Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhận Diện Thân Tâm 17 - Căn Bản Trí

2026-03-03 00:52:29
Nhận Diện Thân Tâm 17 - Căn Bản Trí

Thích Minh Thành

Ngày 31 tháng 05 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ái PAGEREF _Toc107047385 \h 1

II. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc107047386 \h 4

III. Hướng dẫn tu tập cảm thọ dễ chịu PAGEREF _Toc107047387 \h 6

IV. Hộ trì căn PAGEREF _Toc107047388 \h 14

I. Ái

“- Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?

(Bài Tụng Phẩm II - Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh)

Sự thật về chấm dứt đau khổ, khổ diệt, khổ diệt cũng đồng nghĩa với tham, sân, si diệt. Vô minh và khát ái diệt thì lúc đó khổ diệt.

Khổ là hệ quả, hậu quả, kết quả còn tham, sân, si, vô minh, bản ngã là nhân của quả đó, là nguyên nhân, lý do, động cơ. Một khi không còn ham thích đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì người đó không còn sân hận, không còn nhận năm thủ uẩn là mình, của mình nữa, người đó chứng nhập được Thánh trí vô ngã khi ái tận.

Bà Ma-ha-ba-sà-ma-đề, di mẫu của Đức Phật, khi bà đã xuất gia, đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn: “Con tuổi già sức yếu, không có thời gian nhiều, bạch Thế Tôn chỉ dạy giúp con phương pháp vắn tắt để con có thể đoạn tận các lậu hoặc một cách nhanh chóng.” Đức Thế Tôn trả lời là: “Bà thấy ái ở đâu thì diệt đó, thấy ái ở đâu thì đoạn ở đó”. Chỉ một câu nói của Đức Phật nói, bà ấy về khi thấy thích, ái cái gì đều diệt trong thời gian ngắn, bà chứng Thánh quả tối cao, trở thành Thánh tổ của ni chúng thời đó.

Chúng ta có nhớ bài kinh nói về Tỳ-kheo chuẩn bị đi du phương, đi đến hỏi Ngài Xá-lợi-phất. Ngài Xá-lợi-phất đáp: Bậc đạo sư của chúng ta đã dạy những gì? Nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với năm uẩn. Và tất cả bảy trí trong ngũ uẩn thì chúng ta thấy câu nào cũng là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.

Chúng ta nhớ tông chỉ, nên câu mà Minh Thành niệm mỗi buổi giảng pháp trước khi vào là “Đảnh lễ ân đức giáo pháp ly tham tối thượng, giải thoát.” Giáo pháp của Đức Phật đúng nguyên chất là giáo pháp ly tham, ly dục, ly ái. Vì còn ham, còn thích, còn muốn bất cứ một cái gì trong ngũ uẩn là còn khổ.

Chỗ này là chỗ thâm sâu, nhưng có khi mình tu suốt đời nhưng chưa được nghe, chưa được hiểu chứ đừng nói chi là thực hành. Vì năm uẩn mình còn chưa biết thì làm sao biết được cái nào là dục, tham, ái đối với năm uẩn? Mình chỉ nghĩ đơn thuần là tiền bạc, đô la, vàng, ngôi chùa hay chiếc xe… Tất cả đó không phải, những thứ đó rất nhỏ, đó là điều bình thường, kẻ vô văn phàm phu cũng có thể hiểu được.

Nhưng thâm sâu ở trong là ly tham, ly dục, ly ái đối với thọ, tưởng, hành, thức thì kẻ vô văn phàm phu không thể thấy, không thể biết, không thể hiểu được. Đây là trí tuệ bất cộng, không chung cùng với chúng sanh phổ thông, chỉ có bậc Như Lai và đệ tử của Như Lai mới thành tựu trí tuệ về năm uẩn, mới biết được nguồn cơn của dục, tham, ái ở chỗ nào và diệt tận mầm móng ở chỗ nào. Đây là chỗ thâm sâu mà chỉ trong kinh Nikāya mới chỉ ra được mà chúng ta phải đào rất sâu vào trong sự nhận diện ngũ uẩn, thiền tập, thiền quán thì chúng ta mới thấy được sự ái này rất khủng khiếp.

Minh Thành thật sự không dám đào sâu với các thầy, đào vừa vừa thôi vì còn mới, ái của chúng ta là rất khủng khiếp. Minh Thành nói đơn giản về việc thầy ngồi chỗ quen nhưng hôm nay đi học có một thầy nào nhỏ mới vào mà đến ngồi chỗ của thầy thì ra sao? Bấy nhiêu đó thấy được tâm mình, tâm chấp thủ này rất khủng khiếp, ghê gớm dù đó chỉ mới là một chỗ ngồi. Khi mình đến chỗ nào thì lại gắn một nhãn là của tôi, thêm hai từ đó vào. Khi mua một đôi dép mới ở tiệm giờ mang vào chân thì là của tôi, mắt kiếng người ta bán ở tiệm giờ đeo vào thì là của tôi? Thậm chí miếng đất của người ta, mình mới đi đến xem, chưa mua nhưng nói đó là đất của mình.

Nên sự chấp thủ trong ngũ uẩn này rất khủng khiếp, là cây cổ thụ ngàn năm vô lượng kiếp. Nhưng mình tu như của mình thì giống như cầm một cây cuốc ra cào cào ở gốc cây. Làm sao nhổ được gốc của tham ái và chấp thủ. Vậy nên bài kinh chúng ta học là bài kinh Thủ chuyển. Khi Đức Phật thuyết bài kinh đó thì sự chấp thủ về năm uẩn của chúng sanh bị rung chuyển, bị chuyển động. Thủ là chấp thủ, chuyển là chuyển động, chấn động, rung động. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời thì mới làm cho sự chấp thủ về ngũ uẩn của chúng sanh rung chuyển.

Rất khủng khiếp tâm chấp thủ này, nếu chúng ta không có một trí quán thâm sâu, liên tục, tha thiết, chân thành, khát khao trong sự tu học giải thoát thì không thể nào chúng ta giải thoát nổi, không bao giờ có.

Ví như mình tên Trần Văn A nhưng khi có ai đọc tên Trần Văn A là tào lao thì lúc đó thọ, tưởng, hành ra sao? Đó chỉ là giả danh nhưng mình lại gắn liền với đó, đó là tên của tôi, vậy làm sao giải thoát? Giờ mình tu theo tông phái này thì có người nói “Tu tông phái này không hay!” thì lúc đó mình có sân si, khó chịu, bực bội, bản ngã không? “Đó là tông của tôi!” thì cũng giống vậy thôi. Nên đó là mình đi tới đâu là mình đã gắn bảng hiệu của tôi tới đó nên mình mới đau khổ mãi, hết ở đời thì vào trong chùa, thậm chí là khẩu chiến với nhau.

Ở Đài Loan có khi sáu, bảy, tám tháng hay cả năm, hai bên cứ khẩu chiến với nhau, khẩu chiến giữa các nhà nghiên cứu Phật giáo. Ngay cả trong nước mình cũng vậy, không chỉ ở nước ngoài, đó là lấy giáo pháp làm vũ khí miệng lưỡi. Trong kinh Nikāya dùng từ đó, không chịu tu tập, không chịu quay lại để nhận diện thân tâm của mình thì không giải quyết được vấn đề. Vậy nên mình chiêm nghiệm tham ái này rất khủng khiếp, sâu xa.

Ở nhà thương cha, mẹ, anh em, bà con, vô chùa thì thương thầy, thương huynh đệ, thương nhớ chùa, đi không ai trông chừng chùa. Đó là ở đâu thì dính mắc, yêu thích, luyến ái, chấp thủ, đó chỉ là ngoài thân, huống chi ở trong thì ai đụng vào, chưa nói tới các cảm giác sâu xa bên trong thì làm sao thấy được? Dòng suy nghĩ, hình bóng bên trong thì làm sao rọi chúng được?

Khi mình học ở trong này thì phải bậc ngửa, sốc toàn tập, ngày xưa khi mình tưởng là chứng quả, chứng đắc là một điều gì rất khủng khiếp nhưng cho đến khi nào mỗi suy nghĩ của mình sanh khởi lên, xúc với bất cứ một thứ gì mà mình đều thấy khổ trong đó, không thấy có gì lạc, mỗi một suy nghĩ mình, suy nghĩ về bất cứ cái gì trên cuộc đời này cho đến tự thân này mình thấy không có cái tôi, cái ta nào hết. Tất cả những gì mình nghĩ, nghe, thấy, ngửi, nếm, tiếp xúc, nhận thức trong ngoài các pháp mình đều thấy tất cả đều là biến động, vô thường, không có gì vậy mãi, là bền chắc, xác quyết một trăm phần trăm.

II. Nhận diện ngũ uẩn

Tất cả những gì mình nhìn thấy là bất tịnh, không có gì sạch sẽ, lúc đó là Nhập Lưu. Có thước đo Thánh quả bên trong này, Thánh quả đến đâu là biết đến đó, không phải là tu mà không biết gì hết, Thánh quả đến mấy là mình đều biết.

Đầu tiên, khi tâm mình nhận diện ngũ uẩn, sau khi mình nhìn thấy ngũ uẩn, sau khi mình tu tập, quán chiếu, nghiền ngẫm, tư duy, quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc, thọ, tưởng, hành, thức này thì tâm mình phát sanh nên một sự nhàm chán, thấy ngao ngán các sắc này, những đống cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này đều thấy ngao ngán, nhàm chán. Mình có một tâm hướng đến sự thoát ra mạnh mẽ, lúc đó là Hướng Dự Lưu, quả vị thấp nhất trong Bốn Đôi Tám Chúng hiền Thánh của Đức Phật.

Tức là khi xưa, tâm mình đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức là mình chạy vào, hướng tới sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bây giờ, khi mình thấy được ngũ uẩn, mình đã học giáo pháp ly tham thì tâm mình hướng ra đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không hướng vào nữa hướng vào là dục, tham, ái, là khoái, thích, thèm khát. Tâm mình hướng ra một cách mạnh mẽ thì lúc đó là Hướng Dự Lưu Thánh quả.

Nhưng nếu không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì làm sao hướng vào hướng ra? Nên nhận diện ngũ uẩn vẫn là quyết định, không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì sẽ không biết hướng. Vậy nên Hướng Dự Lưu quan trọng, là bậc thấp nhất của Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh. Cho đến lúc nào tâm mình xác quyết một trăm phần trăm tuyệt đối là mình đi ra, mình thấy năm đống này là khổ, một cách xác quyết, chân xác, không còn lung lay gì nữa, tịnh tính bất động đối với pháp thì lúc đó là Nhập Lưu.

Tức là người này chỉ có tiến lên đến ngày thành tựu Thánh quả tối thượng và không bao giờ có sự quay trở lại. Trong nội tâm xác quyết sách này là khổ, vô thường, vô ngã, những cảm giác này, những tư tưởng, hình bóng, lời nói lầm thầm trong tâm, những nhận thức đều là khổ, vô thường, vô ngã. Xác quyết rõ ràng ngũ uẩn này vô thường, khổ, vô ngã, tâm mình quyết định, từ bỏ, xác quyết một trăm phần trăm là Nhập Lưu, đó là Thánh quả thứ nhất.

Ví dụ, khi mình còn tuổi trẻ, trai tráng, đẹp đẽ thì bất ngờ bị tai nạn xe tông, ngã xuống chết thì lúc đó thọ, tưởng, hành như thế nào? Chúng ta đặt thử trường hợp đó để thiền quán, mình sẽ như thế nào, mình có chấp nhận từ bỏ ngũ uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã không? Chúng ta nhìn thì chúng ta biết đi đâu ngay, bình thường mình không quán, không nhàm chán, không từ bỏ thì đến lúc đó làm sao mình bỏ được? Lúc đó sẽ đau khổ, hoảng loạn, sợ hãi, thậm chí, những người chấp thủ nặng họ sẽ trở thành cô hồn. Vậy nên những chỗ có tai nạn xe người ta thường để các miếu nhỏ, hoặc ở các đèo Bà Cô người ta có thờ miếu, là khi đêm người ta đi ngang hình bóng đó, người ta không chấp nhận cái chết.

Vì tâm thức ái thủ đối với thân xác đó không nhả ra được và thọ, tưởng, hành, thức đều ở chỗ đó nên phải trở thành cô hồn, ngạ quỷ hay là thần thánh tùy theo phước duyên, công đức của người đó. Nếu ác nghiệp nhiều sẽ đi vào con đường ngạ quỷ, ít thì là vong linh, phước hơn nhưng còn sân thì là thần cây.

Nên chấp thủ này rất sâu sắc. Chúng ta cứ đặt trường hợp bất thình lình covid tới thăm mình, mình chết thì lúc đó không có ai tụng hay cúng, không ai đưa đón, cha mẹ không gặp, anh chị em, thầy tổ, huynh đệ đều không gặp, ở một mình và ở tại chỗ như vậy thì lúc đó thọ, tưởng, hành như thế nào? Mình nên đặt trường hợp vào mình quán.

Vậy nên mình đừng nên nghĩ mình cứ đều đều như vậy hoài, nghĩ như vậy là vô minh. Phải đặt mình vào những tình cảnh, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử thì mình mới tu, trí tuệ mình mới sâu sắc. Sự thấy biết của mình mới thẩm thấu, khi mình gặp chuyện gì đến thì tâm mình vẫn bình thản, an tịnh, lắng dịu. Ví dụ cái chết đến thì “Đúng rồi, tôi đã đợi ba mươi năm rồi, giờ tới thì đi! Khỏe! Từ bỏ!” Vậy nên trong kinh Nikāya có quán từ bỏ.

Mời các thầy đọc bài Niệm ngũ uẩn duyên sanh.

“Thân là duyên sanh

Thọ tưởng hành thức cũng là duyên sanh

Thân là vô thường

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường.

Thân là phiền não

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não.

Thân không là mình

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là không là mình.

Thân này từ bỏ

Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ.

Thân xả, tâm xả,

Dễ chịu, dễ chịu,

Buông xả, buông xả,

Dễ chịu, dễ chịu.”

Quán từ bỏ là pháp quán rất thâm sâu, chúng ta đọc trong Trưởng lão tăng kệ là những câu chuyện chứng ngộ của các bậc Thánh thời Đức Phật thì chúng ta sẽ thấy rất nhiều vị Tỳ-kheo chứng Thánh quả lúc các Ngài gần chết. Lúc đó là các Ngài quán từ bỏ, xả ly, xuất ly khỏi ngũ uẩn.

Nếu mình không biết các cách này thì đến lúc đó mình sẽ hoảng loạn, yêu tiếc, luyến ái, tham ái đối với tự thân của chính mình. Còn các Ngài do sự huân tu hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm, hàng nhiều năm, cho đến suốt cuộc đời, các Ngài đã quân tập thiền quán đó nên đến lúc đó, các Ngài sẽ triển khai thiền quán một cách mạnh mẽ, quán từ bỏ thì các Ngài vượt ra luôn nên những vị chứng được Thánh quả rất nhiều trong lúc bệnh nặng và lúc các Ngài sắp phải ra đi.

III. Hướng dẫn tu tập cảm thọ dễ chịu

Đây cũng là bí kíp Chánh Pháp mà Minh Thành muốn giới thiệu đến các thầy, điều này cũng sâu sắc, dần dần giới thiệu nhưng sợ một lúc Minh Thành đi về, trên đường từ bỏ thì lúc đó Minh Thành phải dễ chịu. Lúc đầu khi mình đọc thì thấy vui nhưng sau đó các thầy sẽ thấy đó là cả một sự tu tập về cảm thọ, tuyệt đối quan trọng. Cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu lúc đầu Minh Thành nghe hướng dẫn cũng cười như các thầy, nghe thấy ngộ nghĩnh như nói chuyện con nít nhưng khi mình đi thực tập thì mới thấy cảm giác an tịnh, lắng dịu rất khó thực tập.

Nên trong con người mình hoặc là cảm giác đơ đơ hoặc là tham, sân, si, còn cảm giác để chánh niệm tỉnh giác, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào của tâm từ là vô lượng kiếp vừa qua mình chưa thực tập, hoặc chưa thực tập sâu sắc nên khi chạm vào là phừng lên, phựt lên ngay, thậm chí đang ngồi nghe pháp cũng bực bội.

Nhiều khi buồn ngủ, mệt trong người, bị bệnh, hoặc là rất nhiều, đều là cảm thọ mình trong đó, không lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu. Giờ mình để cho cảm giác của mình được quân tập, quân tu, tràn đầy sung mãn, một cảm giác dễ chịu, ngọt ngào là mình phải tu rất nhiều trong sự tác ý nuôi dưỡng cảm xúc, cảm thọ, cảm giác. Khi mình nuôi dưỡng được cảm thọ tâm hiền, tâm từ này, tâm dễ chịu, ngọt ngào này rồi thì mình rất tuyệt vời, lúc nào thân tâm mình cũng nhẹ nhàng, từ hòa. Thậm chí lúc đáng bực bội, bức xúc nhưng mình vẫn là thư thái, thảnh thơi, ngọt ngào, dễ chịu. Quý thầy có chịu như vậy không?

Như nhiều khi ở kế bên bếp nấu cơm, lửa phừng phực nhưng trong này cũng mát dịu, dễ chịu, đó mới là độc đáo, độc lạ, hàng hiếm. Còn khi đứng kế bên lửa mà nóng là bình thường, gặp người ta khó chịu mình khó chịu lại thì đó là bình thường, phàm phu không cần tu, còn mình tu là có những cái đặc biệt mà người bình thường không có, gọi là bất cộng pháp – pháp không chung cùng với chúng sanh, là pháp mình nhận diện, nhiếp phục, chế ngự, xử lý và giải tỏa, tẩy sạch được những cảm xúc tiêu cực, ác và bất thiện pháp trong thân tâm của mình.

Mình muốn nó có cảm thọ nào là có cảm thọ đó, ví dụ mình muốn nó hỷ lạc thì mình tác ý hỷ vô lượng tâm là nó vui suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, thậm chí vui suốt ba tháng, suốt một năm, hỷ lạc như vậy, trú trong vô lượng tâm đó.

Phải tu tập thì tâm mới có thể mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Khi mình tu được điều này thì sau này mình sẽ làm chủ được cảm thọ. Làm chủ sanh tử là ở chỗ này. Sau này chúng ta sẽ học, khi Đức Phật bệnh nặng, Ngài nói là người bình thường sẽ không chịu đựng nổi, phải rên la, đau đớn khủng khiếp, kinh hãi. Khi đó Đức Phật trú trong vô tướng tâm định, là Ngài nhiếp phục một số cảm thọ, thân thể Ngài được an ổn. Vì con người mình có sắc, thọ, tưởng, hành, thức thôi, giờ mình tu là mình nhận diện, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, nhiếp phục, chế ngự nó suốt cuộc đời của mình, tới ngày cuối đời mình phải thành công.

Nên Đức Thế Tôn và các bậc Thánh, các Ngài tùy ý sử dụng sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Làm chủ hoàn toàn đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

32-33: Sư thầy trình pháp

Sự tu là một sự chân thành, thành thật, một trong bốn đức hạnh của bậc Thánh đệ tử là trực hạnh. Trực hạnh là tâm ngay thẳng, nhiều khi mình có những phiền não, nội kết, buồn phiền mà mình không nói được, nhưng khi gặp ai thì cũng nói là “Tôi tu ngon lành lắm! Dạo này thanh tịnh lắm!” Đó là mình dối. Nên sự tu này trong đạo tràng Nikāya là phát lồ tâm bất chánh hết, từ trên xuống dưới, Minh Thành cũng quỳ xuống lạy đệ tử của mình sám hối khi thấy mình có bản ngã, đó là chuyện bình thường trong đạo tràng Nikāya. Phải chung chánh trực, chân thật, đừng ngại khi mình trình bày phiền não của mình, nếu đây là pháp chân chánh thì chỉ có người chân thành mới có thể thực hành pháp chân chánh.

Nếu mình vì sĩ diện, mình khỏa lấp, không dám nói, mình cứ để bên trong thì mình không giải quyết được vấn đề. Nên câu hỏi vừa rồi Minh Thành rất tán thành, vì thật sự đây là cái chung của tất cả chúng sanh. Tất cả ngũ uẩn đều có tham, sân si, bản ngã trong đó, không riêng một ai. Nên sự tu của chúng ta rất quan trọng là nhận diện ngũ uẩn, phải nhìn cảm thọ của mình trong mọi lúc mọi nơi. Nếu có một chuyện gì xảy ra mà làm cho mình phiền não thì mình đừng nhìn ra bên ngoài, mà hãy quay ngược lại nhìn cảm thọ của mình. Giờ mình hóa giải là ở trong cảm thọ của mình, không hóa giải tiếng ồn ở ngoài được. Nếu mình có hướng ra ngoài là mình không tu được. Khi mình hướng ra ngoài là “Tại cậu kia, tại huynh đi, tại thầy kia…” Còn khi mình quay lại mình thì mình thấy được sự tu tập của mình chưa có khả năng nhiếp phục, chế ngự các cảm thọ, mình mới nỗ lực để mình thực tập.

Có nhiều Phật tử, nhiều quý thầy, quý cô trên núi tới giờ ngồi thiền là mở karaoke lên, hát ở dưới núi nhưng dội lên tới trên núi ở ngay giờ ngồi thiền thì lúc đó tu ra sao? Nên những câu hỏi về vấn đề này Minh Thành cũng đã giải thích nhiều lần. Nếu mình cứ ngồi đó trách là “Tại sao lại hát giờ này, giờ này là giờ của tôi tu!” nhưng là giờ tu của mình, không phải giờ tu của người ta. Đó là mình hướng ra ngoài, mình sẽ không tu được, mình phải quay trở về nhiếp phục cảm thọ của mình.

Để nhiếp phục mình cần vận dụng pháp mình đã học. Thứ nhất, với tiếng ồn đó thì bên trong cảm thọ sân, khó chịu trỗi dậy thì tác ý “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu đi!”, đó là giáo dục tâm, dạy dỗ, huấn luyện tâm, chỉ dẫn. Mình lái như một tài xế lái xe, mình phải đưa nó đi con đường đại lộ, bình an, không thể lái đưa xuống vực thẳm được. Nó đang khó chịu, tức giận, bực bội tức là nó đang đi xuống vực sâu, đi xuống chỗ sâu, đang khó chịu là đang thiêu đốt nội tâm của mình, mình không để cho cảm thọ ngu ngốc này thiêu đốt mình.

Mình tác ý “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu!” cứ niệm câu này như niệm Phật, giống như trì chú, giống như niệm bài Tâm kinh bát nhã. Vì niệm kinh bát nhã không linh, mình niệm “Tiếng là không!” vì rõ ràng có cảm thọ nóng giận thì làm sao không được? Nên mình mới kêu “Thôi! An tịnh, lắng dịu đi! Dễ chịu đi! Bực bội hoài không thấy mệt hả?” Mình quay vào nói trung tâm của lồng ngực “Bực bội hoài không thấy mệt hay sao? Khó chịu hoài không thấy mệt hay sao? Sân hoài không thấy mệt hay sao? Thôi tới đây là vừa đủ rồi! Ngươi hãy tan biến khỏi tâm của ta đi. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, thành mây, thành khói, thành hư không đi! Đừng ở đây nữa, tan biến hoàn toàn đi.”

Mình tác ý rồi mình trải tâm từ cho tự thân mình tội nghiệp “Ta tội nghiệp tâm mê này quá. Tâm ơi tâm, mê vừa thôi tâm. Tâm ơi tâm, tối ngày mình cứ giận hoài như vậy mày khỏe lắm hay sao tâm?” Mình tác ý như vậy. “Nếu càng bực bội là càng bị thêu đốt, càng bị nhiệt não, khó chịu, càng khổ đau thôi chứ có gì đâu tâm! Có nghe không tâm?” Mình nói với tâm mình như vậy!

Mình hướng vào cảm thọ của mình nói với nó như vậy, mình tác ý như vậy rồi mình trải tâm từ. “Tội nghiệp cho mày quá đi tâm. Làm ơn hãy nghe lời nha tâm. Mày đừng ương ngạnh!’ Mình cứ tác ý như vậy rồi trải tình thương từ lòng ngực mình lan tỏa cảm thọ thương xót thân này, thương xót cảm thọ này, thương xót sự nhận thức, sự nghe này để rồi sân si lên thì “Nghe làm gì nữa tâm? Nên điếc đi, đừng nghe nữa. Mày nghe để rồi sân si lên thì nghe làm cái gì?” Mình tác ý như vậy.

Thấy, nhìn để bực bội thì nhìn để làm gì? Mày nên nhắm mắt, mù luôn đi tâm! Mình tác ý như vậy, vì tâm này là tâm mê, rồi mình mới bắt đầu trải lên tình thương xót thân này, cảm thọ này.

“Thương lâu rồi ta sống,

Bỏ quên cảm thọ này,”

Chúng ta cứ bỏ quên, không biết chăm sóc cảm thọ này, cứ để cho cảm thọ này bức xúc, bực bội, khó chịu hoài như vậy.

“Để cho tham sân hành hạ,

Ta để mình khổ đau.”

Mình làm cho mình sanh khởi lên một cảm xúc tội nghiệp, mình thương cho mình, đáng thương cho mình. “Cứ giận hoài như vậy, đến đây là vừa đủ rồi, hở ra chút là phiền, bực, giận thì để làm cái gì?” Mình cứ nói với tâm, cảm thọ của mình như vậy. Đó là mình đang huấn luyện, dạy dỗ cảm xúc của mình “Tội nghiệp nhà ngươi quá. Ngươi ngu vừa thôi, đừng ngu nữa, tỉnh đi tâm, đừng mê nữa tâm.” Mình kêu tâm của mình như vậy rồi mình trải tâm từ, trong người mình cảm xúc lan tỏa từ đỉnh đầu tới gót chân là một cảm thọ dạt dào, sung mãn, đầy ắp, thấm đẫm, thấm đượm trong thân mình, từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng làn da, thớ thịt là một cảm xúc xót thương cho chính mình.

Xót thương cho cảm thọ sân hận, si mê, đó là mình trải tâm từ cho chính mình, sau đó tâm từ lan tỏa trong con người mình, nên đó là tại sao mình phải thực tập cảm giác toàn thân. Khi thuần thục, nó lan tỏa từ đỉnh đầu tới gót chân thì mình mới lan tỏa cảm thọ đó qua đối tượng đang làm cho mình sân. Đưa cảm thọ từ ái theo đối tượng đó, mình nên quán chiếu tâm từ như quạt máy quạt qua người đó cho người đó được mát. Tâm từ giống như máy điều hòa tỏa ra sự mát dịu, mát lành, cho người đang sân hận mình hoặc làm cho mình sân hận. Mình phải tội nghiệp người đó cũng giống như là tội nghiệp chính mình, người đó cũng đang bị bực bội, sân hận giống như mình, mình là nạn nhân của cơn giận, họ cũng là nạn nhân của cơn giận, chúng ta cùng nhau là nạn nhân của cảm thọ sân hận này, đừng làm khổ cho nhau nữa. Hãy biết thấu hiểu, cảm thông, tha thứ và xót thương lẫn nhau.

“Biết bao là đau khổ trong cõi sanh tử này

Xin đừng bày thêm khổ, thêm khổ phiền cho nhau.”

Mình dùng một tấm lụa trắng của tâm từ trong bài kinh Ví dụ cây cưa. Mình dùng một tấm lụa trắng thật sạch, thật đẹp, thật mềm mại mình phủ từ đỉnh đầu tới gót chân, trùm hết người đó là một tâm từ của mình bao bọc người đó, lan tỏa đến người đó, bao trùm lấy người đó, tha thứ cho người đó. Trong bài kinh Ví dụ cây cưa, Đức Phật dạy cách quán tâm từ đối với người mà mình sân hận. Minh Thành cũng đã có giải thích rất nhiều bài về cách hóa giải tâm sân hận. Điều này rất hiệu quả, quý thầy làm đi rồi sẽ thấy rất tuyệt vời, mình sẽ không giận ai mà từ từ mình sẽ xót thương chính mình, xót thương hữu tình, xót thương chúng sanh.

“Mỗi người một nỗi khổ

Mỗi loài một niềm đau

Xin cùng nhau thấu hiểu

Những nỗi khổ trong nhau.”

Mỗi người chúng ta ngồi đây nhưng mỗi người có một nỗi khổ, người đi nhặt ve chai có nỗi khổ của người đi nhặt ve chai, phế liệu; người tài xế có nỗi khổ của người tài xế, một người giúp việc họ cũng có nỗi khổ của giúp việc, người bảo mẫu có khổ của người bảo mẫu, người làm cha mẹ có nỗi khổ của người làm cha mẹ, người làm con cái có nỗi khổ của người làm con cái, người làm thầy có nỗi khổ của người làm thầy, học trò cũng có nỗi khổ của học trò… Một anh chàng chạy xe ôm, chạy grab có nỗi khổ của chạy grab, một người bác sĩ có nỗi khổ của người bác sĩ…

Mỗi người một nỗi khổ, mình phải nhìn ra được tất cả hữu tình chúng sanh, vạn loại này là tất cả khổ, có nỗi khổ riêng của họ. Mình không thấy thì mình mới giận, còn khi thấy rồi thì không bất cứ một ai trên cuộc đời này để cho mình đáng giận hết. Ngu thì mới giận, hiểu thì sẽ không giận. Không có bất cứ một lý do nào làm cho mình giận, mình giận là vì mình ngu, mình làm cho mình khổ và làm cho người khác khổ. Khi mình đã hiểu ra thì không có bất cứ một chúng sanh nào đáng cho mình giận, vì tất cả đều đắm chìm trong khổ thì giận gì. “Khổ như vậy chưa vừa, chưa đủ hay sao? Khổ như vậy chưa hày lòng mà muốn gây sự kiếm chuyện để khổ nữa hay sao? Tâm ơi là tâm, mày ngu vừa vừa thôi!”

Mình nói với tâm của mình như vậy thì chúng ta mới thấy được sự tuyệt diệu của sự thiền quán. Thưa các thầy, nãy giờ mà Minh Thành thiền quán, hóa giải tâm sân. Còn nếu mình cứ ngồi đơ đơ, nó muốn nghĩ gì mình cứ cho nó nghĩ thì nó sẽ theo sân, nên phải ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy là Chánh Tư Duy. Nãy giờ là mình suy nghĩ là ly sân tư duy, là Thánh tư duy – sự suy nghĩ của bậc Thánh, sự suy nghĩ chân chánh, sự suy nghĩ đưa đến dập tắt hết tất cả những cơn bức xúc, nóng giận, phiền não của chúng sanh, đó gọi là Thánh tư duy.

Nên mình phải biết cách suy nghĩ để mình khôn, biết cách suy nghĩ để cho mình xa lìa được những cảm xúc tiêu cực, mình biết cách suy nghĩ để mình nuôi dưỡng cho mình một lòng từ bi, tình thương. Đó cũng là nuôi dưỡng tâm từ, trải tâm từ, cũng là cách hóa giải tâm nóng giận, còn nếu mình ngồi yên thì sẽ không hết.

Ví dụ mình tránh để không gặp, nói chuyện với người đó nhưng trong suy nghĩ có không? Nghĩ là có cảm thọ, nó có hành, thọ, tưởng. Như vậy thì sâu bên trong nó không giải quyết được nội kết đó, nó sẽ ùn ứ, chất chứa, nó làm sự trú ẩn, đồn trú, tồn kho, trong đó có hàng tồn kho trong cảm thọ nên sau này gặp chuyện thì nó bậc lên, bung ra. Còn đây là mình diệt tận trong cảm thọ, mình hóa giải, nhổ gốc ngay tại chỗ, mình diệt cảm thọ sân đó ngay lập tức tại chỗ đó, làm cho nó không sanh khởi trở lại trong tương lai, phải chặt nó giống như cây ta-la, giống như chặt cây dừa, cây cao, không cho nó mọc trở lại nữa, không cho nó tái sanh nữa, cho nó chết tận cùng.

Đó gọi là đoạn tận. Chữ đó gọi là Khổ Diệt Thánh Đế, diệt là diệt tận, không cho sanh khởi trở lại nữa. Đó là chữ thâm thúy mà ba mươi năm Minh Thành mới hiểu được chữ diệt, đoạn diệt, hay là chữ Diệt Thánh Đế rất hay, không có lời nào để diễn tả. Chữ diệt đó là diệt tận mầm móng tham, sân, si, vô minh, bản ngã ở trong cảm thọ, trong tưởng, suy nghĩ… diệt hết và không cho nó sanh khởi.

Nên tâm của các bậc Thánh ở Thánh quả thứ ba là đã hết tham sân, diệt tận, không bao giờ sân có thể sanh khởi trở lại. Một mầm móng nhỏ cũng không còn, chỉ toàn là tâm từ. Muốn như vậy thì nếu mình tu lơ mơ, tu chơi chơi chờ ngày qua đời thì làm sao được, phải là một sự nỗ lực trường viễn, sâu sắc, từng chút một nhìn tâm mình, kiểm tra, kiểm toán, kiểm kê, kiểm điểm từng chút, mỗi sự động chuyển, nhúc nhích của tâm là phải nhìn thấy xem nó đang làm gì, đang có cảm thọ gì, đang có suy nghĩ gì, tưởng gì là phải nhìn thấy, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận và tẩy sạch nó.

Dần dần nó sẽ giảm bớt, như bài kinh Đoạn giảm, Tổn giảm, giảm dần dần đến khi đoạn tận, đoạn là cắt đứt, tận là hết, dứt hết. Vậy nên đạo lộ của kinh Nikāya là minh bạch như mặt trời, không có chút gì gọi là nói không được, không có chút gì mà nói là chỗ đó không thể hiểu, không thể giải thích. Trong kinh Nikāya không có chuyện đó, tới đâu là rõ ràng tới đó. Từng bước mình tu thì mình sẽ thấy được tâm của mình, sân còn nhiều hay còn ít, nó hết thì cũng vẫn thấy biết tham, dục, ái còn nhiều hay ít, còn bao nhiêu hay hết rồi thì mình cũng biết. Vậy nên Đức Phật nói là người trí tự mình giác hiểu.

Tâm từ không dừng ở việc trải cho đối tượng đó mà trải rộng ra vô lượng, vô biên. Khi nào có dịp thì chúng ta sẽ thực tập trải từ vô lượng tâm. Khi mình trải tâm từ thì mình thấy cảm thọ xót thương của mình sẽ lớn mạnh, rộng mở, thấm đẫm, thấm đượm, con người của mình sẽ thay đổi tính cách. Khi mình tu tập tâm từ sẽ thay đổi tính cách của mình, nếu mình tu siêng năng thì sẽ thành một con người mới luôn, giống như đầu thai kiếp khác.

Những tập tánh, thói quen, ích kỷ, bản ngã của mình dần dần sẽ rơi rụng, sẽ thay đổi rất nhiều, chuyển biến, chuyển hóa, chuyển đổi.

Những quý thầy có câu hỏi gì, hay có gì chưa rõ trong pháp học, pháp hành có thể chia sẻ.

58-59:28: Sư thầy trình pháp

Pháp nói ở đây là pháp trần, là thọ, tưởng, hành. Chữ pháp có nghĩa rất rộng, phạm trù rộng lớn, chữ pháp bao gồm Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, pháp cũng có nghĩa là tất cả mọi sự, mọi vật trong vũ trụ này, năm uẩn cũng là pháp, sắc pháp, thọ, tưởng, hành, thức pháp… Nên chữ pháp rất rộng, mình nói trong phương diện nào thì mình sử dụng phương diện đó, pháp trần ở đây là thọ, tưởng, hành.

Minh Thành chưa thấy thầy nào xung phong nhận diện ngũ uẩn lúc cơn giận, lúc tham khởi lên hay bản ngã khởi lên không thấy ai dám nhận diện như vậy. Phải mạnh mẽ, không xấu hổ, nhìn nhận sự thật trong thân tâm của mình, sự tu của mình mới tiến bộ sâu sắc. Khi mình nói những gì thanh cao, hay ho nhưng còn những cái xấu trong người mình thì không nói, như vậy thì sẽ còn ở đó, rác bẩn trong đó không thể quét, lau, dọn được. Muốn tu sâu thì phải dám nhìn, dám thấy, dám nói, dám trình bày thì mới tu sâu được.

62-64: Sư thầy trình pháp

IV. Hộ trì căn

Thức mình không chặn được, vì các pháp vận hành theo cơ cấu vận hành của nghiệp mới như vậy. Thức mình không chặn được nhưng Đức Phật có dạy là hộ trì con mắt, phòng hộ con mắt, bảo vệ con mắt, giữ gìn con mắt rất kỹ trong kinh Nikāya, hộ trì căn.

Chúng ta cũng từng học trong Niệm hộ trì căn, phần hộ trì con mắt.

Niệm hộ trì các căn - Kinh Không thể rơi xuống.

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? - Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỷ- kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì ý căn.”

(Bài kinh Không thể rơi xuống – Phẩm Bánh Xe – Chương Bốn Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 1)

Không thiếu và không dư, như trong kinh Trường Bộ, bài kinh Thanh tịnh, Đức Phật đã nói: Một người nào có thể suy nghĩ thêm vào lời nói của ta, hay bớt đi lời nói của Như Lai, thì người đó thấy mà không thấy. Ý nói lời của Đức Phật nói là không thiếu, không dư, một bậc Chánh Đẳng Giác không thể nói lời thừa được, không thể nói lời thiếu được.

Nên pháp của Đức Phật là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, ban đầu là toàn vẹn tốt đẹp, chặng giữa là vẹn toàn tốt đẹp, cuối cùng là toàn vẹn tốt đẹp. Đó là Đức Phật đã nói trong tạng kinh Nikāya nên không thiếu, chỉ có mình không chịu khó để tâm mình học, thực hành cho kĩ nên thức là không chặn nó được, có thể giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc, cẩn thận khi tiếp xúc, hộ trì khi tiếp xúc, bảo hộ khi tiếp xúc, gìn giữ khi tiếp xúc. Quản lý con mắt khi tiếp xúc.

Việc này mình học cần phải nhiều thời gian, những bài đó có thể học từ một giờ rưỡi đến năm giờ khôn biết xong chưa, chỉ một câu đó. Nhưng mình phải chiêm nghiệm ra trong đó vì Đức Phật thường nói hay các vị Thánh kết tập, các Ngài đã kết tập những phần quan trọng nhất, Đức Phật không nói dài dòng ra nhiều, Đức Phật chỉ nói những gì cần nói.

Từ chỗ đó mình mới phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm ý trong đó để mình tu, mình không giữ mắt, tai, miệng này thì khổ đến. Không phải đợi đến khi ra ngoài mà ngay cả ở trong chúng mình là mình không khéo hộ trì là cũng dễ phiền não huynh đệ, nên mình nhớ hộ trì sáu căn rất quan trọng, thu thúc lục căn thanh tịnh giới, đừng thả lỏng các căn ngay cả khi mình ngồi thiền hay khi mình học, là chỗ mình thu giữ. Nhưng lúc mình đi ra ngoài làm việc, trong chúng công tác hay là mình đi ra ngoài thì càng phải cẩn thận nhiều hơn, có khi chỉ một cái nhìn thôi cũng có thể trói cột suốt đời, một cái nhìn thôi cũng có thể hoàn tục, một tiếp xúc có thể làm đạo hạnh sụp đổ. Thật ghê gớm cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc.

Đôi khi là đôi mắt người xưa, không là một nụ cười là nghiêng nước, hai nụ cười là đổ thùng

“Nhất tiếu khuynh nhân thành,

Tái tiếu khuynh nhân quốc.”

Tức là một nụ cười nghiêng thành, nụ cười thứ hai là đổ nước, nước ám chỉ là cả một đất nước. Vậy nên xúc khủng khiếp như vậy nên ngày xưa Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo hộ trì căn rất kĩ. Trong kinh Trường Bộ, Ngài Ananda hỏi Đức Phật làm sao có thể giữ gìn với người nữ thì Đức Phật đã trả lời là: khi gặp đừng nhìn, đừng nói chuyện, có nói chuyện thì phải cẩn thận hộ trì các căn.

Vậy nên phước của mình rất lớn, mình được thiền viện, trong trường thiền bảo bọc như vậy nhưng có nhiều chùa có thể tăng, ni và cả Phật tử nữ ở chung, như “lửa gần rơm”, dễ phựt cháy.

Nên xúc rất quan trọng, không phải chỉ nói lý như mình “Giờ tôi bất động rồi!” vậy thử lại xem có động hay không. Chưa kể việc nam nữ, còn có nam nam nữ nữ cũng phải hết sức cẩn thận, đạo nghiệp tu hành của mình sẽ sụp đổ hoàn toàn, đời tu của mình không phải là con số không mà là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vậy nên duyên xúc rất quan trọng trong việc hộ trì căn.

Tu theo Đức Phật rất kĩ, rất khó nên mới thành tựu, đúng Thánh đạo mới có Thánh trí, Thánh quả, phải kĩ từng chút, không phải là nói chuyện tu là đơn giản, chỉ vào học, làm việc như bình thường được. Tu để thành tựu được, nhiếp phục, đoạn tận thật sự được dục ái là cả một sự gan go khủng khiếp, nước mắt đầy mặt, đấm ngực, đau đớn, u não, lo lắng, buồn khổ, nước mắt đầy mặt. Đức Phật nói người chân tu rất ưu tư, lo lắng, không phải tu là sướng, tu là gánh nặng của thiện pháp, rất lớn.

Không phải là bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết ở ngoài rồi vào là khỏe, không làm gì hết, ăn có người lo, áo có người mặc, chùa có nhà cho ở. Không phải là đi tu với tư tưởng đó mà đi tu Đức Phật nói trong kinh Nikāya là vì tin tưởng rằng trong pháp và luật này có khả năng diệt tận được sanh, lão, bệnh, tử, sầu bi, khổ, ưu não nên thiện nam tử, con nhà lương gia phát khởi lòng tin thanh tịnh mới từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Vì tin tưởng trong pháp và luật này, có khả năng chấm dứt được sầu bi, khổ, ưu não, sanh, lão, bệnh, tử, tham, sân, si mới từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đi xuất gia. Nên chúng ta nên chiêm nghiệm thật nhiều trong tu học.

Điều quan trọng nhất của mình là: ngũ uẩn là gì? Thứ hai, tham, sân, si ở đâu? Tham, sân, si ở trong khổ thọ, gồm có … 79:50 bất khổ bất lạc thọ, si. Tiếp theo là cách đối trị tham, sân, si. Tham lấy gì trị? Tham là lấy bất tịnh, sân lấy tâm từ, si là phải tinh cần, tinh tấn, quán ánh sáng, quán về trí tuệ, dẫn chứng theo kinh, lìa kinh là có thể sai.

Câu này… sẽ đo được sự nhận, hiểu của tăng sinh. Câu này là câu mở, những gì mình đã học được về ngũ uẩn, mình trình bày được thì người hiểu được nhiều hay ít, điểm cao hay thấp là vì ở câu này. Ngũ uẩn là gì, câu này có rất nhiều định nghĩa, tùy theo mình hiểu, nếu mình định nghĩa một là một, còn muốn định nghĩa hai là mình hiểu được, thuộc được, nhớ được những định nghĩa thì như vậy càng tuyệt vời hơn. Không có yêu cầu gì nhưng chỉ đề như vậy là tùy vào hiểu của mình mà trả lời, nhất định là phải có định nghĩa “Thân người là sắc, cảm giác là thọ”. Định nghĩa số một nhất định là phải có.

Này giờ Minh Thành đã có chỉ quý thầy cách đối trị tâm sân, quán bất tịnh là đối trị tâm tham, quán ánh sáng, tinh cần, tinh tấn, quán trí tuệ là đối trị tâm si. Quán trí tuệ đó cũng tùy theo mình hiểu quán trí tuệ đó, nếu mình vận dụng duyên sanh pháp thì cũng là quán trí tuệ. Trong ba câu hỏi, việc hiểu bài ít hay hiểu bài nhiều, hiểu bài sâu hay cạn là do cách trình bày của mình. Vì làm thì ai cũng sẽ làm được nhưng phần để hiểu của mình có đầy đủ, hệ thống, có chính xác không là phải do sự hiểu của mình ghi chép, thực tập của mình.

Chúng ta nhớ là mình phải cho ví dụ thực tế trong đời sống, thường một lý thuyết phải có ứng dụng vào đời sống thực tế thì mới làm rõ được pháp. Còn không mình chỉ đọc trôi chảy nhưng đến khi ra thì mình nhận diện không được. Ví dụ nói về bảy trí về tưởng, bảy trí về hành là cho ví dụ vào đời sống thực tế để mình tu tập, không chỉ nói lý thuyết thôi. Ví dụ như đang nói về đối trị sân, đưa ra một ví dụ về sự kiện và xảy ra như vậy thì mình phải vận dụng tu tập ra sao. Nên không chỉ nói về lý thuyết mà phải có ví dụ thực tế trong pháp hành.

Ngũ uẩn là gì? Tham, sân, si ở đâu? Cách đối trị tham, sân, si?

“Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.”