Không nắm giữ tướng chung và riêng
KHÔNG NẮM GIỮ TƯỚNG CHUNG VÀ RIÊNG
-Thích Minh Thành-
Ngày giảng: 14/12/2020
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hành thiền như thế nào? Hành thiền để làm gì? PAGEREF _Toc59437507 \h 1
1. Câu hỏi: PAGEREF _Toc59437508 \h 1
2. Trả lời: PAGEREF _Toc59437509 \h 1
II. Không nắm giữ tướng chung – tướng riêng: PAGEREF _Toc59437510 \h 2
1. Câu hỏi: PAGEREF _Toc59437511 \h 2
2. Trả lời: PAGEREF _Toc59437512 \h 2
3. Như lý tác ý: PAGEREF _Toc59437513 \h 3
III. Cảm thọ được huân tập: PAGEREF _Toc59437514 \h 6
1. Câu hỏi: PAGEREF _Toc59437515 \h 6
2. Trả lời: PAGEREF _Toc59437516 \h 7
IV. Pháp là gì? PAGEREF _Toc59437517 \h 10
V. Thực hành ba pháp: PAGEREF _Toc59437518 \h 10
VI. Đức Thế Tôn dạy về dục và một ví dụ: PAGEREF _Toc59437519 \h 12
I. Hành thiền như thế nào? Hành thiền để làm gì?
Kính thưa đại chúng, chúng ta chỉ còn một buổi ôn thi nữa thôi là chúng ta có thể đến buổi học cuối cùng, nên hôm nay nếu ai có nghi vấn gì có thể hỏi. Những sự khó khăn, thắc mắc, trở ngại trong việc tu học nên hỏi để sau này không hối hận, có thể hỏi trực tiếp hoặc viết giấy gửi lên.
1. Câu hỏi:
Phật tử thứ nhất:
Kính bạch thầy và đại chúng, làm sao mình có thể nếm được các khát vị của thiền dịch thực 05:15 ạ?
2. Trả lời:
Sư phụ giảng giải:
Trước hết mình phải tập ngồi thiền, cô có ngồi thiền mỗi ngày không? Mỗi ngày ngồi được bao nhiêu? Phải tập cho mình có sự nhất định, hằng ngày phải có thời khóa ngồi thiền, buổi tối và buổi khuya. Mình làm gì phải do sự quen, tập riết rồi sẽ quen và mình phải làm đúng pháp thì mới có kết quả. Mình ngồi thiền và học đúng phương pháp thực tập, chuyên cần, siêng năng thì mình sẽ nếm được sự hỷ lạc trong thiền tập, sự bình an nhưu trạng thái sơ thiền chúng ta đã học – ly sanh hỷ lạc, ly dục, ly ác, ly bất thiện pháp, chứng và trú, đó là sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ.
Sự ngồi thiền rất cần làm cho thọ, tưởng, hành lắng dịu, an tịnh, vì hằng ngày chúng ta rất dao động, trừ khi mình ngủ nhưng khi ngủ mình cũng vẫn có dao động, nên tâm mình rất cần sự yên nghỉ, yên tĩnh, những giờ ngồi thiền đó sẽ làm cho thân tâm mình an tịnh, lắng dịu, những giờ đó là những giờ mình soi rọi lại ở bên trong, xem trong đó có gì bất thường không.
Căn nhà nội tâm của mình cần phải quét dọn mỗi ngày giống như căn nhà bên ngoài của mình mỗi ngày phải lau chùi, nhưng căn nhà nội tâm của mình ít có dịp để lau chùi. Giờ ngồi thiền chính là giờ để cho thân tâm của mình nghỉ ngơi và sau đó, mình nhìn kỹ vào trong để xem có chỗ nào dơ thì mình lau chùi. Với một nội tâm thường xuyên được quét dọn, lau chùi thì tâm đó được sạch sẽ, được an tịnh, bình an, bình tĩnh, như vậy mới có sự tinh tấn và quán chiếu về pháp, trí huệ mới được khai mở.
Nếu một nội tâm trong đó hết sức cấu nhiễm, rác bẩn mà mình cũng không chăm sóc quét dọn, lau chùi, tẩy rửa thì giống như mình đang ở trong một căn nhà hôi dơ nhiều năm mà không vệ sinh lau quét. Nên khi mình quét nhà được sạch, thì nhà sạch thì mát, tâm mình được bình tĩnh, trong sáng thì tâm đó rất an tịnh và hỷ lạc, vì vậy trước mắt phải tập ngồi thiền trước, tập cho đều đặn, mỗi tối và mỗi khuya, phải tập trước.
Câu hỏi trên chỉ trả lời bấy nhiêu đó vì chúng ta vẫn chưa thực tập thiền nhiều, mời vị tiếp theo.
II. Không nắm giữ tướng chung – tướng riêng:
1. Câu hỏi:
Phật tử thứ hai:
Bạch thầy cho con hỏi là trong kinh có một câu:
“Khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Chương 1. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, II. Phẩm Thế Giới Dục Công Đức, Bài kinh Sariputta)
Con có được đọc một giải thích là: “không nắm giữ sắc, chú ý vào việc làm để tâm.”
Thưa thầy, con hỏi câu hỏi đó là khi mình thực hành thì không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng là mình vận dụng như thế nào trong cuộc sống?
Còn một câu hỏi nữa là: “Cử chỉ và hành vi đều được ghi vào trong chủng tử”. Vậy như thế nào để mình điều khiển, chọn lọc được ghi nhận của mình vào chủng tử ạ?
2. Trả lời:
Sư phụ giảng giải:
Câu số một liên hệ trong kinh Nikāya, trong phần nào mình đã học? Đó là hộ trì các căn:
“6) Và này Hiền giả, thế nào là hộ trì các căn?
Này Hiền giả, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này Hiền giả, là sự hộ trì các căn.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Chương 1. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, II. Phẩm Thế Giới Dục Công Đức, Bài kinh Sariputta)
Và làm sao để mình không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng?
Mời sư cô chia sẻ, làm sao để mình không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng?
Sư cô:
Con kính bạch thầy cùng tất cả chư đệ, theo nhận xét của cá nhân con thì mắt thấy sắc sanh khởi ra ưa hay không ưa, bắt đầu ngũ uẩn vận hành, nhưng mình phải biết quán nó về sự vô ngã, vô thường thì tâm của mình sẽ lắng đọng xuống, sẽ an tịnh, từ từ sẽ dịu, thì lúc đó mắt lúc nào mình sẽ không thấy được.
3. Như lý tác ý:
Sư phụ giảng giải:
Mình phải như lý tác ý, nếu không như lý tác ý thì chắc chắn mình sẽ nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Ví dụ như thế nào, mình đừng nói sắc của người ta mà nói về sắc của mình thôi, có nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng không? Sáng ngủ dậy mình rửa mặt, súc miệng, đánh răng, sau đó thì mình dùng nước mình rửa mặt mình thì khi đó mình sẽ ngắm vô gương, nếu đó là có gương.
Khi mình nhìn vô như vậy thì mình thấy tổng thể gương mặt của mình thì mình mỉm lên cười nhẹ một cái. Là mình cảm thấy trong bụng mình có một cảm giác hài lòng, điều này rất vi tế, phải để ý lắm mới thấy. Dầu cho nó không đẹp gì hết nhưng nó vẫn hài lòng thậm chí là xấu. Rồi mình nhìn tổng quát gương mặt của mình, đầu, vai… tức là gương hiện tới đâu thì soi tới đó thì mình nhìn tổng quát như vậy thì mình thấy cũng được, đó là tướng chung.
Khi mình để ý kĩ lại, thì thấy gò má bên đây vun lên, tròn hơn hôm trước, hay là hóp vào một chút, hay tai mình có trái tai hay đại loại vậy, thì những cái nhỏ mình để ý vậy như chân mày, lông mi, hay mũi, môi, tai, vòm trán, tất cả những chi tiết đó thì đó là tướng riêng.
Vậy thì làm sao không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng? Vì khi mình nhìn thì tướng chung và tướng riêng hiện lên rồi? Làm sao không nắm được?
Nên vẫn phải như lý tác ý, như những gì mình đã học, mình phải vận dụng lúc này, đem pháp mà Đức Phật đã dạy mình ra. Thân thể này do tứ đại tác thành, được cha mẹ sanh, được cơm cháo nuôi dưỡng, trong thân này, đầu này, nếu lột lớp da mặt ra thì trong đó là đầu lâu, hộp sọ, mở hộp sọ trong đó là não, gân máu, thịt, tròng mắt. Đó là mình nhìn xuyên qua lớp da để mình thấy được bản chất thật sự ở bên trong của nó vì đó là sự thật. Mình không vẽ vời tưởng tượng không có mà tưởng cho có. Và bên trong này là gì?
Khi mình quán chiếu như vậy thì tự nhiên tướng chung tướng riêng bị vỡ ra, phát tung ra, phá được tịnh tướng mà biểu hiện ra cái bất tịnh tướng. Khi tướng bất tịnh hiện ra, bày, lộ, phơi ra thì lúc đó mình còn nắm giữ tướng chung, tướng riêng nữa không? Thì mình nghĩ rằng: “Ớn quá, có gì trong này đâu mà đam mê, mà khoan khoái mà thích thú!” Đó là không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Từ chỗ quán mình thuần thục quen rồi thì tới việc quán tới người. Khi mình tiếp xúc với một người, một vật nào đó, món đồ nào đó, nhất là con người, thì khi mình trở về thì hình bóng xâm chiếm trong tâm mình, sắc tưởng hiện ra, khi hiện ra tổng quát của một con người thì đó gọi là tướng chung. Và khi hiện ra đôi môi, đôi mắt, mũi, thể hình…Những chi tiết bộ phận đó là tướng riêng. Khi đó mình dùng Bất Tịnh Quán, Quán Ba Mươi Hai Thể Trượt, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi mình xuyên thủng lớp da đó giải phẫu ra. Khi mình giải phẫu, dùng trí huệ của thân mình niệm để khai triển thiền quán đó, phơi bày sự thật đó ra, lúc đó nó phá hết tướng chung, tướng riêng, sự nhàm chán bất tịnh sanh khởi, đó là không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Ví dụ bây giờ mình nhìn thấy một đối tượng mà mình sanh khởi lên những tham, ái, dục thì mình quán bộ xương: “Đó chính là bộ xương, bộ xương này mong muốn được bộ xương kia ư?” Mình phải quán để thuần thục thì mới phá được tướng chung, tướng riêng.
Như khi mình đưa người thân của mình vào lò thiêu, người ta đưa giấy hẹn, ngày mai lại đây nhận, khi mình trở lại thì người ta đưa cho mình một cái thùng hoặc là một hũ tro cốt, đó là người thân của mình, là ông bà, mẹ cha giờ đã là đống tro cốt như vậy. Khi đó mình phải thâu hình ảnh tro cốt đó đem cất vào trong tâm của mình, tức là mình phải nhận nó một cách thâm sâu, trọn vẹn thì mình đưa hình ảnh đi vô và mình cất giữ trong này, thường thường lâu lâu mình lại đem hình ảnh đó trở lại, khơi hình ảnh đống tro cốt đó, đống bất tịnh đó, hình ảnh bộ xương, hình ảnh cửu tưởng quán trương phình lên, nứt nẻ ra, dòi ăn, cát bụi, lâu lâu mình khơi lên, quán lên thì tự nó mới thâm nhập, thể nhập, chứng nhập.
Và một khi hình ảnh đó mình đã chứng nhập thì mình nhìn một cái thôi là thân thể này lúc nào cũng bày hiện ra những thực tướng bất tịnh của nó hết, lúc đó là thể nhập trí bất tịnh, phá thân kiến và vào Dự Lưu Thánh quả. Nên đó không đơn giản như mình ngồi quán một lần là chứng liền, không phải vậy mà là phải dày công tu tập thực hành rất nhiều năm thì mới phá được tướng chung và tướng riêng.
Giờ mê ăn thì phá làm sao? Khi nhìn những tô bún riêu, tô bánh canh, bánh xèo thì lúc đó tướng chung tướng riêng hiện ra. Tướng chung là cả cái bánh xéo, tướng riêng là bánh xèo giá hay bánh xèo nấm rơm hay bánh xèo mầm cải. Vậy thì làm sao không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng? Làm sao diệt cảm thọ cũ mà không cho sanh cảm thọ mới? Tất cả đều phải như lý tác ý.
Và tác ý như thế nào? Ăn bốn chục năm rồi mà cứ tham ăn hoài, thèm ăn hoài, ăn cái này vô rồi nuốt xuống thì trong này sẽ thành cái gì rồi khi bày tiết ra có mùi gì, màu gì, hương vị gì. Cứ tác ý như vậy, quán tới lui thì phá được tướng chung, tướng riêng của dĩa bánh xèo đó.
Như Đức Phật đã dạy: quán nhờm tởm đối với thức ăn. Điều này mình không học thì không bao giờ biết được, gặp bánh xèo là hai mắt trố ra rồi ăn lia lịa là hết. Như vậy thì làm sao diệt cảm thọ cũ sanh cảm thọ mới được, không nắm giữ tướng chung không năm giữ tướng riêng? Không lẽ ăn xong rồi hỏi công thức về để làm nữa? Nên không chỉ là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận thức các pháp đều không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, vì mình nắm vào rồi thì ái, thủ sanh khởi, ưa hay không ưa thì tham hoặc là sân, mà tham, sân đều là thủ chứ không chỉ tham là thủ, vì khi giận lên thì cũng nhớ vậy hoài, để trong bụng hoài: “Tại sao cho tôi chỉ nửa cái trong khi cho những người kia được một cái?” Vậy là ghét và mãi nhớ đến chuyện sao bị cho chỉ nửa cái.
Như vậy là sân vẫn thủ, nhưng cái sân đó từ đâu ra? Từ tham ái. Vì vậy mình thấy được rằng sự tu tập của mình như lý tác ý, hết sức quan trọng, tuyệt đối quan trọng nếu mình không tác ý thì pháp không sanh, trí huệ không sanh, sự nhàm chán, sự viễn ly không sanh, chính vì vậy phải tác ý.
Nên khi đọc kinh Nikāya thì thấy tràn ngập Đức Phật dạy: Các ông nên suy nghĩ như vầy, tư duy như vầy, quán như vậy… đó là như lý tác ý. Không phải ngồi thiền là chỉ ngồi im mãi mà không suy nghĩ gì, tùy việc thiền chỉ, thiền quán khác nhau.
III. Cảm thọ được huân tập:
1. Câu hỏi:
Phật tử thứ ba:
Kính bạch thầy con xin hỏi: Về phần hộ trì các căn, có ý nhận thức các pháp, như vừa rồi thầy có giảng, các pháp ở đây chính là thọ, tưởng, hành, tại sao chỉ có ba cái là thọ, tưởng, hành thưa thầy? Vì con không hiểu ở chỗ, các pháp ở đây là thọ, tưởng, hành không phải là…
2. Trả lời:
Sư phụ giảng giải:
Câu hỏi thứ hai của cô phía sau là những người sau này nói chứ trong kinh Nikāya không có nói, nhưng ở đây Minh Thành giải thích theo tinh thần của kinh Nikāya để các cô hiểu. Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.” Vì trong kinh Nikāya đã giải thích tất cả vấn đề, không cần bất cứ người sau nào giải thích thêm, vì không lẽ Đức Phật còn nói thiếu? Đức Phật nói không thừa không thiếu, vậy nên mình học Nikāya rồi mình mới thấy.
Trong tinh thần kinh Nikāya là tất cả pháp lấy thọ làm chỗ hội tụ, quy tụ, nên những gì mình thấy, nghe, tiếp xúc thì sẽ tồn đọng ở chỗ cảm thọ, chỗ đó là chỗ chứa. Nên mình thấy có những người lăng xăng, bất cứ lúc nào cũng vậy, vì họ đã tập tành quen cảm giác lăng xăng. Vì cảm thọ, cảm giác đó họ lặp tới lặp lui nhiều đời nhiều kiếp rồi nên giờ tồn đọng, tồn kho, ứ đọng, là một cục lăng xăng. Nên lúc nào cũng lóc chóc, lăng xăng, vội vội vàng vàng, cảm thọ đó đi theo mình cho đến chết, nếu mình không có một cuộc cải cách lớn thì chúng ta thấy như câu Giang sơn dễ đổi bản tánh khó dời, là khi nào người đó có cuộc đột biến nội tâm lớn thì người ta mới thay đổi, còn nếu không thì ba năm, mười năm, mười lăm năm gặp lại thì người ta cũng vậy, tới già cũng vậy.
Đó là nó hội tụ trong cảm giác của người đó và người đó lấy cảm giác đó tạo thành thói quen là nghiệp và thói quen đó có một sức mạnh sai khiến người này phải như vậy, không như vậy thì chịu không nổi. Giống như có nhiều người nói: “Thà là chết chứ không cho nói thì làm sao chịu nổi thầy? Chết cho rồi chứ không cho nói thì sao chịu nổi? Tịnh khẩu sao chịu nổi?” Đó là tại vì có nhiều người ngồi ba tiếng đồng hồ với họ mà không nói chuyện, hỏi tới thì “Dạ!” không hỏi tới thì thôi, ngồi im re một cục. Lâu lâu mình có gặp người đó không? Y như cục bột hay cục đất, để là cứ ngồi như vậy hoài, hỏi “Rồi chưa?” thì trả lời “Rồi!” còn không hỏi thì thôi cứ ngồi như vậy mãi.
Thọ của người này là thọ ù lì, vì cảm thọ này đã chất chứa nhiều đời nhiều kiếp rồi, thành một cục như vậy, ai làm gì đó làm, thậm chí chửi cũng ngồi vậy, phản ứng rất chậm, thậm chí chửi cũng vậy, phải từ từ rồi mới giận. Lại có người hết sức sắc bén, bén nhạy, người ta chỉ mới nói bóng gió là suy nghĩ ngay: “Kiếm chuyện với tôi đúng không?” còn người kia thì người ta chửi cũng chỉ ngồi đó, từ từ rồi giận. Vì người này huân tụ, tích tụ, chất chứa những cảm xúc, cảm thọ, cảm giác này nhiều đời nhiều kiếp. Không phải là họ hiền mà trong này họ cũng giận cũng quạo, cũng cộc lắm nhưng ở ngoài họ không có biểu hiện gì hết, nhưng cũng có trường hợp là lù khù vác lu chạy. Tất cả những điều đó là do thói quen, tập nghiệp trong quá khứ tích tụ, trong cảm thọ, chỗ này giải mã được tất cả những việc ở trên đời là tại sao bé mới chỉ bốn, năm tuổi là thần đồng âm nhạc. Hay tại sao cũng có người cố gắng học, học tới già mà đàn cũng không ai nghe dù năn nỉ? Còn đây chỉ mới bốn, năm tuổi lên gảy gảy chơi thôi mà cả thế giới phải ngồi lắng tai, nín thở nghe.
Những điều đó là những cảm thọ tích tụ, quân tập, trở thành một thói quen mà điêu luyện, nhuần nhuyễn, sắc sảo và thuần thục, thiện xảo trong những cảm thọ đó, tất cả chất chứa trong cảm thọ. Có nhiều người hết sức nặng về sân, lúc nào cũng thấy bừng bừng, giống như một can xăng bất cứ lúc nào cũng có thể bốc cháy. Đôi lúc mình có gặp những người dạng vậy không? Trong này là thân khí của họ rất khủng khiếp, là sân khí (hơi xăng) tỏa ra mùi rất sân hận, thậm chí là xác khí khi hiện ra. Khi gặp người như vậy mình có sợ không? Sẽ thấy sân khí, xác khí tích tụ trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc của họ chất chứa những cái đó.
Lại có những người mình gặp và thấy mát mẻ dễ chịu, hoặc hết sức mát mẻ hết sức dễ chịu, giống như khi mình gặp hòa thượng Thượng Thanh Hà Từ hay hòa thượng Thượng Trí Hà Tịnh, khi gặp họ giống như đang đi ngoài nắng được vô ngồi trong bóng cây, cây cao bóng cả, lan tỏa trong sự mát mẻ tự tâm của các Ngài, đó là cảm thọ tích tụ, các Ngài đã tích tụ, quân tụ, tu tập nhiều năm, nhiều kiếp nên đời này có sức lan tỏa ra như vậy.
Có những người huân tập về dục, suốt ngày cứ suy nghĩ, nói về dục không. Cũng có người huân tập ngủ với ăn, khi gặp chỉ nói về ăn với ngủ, chỗ kia có món ngon hay chỗ kia mới mở nhà hàng. Như vậy, tất cả những cái huân tập đó chất chứa vào trong cảm thọ và cảm thọ đó là kho chứa của tâm thức, nên mình muốn biết tâm mình có cái gì thì nhìn sâu trong cảm thọ thì nó hiện ra hết, không có gì là không hiện ra, chỉ cần ngồi thiền tĩnh tâm xem lại cảm thọ và hằng ngày trong sinh hoạt tiếp xúc thì mình xem kĩ cảm thọ của mình thì mình sẽ thấy mình có cái gì mình không có biết đâu, mình phải tu tập, quán thọ trên các thọ thì mình mới biết trong cảm thọ của mình có nhiều thứ mà mình không biết.
Đừng giống như là một người mù không thấy biết thân tâm của mình, Đức Phật chỉ cho mình phương pháp để mở con mắt trí huệ để nhìn thấy ngũ uẩn. Nên có những người có những cảm thọ rất lạ, hễ vào ngồi rồi làm rơi muỗng, rơi chén, rơi ly, hễ cầm ly nước uống là rơi lon, rơi ca, cầm trái cây hay dĩa lên cúng Tổ là rơi rồi lăn lăn trên đất, những người như vậy đừng làm luận văn vì gặp những lễ lớn là thôi xong. Họ huân tập cảm thọ lóc chóc, lăng xăng.
Vì vậy, tất cả đều phải có sự huân tập, thực tập, hai mươi bốn oai nghi của mình là sự thực tập, không tự nhiên mà có, tất cả đều phải do mình thực tập, không phải muốn là được mà phải thực tập. Nên mình thấy cái dục bên trong cảm thọ mình làm mình rất mệt, ví dụ như trong giờ ngồi thiền có một vài người ngồi xù xì, là do cái dục bên trong không cho ngồi yên, ngồi yên chịu không nổi, đó là sự sai khiến của dục trong cảm thọ, nó cứ thúc giục bên trong, nên tất cả đều có sự nhận diện và nhiếp phục rồi mới đi đến chỗ đoạn tận.
Ví dụ mình thấy người đó đầu năm đã đi trễ, năm thứ hai họ cũng đi trễ, tới năm thứ ba, thứ tư cũng đi trễ, có những trường hợp như vậy không? Là do họ huân tập cảm thọ đó không chịu sửa. Lại có người đi sớm, đi rất sớm và họ quen như vậy. Nên mình phải xem cảm thọ của mình rồi điều chỉnh cho phù hợp và bây giờ mình muốn chất chứa những ngọc kim cương, hột xoàn, vàng bạc đá quý hay là mình muốn chất chứa phân chuồng, phân bò, phân trâu? Là do tự mình chất chứa trong cảm thọ thôi, mình có cảm thọ nào hiền thiện, trí tuệ, thanh tịnh, an lạc, khinh an, nhẹ nhàng, hướng thượng là mình huân tập cảm thọ đó.
Còn đối với những cảm thọ xấu, bất thiện pháp thì mình nhiếp phục, diệt tận, từ từ rồi sẽ quen trong sự huân tập.
IV. Pháp là gì?
Câu hỏi tiếp theo, cô Phật tử hỏi tại sao pháp lại chỉ có thọ, tưởng, hành thôi mà không có cái khác? Đó là vì Đức Phật nói như vậy, Đức Phật từng nói: Ý thức là biết được thọ, tưởng, hành, đó là định nghĩa của Đức Phật. Ví dụ như những định lý mình học và hỏi tại sao vậy thì có trả lời được không? Định lý nó là như vậy, mà mình y theo như vậy thì mình sẽ thấy được tâm thức của mình chứ định lý, định nghĩa thì mình không thay đổi được. Định nghĩa: Ý thức là biết được thọ, tưởng, hành; nhãn thức là sự rõ biết các sắc; sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức.
Ví dụ Đức Phật nói: Trong lạc thọ có tham tùy miên; trong khổ thọ có sân tùy miên; trong bất khổ bất lạc thọ cảm giác trơ trơ đơ đơ thường thường có si tùy miên. Đó là các định lý, không thay đổi được. Đó là sự phát hiện của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác về thân tập, là những định lý, những khẩu quyết, không được thay đổi và không được thêm bớt. Hãy nhớ kĩ những điều đó, đó là những định lý mà không phải mình muốn thêm hay bớt là được, mình làm đúng như vậy, tập nhận diện thì sẽ ra.
Ví dụ như mình để ý là tâm mình tự nhiên có hình bóng của một đứa trẻ bụ bẫm hai ba tuổi mới hôm qua hôm kia gặp, một đứa bé tròn trịa, mập mạp, trắng trẻo, rất bụ bẫm, giờ mình ngồi trong chùa thì hình bóng của đứa bé hiện ra. Như vậy thì hình bóng đó là tưởng uẩn, mình có cảm giác dễ chịu không, sau đó mình suy nghĩ đứa bé dễ thương quá, khi nào gặp mình nựng hai ba cái nữa, suy nghĩ đó là hành uẩn. Lúc đó mình có rõ biết ba uẩn đó không? Rõ biết như vậy rồi thì nó là như vậy, mình không hỏi tại sao, tại sao thức lại có biết thọ, tưởng, hành mà pháp là như vậy, là định lý của Đức Phật chứng ngộ.
V. Thực hành ba pháp:
Mời vị tiếp theo.
Phật tử thứ tư viết thư:
Bạch thầy cho con hỏi khi thiền quán thì sự phồng xẹp của bụng, khi phồng nhận biết phồng, khi xẹp nhận biết xẹp, lúc đó vọng tưởng vẫn có chỗ xen vào. Khi nghe Ngài Mahasi giảng thì con thêm hai đối tượng khác xen vào sự phồng xẹp của bụng, nếu như phồng ngồi, xẹp đụng thì khi ngồi thiền, thầy cho con hỏi tâm chỉ quán xét phòng ngồi, xẹp đụng hay tâm chạy theo phòng ngồi, xẹp đụng?
Sư thầy giảng giải:
Xin thưa là Minh Thành không thực hành pháp này, Minh Thành từng chia sẻ với các cô cần thực hành ba pháp nhiều lần rồi. Nên mình chỉ biết đến phồng xẹp thôi thì tâm mình rất nhỏ hẹp, ngồi nhắm mắt và chỉ biết phồng xẹp thì nó chỉ ở trong tưởng thôi, mình không rõ biết trước mặt, không cảm giác toàn thân, không biết được trong tâm thọ, tưởng, hành vận hành như thế nào, chúng ta thấy được sự khác biệt không? Hai phương pháp thực tập rất khác nên chúng ta phải thực tập theo phương pháp Đức Phật dạy đầy đủ.
Về phần thực hành ba pháp, Minh Thành đã chia sẻ nhiều lần trong lớp cũng như trên trang linhquyphapan.vn, mời các cô lên trang đó nghe kĩ lại bài Thực Hành Ba Pháp, Công Năng Và Tác Dụng Của Thực Hành Ba Pháp, Lợi Ích Của Thực Hành Ba Pháp. Nghe thật kĩ bài đó rồi mình mở lên rồi có những bài mình mở lên rồi mình ngồi theo, ví dụ như bài Nhập Thức và Chia Sẻ số 1 chỉ cách ngồi thiền, giờ mình mở bài đó lên rồi trong đó hướng dẫn ra sao rồi mình ngồi thực hành theo.
Như chúng ta ngồi và nhắm mắt lại chỉ biết phồng xẹp vậy thì làm sao? Làm sao mình thấy được trong cảm thọ của mình có cái gì, thấy được trước mắt mình là cái gì, đang ở hiện thực và làm sao mình thấy được những suy nghĩ, những tưởng trong tâm, cảm giác thì sao thấy được?
Vậy nên hai pháp thực tập này khác nhau, Minh Thành sẽ không nói nhiều về các pháp thực tập của các vị khác.
Mời vị tiếp theo.
VI. Đức Thế Tôn dạy về dục và một ví dụ:
Nếu đã hết câu hỏi thì mình có một bài kinh ngắn để học.
Trong bài kinh Dục Vọng, Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, Đức Phật đã giảng:
“1. - Phần lớn, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình tìm được lạc thú trong các dục. Với thiện nam tử, này các Tỷ-kheo, đã bỏ một bên lưỡi liềm và đòn gánh, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy vừa đủ để được gọi: "Vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia". Vì cớ sao?
2. Các dục, này các Tỷ-kheo, được tìm thấy với tuổi trẻ, các dục này hay các dục khác. Và này các Tỷ-kheo, các dục hạ liệt, các dục trung đẳng, và các dục tối thắng, tất cả dục đều được chấp nhận là các dục.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có đứa con nít, trẻ nhỏ, ngây thơ đang nằm ngửa, do người vú vô ý, đứa nhỏ cầm một cây que hay hòn sạn cho vào miệng. Người vú hầu ấy phải mau chóng tác ý. Sau khi mau chóng tác ý, phải mau chóng móc cho ra. Nếu không có thể mau chóng móc ra được, thời với tay trái nắm đầu nó lại, với tay mặt, lấy ngón tay làm như cái móc, móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì cớ sao?
Này các Tỷ-kheo, làm như vậy, có hại cho đứa trẻ. Ta nói rằng không phải không có hại. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, người vú hầu phải làm như vậy, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn (đứa trẻ). Nhưng này các Tỷ-kheo, khi đứa trẻ ấy đã lớn lên, và có đủ trí khôn, người vú hầu ấy không săn sóc nó nữa, nghĩ rằng: "Nay đứa trẻ đã biết tự bảo vệ mình, không phóng dật nữa".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào vị Tỷ-kheo chưa gây được lòng tin đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng sợ hãi đối với các thiện pháp, chưa gây được tinh tấn đối với các thiện pháp, chưa gây được trí tuệ đối với các thiện pháp; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta cần phải phòng hộ Tỷ-kheo ấy.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gây được lòng tin đối với các thiện pháp, gây được lòng hổ thẹn đối với thiện pháp, gây được lòng sợ hãi đối với các thiện pháp, gây được lòng tinh tấn đối với các thiện pháp, gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không còn săn sóc Tỷ-kheo ấy, nghĩ rằng: "Nay Tỷ-kheo ấy đã biết tự bảo vệ mình, không còn phóng dật nữa".
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, Chương Năm Pháp, I. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học, bài kinh Dục Vọng)
Đức Phật đã đưa cho chúng ta một ví dụ ngắn gọn nhưng chúng ta thấy rất ý nghĩa. Đức Phật nói phần lớn những loài hữu tình tìm được niềm vui, lạc thú trong các dục, tức là đại đa số chúng sanh, hữu tình, con người tìm được các lạc thú niềm vui trong dục vọng, năm dục trưởng dưỡng – sắc, thanh, hương, vị, xúc – là năm thứ nuôi lớn lòng dục của con người, nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Với một thanh niên hay một thiếu nữ, bỏ một bên lưỡi liềm và đòn gánh để đi xuất gia, nói một cách dễ hiểu là giống như nhà mình đi bán khoai, đi làm mướn, đi kinh doanh buôn bán và mình thì bỏ những nghề nghiệp đó và đi tu, thì Đức Phật gọi người đó là người có lòng tin xuất gia.
Bởi vì, tuổi trẻ là tuổi chạy theo các dục vọng để hưởng thụ lạc thú nhưng bây giờ dám bỏ cha mẹ, bỏ gia đình, cạo tóc thì đó là người có lòng tin tốt lành đi tu. Đức Phật nói rằng dù cho dục bậc cao cấp, bậc vừa hay bậc thấp thì tất cả đều là dục hết. Hình ảnh Đức Phật đưa ra là một đứa trẻ còn rất nhỏ, ngây thơ, nằm ngửa, do người vú nuôi vô ý nên đứa trẻ đó cầm lấy cây que hay hòn sạn, cục đá nuốt vào miệng, khi đó người vú nuôi phải mau chóng tìm đủ mọi cách để móc ra, một tay thì giữ đầu chặt, một tay làm cáo móc cho vào họng móc ra dầu cho phải chảy máu. Tại sao vậy?
Làm như vậy là có hại cho đứa trẻ nhưng vì người vú này muốn có lợi ích, muốn cho đứa trẻ này được bình an, vì lòng thương tưởng, vì từ mẫn, từ tâm đối với đứa trẻ. Nhưng đến khi đứa trẻ lớn lên, đủ trí khôn và nhận thức rồi thì người vú không phải canh chừng nó nữa, vì nó đã tự nhận thức, biết đồ nào ăn được, đồ nào nên bỏ vào miệng, đồ nào không nên bỏ vào miệng, nó không còn bỏ sạn, bỏ sỏi hay bỏ que hay nuốt cái cây.
Như vậy là tại vì người vú nghĩ đứa trẻ đã lớn rồi, biết tự bảo vệ mình không buông lung phóng dật nữa. Cũng vậy, với một người tu, cho đến khi nào vị Tỳ-kheo chưa gây được lòng tin đối với thiện pháp, tín tâm chưa đủ, lòng tin chưa đủ đối với Chánh Pháp, tàm quý của mình chưa đủ, tức là sự hổ thẹn và sự sợ hãi khi mình phạm những ác bất thiện pháp, khi mình không tăng trưởng trong thiện pháp, trong Chánh Pháp mà mình không biết hổ thẹn, không biết sợ hãi thì mình vẫn còn là đứa trẻ thơ, chỉ như một đứa trẻ còn nằm ngửa. Do chưa gây được sự tinh tấn, sự trí tuệ đối với các thiện pháp, thì cho đến khi ấy “Này các Tỳ-kheo, ta cần phải phòng hộ, bảo vệ các Tỳ-kheo ấy!”
Nên khi đọc kinh Nikāya sẽ thấy Đức Phật la rầy rất nhiều, có lúc la rắt nặng. Như vậy, tức là phải móc ra dù cho có chảy máu, như bà vú nuôi vẫn móc họng đứa trẻ đó, để móc được dị vật ra. Khi lúc sáng đọc được bài kinh Lửa cảm thấy chấn động, lời của Đức Phật hết sức mạnh mẽ đối với những người tu phá giới, nói rất nặng, khiến cho mình run sợ.
Chúng ta đối với Thế Tôn chỉ là một đứa trẻ, trí huệ và nhận thức của chúng ta đối với Thế Tôn chỉ là một đứa con nít, trẻ nhỏ còn ngây thơ, còn đang nằm ngửa, nên ta cần được sự bảo vệ, phòng hộ của Đức Phật và các bậc Thánh, các bậc thành tựu Chánh Kiến giúp cho mình. Đừng vội mới thọ giới thì nói “Ta là Tỳ-kheo! Ta giờ là sư cô, là thầy rồi.” mà mình không biết rằng mình như một đứa trẻ con trong Thánh Pháp.
Mình chưa nhìn thấy được thọ, tưởng, hành, thức, chưa nhìn thấy được lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, mình không nhìn thấy và cũng không biết phương pháp nhiếp phục, đoạn tận, mà để cho nó hành hạ, nó xâm chiếm, áp đảo và đau khổ vì nó. Mình không biết phương pháp nào để thoát ra khỏi đó, thì luôn luôn cần sự bảo vệ, sự hộ trì, sự gìn giữ, sự lo lắng.
Dù biết rằng là đau, biết rằng là có hại cho đứa trẻ vì móc sẽ chảy máu nhưng vì lòng thương phải móc, phải ói, mửa, xổ, nhổ, khạc ra thì dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã chất chứa trong đó sẽ ra theo. Chúng ta chất chứa rất lâu đời, rất cần những bậc thiện mạn hữu, thiện mạn đạt, thiện tri thức giúp đỡ cho mình, đừng vội cho bản ngã, cho cái ta của mình giết chết đời mình, rất cần những bậc đạo sư, bậc thiện tri thức, bậc trí huệ, bậc Chánh Kiến giúp đỡ cho mình.
Và mình phải chịu đau, để móc ra cây que ở trong miệng, móc ra cục sạn, sỏi trong yết hầu, bỏ sạch vô minh bản ngã, cống cao ngã mạn, khen mình chê người, dương dương tự đắc, ta đây. Phải móc nó ra, ói, mửa, nhổ, khạc, xổ nó ra để làm cho thân tâm mình trong sạch, thanh tịnh, nhẹ nhàng. Thành tựu được tín tâm bất động đối với Phật Pháp Tăng và Thánh Giới, thành tựu lầm phạm, lầm quý, sự xấu hổ, sự sợ hãi, thành tựu sự tinh tấn, tinh cần, thành tựu trí huệ, sự thấy biết một cách chính xác sâu sắc, rành rẽ đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ viên mãn về ngũ uẩn và tham, sân, si và các lậu hoặc, phải nhìn thấy, nhiếp phục, đoạn tận. Nếu không thì cuộc đời tu của chúng ta không thành tích, vô tích sự, không thành quả, đã vậy còn mang lại tai họa, sau khi chết phải rơi vào ba đường ác vì nợ của mình rất nặng nên phải lấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh làm chủ đề để quán chiếu, để tinh tấn nỗ lực trong giới định tuệ, còn nếu không là mình đơ đơ, mình ở trong trạng thái si mê của vô minh, tùy miên. Mình tưởng đâu như vậy là được nhưng thật sự là không được, mà phải phấn đấu, nỗ lực tăng thượng, hướng thượng. Về có thể xem lại bài Tự Mình Đứng lên số 1, số 2 của kinh Tăng Thượng, Tăng Chi Bộ Kinh.
Những buổi học cuối cùng này Minh Thành đem gia tài của Đức Phật trao lại cho các cô, mong là các cô sẽ gìn giữ thật kĩ. Có thể đây là lần gặp nhau tối hậu, nếu lần sau có gặp thì cũng là lần cuối và mình ra trường hết, nên hãy nắm chặt, giữ gìn các thiện pháp, những gì mình đã học, ghi nhớ thật kĩ, về tiếp tục nghe thêm, tiếp tục thực tập quán chiếu và hành trì.
-Thích Minh Thành-
Ngày giảng: 14/12/2020
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hành thiền như thế nào? Hành thiền để làm gì? PAGEREF _Toc59437507 \h 1
1. Câu hỏi: PAGEREF _Toc59437508 \h 1
2. Trả lời: PAGEREF _Toc59437509 \h 1
II. Không nắm giữ tướng chung – tướng riêng: PAGEREF _Toc59437510 \h 2
1. Câu hỏi: PAGEREF _Toc59437511 \h 2
2. Trả lời: PAGEREF _Toc59437512 \h 2
3. Như lý tác ý: PAGEREF _Toc59437513 \h 3
III. Cảm thọ được huân tập: PAGEREF _Toc59437514 \h 6
1. Câu hỏi: PAGEREF _Toc59437515 \h 6
2. Trả lời: PAGEREF _Toc59437516 \h 7
IV. Pháp là gì? PAGEREF _Toc59437517 \h 10
V. Thực hành ba pháp: PAGEREF _Toc59437518 \h 10
VI. Đức Thế Tôn dạy về dục và một ví dụ: PAGEREF _Toc59437519 \h 12
I. Hành thiền như thế nào? Hành thiền để làm gì?
Kính thưa đại chúng, chúng ta chỉ còn một buổi ôn thi nữa thôi là chúng ta có thể đến buổi học cuối cùng, nên hôm nay nếu ai có nghi vấn gì có thể hỏi. Những sự khó khăn, thắc mắc, trở ngại trong việc tu học nên hỏi để sau này không hối hận, có thể hỏi trực tiếp hoặc viết giấy gửi lên.
1. Câu hỏi:
Phật tử thứ nhất:
Kính bạch thầy và đại chúng, làm sao mình có thể nếm được các khát vị của thiền dịch thực 05:15 ạ?
2. Trả lời:
Sư phụ giảng giải:
Trước hết mình phải tập ngồi thiền, cô có ngồi thiền mỗi ngày không? Mỗi ngày ngồi được bao nhiêu? Phải tập cho mình có sự nhất định, hằng ngày phải có thời khóa ngồi thiền, buổi tối và buổi khuya. Mình làm gì phải do sự quen, tập riết rồi sẽ quen và mình phải làm đúng pháp thì mới có kết quả. Mình ngồi thiền và học đúng phương pháp thực tập, chuyên cần, siêng năng thì mình sẽ nếm được sự hỷ lạc trong thiền tập, sự bình an nhưu trạng thái sơ thiền chúng ta đã học – ly sanh hỷ lạc, ly dục, ly ác, ly bất thiện pháp, chứng và trú, đó là sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ.
Sự ngồi thiền rất cần làm cho thọ, tưởng, hành lắng dịu, an tịnh, vì hằng ngày chúng ta rất dao động, trừ khi mình ngủ nhưng khi ngủ mình cũng vẫn có dao động, nên tâm mình rất cần sự yên nghỉ, yên tĩnh, những giờ ngồi thiền đó sẽ làm cho thân tâm mình an tịnh, lắng dịu, những giờ đó là những giờ mình soi rọi lại ở bên trong, xem trong đó có gì bất thường không.
Căn nhà nội tâm của mình cần phải quét dọn mỗi ngày giống như căn nhà bên ngoài của mình mỗi ngày phải lau chùi, nhưng căn nhà nội tâm của mình ít có dịp để lau chùi. Giờ ngồi thiền chính là giờ để cho thân tâm của mình nghỉ ngơi và sau đó, mình nhìn kỹ vào trong để xem có chỗ nào dơ thì mình lau chùi. Với một nội tâm thường xuyên được quét dọn, lau chùi thì tâm đó được sạch sẽ, được an tịnh, bình an, bình tĩnh, như vậy mới có sự tinh tấn và quán chiếu về pháp, trí huệ mới được khai mở.
Nếu một nội tâm trong đó hết sức cấu nhiễm, rác bẩn mà mình cũng không chăm sóc quét dọn, lau chùi, tẩy rửa thì giống như mình đang ở trong một căn nhà hôi dơ nhiều năm mà không vệ sinh lau quét. Nên khi mình quét nhà được sạch, thì nhà sạch thì mát, tâm mình được bình tĩnh, trong sáng thì tâm đó rất an tịnh và hỷ lạc, vì vậy trước mắt phải tập ngồi thiền trước, tập cho đều đặn, mỗi tối và mỗi khuya, phải tập trước.
Câu hỏi trên chỉ trả lời bấy nhiêu đó vì chúng ta vẫn chưa thực tập thiền nhiều, mời vị tiếp theo.
II. Không nắm giữ tướng chung – tướng riêng:
1. Câu hỏi:
Phật tử thứ hai:
Bạch thầy cho con hỏi là trong kinh có một câu:
“Khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Chương 1. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, II. Phẩm Thế Giới Dục Công Đức, Bài kinh Sariputta)
Con có được đọc một giải thích là: “không nắm giữ sắc, chú ý vào việc làm để tâm.”
Thưa thầy, con hỏi câu hỏi đó là khi mình thực hành thì không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng là mình vận dụng như thế nào trong cuộc sống?
Còn một câu hỏi nữa là: “Cử chỉ và hành vi đều được ghi vào trong chủng tử”. Vậy như thế nào để mình điều khiển, chọn lọc được ghi nhận của mình vào chủng tử ạ?
2. Trả lời:
Sư phụ giảng giải:
Câu số một liên hệ trong kinh Nikāya, trong phần nào mình đã học? Đó là hộ trì các căn:
“6) Và này Hiền giả, thế nào là hộ trì các căn?
Này Hiền giả, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này Hiền giả, là sự hộ trì các căn.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Chương 1. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, II. Phẩm Thế Giới Dục Công Đức, Bài kinh Sariputta)
Và làm sao để mình không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng?
Mời sư cô chia sẻ, làm sao để mình không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng?
Sư cô:
Con kính bạch thầy cùng tất cả chư đệ, theo nhận xét của cá nhân con thì mắt thấy sắc sanh khởi ra ưa hay không ưa, bắt đầu ngũ uẩn vận hành, nhưng mình phải biết quán nó về sự vô ngã, vô thường thì tâm của mình sẽ lắng đọng xuống, sẽ an tịnh, từ từ sẽ dịu, thì lúc đó mắt lúc nào mình sẽ không thấy được.
3. Như lý tác ý:
Sư phụ giảng giải:
Mình phải như lý tác ý, nếu không như lý tác ý thì chắc chắn mình sẽ nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Ví dụ như thế nào, mình đừng nói sắc của người ta mà nói về sắc của mình thôi, có nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng không? Sáng ngủ dậy mình rửa mặt, súc miệng, đánh răng, sau đó thì mình dùng nước mình rửa mặt mình thì khi đó mình sẽ ngắm vô gương, nếu đó là có gương.
Khi mình nhìn vô như vậy thì mình thấy tổng thể gương mặt của mình thì mình mỉm lên cười nhẹ một cái. Là mình cảm thấy trong bụng mình có một cảm giác hài lòng, điều này rất vi tế, phải để ý lắm mới thấy. Dầu cho nó không đẹp gì hết nhưng nó vẫn hài lòng thậm chí là xấu. Rồi mình nhìn tổng quát gương mặt của mình, đầu, vai… tức là gương hiện tới đâu thì soi tới đó thì mình nhìn tổng quát như vậy thì mình thấy cũng được, đó là tướng chung.
Khi mình để ý kĩ lại, thì thấy gò má bên đây vun lên, tròn hơn hôm trước, hay là hóp vào một chút, hay tai mình có trái tai hay đại loại vậy, thì những cái nhỏ mình để ý vậy như chân mày, lông mi, hay mũi, môi, tai, vòm trán, tất cả những chi tiết đó thì đó là tướng riêng.
Vậy thì làm sao không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng? Vì khi mình nhìn thì tướng chung và tướng riêng hiện lên rồi? Làm sao không nắm được?
Nên vẫn phải như lý tác ý, như những gì mình đã học, mình phải vận dụng lúc này, đem pháp mà Đức Phật đã dạy mình ra. Thân thể này do tứ đại tác thành, được cha mẹ sanh, được cơm cháo nuôi dưỡng, trong thân này, đầu này, nếu lột lớp da mặt ra thì trong đó là đầu lâu, hộp sọ, mở hộp sọ trong đó là não, gân máu, thịt, tròng mắt. Đó là mình nhìn xuyên qua lớp da để mình thấy được bản chất thật sự ở bên trong của nó vì đó là sự thật. Mình không vẽ vời tưởng tượng không có mà tưởng cho có. Và bên trong này là gì?
Khi mình quán chiếu như vậy thì tự nhiên tướng chung tướng riêng bị vỡ ra, phát tung ra, phá được tịnh tướng mà biểu hiện ra cái bất tịnh tướng. Khi tướng bất tịnh hiện ra, bày, lộ, phơi ra thì lúc đó mình còn nắm giữ tướng chung, tướng riêng nữa không? Thì mình nghĩ rằng: “Ớn quá, có gì trong này đâu mà đam mê, mà khoan khoái mà thích thú!” Đó là không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Từ chỗ quán mình thuần thục quen rồi thì tới việc quán tới người. Khi mình tiếp xúc với một người, một vật nào đó, món đồ nào đó, nhất là con người, thì khi mình trở về thì hình bóng xâm chiếm trong tâm mình, sắc tưởng hiện ra, khi hiện ra tổng quát của một con người thì đó gọi là tướng chung. Và khi hiện ra đôi môi, đôi mắt, mũi, thể hình…Những chi tiết bộ phận đó là tướng riêng. Khi đó mình dùng Bất Tịnh Quán, Quán Ba Mươi Hai Thể Trượt, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi mình xuyên thủng lớp da đó giải phẫu ra. Khi mình giải phẫu, dùng trí huệ của thân mình niệm để khai triển thiền quán đó, phơi bày sự thật đó ra, lúc đó nó phá hết tướng chung, tướng riêng, sự nhàm chán bất tịnh sanh khởi, đó là không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Ví dụ bây giờ mình nhìn thấy một đối tượng mà mình sanh khởi lên những tham, ái, dục thì mình quán bộ xương: “Đó chính là bộ xương, bộ xương này mong muốn được bộ xương kia ư?” Mình phải quán để thuần thục thì mới phá được tướng chung, tướng riêng.
Như khi mình đưa người thân của mình vào lò thiêu, người ta đưa giấy hẹn, ngày mai lại đây nhận, khi mình trở lại thì người ta đưa cho mình một cái thùng hoặc là một hũ tro cốt, đó là người thân của mình, là ông bà, mẹ cha giờ đã là đống tro cốt như vậy. Khi đó mình phải thâu hình ảnh tro cốt đó đem cất vào trong tâm của mình, tức là mình phải nhận nó một cách thâm sâu, trọn vẹn thì mình đưa hình ảnh đi vô và mình cất giữ trong này, thường thường lâu lâu mình lại đem hình ảnh đó trở lại, khơi hình ảnh đống tro cốt đó, đống bất tịnh đó, hình ảnh bộ xương, hình ảnh cửu tưởng quán trương phình lên, nứt nẻ ra, dòi ăn, cát bụi, lâu lâu mình khơi lên, quán lên thì tự nó mới thâm nhập, thể nhập, chứng nhập.
Và một khi hình ảnh đó mình đã chứng nhập thì mình nhìn một cái thôi là thân thể này lúc nào cũng bày hiện ra những thực tướng bất tịnh của nó hết, lúc đó là thể nhập trí bất tịnh, phá thân kiến và vào Dự Lưu Thánh quả. Nên đó không đơn giản như mình ngồi quán một lần là chứng liền, không phải vậy mà là phải dày công tu tập thực hành rất nhiều năm thì mới phá được tướng chung và tướng riêng.
Giờ mê ăn thì phá làm sao? Khi nhìn những tô bún riêu, tô bánh canh, bánh xèo thì lúc đó tướng chung tướng riêng hiện ra. Tướng chung là cả cái bánh xéo, tướng riêng là bánh xèo giá hay bánh xèo nấm rơm hay bánh xèo mầm cải. Vậy thì làm sao không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng? Làm sao diệt cảm thọ cũ mà không cho sanh cảm thọ mới? Tất cả đều phải như lý tác ý.
Và tác ý như thế nào? Ăn bốn chục năm rồi mà cứ tham ăn hoài, thèm ăn hoài, ăn cái này vô rồi nuốt xuống thì trong này sẽ thành cái gì rồi khi bày tiết ra có mùi gì, màu gì, hương vị gì. Cứ tác ý như vậy, quán tới lui thì phá được tướng chung, tướng riêng của dĩa bánh xèo đó.
Như Đức Phật đã dạy: quán nhờm tởm đối với thức ăn. Điều này mình không học thì không bao giờ biết được, gặp bánh xèo là hai mắt trố ra rồi ăn lia lịa là hết. Như vậy thì làm sao diệt cảm thọ cũ sanh cảm thọ mới được, không nắm giữ tướng chung không năm giữ tướng riêng? Không lẽ ăn xong rồi hỏi công thức về để làm nữa? Nên không chỉ là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận thức các pháp đều không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, vì mình nắm vào rồi thì ái, thủ sanh khởi, ưa hay không ưa thì tham hoặc là sân, mà tham, sân đều là thủ chứ không chỉ tham là thủ, vì khi giận lên thì cũng nhớ vậy hoài, để trong bụng hoài: “Tại sao cho tôi chỉ nửa cái trong khi cho những người kia được một cái?” Vậy là ghét và mãi nhớ đến chuyện sao bị cho chỉ nửa cái.
Như vậy là sân vẫn thủ, nhưng cái sân đó từ đâu ra? Từ tham ái. Vì vậy mình thấy được rằng sự tu tập của mình như lý tác ý, hết sức quan trọng, tuyệt đối quan trọng nếu mình không tác ý thì pháp không sanh, trí huệ không sanh, sự nhàm chán, sự viễn ly không sanh, chính vì vậy phải tác ý.
Nên khi đọc kinh Nikāya thì thấy tràn ngập Đức Phật dạy: Các ông nên suy nghĩ như vầy, tư duy như vầy, quán như vậy… đó là như lý tác ý. Không phải ngồi thiền là chỉ ngồi im mãi mà không suy nghĩ gì, tùy việc thiền chỉ, thiền quán khác nhau.
III. Cảm thọ được huân tập:
1. Câu hỏi:
Phật tử thứ ba:
Kính bạch thầy con xin hỏi: Về phần hộ trì các căn, có ý nhận thức các pháp, như vừa rồi thầy có giảng, các pháp ở đây chính là thọ, tưởng, hành, tại sao chỉ có ba cái là thọ, tưởng, hành thưa thầy? Vì con không hiểu ở chỗ, các pháp ở đây là thọ, tưởng, hành không phải là…
2. Trả lời:
Sư phụ giảng giải:
Câu hỏi thứ hai của cô phía sau là những người sau này nói chứ trong kinh Nikāya không có nói, nhưng ở đây Minh Thành giải thích theo tinh thần của kinh Nikāya để các cô hiểu. Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.” Vì trong kinh Nikāya đã giải thích tất cả vấn đề, không cần bất cứ người sau nào giải thích thêm, vì không lẽ Đức Phật còn nói thiếu? Đức Phật nói không thừa không thiếu, vậy nên mình học Nikāya rồi mình mới thấy.
Trong tinh thần kinh Nikāya là tất cả pháp lấy thọ làm chỗ hội tụ, quy tụ, nên những gì mình thấy, nghe, tiếp xúc thì sẽ tồn đọng ở chỗ cảm thọ, chỗ đó là chỗ chứa. Nên mình thấy có những người lăng xăng, bất cứ lúc nào cũng vậy, vì họ đã tập tành quen cảm giác lăng xăng. Vì cảm thọ, cảm giác đó họ lặp tới lặp lui nhiều đời nhiều kiếp rồi nên giờ tồn đọng, tồn kho, ứ đọng, là một cục lăng xăng. Nên lúc nào cũng lóc chóc, lăng xăng, vội vội vàng vàng, cảm thọ đó đi theo mình cho đến chết, nếu mình không có một cuộc cải cách lớn thì chúng ta thấy như câu Giang sơn dễ đổi bản tánh khó dời, là khi nào người đó có cuộc đột biến nội tâm lớn thì người ta mới thay đổi, còn nếu không thì ba năm, mười năm, mười lăm năm gặp lại thì người ta cũng vậy, tới già cũng vậy.
Đó là nó hội tụ trong cảm giác của người đó và người đó lấy cảm giác đó tạo thành thói quen là nghiệp và thói quen đó có một sức mạnh sai khiến người này phải như vậy, không như vậy thì chịu không nổi. Giống như có nhiều người nói: “Thà là chết chứ không cho nói thì làm sao chịu nổi thầy? Chết cho rồi chứ không cho nói thì sao chịu nổi? Tịnh khẩu sao chịu nổi?” Đó là tại vì có nhiều người ngồi ba tiếng đồng hồ với họ mà không nói chuyện, hỏi tới thì “Dạ!” không hỏi tới thì thôi, ngồi im re một cục. Lâu lâu mình có gặp người đó không? Y như cục bột hay cục đất, để là cứ ngồi như vậy hoài, hỏi “Rồi chưa?” thì trả lời “Rồi!” còn không hỏi thì thôi cứ ngồi như vậy mãi.
Thọ của người này là thọ ù lì, vì cảm thọ này đã chất chứa nhiều đời nhiều kiếp rồi, thành một cục như vậy, ai làm gì đó làm, thậm chí chửi cũng ngồi vậy, phản ứng rất chậm, thậm chí chửi cũng vậy, phải từ từ rồi mới giận. Lại có người hết sức sắc bén, bén nhạy, người ta chỉ mới nói bóng gió là suy nghĩ ngay: “Kiếm chuyện với tôi đúng không?” còn người kia thì người ta chửi cũng chỉ ngồi đó, từ từ rồi giận. Vì người này huân tụ, tích tụ, chất chứa những cảm xúc, cảm thọ, cảm giác này nhiều đời nhiều kiếp. Không phải là họ hiền mà trong này họ cũng giận cũng quạo, cũng cộc lắm nhưng ở ngoài họ không có biểu hiện gì hết, nhưng cũng có trường hợp là lù khù vác lu chạy. Tất cả những điều đó là do thói quen, tập nghiệp trong quá khứ tích tụ, trong cảm thọ, chỗ này giải mã được tất cả những việc ở trên đời là tại sao bé mới chỉ bốn, năm tuổi là thần đồng âm nhạc. Hay tại sao cũng có người cố gắng học, học tới già mà đàn cũng không ai nghe dù năn nỉ? Còn đây chỉ mới bốn, năm tuổi lên gảy gảy chơi thôi mà cả thế giới phải ngồi lắng tai, nín thở nghe.
Những điều đó là những cảm thọ tích tụ, quân tập, trở thành một thói quen mà điêu luyện, nhuần nhuyễn, sắc sảo và thuần thục, thiện xảo trong những cảm thọ đó, tất cả chất chứa trong cảm thọ. Có nhiều người hết sức nặng về sân, lúc nào cũng thấy bừng bừng, giống như một can xăng bất cứ lúc nào cũng có thể bốc cháy. Đôi lúc mình có gặp những người dạng vậy không? Trong này là thân khí của họ rất khủng khiếp, là sân khí (hơi xăng) tỏa ra mùi rất sân hận, thậm chí là xác khí khi hiện ra. Khi gặp người như vậy mình có sợ không? Sẽ thấy sân khí, xác khí tích tụ trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc của họ chất chứa những cái đó.
Lại có những người mình gặp và thấy mát mẻ dễ chịu, hoặc hết sức mát mẻ hết sức dễ chịu, giống như khi mình gặp hòa thượng Thượng Thanh Hà Từ hay hòa thượng Thượng Trí Hà Tịnh, khi gặp họ giống như đang đi ngoài nắng được vô ngồi trong bóng cây, cây cao bóng cả, lan tỏa trong sự mát mẻ tự tâm của các Ngài, đó là cảm thọ tích tụ, các Ngài đã tích tụ, quân tụ, tu tập nhiều năm, nhiều kiếp nên đời này có sức lan tỏa ra như vậy.
Có những người huân tập về dục, suốt ngày cứ suy nghĩ, nói về dục không. Cũng có người huân tập ngủ với ăn, khi gặp chỉ nói về ăn với ngủ, chỗ kia có món ngon hay chỗ kia mới mở nhà hàng. Như vậy, tất cả những cái huân tập đó chất chứa vào trong cảm thọ và cảm thọ đó là kho chứa của tâm thức, nên mình muốn biết tâm mình có cái gì thì nhìn sâu trong cảm thọ thì nó hiện ra hết, không có gì là không hiện ra, chỉ cần ngồi thiền tĩnh tâm xem lại cảm thọ và hằng ngày trong sinh hoạt tiếp xúc thì mình xem kĩ cảm thọ của mình thì mình sẽ thấy mình có cái gì mình không có biết đâu, mình phải tu tập, quán thọ trên các thọ thì mình mới biết trong cảm thọ của mình có nhiều thứ mà mình không biết.
Đừng giống như là một người mù không thấy biết thân tâm của mình, Đức Phật chỉ cho mình phương pháp để mở con mắt trí huệ để nhìn thấy ngũ uẩn. Nên có những người có những cảm thọ rất lạ, hễ vào ngồi rồi làm rơi muỗng, rơi chén, rơi ly, hễ cầm ly nước uống là rơi lon, rơi ca, cầm trái cây hay dĩa lên cúng Tổ là rơi rồi lăn lăn trên đất, những người như vậy đừng làm luận văn vì gặp những lễ lớn là thôi xong. Họ huân tập cảm thọ lóc chóc, lăng xăng.
Vì vậy, tất cả đều phải có sự huân tập, thực tập, hai mươi bốn oai nghi của mình là sự thực tập, không tự nhiên mà có, tất cả đều phải do mình thực tập, không phải muốn là được mà phải thực tập. Nên mình thấy cái dục bên trong cảm thọ mình làm mình rất mệt, ví dụ như trong giờ ngồi thiền có một vài người ngồi xù xì, là do cái dục bên trong không cho ngồi yên, ngồi yên chịu không nổi, đó là sự sai khiến của dục trong cảm thọ, nó cứ thúc giục bên trong, nên tất cả đều có sự nhận diện và nhiếp phục rồi mới đi đến chỗ đoạn tận.
Ví dụ mình thấy người đó đầu năm đã đi trễ, năm thứ hai họ cũng đi trễ, tới năm thứ ba, thứ tư cũng đi trễ, có những trường hợp như vậy không? Là do họ huân tập cảm thọ đó không chịu sửa. Lại có người đi sớm, đi rất sớm và họ quen như vậy. Nên mình phải xem cảm thọ của mình rồi điều chỉnh cho phù hợp và bây giờ mình muốn chất chứa những ngọc kim cương, hột xoàn, vàng bạc đá quý hay là mình muốn chất chứa phân chuồng, phân bò, phân trâu? Là do tự mình chất chứa trong cảm thọ thôi, mình có cảm thọ nào hiền thiện, trí tuệ, thanh tịnh, an lạc, khinh an, nhẹ nhàng, hướng thượng là mình huân tập cảm thọ đó.
Còn đối với những cảm thọ xấu, bất thiện pháp thì mình nhiếp phục, diệt tận, từ từ rồi sẽ quen trong sự huân tập.
IV. Pháp là gì?
Câu hỏi tiếp theo, cô Phật tử hỏi tại sao pháp lại chỉ có thọ, tưởng, hành thôi mà không có cái khác? Đó là vì Đức Phật nói như vậy, Đức Phật từng nói: Ý thức là biết được thọ, tưởng, hành, đó là định nghĩa của Đức Phật. Ví dụ như những định lý mình học và hỏi tại sao vậy thì có trả lời được không? Định lý nó là như vậy, mà mình y theo như vậy thì mình sẽ thấy được tâm thức của mình chứ định lý, định nghĩa thì mình không thay đổi được. Định nghĩa: Ý thức là biết được thọ, tưởng, hành; nhãn thức là sự rõ biết các sắc; sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức.
Ví dụ Đức Phật nói: Trong lạc thọ có tham tùy miên; trong khổ thọ có sân tùy miên; trong bất khổ bất lạc thọ cảm giác trơ trơ đơ đơ thường thường có si tùy miên. Đó là các định lý, không thay đổi được. Đó là sự phát hiện của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác về thân tập, là những định lý, những khẩu quyết, không được thay đổi và không được thêm bớt. Hãy nhớ kĩ những điều đó, đó là những định lý mà không phải mình muốn thêm hay bớt là được, mình làm đúng như vậy, tập nhận diện thì sẽ ra.
Ví dụ như mình để ý là tâm mình tự nhiên có hình bóng của một đứa trẻ bụ bẫm hai ba tuổi mới hôm qua hôm kia gặp, một đứa bé tròn trịa, mập mạp, trắng trẻo, rất bụ bẫm, giờ mình ngồi trong chùa thì hình bóng của đứa bé hiện ra. Như vậy thì hình bóng đó là tưởng uẩn, mình có cảm giác dễ chịu không, sau đó mình suy nghĩ đứa bé dễ thương quá, khi nào gặp mình nựng hai ba cái nữa, suy nghĩ đó là hành uẩn. Lúc đó mình có rõ biết ba uẩn đó không? Rõ biết như vậy rồi thì nó là như vậy, mình không hỏi tại sao, tại sao thức lại có biết thọ, tưởng, hành mà pháp là như vậy, là định lý của Đức Phật chứng ngộ.
V. Thực hành ba pháp:
Mời vị tiếp theo.
Phật tử thứ tư viết thư:
Bạch thầy cho con hỏi khi thiền quán thì sự phồng xẹp của bụng, khi phồng nhận biết phồng, khi xẹp nhận biết xẹp, lúc đó vọng tưởng vẫn có chỗ xen vào. Khi nghe Ngài Mahasi giảng thì con thêm hai đối tượng khác xen vào sự phồng xẹp của bụng, nếu như phồng ngồi, xẹp đụng thì khi ngồi thiền, thầy cho con hỏi tâm chỉ quán xét phòng ngồi, xẹp đụng hay tâm chạy theo phòng ngồi, xẹp đụng?
Sư thầy giảng giải:
Xin thưa là Minh Thành không thực hành pháp này, Minh Thành từng chia sẻ với các cô cần thực hành ba pháp nhiều lần rồi. Nên mình chỉ biết đến phồng xẹp thôi thì tâm mình rất nhỏ hẹp, ngồi nhắm mắt và chỉ biết phồng xẹp thì nó chỉ ở trong tưởng thôi, mình không rõ biết trước mặt, không cảm giác toàn thân, không biết được trong tâm thọ, tưởng, hành vận hành như thế nào, chúng ta thấy được sự khác biệt không? Hai phương pháp thực tập rất khác nên chúng ta phải thực tập theo phương pháp Đức Phật dạy đầy đủ.
Về phần thực hành ba pháp, Minh Thành đã chia sẻ nhiều lần trong lớp cũng như trên trang linhquyphapan.vn, mời các cô lên trang đó nghe kĩ lại bài Thực Hành Ba Pháp, Công Năng Và Tác Dụng Của Thực Hành Ba Pháp, Lợi Ích Của Thực Hành Ba Pháp. Nghe thật kĩ bài đó rồi mình mở lên rồi có những bài mình mở lên rồi mình ngồi theo, ví dụ như bài Nhập Thức và Chia Sẻ số 1 chỉ cách ngồi thiền, giờ mình mở bài đó lên rồi trong đó hướng dẫn ra sao rồi mình ngồi thực hành theo.
Như chúng ta ngồi và nhắm mắt lại chỉ biết phồng xẹp vậy thì làm sao? Làm sao mình thấy được trong cảm thọ của mình có cái gì, thấy được trước mắt mình là cái gì, đang ở hiện thực và làm sao mình thấy được những suy nghĩ, những tưởng trong tâm, cảm giác thì sao thấy được?
Vậy nên hai pháp thực tập này khác nhau, Minh Thành sẽ không nói nhiều về các pháp thực tập của các vị khác.
Mời vị tiếp theo.
VI. Đức Thế Tôn dạy về dục và một ví dụ:
Nếu đã hết câu hỏi thì mình có một bài kinh ngắn để học.
Trong bài kinh Dục Vọng, Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, Đức Phật đã giảng:
“1. - Phần lớn, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình tìm được lạc thú trong các dục. Với thiện nam tử, này các Tỷ-kheo, đã bỏ một bên lưỡi liềm và đòn gánh, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy vừa đủ để được gọi: "Vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia". Vì cớ sao?
2. Các dục, này các Tỷ-kheo, được tìm thấy với tuổi trẻ, các dục này hay các dục khác. Và này các Tỷ-kheo, các dục hạ liệt, các dục trung đẳng, và các dục tối thắng, tất cả dục đều được chấp nhận là các dục.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có đứa con nít, trẻ nhỏ, ngây thơ đang nằm ngửa, do người vú vô ý, đứa nhỏ cầm một cây que hay hòn sạn cho vào miệng. Người vú hầu ấy phải mau chóng tác ý. Sau khi mau chóng tác ý, phải mau chóng móc cho ra. Nếu không có thể mau chóng móc ra được, thời với tay trái nắm đầu nó lại, với tay mặt, lấy ngón tay làm như cái móc, móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì cớ sao?
Này các Tỷ-kheo, làm như vậy, có hại cho đứa trẻ. Ta nói rằng không phải không có hại. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, người vú hầu phải làm như vậy, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn (đứa trẻ). Nhưng này các Tỷ-kheo, khi đứa trẻ ấy đã lớn lên, và có đủ trí khôn, người vú hầu ấy không săn sóc nó nữa, nghĩ rằng: "Nay đứa trẻ đã biết tự bảo vệ mình, không phóng dật nữa".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào vị Tỷ-kheo chưa gây được lòng tin đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng sợ hãi đối với các thiện pháp, chưa gây được tinh tấn đối với các thiện pháp, chưa gây được trí tuệ đối với các thiện pháp; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta cần phải phòng hộ Tỷ-kheo ấy.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gây được lòng tin đối với các thiện pháp, gây được lòng hổ thẹn đối với thiện pháp, gây được lòng sợ hãi đối với các thiện pháp, gây được lòng tinh tấn đối với các thiện pháp, gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không còn săn sóc Tỷ-kheo ấy, nghĩ rằng: "Nay Tỷ-kheo ấy đã biết tự bảo vệ mình, không còn phóng dật nữa".
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2, Chương Năm Pháp, I. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học, bài kinh Dục Vọng)
Đức Phật đã đưa cho chúng ta một ví dụ ngắn gọn nhưng chúng ta thấy rất ý nghĩa. Đức Phật nói phần lớn những loài hữu tình tìm được niềm vui, lạc thú trong các dục, tức là đại đa số chúng sanh, hữu tình, con người tìm được các lạc thú niềm vui trong dục vọng, năm dục trưởng dưỡng – sắc, thanh, hương, vị, xúc – là năm thứ nuôi lớn lòng dục của con người, nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Với một thanh niên hay một thiếu nữ, bỏ một bên lưỡi liềm và đòn gánh để đi xuất gia, nói một cách dễ hiểu là giống như nhà mình đi bán khoai, đi làm mướn, đi kinh doanh buôn bán và mình thì bỏ những nghề nghiệp đó và đi tu, thì Đức Phật gọi người đó là người có lòng tin xuất gia.
Bởi vì, tuổi trẻ là tuổi chạy theo các dục vọng để hưởng thụ lạc thú nhưng bây giờ dám bỏ cha mẹ, bỏ gia đình, cạo tóc thì đó là người có lòng tin tốt lành đi tu. Đức Phật nói rằng dù cho dục bậc cao cấp, bậc vừa hay bậc thấp thì tất cả đều là dục hết. Hình ảnh Đức Phật đưa ra là một đứa trẻ còn rất nhỏ, ngây thơ, nằm ngửa, do người vú nuôi vô ý nên đứa trẻ đó cầm lấy cây que hay hòn sạn, cục đá nuốt vào miệng, khi đó người vú nuôi phải mau chóng tìm đủ mọi cách để móc ra, một tay thì giữ đầu chặt, một tay làm cáo móc cho vào họng móc ra dầu cho phải chảy máu. Tại sao vậy?
Làm như vậy là có hại cho đứa trẻ nhưng vì người vú này muốn có lợi ích, muốn cho đứa trẻ này được bình an, vì lòng thương tưởng, vì từ mẫn, từ tâm đối với đứa trẻ. Nhưng đến khi đứa trẻ lớn lên, đủ trí khôn và nhận thức rồi thì người vú không phải canh chừng nó nữa, vì nó đã tự nhận thức, biết đồ nào ăn được, đồ nào nên bỏ vào miệng, đồ nào không nên bỏ vào miệng, nó không còn bỏ sạn, bỏ sỏi hay bỏ que hay nuốt cái cây.
Như vậy là tại vì người vú nghĩ đứa trẻ đã lớn rồi, biết tự bảo vệ mình không buông lung phóng dật nữa. Cũng vậy, với một người tu, cho đến khi nào vị Tỳ-kheo chưa gây được lòng tin đối với thiện pháp, tín tâm chưa đủ, lòng tin chưa đủ đối với Chánh Pháp, tàm quý của mình chưa đủ, tức là sự hổ thẹn và sự sợ hãi khi mình phạm những ác bất thiện pháp, khi mình không tăng trưởng trong thiện pháp, trong Chánh Pháp mà mình không biết hổ thẹn, không biết sợ hãi thì mình vẫn còn là đứa trẻ thơ, chỉ như một đứa trẻ còn nằm ngửa. Do chưa gây được sự tinh tấn, sự trí tuệ đối với các thiện pháp, thì cho đến khi ấy “Này các Tỳ-kheo, ta cần phải phòng hộ, bảo vệ các Tỳ-kheo ấy!”
Nên khi đọc kinh Nikāya sẽ thấy Đức Phật la rầy rất nhiều, có lúc la rắt nặng. Như vậy, tức là phải móc ra dù cho có chảy máu, như bà vú nuôi vẫn móc họng đứa trẻ đó, để móc được dị vật ra. Khi lúc sáng đọc được bài kinh Lửa cảm thấy chấn động, lời của Đức Phật hết sức mạnh mẽ đối với những người tu phá giới, nói rất nặng, khiến cho mình run sợ.
Chúng ta đối với Thế Tôn chỉ là một đứa trẻ, trí huệ và nhận thức của chúng ta đối với Thế Tôn chỉ là một đứa con nít, trẻ nhỏ còn ngây thơ, còn đang nằm ngửa, nên ta cần được sự bảo vệ, phòng hộ của Đức Phật và các bậc Thánh, các bậc thành tựu Chánh Kiến giúp cho mình. Đừng vội mới thọ giới thì nói “Ta là Tỳ-kheo! Ta giờ là sư cô, là thầy rồi.” mà mình không biết rằng mình như một đứa trẻ con trong Thánh Pháp.
Mình chưa nhìn thấy được thọ, tưởng, hành, thức, chưa nhìn thấy được lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, mình không nhìn thấy và cũng không biết phương pháp nhiếp phục, đoạn tận, mà để cho nó hành hạ, nó xâm chiếm, áp đảo và đau khổ vì nó. Mình không biết phương pháp nào để thoát ra khỏi đó, thì luôn luôn cần sự bảo vệ, sự hộ trì, sự gìn giữ, sự lo lắng.
Dù biết rằng là đau, biết rằng là có hại cho đứa trẻ vì móc sẽ chảy máu nhưng vì lòng thương phải móc, phải ói, mửa, xổ, nhổ, khạc ra thì dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã chất chứa trong đó sẽ ra theo. Chúng ta chất chứa rất lâu đời, rất cần những bậc thiện mạn hữu, thiện mạn đạt, thiện tri thức giúp đỡ cho mình, đừng vội cho bản ngã, cho cái ta của mình giết chết đời mình, rất cần những bậc đạo sư, bậc thiện tri thức, bậc trí huệ, bậc Chánh Kiến giúp đỡ cho mình.
Và mình phải chịu đau, để móc ra cây que ở trong miệng, móc ra cục sạn, sỏi trong yết hầu, bỏ sạch vô minh bản ngã, cống cao ngã mạn, khen mình chê người, dương dương tự đắc, ta đây. Phải móc nó ra, ói, mửa, nhổ, khạc, xổ nó ra để làm cho thân tâm mình trong sạch, thanh tịnh, nhẹ nhàng. Thành tựu được tín tâm bất động đối với Phật Pháp Tăng và Thánh Giới, thành tựu lầm phạm, lầm quý, sự xấu hổ, sự sợ hãi, thành tựu sự tinh tấn, tinh cần, thành tựu trí huệ, sự thấy biết một cách chính xác sâu sắc, rành rẽ đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ viên mãn về ngũ uẩn và tham, sân, si và các lậu hoặc, phải nhìn thấy, nhiếp phục, đoạn tận. Nếu không thì cuộc đời tu của chúng ta không thành tích, vô tích sự, không thành quả, đã vậy còn mang lại tai họa, sau khi chết phải rơi vào ba đường ác vì nợ của mình rất nặng nên phải lấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh làm chủ đề để quán chiếu, để tinh tấn nỗ lực trong giới định tuệ, còn nếu không là mình đơ đơ, mình ở trong trạng thái si mê của vô minh, tùy miên. Mình tưởng đâu như vậy là được nhưng thật sự là không được, mà phải phấn đấu, nỗ lực tăng thượng, hướng thượng. Về có thể xem lại bài Tự Mình Đứng lên số 1, số 2 của kinh Tăng Thượng, Tăng Chi Bộ Kinh.
Những buổi học cuối cùng này Minh Thành đem gia tài của Đức Phật trao lại cho các cô, mong là các cô sẽ gìn giữ thật kĩ. Có thể đây là lần gặp nhau tối hậu, nếu lần sau có gặp thì cũng là lần cuối và mình ra trường hết, nên hãy nắm chặt, giữ gìn các thiện pháp, những gì mình đã học, ghi nhớ thật kĩ, về tiếp tục nghe thêm, tiếp tục thực tập quán chiếu và hành trì.