ác tánh hại mình do tự nghiệp,
Chúng sanh cũng vậy chết đời khác,
Ác tánh hại mình, do tự lực.
Dục vọng nhiều loại, ngọt, khả ái,
Nhiễu loạn tâm dưới nhiều hình thức,
Thấy hoạn nạn trong dục trưởng dưỡng,
Nên tôi xuất gia, tâu Ðại vương!
Như quả từ đây, người bị rụng,
Cả già lẫn trẻ, khi thân hoại,
Do thấy chính vậy, tôi xuất gia,
Hạnh Sa-môn phải là tối thắng,
Thưa Ðại vương!
Sau khi thuyết giảng xong thì ngài ứng khẩu ra bài kệ này. Ngay cả Đế Vương mà vẫn còn cảm thấy thiếu thốn nên vẫn muốn xâm lăng, xâm chiếm nước khác. Bốn vấn đề này là bốn vấn đề quán chiếu vĩ đại của chúng ta:
Thế giới (thân này) là vô thường, đi đến hủy diệt.
Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ.
Thế giới (thân này) là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả.
Thế giới (thân này) là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
Bây giờ dựng lên 10 cái chùa, đến khi chết thì đem theo được bao nhiêu cái? Hôm đó con có lại thăm một thầy trụ trì trên Bảo Lộc, khi nghe thầy nói một câu là con hoát nhiên đại ngộ, con không bao giờ quên suốt đời, thầy nói "mình có làm cho dữ đi thầy ơi, mai mốt người khác lên trụ trì là đập bỏ". Con nghe rồi cũng chiêm nghiệm, công việc đầu tiên của người mới được bổ nhiệm làm trụ trì là đập, khi con đi qua các nước như Nhật, Trung Quốc, các di tích của Phật giáo được các vị cao Tăng tổ sư ngày xưa dày công tạo dựng, dày công hướng dẫn tu học cho đại chúng nhưng lớp đệ tử sau không đủ đức, không đủ trí, không đủ phước, không lo thừa tự pháp mà chỉ lo thừa tự tài vật, Thiếu Lâm Tự lên sàn chứng khoán, các chùa lớn đi theo hướng thế tục, đó là cha làm thầy, con đốt sách.
Cho nên chúng ta sẽ học bài kinh thừa tự pháp, bài này rất quan trọng. Những người sau không đủ đức độ đạo hạnh như những người đi trước nên trong sách thiền ghi nhất đại bất như nhất đại. Mỗi một đời về sau này càng kém, càng đi xuống, đời sau không bằng đời trước. Muốn Phật giáo hưng thịnh phát triển thì phải có những bậc pháp trí xuất chúng xuất hiện thì mới chấn hưng được Phật giáo, hàng mấy trăm năm người này mới xuất hiện một lần, khi những vị đó xuất hiện thì mới làm cho Phật giáo được rực rỡ, xán lạn. Chúng ta nhìn thấy bây giờ rất khó thừa tự pháp, Đức Phật đã nói thừa tự pháp chứ đừng thừa tự tài vật, do mình cứ đặt nặng vấn đề đó cho nên mới có sự tranh giành xảy ra trong chùa, bên ngoài cũng nhìn ngó vào.
“-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?". Và này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: "Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp", mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: "Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp"”
(Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)
Mình không có pháp, không tuyên dương, không làm rựa sáng thánh pháp nên người ngoài nhìn vào chỉ thấy vật chất, mà vật chất là đầu mối, nguồn cội cho sự tranh giành, chính vì vậy mà hãy thừa kế chánh pháp, thừa tự pháp còn không Phật giáo sẽ càng ngày càng lụn tàn. Những người Việt trẻ được sinh trưởng bên Mỹ, Úc, ở những nước văn minh, phát triển không có đi chùa, một phần do không biết tiếng mẹ đẻ, mình vào giảng pháp nói tiếng Việt mà họ còn không hiểu thì làm sao nói Hán Việt mà họ hiểu được, cho nên nếu mình không có sự nhìn nhận sâu sắc về giáo pháp, phát huy về pháp, thành tựu về pháp, truyền bá về pháp thì lần lần Phật giáo chỉ có hình thức, bề ngoài, tín ngưỡng.
Còn bản chất thật sự, giá trị thật sự của giáo pháp sẽ bị mai một, không còn ai biết nhiều về đạo lộ thật sự của Đức Thế Tôn. Trong khi đạo lộ thật sự đưa ra thì không ai chấp nhận, họ chỉ thích màu sắc, hình thức, vẻ bề ngoài, chính điều này Phật pháp sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Nhân bài kinh này mà chúng ta thấy được sự thành tựu của một bậc tu hành là phải như vậy để chúng ta có những giây phút chiêm nghiệm, soi rọi, quán chiếu lại sự tu học của mình.
./.
KINH RATTHAPALA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đời sống vô thường PAGEREF _Toc114230581 \h 1
II. Bất tịnh quán PAGEREF _Toc114230582 \h 4
III. Bản chất thế giới PAGEREF _Toc114230583 \h 9
I. Đời sống vô thường
Hôm nay là ngày Bố Tát, giờ này ở chùa Bửu liên có hàng trăm vị Tăng Ni trở về để tụng giới. Giờ này mẹ con cũng đang bệnh nan y là ung thư gan giai đoạn cuối, hai người cô thì đang nhập viện dưới quê, chú vì lo cho cô phải nhập viện mà ăn trộm vào lấy hết đồ. Chính giờ phút này thế giới đang ngập chìm trong đau khổ, chết chóc vì dịch bệnh. Chính trong giờ phút này có rất nhiều người đang quằn quại trên gường bệnh, nhà xác không chứa hết nên phải nằm trong những xe đông lạnh.
Có biết bao người đang lầm than, cũng trong giờ phút này lũ lụt đang tràn ngập khắp Trung Quốc làm mấy chục triệu người không nhà cửa phải lang thang, chết không thấy xác, xe trôi lềnh bềnh, nhà sụp đổ, bao nhiêu cảnh lầm than, sanh ly tử biệt. Thiên tai, lũ lụt, động đất, dịch bệnh, đói khát, nghèo khổ, mất nhà mất người thân đang là hiện trạng của thế giới bây giờ, con mong rằng chúng ta hãy chiêm nghiệm một chút, đừng sống trong sự vô tư, sự quên lãng, sự si ám, vô minh, không thấy không biết những việc đang diễn ra chung quanh chúng ta. Một mai nó đến bên thân thì mình sẽ hoảng loạn, bàng hoàng, đau khổ, giai đoạn này mà chúng ta không thức tỉnh thì không biết đến khi nào mới thức tỉnh, nếu trong hoàn cảnh này không nhìn lại thì đến hoàn cảnh nào mới có cơ hội nhìn lại.
Xót thương cho một đời sống si ám!
Xót thương cho một đời sống trong bóng đêm!
Xót thương cho một đời sống vô tri, mê muội!
Một đời sống không có sự chuẩn bị rồi một khi bệnh khổ, vô thường, tai nạn, hoạn nạn ập đến thì mình sẽ bị hoảng loạn mà Đức Thế Tôn gọi là chết bất thường. Khi nội tâm mình còn đầy rẫy dục tham, sân hận, si mê, bản ngã thì lúc đó mình chết thì được Đức Phật gọi là chết bất thường. Khi thấy những điều này phải thức tỉnh, cố gắng để niệm tử, niệm khổ thánh đế, chiêm nghiệm sâu sắc về sự thật mà Đức Thế Tôn đã chứng ngộ, truyền trao cho chúng ta.
Chúng ta còn chưa biết mình ngồi đây được thêm mấy buổi nữa, chỉ cần dịch bệnh bùng phát thì tất cả đều gặp nguy hiểm, chưa biết sau mùa dịch chúng ta còn sống không nên mỗi một buổi học phải nghĩ đây là giờ học cuối cùng, có thể mình không còn được học nữa, mỗi giờ tu phải quán chiếu đây có thể là thời tu sau chót, không còn cơ hội tu tập nữa, mỗi việc mình làm công quả cho tam bảo thì nghĩ có thể không còn cơ hội thứ hai để mình làm nữa.
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Một thân chứa đầy ổ tật bệnh, nơi đầy rẫy những vi trùng, vi khuẩn, trong đó chất chứa rất nhiều tư tưởng tham dục, tham danh vọng, tài sắc, tiền của, tham ăn trên ngồi trước, tham được mọi người cung kính tôn trọng, đảnh lễ cúng dường. Đầy rẫy trong tâm là đống rác bẩn hôi thối, nhơ nhớp. Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều, thân bệnh già nhưng vẫn còn tính toán, người tu cũng tham muốn đủ thứ giống người đời. Đau khổ cho một đời sống đầy rẫy tham dục, bị những cảm giác thúc giục, đòi hỏi đó sai khiến, lôi kéo, dẫn dắt và suốt đời sống trong khát khao, thiếu thốn, không thấy đủ, không thấy vừa lòng, mãn nguyện. Đó là sự đau khổ của chúng sanh trong dục giới, là thế giới của dục.
Hãy nhìn dung mạo trang sức này,
Với các châu báu, với vòng tai,
Một bộ xương được da bao phủ,
Ðược y phục làm cho sáng chói.
Chân được sơn với son với sáp,
Mặt được thoa với phấn, với bột,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Hãy nhìn dung mạo, trang sức, vòng vàng, hoa tai, dây chuyền… được phủ ngoài một lớp da còn bên trong là một bộ xương, là máu, là thịt, là mỡ, gan, ruột, lá lách, dạ dày, là những đống phân và bọng đái chứa đầy những sự tanh hôi, phân tiểu để mê hoặc kẻ ngu. Y phục, lớp quần áo đó được phủ lên những màu sắc làm cho chói sáng, sơn móng tay móng chân, mặt hoa da phấn nhưng bên trong đó là bộ xương, máu, gan ruột, những đống phân, lâu lâu ói ra một thau bốc lên một mùi khủng khiếp, lâu lâu ợ lên một mùi ghê tởm.
Mỗi một ngày phải đi đào thải, đây là nhà máy sản xuất phân, công ty xuất nhập nguồn nước tiểu thì có gì để kiêu căng, cơ thể này là một nhà máy hằng ngày phải sản xuất phân, nước đưa vào đưa ra là công ty xuất nhập nguồn nước tiểu. Mọi người phải luôn nhìn lại tấm thân này trong mỗi khi đại tiểu tiện để thấy cái mình cho là tôi, là của tôi, là sạch sẽ thơm tho mà nó bẩn thỉu, tanh hôi vậy đó. Mình phải quán chiếu sâu sắc mỗi khi mình đi vào chỗ để đào thải ra những chất cặn bã, nhơ nhớp, đừng vội gạt nước mà hãy nhìn cho kĩ và ngửi cái mùi đó.
Mùi đó là mùi của chính mình, vì đống phân này, vì thứ tanh hôi này mà mình đam mê, ngu si, vô minh, khát ái trong đó. Mỗi khi thiền quán hay mỗi khi vào toilet thì hãy nhìn cho kĩ, cảm nhận cho sâu sắc đó là chân tướng, bản chất của thân này để mình tẩy rửa, loại trừ, đào thải những cái nhìn ngu si, tham chấp cho rằng nó sạch sẽ, đẹp đẽ, cao quý. Cái nhìn đó chỉ là ngu si tưởng, điên đảo tưởng, chỉ là sự vọng tưởng, ngã kiến, đảo kiến.
II. Bất tịnh quán
Đức Phật nói có một pháp tu đem lại lợi lạc, lợi ích lớn, đem lại hạnh phúc, giác ngộ, Niết-bàn đó là bạch cốt tưởng, tức là phải thường xuyên quán tưởng về bộ xương trắng.
“Tu tập cốt tưởng, này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn)
“Tu tập cốt tưởng như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, này các Tỳ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, II. Trí Và Bất Hoàn (Annàsativà)).
Trước cổng đi vào thiền viện lớn ở Myanmar có treo một bộ xương rất cao, bộ xương đó được một hoa hậu Myanmar cúng dường. Cô này là một hoa hậu nổi tiếng ở Myanmar nhưng cô có nguyện vọng khi cô chết thì đem bộ xương của cô treo trong thiền viện, ngay chỗ cổng vào để cho tất cả mọi người thấy được bản chất thật sự của thân xác này chỉ là bộ xương trắng, ngay bây giờ cũng chỉ là bộ xương trắng nhưng do bị lớp da che phủ nên mình không thấy được.
Chỉ cần phủ bên ngoài lớp da trơn láng là che đậy vô vàng thứ nhớp nhơ, bị lớp da này che phủ làm mình ngu si không nhìn ra sự thật trong vô số kiếp, chính tự thân mình bị lừa gạt trong lớp da đó nên phải quán chiếu về bất tịnh, về tứ đại, về ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi trong ngàn vạn lần thì mới chứng nhập được trí bất tịnh chứ không phải quán đôi ba lần không được là bỏ ngang, chính vì mình không thâm nhập những hình ảnh, những sự thật đó nên dục ái không từ bỏ được, mình bị sắc ám ảnh nên khi mình ở một mình là những hình bóng hiện ra, những cảm giác đó xâm chiếm thân tâm mình, nó lôi mình trở về cuộc sống của dục, nó làm cho mình bị mê hoặc.
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác, câu này là Ngài đang nói tự thân của Ngài, Ngài đã chứng được trí tuệ bất tịnh cứu cánh viên mãn của một bậc A-la-hán. Nên bây giờ tu mà không quán bất tịnh thì vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ ly tham đối với dục, chỉ có một phương pháp duy nhất này được bậc A-la-hán chứng ngộ, dù cho người đó có ly dục nhưng người đó không thâm nhập trí bất tịnh cứu cánh này thì cái ly dục đó chỉ là tạm thời thôi, nó chỉ ngủ thôi chứ không bỏ hoàn toàn được, chừng nào đủ nhân đủ duyên thì cái dục đó sẽ sống lại, vì vậy người xuất gia nào không quán bất tịnh thì người đó không phải đệ tử của Phật.
Vì do quán bất tịnh mà Đức Phật đã chứng ngộ, do quán bất tịnh mà Đức Phật đạt đến chỗ đoạn tận tất cả dục ái tham thì không thể có một người có phương pháp khác Đức Phật mà có thể chứng ngộ được. Bây giờ chúng ta thấy trong chùa, nhất là tuổi trẻ của mình nếu không có những phương pháp này thì đời sống xuất gia của mình rất khó khăn và khốn khổ, giới hạnh không được đầy đủ. Làm sao mình có thể nhiếp phục được nếu không có những phương pháp quán đầy đủ như vầy? Ngoài quán bất tịnh còn có quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán tứ đại, quán bộ xương… có rất nhiều phương pháp quán chứ không chỉ có một phép quán là hết.
“Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp,
Mắt được xoa với thuốc, với son,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Uốn tóc, thoa son, kẻ mắt… bao nhiêu đây cũng đủ để làm mê hoặc kẻ ngu. Đưa hình lên mạng xã hội thấy đẹp đẽ còn gặp ngoài đời thật thì khác xa, dùng phần mềm chỉnh sửa hình ảnh để lừa gạt người khác. Cái tu của mình bây giờ giống như tu văn nghệ, tu để gieo duyên, chỉ có cái tu thật sự như Đức Phật dạy mới có khả năng nhiếp phục và đoạn tận được tham sân si, người tu thật sự phải rất nỗ lực và dùng rất nhiều phương pháp, cái tu đó còn hơn những nhà khoa học vĩ đại, lúc ngồi thiền hằng ngày đánh phá các dục tham, sân si, bản ngã, nhiếp phục các lậu hoặc còn hơn tướng quân ra trận.
Người tu thật sự như Đức Phật bây giờ tìm không thấy, để hiểu được lời Đức Phật nói đã khó chứ đừng nói gì đến việc thực hành. Cho nên chúng ta cần phải hiểu để biết mình đang ở đâu nếu không cứ nghĩ mình tu cũng gần đạt được rồi, ở ngoài đời bây giờ cái gì cũng dùng từ thánh như thánh ăn, thánh chửi trong khi từ thánh hết sức cao quý, thiêng liêng, như vậy là loạn chuẩn tắc, làm cho đạo đức, ngôn ngữ đảo lộn, nhân nghĩa đảo lộn, đây là thời mạt tận sẽ đi đến chỗ diệt tận tất cả.
Tin tức mới nhất đưa tin sư cô bị hiếp và cướp ngay trong chùa, đạo đức bây giờ bị sụp đổ nghiêm trọng, thầy trụ trì bị giết, mượn tiền không được là giết, những thùng tam bảo của chùa bị ăn cắp đều đặn, thành ra chúng ta phải hết sức cẩn thận. Cẩn thận không phải là để giữ các món đồ mà cẩn thận trong nội tâm chánh niệm tỉnh giác vì có những chuyện mình không lường trước được, có vài vụ kiện hết sức đơn giản nhưng hở chút là đưa lên mạng làm ảnh hưởng chung đến Phật giáo, bây giờ tìm ẩn rất nhiều hiểm họa, hiểm nạn khắp mọi chốn mọi nơi, trong những năm gần đây chuyện này hay xảy ra trong giới tu hành với những người xuất gia.
Cho nên những lời Đức Phật dạy luôn có giá trị siêu việt thời gian không gian, mình có giữ gìn, có tu tập thì nó bao bọc che chắn cho mình sự bình an còn nếu không mình sẽ rơi vào tai họa, hiểm nạn hết sức nguy hiểm. Đó là những tiếng đại hồng chung vang vọng báo động cho mình thấy.
“Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ,
Là uế thân được điểm thời trang,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Như cái hộp để thuốc được trang trí bên ngoài nhưng bên trong nó là cái thân xú uế. Bên ngoài được trang điểm thời trang, thời thượng nên kẻ ngu bị mê hoặc nếu không quán chiếu, không tu tập, không thâm nhập trí tuệ mà Đức Phật đã dạy trong Thân Hành Niệm. Đây là pháp tu căn bản, là pháp hành thường trực được tu tập lúc Đức Phật còn tại thế.
“Người thợ săn đặt bày lưới sập,
Loài nai khôn chẳng chạm bén chân,
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường,
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Đoạn này Tôn giả Ratthapala nói về cha của Ngài, về người vợ cũ của Ngài giống như thợ săn đặt lưới để dụ dẫn Ngài đi hoàn tục, trở về hưởng thụ gia tài của tổ tiên, cha mẹ để lại, hưởng dục lạc. Ngài nói đó là thợ săn đặt bày lưới sập, loài nai khôn chẳng chạm bén chân. Ngài hoàn toàn không hề đụng đến, nói rộng ra là ác ma giăng bẫy khắp tất cả hữu tình chúng sanh nhưng loài nai khôn thì không hề chạm đến. Trong bài kinh Bẫy Mồi, đàn nai khôn sẽ không ăn mồi, không bị mắc bẫy. Ăn lúa xong, chúng ta lên đường, ở đây ý nói đến việc khất thực, khi đã khất thực thọ trai xong thì lên đường, Mặc cho kẻ bắt nai than khóc tức là mặc cho cha mẹ, vợ cũ của Ngài than khóc, muốn bắt Ngài đi vào trong bẫy sập của ái dục, vô minh nhưng Ngài vẫn cứ ra đi. Đó là cách ứng xử trong gia đình của bậc A-la-hán, rất là tuyệt vời và tối thượng.
III. Bản chất thế giới
“Tôn giả Ratthapala đọc bài kệ xong đứng dậy, liền đi đến vườn Lộc Uyển của vua Koravya, sau khi đến liền ngồi xuống nghỉ trưa dưới một gốc cây.
Rồi vua Koravya nói với người thợ săn:
-- Này thợ Săn, hãy dọn dẹp đất vườn ở Lộc Uyển, ta muốn đi thăm viếng cảnh đẹp.
-- Thưa vâng, Ðại vương.
Người thợ săn vâng đáp vua Koravya, trong khi dọn dẹp vườn Nai, thấy Tôn giả Ratthapala đang ngồi dưới gốc cây để nghỉ trưa. Sau khi thấy vậy, người ấy liền đến vua Koravya, sau khi đến liền tâu vua Koravya:
-- Tâu Ðại vương, vườn Nai đã được dọn dẹp. Và ở đấy có thiện nam tử tên là Ratthapala là con một thế gia ở Thullakotthita mà Ðại vương thường hay tán thán, vị ấy đang ngồi dưới một gốc cây để nghỉ trưa.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Bậc A-la-hán nghỉ trưa là không phải ngủ như mình mà là các ngài ngồi thiền định dưới gốc cây. Buổi trưa có khi Đức Thế Tôn đi một mình vào rừng ngồi thiền, như vậy gọi là nghỉ trưa. Các vị thời Đức Phật còn tại thế là thường trực đi khất thực, thiền định rồi nghe pháp cho nên tu chắc chắn chứng ngộ. Việc đi khất thực là sự vận động, vừa để gieo duyên cho chúng sanh vừa để kiểm soát cái tâm của mình khi xúc cảnh đối duyên. Sau đó các ngài trở về quán chiếu để giải trừ các tập khí, phiền não, cấu uế, lậu hoặc.
“-- Này Thợ săn, hôm nay thế là vừa đủ về vườn cảnh. Nay chúng ta muốn cung kính cúng dường Tôn giả Ratthapala.
Rồi vua Koravya, sau khi nói: "Ở đây, hãy đem bố thí tất cả món ăn đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm", ra lệnh cho thắng nhiều cỗ xe thù thắng, leo lên một cỗ xe thù thắng, liền cùng với các cỗ xe đi ra khỏi Thullakotthita để yết kiến Tôn giả Ratthapala với đại uy phong của bậc đế vương. Sau khi cỡi xe cho đến chỗ đất còn có thể cỡi xe được, Ngài xuống xe, đi bộ, cùng với hàng tùy tùng vương hầu, đến chỗ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ratthapala, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên. Ðứng một bên, vua Koravya bạch Tôn giả Ratthapala:
-- Ở đây xin mời Tôn giả Ratthapala ngồi xuống trên nệm voi.
-- Thôi vừa rồi, Ðại vương! Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Nếu gặp kẻ phàm phu như người bình thường khi nghe vua mời ngồi trên nệm voi thì mừng rỡ, người bình thường sợ rằng nếu không ngồi sẽ làm vua buồn còn bậc A-la-hán thì từ chối Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi. Từ những cái nhỏ nhiệm này mình phải xem cách ứng xử của một bậc thánh Tăng, bậc đã lậu tận.
“Rồi vua Koravya ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Koravya bạch Tôn giả Ratthapala:
-- Bạch Tôn giả Ratthapala, có bốn sự suy vong này. Chính do thành tựu bốn sự suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn? Lão suy vong, bệnh suy vong, tài sản suy vong, thân tộc suy vong.
Này Tôn giả Ratthapala, thế nào là lão suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Vị ấy suy tư như sau: "Nay ta đã già, niên cao lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này, do thành tựu lão suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala được gọi là lão suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala nay còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong sơ kỳ tuổi đời; Tôn giả Ratthapala đâu có lão suy vong? Vậy Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Thứ nhất là già mới đi tu, thứ hai là bệnh mới đi tu, mang trọng bệnh trong người thì mới có suy nghĩ đi xuất gia.
“Và thưa Tôn giả Ratthapala, thế nào là bệnh suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala, có người bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh, thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu bệnh suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, được gọi là bệnh suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala nay ít bệnh, ít não, tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng; Tôn giả Ratthapala đâu có bệnh suy vong? Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Những bài kinh này là bảo bối của chúng ta, vừa tự tu vừa để trả lời khi người ta hỏi mình. Đây là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha chính từ những bài kinh này được mình học và thực hành. Ngài không phải là người già, cũng không phải là người bệnh thì tại sao ngài lại đi tu? Tiếp theo là đến tài sản của ngài
“Và thưa Tôn giả Ratthapala, thế nào là tài sản suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người giàu sang, tiền của nhiều, tài vật nhiều, và những tài vật của vị ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta trước đây giàu sang, tiền của nhiều, tài sản nhiều. Những tài vật ấy của ta dần dần đã đi đến suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu tài suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala được gọi là tài suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala chính tại Thullakotthita này, là con của một lương gia đệ nhất; Tôn giả Ratthapala đâu có tài sản suy vong? Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Tôn giả không bị tài sản suy vong, Tôn giả giàu có bậc nhất ở vùng này, như vậy tôn giả đã biết gì, thấy gì hay nghe gì mà tôn giả đi tu?
“Và này Tôn giả Ratthapala, thế nào là thân tộc suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, những thân hữu quyến thuộc của người ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Người ấy suy tư như sau: "Trước kia, ta có nhiều người thân hữu quen biết, bà con huyết thống. Những thân hữu quyến thuộc ấy của ta dần dần đi đến chỗ suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu thân tộc suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, được gọi là thân tộc suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala ở chính tại Thullakotthita này, có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, Tôn giả Ratthapala đâu có thân tộc suy vong? Vậy Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
Thưa Tôn giả Ratthapala, đây là bốn loại suy vong, do thành tựu bốn loại suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; Tôn giả Ratthapala đâu có những loại ấy? Vậy Tôn giả đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Sau đây là tiếng gầm sư tử, chúng ta sẽ thấy một bậc đại thánh giả đã lậu tận nói với đại vương
“-- Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
"Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả", thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Chúng ta phải nhớ rằng, trong đây dùng từ thế giới là đồng nghĩa với ngũ uẩn và thân này. Trong kinh Nikāya nói thế giới thì phải hiểu nó là ngũ uẩn hoặc là thân này. Trong quyển Tu học kinh Nikāya ghi thân này là vô thường, đi đến hủy diệt. Thân này là vô hộ, vô chủ. Thân này là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả. Thân này là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
“-- Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt," ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, khi tôi được 20 hay 25 tuổi, tôi thiện nghệ về voi, tôi thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh, và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi cảm thấy có thần lực và xem không ai có thể bằng tôi về sức mạnh.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nay Ðại vương vẫn còn bắp vế mạnh, cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ đánh giặc như vậy không?
-- Không như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi nghĩ: "Ở đây, ta sẽ bước chân", nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
-- Thật vi diệu thay, Tôn Giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.
Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi có bệnh phong kinh niên. Nhiều khi, thân hữu quen biết, bà con huyết thống đứng xung quanh tôi và nói: "Nay vua Koravya sẽ mệnh chung, nay vua Koravya sẽ mệnh chung".
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có thể nói chăng, với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của Ðại vương: "Mong rằng Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi! Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này, để tôi có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; hay là Ðại vương chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi không có thể nói với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của tôi: "Mong rằng các Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi. Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này để có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; và tôi chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình".
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
Mình không thể ra lệnh cho thân này khỏe mạnh, tồn tại mãi được mà nó phải đi đến việc già, bệnh, ốm đau, cho nên thân này là vô hộ, vô chủ, không ai bảo hộ cho nó được. Mình không có quyền làm chủ, ra lệnh cho nó được.
“-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô hộ, vô chủ.
Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này có rất nhiều vàng nén và tiền vàng dưới đất và trên mặt đất". Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Dầu cho nay Ðại vương sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng, Ðại vương có thể nói được như sau: "Chính như vậy, tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng này"; hay là người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn Ðại vương sẽ phải đi theo nghiệp của mình?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, dầu cho nay tôi sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng. Tôi không có thể nói được như sau: "Chính như vậy tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng này". Chính người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn tôi phải đi theo nghiệp của tôi
Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Có phải Ðại vương trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh?
-- Thưa vâng, Tôn giả Ratthapala. Tôi trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có người đáng tin cậy, chánh trực đến với Ðại vương từ phương Ðông, và sau khi đến tâu với Ðại Vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ phương Ðông lại. Ở đấy, tôi có thấy một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi, tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục!" Ðại vương sẽ hành động như thế nào?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây có người đến với Ðại vương từ phương Tây ... từ phương Bắc ... từ phương Nam ... từ bờ biển bên kia, người ấy đáng tin cậy, chánh trực, tâu với Ðại vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ bờ biển bên kia lại. Ở đây, tôi thấy có một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi. Tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục". Ðại vương sẽ hành động như thế nào?
-- Thưa Tôn giả Ratthapala, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái" và tôi sau khi biết, sau khi thấy, sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).
Đã là vua thống trị một cõi vậy mà cũng còn khao khát, cảm thấy thiếu thốn nên muốn xâm lăng, muốn thống trị nhiều đất đai, vương quốc hơn nữa cho nên thân này là thiếu thốn, thân là khát kháo, thân này là nô lệ cho tham ái.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
Tôn giả Ratthapala đã giảng như vậy, sau khi giảng như vậy xong, lại nói thêm như sau:
Ta thấy người giàu sang ở đời,
Có của vì si không bố thí.
Vì tham, họ tích tụ tài vật,
Và chạy theo dục vọng càng nhiều.
Dùng bạo lực, chinh phục quả đất,
Vua trị vì cho đến hải biên,
Không thỏa mãn bờ biển bên này,
Và chạy theo bờ biển bên kia.
Sự thật 3000 năm trước đang hiển hiện nhãn tiền trước mắt, đó là sự giành giật, xâm lấn.
Vua cùng rất nhiều loại người khác,
Ái chưa ly, mạng chung đã đến,
Bị thiếu thốn, không bỏ thân họ,
Không thỏa mãn lòng dục ở đời.
Quyến thuộc tán loạn, khóc người ấy:
"Than ôi, người ấy không bất tử! ".
Mạng thân người ấy vải bao phủ,
Họ đốt lửa làm lễ hỏa thiêu.
Bị thọc với cây, người ấy cháy,
Ðộc mảnh vải, bỏ tiền của lại.
Ở đây, quyến thuộc cùng thân hữu,
Không nơi nương tựa cho kẻ chết.
Kẻ thừa tự, nhận mang tài sản,
Riêng con người, theo nghiệp phải đi,
Tiền của đâu có theo người chết,
Cả vợ con, tài sản, quốc độ.
Tài sản không mua được trường thọ,
Phú quý không tránh được già suy,
Kẻ trí nói đời này thật ngắn,
Thật vô thường, biến đổi luôn luôn.
Kẻ giàu, kẻ nghèo đều cảm xúc,
Người ngu, kẻ trí đồng cảm thọ,
Kẻ ngu bị ngu đánh nằm ngã,
Bậc trí cảm xúc, không run sợ.
Do vậy, trí tuệ thắng tài vật,
Nhờ trí, ở đây được viên thành.
Không thành mãn trong hữu, phi hữu,
Kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp.
Nhập thai thác sanh thế giới khác,
Người ấy luân hồi, tiếp tục sanh,
Kẻ thiểu trí chắc hẳn phải là
Nhập thai và sanh thế giới khác.
Như kẻ trộm bị bắt khi trộm,
Ác tánh hại mình do tự nghiệp,
Chúng sanh cũng vậy chết đời khác,
Ác tánh hại mình, do tự lực.
Dục vọng nhiều loại, ngọt, khả ái,
Nhiễu loạn tâm dưới nhiều hình thức,
Thấy hoạn nạn trong dục trưởng dưỡng,
Nên tôi xuất gia, tâu Ðại vương!
Như quả từ đây, người bị rụng,
Cả già lẫn trẻ, khi thân hoại,
Do thấy chính vậy, tôi xuất gia,
Hạnh Sa-môn phải là tối thắng,
Thưa Ðại vương!
Sau khi thuyết giảng xong thì ngài ứng khẩu ra bài kệ này. Ngay cả Đế Vương mà vẫn còn cảm thấy thiếu thốn nên vẫn muốn xâm lăng, xâm chiếm nước khác. Bốn vấn đề này là bốn vấn đề quán chiếu vĩ đại của chúng ta:
Thế giới (thân này) là vô thường, đi đến hủy diệt.
Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ.
Thế giới (thân này) là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả.
Thế giới (thân này) là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
Bây giờ dựng lên 10 cái chùa, đến khi chết thì đem theo được bao nhiêu cái? Hôm đó con có lại thăm một thầy trụ trì trên Bảo Lộc, khi nghe thầy nói một câu là con hoát nhiên đại ngộ, con không bao giờ quên suốt đời, thầy nói "mình có làm cho dữ đi thầy ơi, mai mốt người khác lên trụ trì là đập bỏ". Con nghe rồi cũng chiêm nghiệm, công việc đầu tiên của người mới được bổ nhiệm làm trụ trì là đập, khi con đi qua các nước như Nhật, Trung Quốc, các di tích của Phật giáo được các vị cao Tăng tổ sư ngày xưa dày công tạo dựng, dày công hướng dẫn tu học cho đại chúng nhưng lớp đệ tử sau không đủ đức, không đủ trí, không đủ phước, không lo thừa tự pháp mà chỉ lo thừa tự tài vật, Thiếu Lâm Tự lên sàn chứng khoán, các chùa lớn đi theo hướng thế tục, đó là cha làm thầy, con đốt sách.
Cho nên chúng ta sẽ học bài kinh thừa tự pháp, bài này rất quan trọng. Những người sau không đủ đức độ đạo hạnh như những người đi trước nên trong sách thiền ghi nhất đại bất như nhất đại. Mỗi một đời về sau này càng kém, càng đi xuống, đời sau không bằng đời trước. Muốn Phật giáo hưng thịnh phát triển thì phải có những bậc pháp trí xuất chúng xuất hiện thì mới chấn hưng được Phật giáo, hàng mấy trăm năm người này mới xuất hiện một lần, khi những vị đó xuất hiện thì mới làm cho Phật giáo được rực rỡ, xán lạn. Chúng ta nhìn thấy bây giờ rất khó thừa tự pháp, Đức Phật đã nói thừa tự pháp chứ đừng thừa tự tài vật, do mình cứ đặt nặng vấn đề đó cho nên mới có sự tranh giành xảy ra trong chùa, bên ngoài cũng nhìn ngó vào.
“-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?". Và này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: "Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp", mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: "Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp"”
(Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)
Mình không có pháp, không tuyên dương, không làm rựa sáng thánh pháp nên người ngoài nhìn vào chỉ thấy vật chất, mà vật chất là đầu mối, nguồn cội cho sự tranh giành, chính vì vậy mà hãy thừa kế chánh pháp, thừa tự pháp còn không Phật giáo sẽ càng ngày càng lụn tàn. Những người Việt trẻ được sinh trưởng bên Mỹ, Úc, ở những nước văn minh, phát triển không có đi chùa, một phần do không biết tiếng mẹ đẻ, mình vào giảng pháp nói tiếng Việt mà họ còn không hiểu thì làm sao nói Hán Việt mà họ hiểu được, cho nên nếu mình không có sự nhìn nhận sâu sắc về giáo pháp, phát huy về pháp, thành tựu về pháp, truyền bá về pháp thì lần lần Phật giáo chỉ có hình thức, bề ngoài, tín ngưỡng.
Còn bản chất thật sự, giá trị thật sự của giáo pháp sẽ bị mai một, không còn ai biết nhiều về đạo lộ thật sự của Đức Thế Tôn. Trong khi đạo lộ thật sự đưa ra thì không ai chấp nhận, họ chỉ thích màu sắc, hình thức, vẻ bề ngoài, chính điều này Phật pháp sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Nhân bài kinh này mà chúng ta thấy được sự thành tựu của một bậc tu hành là phải như vậy để chúng ta có những giây phút chiêm nghiệm, soi rọi, quán chiếu lại sự tu học của mình.
./.