Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm sao trở thành người xuất gia đúng nghĩa 2 (2)

2026-03-03 00:55:49
LÀM SAO TRỞ THÀNH

NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hạnh tàm quý, hổ thẹn: PAGEREF _Toc48377307 \h 1

II. Minh chánh, cởi mở: PAGEREF _Toc48377308 \h 2

III. Hộ trì căn: PAGEREF _Toc48377309 \h 3

IV. Ý căn: PAGEREF _Toc48377310 \h 4

V. Chướng ngại pháp: PAGEREF _Toc48377311 \h 10

VI. Tỉnh giác: PAGEREF _Toc48377312 \h 13

VII. Năm triền cái: PAGEREF _Toc48377313 \h 15

VIII. Kết quả tu học: PAGEREF _Toc48377314 \h 23

IX. Trình pháp: PAGEREF _Toc48377315 \h 29

I. Hạnh tàm quý, hổ thẹn:

Cách đây hai, ba hôm, Minh Thành có nói chuyện với trường hạ, ở chùa Việt Nam Quốc Tự, có gần một trăm vị hành giả an cư tại đó. Với bài kinh “Đại Kinh Xóm Ngựa”, bài kinh này rất quan trọng, Đức Phật dạy về những pháp tác thành Sa-môn. Tức là những điều kiện cần và đủ, để trở thành một người xuất gia, lấy chủ đề là “Làm sao trở thành người xuất ra đúng nghĩa”. Nhưng mà thời gian ở đó, nói một tiếng rưỡi được nửa bài kinh thôi.

Cho nên hôm nay, chúng ta sẽ học tiếp bài kinh này, tất cả người xuất gia phải nắm thật vững, nếu được phải học thuộc lòng. Vì bài kinh này là những điều kiện tiên quyết của người xuất gia, nếu xuất gia mà không biết bài kinh này, là một sự thiếu khuyết, không cho phép. Như vậy, những điều kiện để trở thành một người xuất gia chân chánh là gì? Trước khi chúng ta học tiếp, thì Minh Thành nói khái quát lại.

Đầu tiên là mình phải thành tựu tàm quý, sự hổ thẹn. Nếu không có sự hổ thẹn, thì mình chưa phải là người xuất gia. Hổ thẹn khi mà những pháp ác bất thiện, còn trong thân tâm của mình. Thí dụ bây giờ ngồi thiền, đại chúng người ta tỉnh táo hết, còn mình thì buồn ngủ hoài, mình phải hổ thẹn, nỗ lực, phải làm sao để diệt trừ nó, không để nó tiếp diễn nữa. Mình có cái tâm đó, thì mình mới diệt từ từ nó được. Hay là tham còn ở trong lòng mình, tuy mình chưa diệt hết, nhưng mình có sự hổ thẹn, thì từ từ mình diệt, sân hận cũng vậy. Thành ra, pháp hổ thẹn này mà không có, thì không thể trở thành một người xuất gia chân chánh được, pháp hổ thẹn này hay lắm.

II. Minh chánh, cởi mở:

Thứ hai, là phải thành tựu thân, miệng, ý, những hành động của thân, miệng, ý trong sạch, không tì vết, không che giấu những lỗi lầm. Mình nhìn lại mình xấu hổ, ở ngoài mình nhìn thấy đẹp đẽ, vậy chứ nhìn sâu trong nội tâm của mình, thì mình còn che giấu nhiều thứ lắm. Cho nên, cái thứ hai là phải thành tựu được những ý nghĩ, lời nói và hành động, thanh tịnh, trong sạch, không tì vết, không che giấu lỗi lầm, minh chánh, cởi mở (những từ này hay lắm). 

“Minh chánh” là sáng suốt, ngay thẳng. “Cởi mở” là mình tu thì tu, nhưng đối với mọi người thì mình phải có tâm rộng mở, chứ đừng có lúc nào cái mặt khi nhìn vô cũng không muốn nhìn người ta, cái đó là thiếu pháp Đức Phật dạy, “cởi mở này sanh ra cái phước cho mình”. Cũng giống như một đóa hoa búp và một đóa hoa nở, sự không cởi mở giống như một đóa hoa búp hoài không chịu nở, cởi mở thì giống như một đóa hoa đang nở ra. Khi người ta gặp mình, người ta nói chuyện, hay tiếp xúc với mình, dù rằng mình hộ trì căn, mình phòng hộ tâm, nhưng mình vẫn cởi mở mở, chứ không phải hộ trì căn là mình không thèm dòm mặt người ta, chỗ đó là chỗ khéo, chỗ không có trung đạo. Hay dòm hết từ chân đến đầu người ta thôi à, nói chuyện mà dòm hoài vậy đó, không còn sót gì hết, thả lỏng hết các căn đó là một thái cực. Còn một thái cực là không thèm dòm người ta, người ta muốn mở tâm với mình, nhưng mình không thèm, mình lắc đầu, đóng cửa, khép kín, đóng chặt, khóa lại. Thành ra những chữ đó thầy chỉ gợi ý nhỏ nhỏ thôi, chứ còn trong đó là cả một kho đạo lý, những chữ đó mình đọc mình phải chiêm nghiệm.

“Thân hành, khẩu hành, ý hành, của chúng ta phải được trong sạch, thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tì vết, không có che giấu”. Mình được như vậy, nhưng mình không có khen mình, chê người, không có thấy mình hay, người ta dở, mình cao, người ta thấp, mình đúng, người ta sai, mình tịnh, người ta không tịnh, thấy vậy là không đúng với cái hạnh của Sa-môn, không phải người xuất gia chân chánh. Những cái này đã có giải thích rồi, hôm nay thầy chỉ điểm lại thôi.

III. Hộ trì căn:

Yếu tố tiếp theo để trở thành một người xuất gia đúng nghĩa là, phải hộ trì các căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). “Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân”, cái này người khác có thể nhìn được, còn hộ trì “ý” căn thì người khác không thể nhìn được. Cái này rất là sâu sắc, sao gọi là hộ trì ý căn? Con mắt mình hộ trì là mình không có nhìn láo lia. Lỗ tai mình hộ trì, là mình nghe lời nói hay tiếng động kia, mình cũng Chánh Niệm, không có chạy theo âm thanh. Ngửi cái mùi thơm hay được cái vị ngon đi chăng nữa, thì mình cũng ăn một cách thong thả, Chánh Niệm. Hoặc là mình được tiếp xúc với những đồ quý, đồ tốt, phòng đẹp, nhà đẹp, giường đẹp, xe đẹp... Lúc đó, mình cũng không bị chạy theo những sự tiếp xúc của thân, những cái cảm giác do thân tiếp xúc.

Nhưng bây giờ, một cái sâu sắc là hộ trì ý căn thì mình phải làm sao? “Những nguyên nhân gì khiến cho ý căn không được chế ngự, khiến cho tham, ái, ưu, bi  và các ác bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn và thực hành hộ trì ý căn”. Tức là, những nguyên nhân nào khiến cho ý căn không được chế ngự, khiến cho ưu, bi và các ác thiện pháp khởi lên (hồi sáng này chúng ta nghe mấy cái pháp thối đọa của Tỳ-kheo, là không cho đi vào chợ, vào phố, vào thành, đi sớm, về trễ, những nguyên nhân đó nó khiến cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, của mình sanh khởi lên tham, ái, ưu, bi và ác bất thiện pháp).

IV. Ý căn:

Chẳng hạn như bây giờ, chúng ta đang ngồi thiền, thì mình hộ trì ý căn làm sao? (Pháp Sơn nói thử, đang ngồi thiền thì hộ trì ý căn làm sao?)

 Thầy Pháp Sơn

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.

Khi con thực tập trong lúc ngồi thiền, thì sự hộ trì ý căn, nơi mà con thực tập dựa theo tinh thần mà Đức Phật dạy, chính là mình phải Chánh Niệm, không có buông lung, mình phải nhận diện được những pháp sanh khởi ở bên trong, đó là những pháp gì. Là thọ, tưởng, hành của mình, do duyên nơi ý căn, các pháp thọ, tưởng, hành sanh khởi ra ý thức và sự rõ biết các pháp thọ, tưởng, hành này. Ba pháp này giao thoa gọi là ý xúc. Chính ý xúc này, nếu như mình không khéo nhìn vào, thì nó sẽ sanh ra thọ, tưởng, hành thứ hai, và nó cứ tiếp diễn như vậy mà mình không có khéo Như lý tác ý, thì mình sẽ bị thọ, tưởng, hành thứ hai, thứ ba, thứ tư này nó dẫn dắt mình, mình sống trong sự thất niệm, buông lung. Cho nên con nghĩ rằng, sự hộ trì ý căn đối với người hàng giả, là phải có Chánh Niệm, không có buông lung trong tâm ý, đó là sự nhận hiểu của con.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

(Thầy Pháp Sơn nói cái này là danh từ rất chuyên môn, thì những người khác sẽ khó hiểu. Giờ thầy giải thích lại).

Khi mình ngồi thì mình phải nhìn cảm giác, trong khi ngồi thiền, phải rõ biết cái cảm giác của mình, nó đang có cảm giác gì. Để ý cái cảm giác rồi, mình phải để ý những hình bóng trong nội tâm, coi trong tâm có những hình bóng gì. Kế đó mình phải để ý những cái suy nghĩ, những lời nói thầm trong tâm (nói cái này người ta dễ hiểu không? Mình nói những danh từ chuyên môn thì một số người ta không hiểu. Mà cái này rất là sâu sắc, nhiều khi mình tu ba chục năm, mình không hiểu được ý xúc này. Cho nên mình nói kỹ cái này một chút, để cho quý huynh đệ nắm cho thật vững, cũng như những người thực tập ngồi thiền phải nắm thật rõ ý xúc này). Mình để ý vào cảm giác, hình bóng trong nội tâm và những suy nghĩ, khi mình để ý như vậy thì lúc đó mình có sự rõ biết.

Giống như mình ngồi ở đây, mình để ý vô cái cây ở trên bàn này, mình để ý mình mới thấy “nó có cái dáng cong, rồi nó cũ kỹ làm sao, rồi cỏ của nó làm sao”, nếu mà mình không để ý cái cây này, thì nó có trước mắt mình thì cũng như không. Thì trong nội tâm mình cũng như vậy, mình phải để ý.

Thành ra trong sự tu tập về thiền quán trong đạo Phật nó rất tinh tế, tinh vi, tinh anh, cái để ý đó là cái rất quan trọng. Tại vì nếu mình không để ý, thì các pháp là cảm giác, hình bóng, suy nghĩ này kia, nó qua mặt mình hết. Mình ngồi đó mình lờ mờ, nó có cái gì mình không biết, hoặc là mình biết nhưng biết một cách không rõ ràng. Giống như cái đèn mà nó không đủ điện, nó chớp chớp, giật giật, hoặc nó lờ mờ do nó không đủ điện, thì lúc đó là trạng thái của vô minh trong khi ngồi thiền. Mình thấy không, hồi đó tới giờ mình học vô minh, mình tưởng vô minh là cái gì đó sâu xa lắm, phải vô thủy kiếp gì đó, nhưng mà ngay chỗ ngồi thiền, mình thấy đó là vô minh (là độ sáng của tâm mình không đủ, không có tỏ rõ, không có sáng tỏ, thì đó là vô minh). Mà trong cái vô minh đó, mình không có nhận thức, hoặc là nhận thức một cách lờ mờ thôi. (Cái này nó còn sâu nữa nên thôi, bây giờ mình trở lại vấn đề ý xúc, mình nói cho kỹ)

Làm sao mình để ý được cảm giác? Là mình phải thực hành ba pháp “rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác”, thì có sự tỉnh giác, sáng tỏ trong ngoài, thì lúc đó những cái gì mà nó xuất hiện ra trong giờ phút đó, mình đều rõ biết hết. Thí dụ không khí bên ngoài, nóng mình cũng biết là nóng, lạnh mình cũng biết là lạnh. Cái thân, cái chân của mình xúc chạm vô cái (toạ) cụ, thì mình cũng biết chỗ đó đang chạm. Cái thế ngồi của mình ngồi vững thì mình cũng biết, cái đầu nghiêng qua bên thì mình biết, để mình chỉnh lại.

Còn cái này mình riết rồi nó nghiêng, nó quẹo qua một bên luôn, mình chỉnh lại một hồi là quẹo lại, chỉnh xong lại quẹo, không chỉnh được. Tại sao vậy? Tại vì mình không độ Chánh Niệm tỉnh giác, cảm giác toàn thân của mình không có đủ, cho nên mình nghiêng lúc nào mình không biết, hay là mình hôn trầm, mình không biết. Cho nên, cái đó là sự tu tập về cảm giác toàn thân mình không đủ. Nếu mình có, thì cái gì vừa thay đổi là mình nhận biết được liền.

Cái trên là nói về bên ngoài, còn về bên trong, khi mình Chánh niệm tỉnh giác, cảm giác toàn thân của mình rõ ràng, sáng tỏ, thì lúc đó phải để ý, chú tâm, nhìn lại. Cái đó là một công việc rất nhỏ nhiệm, mà nó phải rất là chuyên cần, nó không phải làm bếp, xây hồ hay thợ mộc này nọ kia, cái chuyên cần ở ngoài đó mà so với cái chuyên cần này, nó gấp trăm lần. Chút xíu chúng ta sẽ bước qua, vì cái chuyên cần này nó sâu xa lắm, nó phải liên tục không gián đoạn, hở ra cái là nó sẽ vọt đi mất tiêu, qua mặt mình liền.

Bây giờ ở ngoài, củ cà rốt, khoai tây hay nấm rơm thì mình bóc được, rồi mình xắt ra, bỏ vô nồi nấu, múc ra tô, thì mình làm được, mình cầm được. Còn cái kia thì mình cầm làm sao? nó không có hình tướng thì lấy gì cầm, nó giống như ma, giống như cái ảo của thế giới ảo, nói lờ mờ, lờ đờ, khi có, khi không, khi chập chờn, nhưng mà mình phải thấy được hết. Mà muốn thấy được hết như vậy, là cả một cái sự tỉnh táo, để tâm, để ý, chú tâm vô. Mà chú tâm là chú tâm một cách tỉnh táo, nhẹ nhàng, chứ chú tâm nặng quá một hồi là cái đầu nó căng ra, mà mình thả ra một hồi là thành buông lung, thấy cái chỗ khó không? Mình chú tâm quá thì mình căng thẳng, nó nóng cái đầu, mà bây giờ không chú tâm gì hết, buông ra, thì một hồi nó mất tiêu, không có nhận biết, không có tỉnh giác, đây là pháp hành.

Khi mình để ý như vậy, thì đây là ý căn. Kế đó là pháp trần (những cảm giác, hình bóng của nội tâm, suy nghĩ những cái mình tiếp xúc với sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài nó biểu hiện). Thì sự rõ biết của mình nó biết, khi mình để ý vô cái rõ biết đó, là thức. Thì ba pháp này giao thoa, hội tụ, gặp gỡ, tiếp xúc với nhau tạo thành một cái, gọi là ý xúc, đây là sự tiếp xúc của ý thức, của ý căn và của pháp trần. Ba cái này gặp gỡ, giao thoa, hội tụ, tiếp xúc với nhau thành ra cảm giác.

Hồi nãy là cảm giác thứ nhất, bây giờ nó ra cảm giác thứ hai, đây gọi là thọ do (ý) xúc sanh. Tức là cảm giác do trong tâm trí của mình tiếp xúc với các pháp căn, trần, thức sanh ra, cảm giác này là một thứ cảm giác ở bên trong nó làm việc, không có dính dáng gì ở bên ngoài. Có khi mình ngồi, mà mình quên nắng, quên mưa, quên nóng, quên lạnh, mình quên cái cảm giác bên ngoài luôn, mình chỉ biết cảm giác trong nội tâm, thì cái cảm giác này là cảm giác ở bên trong. Mà những hình bóng đó khi mình trình pháp, trình bày năm uẩn, thì các huynh đệ không ai giống ai hết.

Cho nên các thọ, tưởng, hành, thức nó hoàn toàn khác nhau hết. Nó giống một cái là nó vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, cái đó là quy luật chung, nhưng mà ở trong cái vọng tưởng, cảm giác, suy nghĩ của mình thì nó khác nhau, không ai giống ai. Không có ai mà sắc, thọ, tưởng giống y hệt nhau, kể cả cha con, mẹ con, anh chị em ruột, vợ chồng gì cũng không ai giống ai hết. Chính vì nó khác, cho nên nó tạo nghiệp khác nhau, nó sai biệt.

Như vậy, chỗ hội tụ ba pháp này quan trọng lắm, chỗ này là chỗ trí huệ sáng tỏ, Chánh niệm tỉnh giác, thì nhìn thấy chỗ này có ba pháp nó giao thoa, sanh ra một cảm giác (cảm giác có ba loại cảm giác: Dễ chịu, khó chịu hoặc không dễ chịu, không khó chịu) thì ở trong đó có tham, sân và si. Nếu hình bóng trong nội tâm của mình lúc đó hiện ra những hình ảnh, của người mà hồi sáng nói với mình câu gì đó, mà cái câu đó nó vang lại, hình ảnh của người đó nó vang lại, cái tưởng, cái hành nó hiện ra, thì mình có cảm giác khó chịu, bực mình. Trong khi đó, người kế bên không bao giờ thấy chuyện đó, không nghe cái đó, mà tự thân mình thấy, nghe và cảm giác điều đó. Có phải là huyễn pháp không?

Đây là sống trong huyễn, huyễn pháp nó làm việc, tuy nó là huyễn, nhưng nó tạo ra cái khổ của huyễn. Nếu như mình nuôi dưỡng cái huyễn, cái hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó, mình tưới tẩm, chấp nhận, làm nó tăng trưởng, phát triển, thì sẽ đẩy mình từ ý hành, đến khẩu hành, rồi đến thân hành (suy nghĩ xong, rồi đến lời nói, rồi đến hành động). Những chỗ này là chỗ phải nhìn cho thật kỹ ở trong cảm giác, vì nó hiện rõ nhất trong cảm giác, nó đi chung với nhau một chùm giống như chùm nho, hay chùm cà có ba trái ba trái (thọ, tưởng, hành), cảm giác, hình bóng, rồi suy nghĩ nó đi dính chùm với nhau như vậy đó. Cho nên, ý xúc này là một cái rất sâu xa.

Nếu như mình ngồi mà mình lờ mờ, lờ đờ, mắt mở không ra, xao động một hồi thì gãy, một hồi thì ngứa, một hồi thì quay ra, một hồi trở lại, thì làm sao mình thấy nổi ý xúc này? Thấy còn thấy không nổi, thì làm sao mình nhiếp phục được? Cho nên, mình phải huấn luyện thân trước, rồi sau mới huấn luyện tâm, làm chủ được tâm. Mình biết khi mình ngồi thiền, mình bị trạo cử hoài, là mình hôn trầm, cái nghiệp đó rất là nặng. Phải trở lại sám hối, lạy hoài, dập đầu xuống, làm chừng nào cho nó hết mới thôi. Nếu mình không nhiếp phục được cái này, thì cả cuộc đời tu của mình coi như không bao giờ bước vào cửa pháp được. Mình đang học năm triền cái, mà mình không vượt được năm triền cái đó, thì mình không vào sơ thiền được.

Hết sức sâu sắc trong cái chỗ ý xúc này, thọ do (ý) xúc sanh. Đó là mình nói về sân, còn tham ái cũng vậy, những hình bóng nó hiện ra, những gì mình đã từng tiếp xúc hiện ra, mình thích thú, khoái trong đó, rồi nó nghĩ rằng “sẽ gặp lại người đó, gặp lại món đồ đó, rồi làm gì đó” thì nó diễn ra như vậy, hết cảm giác, rồi hình bóng của nội tâm, rồi tới cái suy nghĩ thứ nhất, đến thứ hai, xong nó dẫn đi đến cái thứ ba, thứ tư…rồi nó cứ đi tới hoài như vậy, đó gọi là chúng sanh. Tức là cái chúng ngũ uẩn đó nó sanh khởi liên tục, mà mình không biết cách dừng nó lại.

Nếu không có Như lý tác ý, không có sự quán chiếu, tu tập, mình không thấy được đây là cảm giác, đây là những hình bóng (tưởng), đây là những suy nghĩ (hành). Tất cả những cái này là do xúc sanh, là do những tiếp xúc nó sanh ra, nó là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, không tiếp tục, không chấp nhận nó nữa, mình nói “thôi mệt quá, cho ta nghỉ đi, nhiêu đó đủ rồi, tới đây là nó vừa đủ rồi, mày hành hạ tao khổ mấy chục năm bây giờ chưa vừa lòng, chưa đủ hay sao? Mi hành hạ ta sáu chục năm rồi, còn thấy chưa vừa lòng hay sao? Còn tiếp tục nữa hay sao? Mi hành hạ, bốn mươi năm, ba chục năm, hai mươi mấy năm rồi còn chưa đủ hay sao? Mà cái vòng luân hồi này mấy chục kiếp bị nó hành hạ, bị nó đi theo nữa hay sao? còn khổ nữa hay sao?” Mình phải dùng Như lý tác ý cho thật mạnh, mình quán chiếu nó.

Hai phương pháp hữu hiệu nhất của mình dùng ở đây, một là Quán Bất Tịnh, hai là Trải Tâm Từ. Quán Bất Tịnh là nó phá hết tham dục, sân hận và si mê, nó phá luôn cái bản ngã, đó là Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi, Ba Mươi Hai Thể Trược và Quán Niệm Tử (nhớ mình chết). Quán cái đó là nó phá một dọc, phá một cái là bung hết luôn, nếu mà mạnh là tung vỡ hết tham, sân, si, bản ngã, vô minh, tham ái, chấp thủ. Cho nên hộ trì ý căn, không để cho nó tiếp diễn, dẫn mình tới nữa.

(Đó là chia sẻ một chút về vấn đề ý xúc, phần tiết độ trong ăn uống ở đây mình có học rồi là điều kiện tiếp theo).

V. Chướng ngại pháp:

Bây giờ mình qua phần tiếp của bài “Đại Kinh Xóm Ngựa”.

“Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa?” ( tức là mỗi một công việc Đức Phật nói rồi, Đức Phật nói rằng mình tu cho đến trọn vẹn viên mãn cái đó, nhưng mà xong cái đó, Đức Phật nói còn việc cần phải làm nữa, chứ không phải là xong)

“Chúng ta phải chú tâm cảnh giác, ban ngày ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, Chánh niệm tỉnh giác, nghĩ đến lúc thức dậy”. Cái này mình mới thấy được sự tu tập nó rất tế nhị, chúng ta phải chú tâm cảnh giác, ban ngày, hay ban đêm, trong lúc mình đi kinh hành, hay là trong lúc mình ngồi, thì mình phải làm sao tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. “Tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại” câu này thôi là mình phải làm suốt đời.

Lúc mình đi kinh hành thì mình có thấy chướng ngại pháp nó sanh không? Có thấy không? Từ hôm qua đến nay đi kinh hành có thấy tham sanh khởi không? Có nghĩ là “thôi sao đi lâu quá vậy? Sao không nghỉ sớm sớm đi” có không? Hồi sáng này mình đi một tiếng đó, tới chừng bốn mươi hay bốn mươi lăm phút đó, có ai nghĩ như vậy không? Nếu có, thì cái nghĩ đó là tham, chướng ngại pháp “cho thân này nó khỏe” là tham, cái làm biếng đó là tham. Còn không thì ngồi thiền một hồi nó đau cái chân “nó bực mình quá đi”, đau sanh ra bực mình, nó sân, chướng ngại pháp. Nó đau là đau, có một cái cảm thọ của thân là đau, nhưng mà tâm mình không sân, không khó chịu, không bực. Tâm mình bực theo cái thân, thì đó là chướng ngại pháp, cần phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại đó.

Cho nên cái này rất là vi tế phải không? Trong khi đi, khi ngồi, khi đứng, khi nói chuyện, có một cái gì đó sanh khởi lên mà thuộc về chướng ngại pháp là phải tẩy liền ngay lúc đó, tẩy liền lập tức. Thậm chí đang nói chuyện với người ta, mà mình sanh ra một chướng ngại pháp, mình bực hay gì đó, thì lúc đó phải tẩy liền, tẩy liền ngay lúc đang ngồi nói chuyện đối diện đó, vừa nói chuyện cái miệng thì cười, nhưng trong tâm này thì đang làm việc, đang chùi, đang tẩy, đang rửa. Thấy cái sự vi tế trong sự tu tập chưa? Đang ngồi nói chuyện với người ta, vẫn nói chuyện, miệng vẫn cười, nhưng bên trong là đang tẩy rửa.

Ví dụ, mình tiếp xúc với cái gì đó mà cái tâm mình tham ái khởi lên, thì mình tẩy ngay chỗ đó, nếu không tẩy thì một hồi vô ngồi thiền thì tẩy không nổi, tẩy rất khó. Vì lúc đó mình thọ nhận cái pháp đó rồi. Thọ nhận những cái pháp đó thì sân, tham hoặc tật đố, ganh tị gì đó chẳng hạn. Mà họ nhận cái pháp đó rồi thì nó trở thành một pháp bất thiện, ác, nó sẽ tồn chỉ ở trong nội tâm của mình, nó tồn tại, đình chỉ trong đó, vì mình đã thọ nhận nó. Thành ra ngay lúc đó, mình tẩy liền, mà tu đúng như cái này thì ngon lắm, khỏe lắm, tại vì mình không có nhận cái nào hết trơn. Cho nên Đức Phật nói “không thọ tất cả pháp”, không có thọ. Tiếp xúc này kia, cảm giác có hết, nhưng không thọ, mà không phải vô tri, vô giác mà không thọ.

Giống như con chim bay qua hồ nước vậy, con chim không có ý lưu hình bóng đó lại, hồ nước cũng không có tâm giữ cái hình đó. Đó là cái tâm của bậc A-la-hán, tâm của bậc Chánh Đẳng Giác, vì biết cái pháp đó là có tính chất trống rỗng, tứ đại, vô ngã, cho nên không có thọ. Còn mình thì cái nào mình cũng thọ hết, thậm chí đưa chút chút, mình nói “thôi đưa nhiều nhiều chút đi” hoặc là mình suy nghĩ, suy diễn ra thêm, làm cho cái thọ này nó tăng trưởng, lớn lên ở trong bất thiện pháp, ở trong ác pháp, ở trong phi Như lý tác ý, đó là chỗ si mê. Mình diễn dịch, tưởng tượng, suy nghĩ, thêu dệt ra thêm, mình làm rồi một hồi là xong luôn, trong khi chuyện đó nó không có gì hết, thấy ghê gớm chưa?

Giữa cái minh và cái vô minh, giữa cái Chánh Kiến và tà kiến nó khác nhau, giữa cái thấy và không thấy, hiểu và không hiểu, biết và không biết, rõ và không rõ, là nó khác nhau như vậy. Cho nên, trong đi, đứng, ngồi, nằm, mà nó vừa khởi lên bất thiện pháp, pháp, ác pháp là tẩy liền ngay tại chỗ, tẩy sạch liền tức khắc, quán liền, chiếu liền, gội rửa liền, chà liền “mua sẵn một can ba chục lít nước tẩy để sẵn, đi đâu cũng xách theo hết đi, bất cứ chỗ nào cũng xách theo, có xách nổi không?”. Lúc nào cũng có thuốc tẩy ở trong người, không cho nó tồn chỉ, không cho nó tồn tại, không cho nó đình chỉ, không cho nó lưu trú bất hợp pháp, không cho, mình cho nó mới được lưu trú.

Cho là cho những thiện pháp, những pháp công đức cho nó lưu trú, còn cái ác bất thiện pháp thì tẩy chay, từ bỏ, không chấp nhận, không cho nó vô, không thọ nhận. Mình tu mà đúng theo cái này là không còn chỗ nào nói nữa hết, dù không muốn chứng quả cũng chứng quả, không muốn thanh tịnh, nhất định cũng thanh tịnh, không muốn sạch sẽ nó cũng sạch sẽ.

Cuối bài kinh này Đức Phật nói hay lắm “Tỳ-kheo tắm rửa sạch sẽ rồi”. Còn tu kiểu mình bây giờ thì tay lấm chân bùn, đầu bù tóc rối, từ trên xuống dưới chỗ nào cũng ô nhiễm hết, mà ô nhiễm tới giờ không còn thấy ô nhiễm nữa, tại vì không còn chỗ nào nữa đâu mà ô nhiễm, nó nhiễm quá cỡ nhiễm luôn rồi, bây giờ nó không còn biết là nó nhiễm nữa. Cái đó là miễn nhiễm hết luôn, là tu cái kiểu của mình bây giờ, đâu có nhìn lại, đâu có soi rọi, đâu có biết cái nào là bất thiện pháp, ác pháp và tâm tư mình phải tẩy sạch đâu. Thành ra cái này là cái pháp cực kỳ quan trọng.

VI. Tỉnh giác:

“Ta khuyến cáo các ông, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa, này các Tỳ-kheo, chúng ta phải Chánh niệm tỉnh giác. Khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, đều tỉnh giác. Khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y, đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đại tiện ,tiểu tiện, đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.

Nhiều khi Minh Thành đọc mấy kinh này xong, sụp xuống, lạy tại chỗ luôn. Quá sức cái tâm từ bi của Đức Phật, không còn ông thầy nào mà dạy tới mức độ như vậy hết, chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo của thế giới. Không có một bậc đạo sư nào mà dạy đến mức độ vậy hết, dạy đến chỗ đi ỉa, đi đái, phải tỉnh giác. Khoác y, ôm bát, phải tỉnh giác. Nhìn thẳng nhìn quanh, phải tỉnh giác. Ăn, uống, nhai, nuốt đều phải tỉnh giác. Từng chút, từng chút, từng li, từng tí như vậy, mẹ thương con còn chưa được, đây là tấm lòng đại từ đại bi của Đức Phật (mình lạy). Còn chỗ nào mà sót nữa đâu, dạy đến mức độ như vậy, mà tại sao không chịu làm? Không có chỗ nào sót nữa hết, không có ai vậy hết, mình đọc xong mình sụp xuống mình lạy tại chỗ. Mấy câu kinh này nó thấm vô xương, vô tủy, vô tim mình còn cái gì mà không rõ nữa đâu, không chịu làm thôi.

Bây giờ mình nhìn, khi mình đi, đứng, nói, mình có tỉnh giác không? Mình toàn sống với thói quen của phàm tình, mới ở khóa tu vậy đó, mà ví dụ cho mình ngồi thiền, mình ra xả thiền một cái rồi là mình thấy phàm tình liền, trở lại thói quen liền. Cho nên, khóa tu là không cho hở, hở ra là cái phàm tình nó chen vô liền, thấy chưa? Không tin thì tối nay, chiều nay hoặc một chút nhìn coi, bốn giờ ba mươi hay năm giờ mà xả ra rồi một cái là cái tâm của mình nó khác liền, cái thân, cái oai nghi của mình nó khác liền, đó là phàm tình, tập khí, phiền não, sống theo vô minh, không có tỉnh giác.

Chứ mình có tâm tu thì thời khóa hay không thời khóa gì nó cũng phải như vậy, đâu phải đợi thời khóa lúc đó mới giữ gìn thân, miệng, ý, sáu căn, đâu phải. Mà mình tu là tu cho ai? Đây là những pháp tác thành Sa-môn, những điều kiện cần và đủ của một người xuất gia, người tu, mà không riêng người xuất gia, cư sĩ tu cũng phải tu như vậy. Chiêm nghiệm những cái này, đọc vô đó không phải là đọc cho hết câu, hết bài kinh, mà đọc cho đó ngấm vô, đọc một trăm lần, ba trăm lần, năm trăm lần, một ngàn lần, mười ngàn lần, đọc hoài câu đó. Câu nào mình thấy quan trọng, mình đọc luôn, nghe hoài, nghe đến chừng nào trở thành sức sống của mình, sống được với nó thôi, thì đó là phương pháp học văn tư tu đó.

VII. Năm triền cái:

“Các ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý. Thân, hành chúng ta thanh tịnh, thọ hành, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống đã có tiết độ, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác. Đến mức độ này như vậy là vừa đủ, và cho đến mức độ ấy các ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỳ-kheo ta khuyến cáo các ông, ta cảnh báo các ông, ta khuyên các ông, ta báo cho các ông biết, ta nói cho các ông biết, là các ông còn việc đáng cần phải làm hơn nữa”. (chứ không phải xong đâu đừng tưởng như vậy là xong)

Cái tâm phàm phu của mình là gì? Là mình làm được một chút như vậy là “trời ơi mình làm được như vậy là mình ngon rồi đó” thì chết, cái này là giết mình chết, đâu phải dừng ngay chỗ đó đâu.“Này các Tỳ-kheo thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa”, cái này là quan trọng nhất mà thầy muốn nói hôm nay.

“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú Chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm-thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thùy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, Chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm-thụy miên. Từ bỏ trạo cử-hối quá, vị ấy sống không trạo cử-hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử-hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp”.

Đây là từ bỏ năm triền cái, bước này là bước quyết định, nếu mình không từ bỏ năm cái này thì mình không thể nào bước vào sơ thiền được, không thể bước lên trên Thánh đạo, Thánh quả được, nếu năm cái này mình không quyết tâm. Mình phải quyết tâm khai chiến, quyết chiến, quyết tử với nó luôn, đến chết cũng được nữa, đánh cho nó tan năm tên giặt này.

Hình ảnh này rất đẹp, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch (thầy muốn là cái câu này, đúng cái duyên mới trở về đây nói, chứ cái này nói ở dưới phố không hợp. Đây là đúng chỗ, ông Phật ông nói “trở về đây nói con”. Mấy huynh đệ thấy “Tại sao thầy bỏ thành phố mười lăm năm ở dưới, mà thầy bỏ thầy lên đây, thầy khai sơn ở trên này, tại sao? Có căn nguyên hết, từ lời của Đức Phật hết). Lựa một chỗ thanh vắng tịch mịch, khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời hay đống rơm (lựa những chỗ đó đó).

Sau khi khất thực thì làm gì? Ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú, Chánh Niệm trước mặt, không phải ngồi giống như ông địa, ngồi đó để tính ngồi được mấy tiếng. Ngồi đó để làm gì? Để từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa hết tham ái ở trong tâm của mình, nhìn lại trong cảm giác của mình coi nó tham ái cái gì? Còn tham ái cái gì nhiều? Quán chiếu nó, quán bộ xương, quán tử thi, quán “một đống ruột, phèo, phổi, gan mật, phân, nước tiểu, mủ, máu, đàm”, quán cái bao tử, cái dạ dày “rọc ra một đống thức ăn ở trong đó, phân ở trong đó” quán vô đó, diệt cái tham, tẩy, rửa cái tham, làm cho nó giảm bớt, giảm từ từ. Không phải tu là dứt tham liền, A-la-hán liền đâu, mà mình quán như vậy đó, thì một ngày nó khỉa mất một ít, từ từ rồi nó mòn.

Cũng như mấy ông hôm qua mình coi đó, mấy ông đấm một đấm thôi mà bể hết mười cây nước đá, tự nhiên mà ổng làm được như vậy sao? Ổng phải tập hai, ba chục năm ổng mới ra được một cái đấm đó. Rồi mấy chú tiểu ở trong Thiếu Lâm Tự, lấy mấy chậu nước tập đánh tập bàn tay, tập đánh nước trước, để luyện chưởng. Còn bây giờ, mình đòi, mình muốn nhảy vô là được liền thì đâu có được, phải từng chút, từng chút, cứ quán đi. Khi mình quán, thì cái tâm của mình có thấy nhàm chán không? Chắc chắn là sẽ có. Lúc mở cái hình lúc nãy đó, rọc lòi bao tử ra, lòi gan, này kia ra, giòi nó ra như vậy đó, lúc đó có thấy sợ không? Có thấy ớn không? Có thấy ngán không? Thành công là thành công ngay chỗ đó rồi đó “là thiết thực, hiện tại, hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu”. Chỗ đó tự thân tác chứng, ngay lúc đó mà nó có hiệu quả là được rồi. Còn mình ngồi mà mình tưởng “mình không biết mai mốt chết mình đi đâu, tưởng ra hai chục năm nữa lên hòa thượng, tưởng chắc bữa nào đó bừng một cái tự nhiên nó sáng rực lên, xung quanh mình tỏa ra tùm lum tà la hết”, không phải.

Thấy pháp là thấy được bản chất bên trong, của cái đống ruột, gan, bao tử, lá lách, dạ dày, một đống hôi thối, nhơ bẩn, khủng khiếp, kinh hãi này. Trong tất cả xác của con vật, thì xác của con người khi chết thối hôi, kinh khủng nhất. Mà cái kinh khủng đó là một cái mình yêu thích nhất, cái dơ bẩn nhất lại là cái mình đam mê nhất, cái đó mới đau đớn đó chứ. Đó là sự si mê, dục tham, vô minh, tham ái, chấp thủ của mình, đi tìm kiếm mấy cái đó, khao khát ở trong đó, Đức Phật nói đó là “khát ái, khao khát, nhiệt tình”. Bây giờ mình quán lên để nó sanh khởi lên một cảm giác nhục nhã, xấu hổ, đáng sợ, kinh khiếp “đúng là si mê, tội lỗi, đúng là ngu muội”. Khởi lên cảm giác đó, thì trí huệ mình tăng trưởng, trí huệ mình sanh lên “hồi đó mình đâu có đâu, ai nói lạng quạng là mình cự à, bây giờ nói mình chịu”, “hồi đó mình đâu có chấp nhận, bây giờ mình nghe, mình thấy mình phát sanh ra được cảm giác” thì đó là bước tiến rồi, cứ như vậy mà mình tu tập.

Cho nên, từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa cái tâm hết tham ái, trong sân hận cũng vậy. Hôn trầm, ngủ gà, ngủ gật, buồn ngủ, thoát ly nó cho tâm hướng về ánh sáng, Chánh niệm tỉnh giác, gột rửa cái tâm hết hôn trầm-thùy miên. Trạo cử, lăng xăng, bất chấp, suy nghĩ hoài, nói hoài, làm hoài, xao động, hối hận, gột rửa hết, tẩy sạch hết. Nghi ngờ, vượt thoát hết, dùng Chánh Tri Kiến, Chánh Tính, Chánh Kiến, quán các pháp này thì ngày nó càng thể hiện rõ ra. Cứ nghe hoài, chiêm nghiệm hoài, rồi nhìn lại hoài như vậy đó, liên tục thiền định, không gián đoạn, liên tục quán chiếu, không dừng nghỉ.

Tất cả cái gì mình nhìn đều đem cái pháp nhìn hết, không nhìn bằng con mắt thường, nhìn bằng pháp “sân hận với cái tử thi để làm gì? Ham muốn cái xác chết để làm chi?” cứ quán như vậy, không phải liền là được, cứ chút chút một ngày, từ từ, bỏ bỏ. Tới lúc hoàn toàn chấp nhận, rồi xong, ngon lành rồi, đệ nhất Thánh Quả rồi, chắc chắn là thẳng tiến đến Thánh Giác, không còn gì hết rồi, vĩnh biệt luân hồi, chào hết, không trở lại, vô tới quả thứ ba, Bất Lai luôn.

Đức Phật lấy năm ví dụ về năm triền cái, hay lắm. Ví dụ thứ nhất là về tham “Ví như người mắc nợ, người này mới đi làm các nghề. Khi người này cố gắng siêng năng, làm những nghề này phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, mà còn dư tiền để nuôi dưỡng vợ con. Người này mới suy nghĩ rằng: Ta trước kia bị mắc nợ cho nên đi làm các nghề nghiệp, và những nghề nghiệp được phát đạt rồi, ta không những trả được nợ cũ, mà còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ con. Người ấy nhờ vậy mà được sung sướng, hoan hỷ”. Đó là phá được tham dục, giống như người thoát khỏi nợ, mà còn được dư tiền. Còn nếu mà mình nhìn lại nội tâm mình, ngay khi ngồi thiền, ngay sinh hoạt hàng ngày mà thấy còn tham dục, thì mình biết mình là người đang bị mắc nợ, cái nợ mình trả chưa hết, còn tham ái, còn tham dục, còn tham luyến, đây là còn mắc nợ. Bây giờ mình phải cố gắng, làm sao dẹp được cái này, để cho mình hết nợ, mình dư tiền, mình mới giúp được cho người thân của mình, đó là ví dụ thứ nhất về tham dục.

Về sân hận, “Như một người bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian người ấy khỏi bệnh, thể lực được khôi phục, ăn uống tiêu thông. Người ấy mới nghĩ rằng: Trước ta bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy nhược, nay ta khỏi bệnh rồi, thể lực khôi phục, nhờ vậy người ấy sung sướng, hoan hỷ”. Mình phải ví dụ cái sân đó, là một căn bệnh nặng, nếu mình còn giận, còn bực, còn sân hận, đối với ai, đối với bất cứ một người nào, thì mình biết rằng mình đang bị bệnh. Mình làm cho cái sân này hết đi, thì mình mới hết bệnh, mình mới khôi phục được thể lực, mình mới khỏe, mới vui được. Chứ mình còn giận, là mình không có vui được (đang bị bệnh mà vui gì, đang bị bệnh thì làm sao vui, giận người nào là mình buồn lắm). Mình đang bị bệnh, đang bị bệnh nặng, mình cứ quán cái cơn giận đó là bệnh, cái tâm đang giận đó là bệnh, ta đang bị bệnh tâm “Sư phụ ơi con đang bị bệnh tâm, sư phụ có thuốc nào sư phụ giúp con không? Hay là sư huynh, sư đệ ơi, giờ sư huynh, đệ đang bị bệnh tâm nè, đang sân chịu hết nổi, cho thuốc uống đi, hoặc bây giờ nói bất cứ cái gì đó để cho bớt cái sân này đi, chứ chịu hết nổi rồi”, mình biết là đang bị bệnh.

Mấy cái ví dụ này là phải nhớ kỹ, học thuộc, để mình quán trị năm triền cái này mình phải trị cho nó thẳng tay, dập cho nó tơi tả, tan nát hết. Thì mình mới đi vào sơ thiền, mà đi vào sơ thiền là quán thẳng ngũ uẩn, là chứng từ sơ quả cho đến tứ quả A-la-hán, từ sơ thiền là bắt đầu chứng được rồi, là bước vô cửa bất tử. Cho nên từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, cho đến đến Bát Định, mà quán ngũ uẩn là đều Chứng Quả A-la-hán hết. Chứ không phải tới tứ thiền mới được, sơ thiền cũng đủ chứng A-la-hán nữa, mà cái Định càng sâu thì nó càng tốt hơn thôi.

Ví dụ thứ ba là trị hôn trầm, lờ đờ, buồn ngủ, lơ mơ, màng màng, si “Giống như một người bị nhốt ở trong ngục, người ấy sau một thời gian được khỏi tù tội, an vui kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người này suy nghĩ: Trước kia ta bị giam trong ngục, nay ta khỏi được tội, vui vẻ kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn, người ấy nhờ vậy mà được sung sướng, hoan hỷ”. Như vậy phải quán chiếu cái hôn trầm- thùy miên là tù ngục. Mình lên ngồi thiền mà giờ đó mình lờ đờ, lờ mờ, mơ mơ, mộng mộng, mình không biết gì hết, mình ngơ ngơ, ngáo ngáo, mơ mơ hồ hồ, mình phải quán “đây là tù ngục, đứng dậy, lạy, đập “cốp cốp” xuống, đập cho nó bể đầu đi, cho nó thoát ra khỏi tù, ngủ gì ngủ hoài vậy? đập đầu nó” ( hộp sọ mình nó dày lắm, không bể nổi đâu, nhìn thấy cái ông cưa hộp sọ không?), đập chừng ba cái là nó tỉnh liền, để nó ngủ hoài, nó không hết ngủ. Phải quán là đang ở tù, đang bị tù ngục, bị nhốt ở trong tù, cái hôn trầm-thùy miên này là nó như vậy, mạnh như vậy mới trị nó được, chứ không là không trị được.

(Thầy là đại kỵ nhất lên ngồi thiền mà ngủ, thà ở dưới, lên tới đó mà ngủ)

Quá tội đi chứ, quá tội mà, bị tù ngục nó nhốt mình, mình phải thoát được cái ngủ đó, mình thoát được cái thùy miên-hôn trầm đó là mình sung sướng, đi ra khỏi ngục rồi, lúc đó mình cười vui. Cho nên tại sao Đức Phật nãy giờ đều nói “người ấy được sung sướng, hoan hỷ”, ra khỏi cái này là vô sơ thiền “ly dục sanh hỷ lạc”. Ly dục, cái tâm là nó hoan hỷ liền, năm cái này ra khỏi là vô sơ thiền liền. Cho nên phá được năm triền cái là chứng được Năm Thiền Chi. Ngủ là mình phải quán chiếu như vậy đó, tù ngục, thoát ra khỏi tù ngục, hoan hỷ, sung sướng.

Rồi kế đó là gì? Trạo hối, lăng xăng, hối hận, hối tiếc, cái này “Giống như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy sau một thời gian thoát khỏi cảnh nô lệ đó, được tự chủ, không có lệ thuộc người khác, thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự do đi lại, trở thành một người giải thoát. Người ấy suy nghĩ như vậy, rồi người ấy vui sướng, mừng rỡ, bây giờ mình trở thành một người tự do rồi, trở thành một người tự giải thoát rồi, mình không còn nô lệ người khác nữa, sung sướng, hoan hỷ”. Người mà trạo cử, lăng xăng, lóc chóc, người đó sống trong cảnh nô lệ chứ không phải sung sướng gì đâu.

Nhiều khi đang ngồi nghe pháp như vậy, tự nhiên ngồi bắt chân lên, nhịp đùi, khi không nó dao động, đang ngồi như vậy cũng nói chuyện, những chỗ không được nói thì nói, những chỗ không dao động trong thiền định thì lại động, đó là vì trạo cử đó. Thì người đó là sống trong cảnh nô lệ, không có tự chủ, vì chỗ đó là chỗ không nói, mà nó không cho mình không nói, nó bắt mình phải nói, cái tập khí, thói quen của mình đó. Còn chỗ phải tỉnh, mà nó bắt mình ngủ, nó kêu mình ngủ, chỗ đó là chỗ phải định, mà nó làm cho mình dao động, tháo động. Thì như vậy phải nô lệ không? Đâu có tự chủ, mà bây giờ mình ra khỏi cái đó, là mình được giải thoát.

Rồi “hối hận” suy nghĩ và hối hận, tiếc nuối hoài, cứ suy nghĩ rồi tiếc nuối, rồi lo sợ, hối hận, suy nghĩ hoài như vậy, đó là nô lệ. Làm sai thì mình hối hận, sám hối, rồi mình sửa lại, vậy thôi. Chứ không có suy nghĩ hoài, cái đó làm cho tâm của mình bị dao động, nó không định, không yên được đó, là cảnh nô lệ. Mình thấy người đó mà lắt chắt, lao chao, lăng xăng, tất bật hoài không có yên được, là sống trong cảnh nô lệ. Mà tự mình phải biết là mình đang bị nô lệ, mình không có được giải thoát. Chừng nào mình điềm nhiên, bình thản, Niệm Định Tuệ, đi đứng nhẹ nhàng, sáu căn vắng lặng, đó là phong thái của người xuất gia. Mà Qui Sơn nói là “Lục căn di nhiên, hành trú tịch mặc” (Sáu căn an nhiên đến đi vắng lặng), phong thái của người xuất gia đẹp lắm, chứ không phải mà lao chao, lóc chóc, lăng xăng, như khỉ như vượn, không được. Phải nhiếp phục, đó là nô lệ, sống trong cảnh nô lệ, phải tự chủ.

Cuối cùng là gì? Nghi ngờ thí dụ như “Một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc. Người ấy sau một thời gian đi ra khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm. Người đó suy nghĩ: Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ”. Tại sao lại ví dụ nghi mà giống như người giàu có đi qua bãi sa mạc? Vì sa mạc nó mênh mông, bao la, rộng lớn như vậy, để ví cho cái tâm nghi ngờ, nó miên man, lờ mờ, mù mịt, nó không có hướng đi, không biết đường nào để đi ra khỏi hết.

Trong cái nghi đó, nó giống như cả một bãi sa mạc mênh mông, bao la, không biết đường nào mà đi. Thì bây giờ, cái kiểu tu của mình mà mình không thành tựu Chánh Kiến, cũng giống như vậy. Tức là mênh mông, tất cả pháp cái nào mình cũng làm hết, thiền mình cũng ngồi, chú mình cũng tụng, niệm Phật mình cũng niệm, kinh mình cũng đọc, cái gì mình cũng làm hết. Nhưng cuối cùng mình không biết đâu là đâu, mênh mang, vô định, không có rõ pháp, không có thấy pháp, giống như người đi ở trong bãi sa mạc vậy.

“Cũng vậy này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, giống như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỷ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Phải quán năm triền cái, khi chúng được diệt trừ như vậy đó”. Rồi sau đó Đức Phật mới nói, đoạn năm triền cái này rồi, thì ly dục, ly ác, ly bất thiện pháp, chứng về trú thiền thứ nhất, bắt đầu vừa rời cái này là Đức Phật nói chứng tầng thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư.

(Cái này không giải thích nhiều lo trị năm cái này trước đi, cái này nói chung vậy thôi. Trị năm cái này được sẽ vào, phát khởi lên sự hoan hỷ, khi mình lìa được năm triền cái này, trong lúc mình ngồi thiền hoặc đang nghe pháp, mà chuyên chú tâm tỉnh giác, Chánh Niệm, thì cái tâm mình lìa được năm triền cái ngay lúc đang nghe pháp bây giờ, có một bài kinh Đức Phật nói có lìa khỏi năm triền cái trong lúc mình nghe pháp).

VIII. Kết quả tu học:

Tới cái đoạn kết hay lắm, thành tựu tới, Sinh Tử Trí, Túc Mạng Thông và Lậu Tận Minh. Thấy rõ được bao nhiêu kiếp trước của mình “khi cái tâm thanh tịnh rồi, tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không có cấu nhiễm, không có phiền não, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc bình tĩnh. Như vậy, người ấy dẫn tâm hướng đến trí huệ và sanh tử”.

Đầu tiên là của chính mình, sau đó là của chúng sanh thì hướng đến như vậy, hướng tâm đến Túc Mạng Minh “Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta” rõ như vậy đó.

Giống như mới đi tức thì, giống như mình vừa đi Sài Gòn về “tôi kể tôi đi chùa Bửu Liên nè, tôi đi chợ Bến Thành, tôi đi siêu thị của Nhật đàng hoàng, tôi đi nhà hàng Hoa Đăng hay là Hoan Hỷ vậy, xong mình về mình kể lại y như vậy đó”, Chứng Túc mạng minh là nó như vậy, khiếp không? Thích vụ này không? Thấy hết vô lượng kiếp sanh tử của chính mình sinh ra làm sao? Lớn lên làm sao? khổ, vui làm sao? Rồi tên gì? Dòng họ làm sao? Một đời, hai đời, năm đời, cho đến trăm đời, vạn đời, rồi đến thành kiếp, hoại kiếp, thấy hết, Túc Mạng Minh. “Túc” là xưa, “Mạng” là mạng sống, “Minh” là trí huệ sáng tỏ, ở đây sáng tỏ được những kiếp sống thuở xưa của mình.

Sau khi mà phá năm triền cái, thành tựu sơ, nhị, tam, tứ thiền rồi, bắt đầu quán. Ở đây thành tựu thiền rồi vẫn chưa nha, mới có thành tựu cái này chưa có Lậu Tận Minh, muốn Lậu Tận Minh là quán về Tứ Thánh Đế, cái này là chưa quán Tứ Thánh Đế chỉ mới thành tựu tứ thiền thôi. Mà tâm Định tới mức này là trí nó sáng, nó thấy, cho nên ngoại đạo. Chưa tu Tứ Thánh Đế, chưa quán ngũ uẩn, chưa tu Bát Chánh Đạo, nhưng mà chứng được những cái kiếp trong giới hạn, chứ không biết hết, ví dụ như có năm trăm đời, biết được một trăm đời. Mà cái này là mới thiền định thôi đó, thấy khiếp chưa? Bữa nào ở đây có người nói “thầy, sư phụ ơi con thấy được tám trăm kiếp”, nhưng mà phải kiểm tra lại coi Lậu Tận Thông mình có chưa, đó là Túc Mạng Minh đó.

Bây giờ mình qua tới Sanh Tử Minh, hay còn gọi là Sanh Tử Trí. Hồi nãy là chính bản thân mình, bây giờ là tới hướng về người. “Tâm thanh tịnh rồi, tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không có cấu nhiễm, không có phiền não, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy. Vị ấy dẫn tâm hướng đến trí huệ và sanh tử của chúng sanh”.

Hướng đến sanh tử của chúng sanh làm sao?

“Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này các Tỳ-kheo, ví như có hai nhà có cửa, và ở đây, một người có mắt đứng ở giữa, người này có thể thấy các người (khác) đi vào nhà, đi ra, đi qua, đi lại”.

Đức Phật ví dụ cái này quá rõ luôn, hai cái nhà có cửa, mà mình đứng ngay chính giữa, thì mình nhìn ai đi qua đi lại mình thấy rõ hết. Thì sanh tử của chúng sanh, vị này thấy cũng vậy đó, là Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy được sự sống chết của chúng sanh. Do cái nghiệp ác, tà kiến, mà họ đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, và do cái nghiệp thiện Chánh kiến mà họ sanh cõi đời, cõi trời, thấy rõ hết của chúng sanh.

Hai cái thần thông ở phía trước đó là của Định. Bây giờ với tâm định tĩnh mà nãy giờ nói, hướng tâm đến Lậu Tận Trí, chỗ này mình mới giật mình, mới kinh khiếp, mới không thể tưởng tượng, không thể ngờ được nè “Vị ấy biết như thật: Đây là khổ, biết như thật: Đây là Nguyên nhân của khổ, biết như thật: Đây là sự diệt khổ, biết như thật: Đây là con đường đưa đến diệt khổ, biết như thật: Đây là những lậu hoặc, biết như thật: Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc, biết như thật: Đây là sự đoạn trừ các lậu hoặc, biết như thật: Đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy tuệ tri: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.

“Này các Tỷ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lạ, hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ đây là hồ nước trong sáng như vậy, thấy rõ hết mọi cái như vậy”, thì vị Tỳ-kheo này cũng giống như vậy. Thấy rõ Tứ Thánh Đế, thấy rõ được bốn trí về lậu hoặc, thấy rõ được lâu hoặc đúng như thật, lậu hoặc của phiền não, rồi từ đâu mà phiền não nó sanh khởi ra? Rồi làm thế nào để cho phiền não chấm dứt? Thì vị này chấm dứt được phiền não, thì người đó đã thành tựu A-la-hán quả, đây là cảnh giới tối cao của bậc Sa-môn, của người xuất gia, mà chỗ này mình mới thấy Lậu Tận Thông, mới chứng ngộ được Tứ Thánh Đế.

Cho nên, ngoại đạo mới thiền định tám muôn bốn ngàn kiếp, thấy được bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp đó của người khác, và của mình luôn. Nhưng mà không có Lậu Tận Thông, chưa có chứng ngộ được Tứ Thánh Đế. Cho nên thấy được sự thật “Này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải thực hiện, một sự nỗ lực, đây là khổ. Một cố gắng mà các ông cần phải thực hiện, đây là nguyên nhân của khổ. Một cố gắng cần phải phải tuệ tri thấy rõ được, đây là chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau”, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Đế mà thấy được cái này, là A-la-hán.

Khi đức Chánh Đẳng Giác thấy được cái này mới tuyên bố là “Ta chứng Chánh Đẳng Giác”, từ đó mới nói ra pháp Tứ Thánh Đế. Còn khi lúc là Bồ Tát thì chưa thấy được Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, cho nên mình nói “mình đi theo Bồ Tát”, tức là mình đi theo chỗ chưa biết gì hết. Lúc đó Đức Phật chưa chứng Chánh Đẳng Giác, Đức Phật đâu có biết Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ. Cho nên, Phật là từ chỗ không biết gì hết, tự lò mò trong đêm dài vô minh vừa qua, bốn a-tăng-kỳ, một trăm ngàn đại kiếp, tới đêm đó, ở dưới cội Bồ Đề, chứng được Đạo Quả, thấy được Tứ Thánh Đế, thấy được thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc, sau đó Phật nói ra. Mình bây giờ chỉ cần đi theo cái đó, mình không cần đi qua bốn a-tăng-kỳ, một trăm ngàn đại kiếp, mà có thể lập tức, ngay trong tại chỗ, các vị chứng Thánh A-la-hán.

Cho nên, công của Đức Phật là mình không cần phải bỏ thời gian dài giống như Phật, mà ngay chỗ trí Đức Phật nói, mình tu ngay đúng theo đó là chứng quả, cái tâm thanh tịnh là ngang bằng với bậc A-la-hán. Mình phải tụng bài kinh Chánh Đẳng Giác, mình mới thấy được. Cái tâm thanh tịnh, sạch các phiền não của các bậc A-la-hán và Đức Phật là ngang nhau. Chỉ khác là Đức Phật là con người trước đó chưa ai thấy mà Ngài thấy, trước đó chưa ai biết mà Ngài biết, trước đó chưa ai hiểu mà Ngài hiểu, trước đó chưa ai chứng mà người chứng đầu tiên. Sau đó, Ngài diễn thuyết, Ngài phô diễn, trình bày, hiển thị, làm cho nó sáng tỏ hết, rồi người ta đi theo, người ta chứng giống y như Ngài.

Thành ra chỗ đó, là chỗ mà hôm nay mình học cho nó rõ là vậy đó. Bồ tát đâu biết gì đâu, chưa có thấy, tới chỗ lậu tận thông này thì lúc đó mới thành tựu được Tứ Thánh Trí ( bốn cái trí của năm uẩn), Tứ Thánh Đế (bốn cái trí về lậu hoặc). Đây là phiền não, đây là tham, sân, si, ngã mạn, đây là nguyên nhân của tham, sân, si, là thân kiến, bao nhiêu phiền não đó. Con đường chấm dứt nó là Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Đế, rõ ràng như vậy “Ta làm xong rồi, ta đã chứng, ta đã xong rồi”, Đức Phật đã tuyên bố như vậy. Cho nên chỗ này là chỗ cực kỳ thâm sâu, vi diệu, mà mình thừa hưởng trí huệ tột cùng của Đức Phật.

“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn? Là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán. Này các Tỷ-kheo, như thế nào, Tỳ-kheo là Sa-môn? Vị này đã làm cho dừng lại các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là Sa-môn. Và này các Tỳ-kheo, như thế nào Tỳ-kheo là Bà-la-môn? Vị này đã tẩn xuất ra ngoài các pháp ác. Và này các Tỳ-kheo, như thế nào Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch sẽ các pháp ác”.

(Tắm chưa? Mấy chú tắm chưa? Chút xíu ra tắm hả? Sạch sẽ hết các pháp ác, như vậy gọi là tắm sạch đó. Tắm phải cho sạch, mình ngày nào cũng tắm hết, tắm mấy chục năm mà không sạch. Tắm cái này một lần là sạch).

“Và này các Tỳ-kheo, như thế nào Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch các bất thiện pháp, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Thế nào là biết và hiểu rõ? Thế nào là tiêu diệt? Thế nào được gọi là Tỳ-kheo có học? Thế nào là bậc Thánh?” (Cũng giống như ý nghĩa trên).

“Cuối cùng ý nghĩa bậc Thánh là gì? Vị này làm cho xa lìa các pháp ác bất thiện, pháp đưa đến sanh, già, bệnh, chết ở trong tương lai”. Đó là bậc Thánh đó. Xa lìa hết, tiêu diệt hết, biết và hiểu rõ hết các pháp, tắm rửa sạch sẽ các pháp ấy, chấm dứt không còn sanh, già, bệnh, chết, trong tương lai, đó là bậc Thánh. 

“Thế nào là Tỳ-kheo có học? Thế nào là bậc A-la-hán?” (Cũng ý nghĩa như vậy). “Làm xa lìa các ác bất thiện pháp, đó là bậc A-la-hán”.

IX. Trình pháp:

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỳ-kheo hoan hỷ, tính thọ lời Thế Tôn dạy. 

(Còn mười lăm phút cho phát biểu, trong sự tu học ngày hôm nay, có cảm nhận gì, mình cùng trình pháp).

“Mời Pháp Sơn”

Thầy Pháp Sơn

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên sư phụ, các quý thầy, sư cô và đại chúng.

Trong từ buổi sáng cho đến thời Pháp thoại trên thầy chia sẻ, thì con đã cảm nhận được rất là nhiều tình thương, lòng từ mẫn, của thầy đối với đệ tử chúng con, qua việc thầy chia sẻ cho chúng con về bài kinh “Đại Kinh Xóm Ngựa”. Về phương diện con cảm nhận được trong cách trên sư phụ đã cho chúng con có được những buổi thiền tập. Trước những buổi thiền tập thì được xem những hình ảnh, đoạn clip về sự thật của tự thân, về những hình ảnh, quán chiếu, bất tịnh, cũng như quán chiếu về những bệnh, khổ, những nghiệp quả, những đề tài chiêm nghiệm có được chánh quán trong sự tu tập. Thì đây là một trong những điều mà nơi khác không có được, mà trên Linh Quy Pháp Ấn của mình, có được những đề tài quán chiếu sống động như vậy, rất gần sự thực tập của chúng con.

Điều mà ấn tượng là sư phụ cho chúng con lạy Phật, mọi người đọc mỗi bài kinh trong kinh tạng Nikāya cũng rất là mới. Khi lắng nghe tất cả quý thầy, đại chúng, cùng nhiếp tâm nhớ tưởng lại những lời dạy của đức Phật. Mọi người đọc và chí thành đảnh lễ bằng sự cung kính, trước những lời dạy của bậc Chánh Đẳng Giác, lúc đó trong con cũng sanh khởi một lòng thật sự rất biết ơn, ái kính với Tam Bảo, nhất là ơn đức của Đức Phật đã soi sáng trong cuộc đời này một trí tuệ thật vi diệu, đưa chúng sanh đạt đến con đường chấm dứt khổ đau, luân hồi.

Hôm nay trong buổi pháp thoại, mà trên sư phụ chia sẻ của bài “Đại Kinh Xóm Ngựa”, con nghĩ bài kinh này tất cả những người xuất gia hoặc những hành giả tu cần phải đọc, nghiền ngẫm và học thuộc lòng. Những pháp rất quan trọng, nhưng đầu tiên là pháp tàm quý, hổ thẹn, tiếp đến là phải tu tập ba nghiệp (thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp) của mình. Thầy dùng từ Minh Chánh, cởi mở, phải luôn luôn tu tập nơi ba nghiệp của mình, phải làm cho nó hướng đến cái thiện, trong sáng và chân chánh, là những pháp rất là quan trọng. Rồi đến hộ trì căn, tiết chế trong sự ăn uống, chú tâm cảnh giác.

Ngày hôm nay chúng con được học về phương diện trong sự tu tập, chú tâm cảnh giác, tâm từ, trừ sạch các chướng ngại pháp trong lúc ngồi, hay là đi kinh hành, mình phải luôn luôn hướng đến tẩy trừ các pháp bất thiện. Tiếp đến thầy dạy phải chú tâm, Chánh Niệm tỉnh giác trong mọi oai nghi, hành động. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ thức, nói, im lặng, ngay cả tiểu tiện, đại tiện, mình phải luôn có sự tỉnh giác, Chánh Niệm ở trong. Rồi có những hình ảnh ví dụ, trong việc tẩy trừ những chướng ngại pháp, năm triền cái, thì năm hình ảnh này rất ấn tượng, là đề tài quán chiếu cho chúng con, đối với một người mắc nợ, đối với một người bệnh, đối với một người bị tù tội, một người bị đi vào trong sa mạc. Những hình ảnh đó rất là ấn tượng để cho chúng con quán chiếu, tu tập, để tẩy trừ năm triền cái và tu tập thành tựu được sơ thiền, cho đến tứ thiền.

Và mục đích cứu cánh của người tu, là thành tựu được Tam Minh, trong đó ngoài Túc Mạng Minh, Thiên Nhạn Minh, thì Lậu Tận Minh là cái trí thấy biết được bốn Thánh Đế và thấy biết được những lậu hoặc, sự vận hành của lậu hoặc. Thấy biết được nguyên nhân sanh khởi, sự chấm dứt các lậu hoặc, thì đó là pháp tác thành một vị Sa-môn. Qua bài kinh này chúng con cảm thấy đó là một sự tu tập, mà tất cả mọi hành giả đều phải chiêm nghiệm và phải để tâm cứu xét. Thì như vậy sẽ đem đến lợi ích, liên hệ mục đích và thành tựu được sự nghiệp tu hành cho chính mình, ngay trong đời hiện tại. Đó là những cảm nhận của con trong buổi tu tập ngày hôm nay.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Mời Pháp Từ”

Thầy Pháp Từ

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con đệ tử Phát Từ, kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng.

Hôm nay được trên sư phụ giảng dạy về bài “Đại Kinh Xóm Ngựa”, bản thân con cũng thấy học hỏi được rất nhiều, thấy được tầm quan trọng của việc mình tu tập thiền định. Con thấy những hình ảnh ví dụ về năm triền cái đó là đề mục mà con thấy cần phải ghi nhớ để mà tu tập.

Đối với huynh đệ chúng con lúc này, thì việc tu tập thiền định rất cần thiết, nếu như người con Phật mà không có tu tập thiền định (ít nhất là mình cũng phải đạt được sơ thiền) thì không thể nào mình đoạn tận lậu hoặc. Những hình ảnh mà Đức Phật ví dụ trong kinh, thì con nhớ là về tham là mình phải quán mình như là người thiếu nợ, về sân hận mình phải quán mình như bị bệnh, về hôn trầm-thùy miên mình phải quán mình đang ở trong tù ngục, về trạo hối mình phải quán như là mình đang bị nô lệ, cuối cùng là nghi mình phải quán như đang đi vào trong sa mạc. Thì những hình ảnh đó làm cho con có cảm xúc rất sâu sắc, rất mạnh. Con thấy trí tuệ của Đức Phật rất thậm thâm, vi diệu, mà không thể nào dùng lời nói để diễn tả hết trí tuệ của Đức Phật. Hôm nay, bản thân con cũng xin tri ân trên sư phụ, đã giảng một bài pháp rất là thậm thâm, vi diệu, mà bản thân con nghĩ mình cần phải ghi nhớ và học thuộc lòng bài kinh này, để mà áp dụng tu tập, hành trì, để hiểu được những ý nghĩa, những gì mà Đức Phật muốn truyền trao, gửi gắm cho hàng đệ tử.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

“Mời Diệu Tính”

Phật tử Diệu Tính

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính thưa thầy, cùng quý thầy, cùng các cô.

Hôm nay con đủ duyên lành được lên một ngày ở Linh Quy Pháp Ấn, con được nghe thầy giảng bài pháp rất là vi diệu. Về lý thuyết con không được như mọi người, nhưng con chuyên về thực hành nhiều hơn. Nên khi thầy giảng pháp, con nghe được, con hiểu liền. Tính thực hành của con áp dụng nhiều năm nay. Nên con luôn luôn dùng cái tâm sáng suốt để con bước theo con đường đạo, con diệt trừ tham, sân, si, phiền não. Nên con nắm bắt cội nguồn như Đức Phật dạy “nắm bắt cội nguồn là chính”, con tin rằng phiền não, tham, sân, si của con cũng đã diệt được tám mươi phần trăm. Nên con mới được hoan hỷ, vui.

Cuộc sống con thấy mọi sự nhiều khi rất là phiền não, nhưng cũng như thầy đã nói phải đưa nước tẩy, tẩy sạch, tẩy bóng, mà con tẩy hình như là láng luôn. Còn về lý thuyết thì con không nói được nhiều.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con xin hết”

“Mời Ấn Phổ”

Sư cô Ấn Phổ

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng.

Hôm nay là đầy đủ duyên lành, được thầy về dạy cho chúng con một ngày tu tập, con rất là xúc tích những bài pháp mà thầy vừa mới dạy. Con vốn là kẻ ngu dốt, không có được xử trí tuệ sáng suốt giống như những người khác, nhưng tâm con luôn luôn chăm chú lời thầy dạy, để kiểm soát lại các cảm thọ, cảm giác của mình. Và thấy rõ được cảm giác toàn thân, thấy được ý căn của mình nó len lỏi đi về chỗ nào, để mà tự chế ngự nó, đem về chỗ Chánh Kiến.

Con xúc tích nhất là vào buổi sáng thầy cho chúng ta xem những đoạn phim, một người bị tàu cán cắt đứt làm hai và những hình ảnh của tử thi thì con rất ấn tượng trong lòng, thật ra cảm xúc rất mạnh. Cộng thêm chiều hôm nay, được coi tiếp phim xe cán, thiên tai, lũ lụt, vợ chồng con cái xách nhau chạy cũng không trốn được tử thần. Trong tâm con tự nhiên rất là xúc động và thấy rõ những lời Phật dạy

“Thân này là thân của nghiệp,

Không trên trời, giữa biển,

Không lánh nào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn khỏi quả ác nghiệp”.

( Trích Kinh Pháp Cú – Phẩm Ác)

Cho nên trong tâm con nhắc nhở rằng, phải luôn luôn Chánh niệm tỉnh thức và luôn luôn hành trì pháp, để thấy rõ những thân hành, ý hành, khẩu hành. Ngay trong lúc đó tâm con nhắc nhở con lên một câu kinh, từ nay trở đi phải nên tu tập Chánh niệm tỉnh thức luôn luôn và hành trì những lời Phật dạy. Để quán chiếu, thấy rõ được cảm thọ của mình, và tư duy của tâm tưởng, tưởng tri và tâm hành (là những cái hình bóng) và tâm ý lầm thầm trong tâm. Phải soi rọi, thấy rõ, để dứt sạch, tẩy sạch, làm sạch dần dần, những tâm ý đó. Để không làm những điều ác, thành tựu được các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, để cho thành tựu được Đạo Giác Ngộ và đi đúng trên con đường “Thánh đạo tám ngành”.

Để cho bản thân con thấy được Thân kiến, Hoài nghi và Giới cấm thủ. Chiều nay nghe được lời thầy dạy và con khắc ghi trong lòng, vì con trình độ rất yếu kém, tuy không học được nhiều kinh, nhưng mà phải cố gắng lo mà tu tập, để xúc tích những lời Phật dạy, làm sao trong một kiếp này chưa được giải thoát thì cũng phải thấy được Thân kiến, Hoài nghi và Giới cấm thủ. Đó là lời của con.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

./.