PHÁP HÀNH NIKAYA TỔNG QUÁT 1-2
Linh Quy Pháp Ấn
PHÁP HÀNH NIKĀYA
TỔNG QUÁT
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u Lời Ngỏ PAGEREF _Toc172540020 \h 1
I.Nuôi dưỡng lòng biết ơn PAGEREF _Toc172540021 \h 2
II.Hành trì tâm hiền thiện PAGEREF _Toc172540022 \h 5
III.Thực hành sự hòa kính PAGEREF _Toc172540023 \h 8
IV.Cách nhiếp phục dục, tham PAGEREF _Toc172540024 \h 12
V.Tu tập tâm khiêm hạ PAGEREF _Toc172540025 \h 13
VI.Khéo trú bốn tâm vô lượng – thương-xót-vui-buông PAGEREF _Toc172540026 \h 18
Lời Kết PAGEREF _Toc172540027 \h 25
Lời Ngỏ
Các vị Hiền trí thân mến! Trước đây chúng con đã chia sẻ trong quyển Pháp Hành Nikāya Căn Bản về phương pháp nhận diện thân và tâm, thấy được nguyên nhân của phiền não, từ đó phát hiện ra những cấu nhiễm trong tự thân và cách nhiếp phục chúng theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya; nhờ vậy đạt được bình an, hạnh phúc ngay hiện tại.
Tiếp theo, chúng con xin gửi đến quý vị quyển sách có tựa đề Pháp Hành Nikāya Tổng Quát, nhằm bổ túc, bổ sung những pháp hành cần thiết, thiết yếu trên bước đường tu tập. Đặc biệt, Tâm Hiền Trí là chất liệu tiên quyết để có thể bước vào dòng pháp vi diệu, cao thượng của Đức Thế Tôn. Trong đó, những pháp hành quan trọng, gốc rễ các hành giả cần thực hành là tâm biết ơn, nhớ ơn, tâm hiền thiện, tâm hòa kính, tâm khiêm hạ, nhiếp phục dục tham, đánh gục bản ngã, an trú vào bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả. Chính những đức hạnh thiện lành, cao đẹp này sẽ giúp ta tẩy sạch nội tâm cấu nhiễm, từng bước đi đến một nội tâm thanh tịnh, từ bỏ việc ác, tăng trưởng thiện pháp. Nhờ vậy, tâm ta dần dần được lắng dịu, thanh tịnh, trong sạch để thể nhập vào những trí tuệ thâm sâu, giúp phá vỡ, đoạn tận những lậu hoặc, đạt đến Thượng Nhân Pháp, thành tựu đời sống đức hạnh cao đẹp, chân chánh của một người tu.
Bằng tất cả tấm lòng trân quý, kính trọng, chúng con xin góp nhặt những pháp hành từ lời dạy của Đức Thế Tôn, cùng Chư Thánh Hiền và bậc Đạo Sư, một dạ chí thành cúng dường Pháp bảo này đến Chư Tôn Thiền Đức, cùng toàn thể Chư vị Hiền trí và tất cả những người có duyên đang thiết tha cầu học Chánh Pháp. Mong rằng các vị thấy được một pháp hành chân chánh, rõ ràng, đầy đủ, đem lại những cảm giác ngọt ngào, hiền thiện, từ bi. Đồng thời san sẻ, tưới tẩm và lan tỏa trí tuệ này để mọi người được tu tập trên con đường thấy khổ và diệt khổ, thành tựu đạo và quả theo các bậc Thánh hiền, cùng nhau tiến bước trên đạo lộ Chánh Giác.
Linh Quy Pháp Ấn
Ngày 30/6/2024 (25/5/Giáp Thìn)
Con trò Thích Minh Thành
Trân trọng kính lễ!
Nuôi dưỡng lòng biết ơn
Theo tinh thần những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, pháp hành tổng quát đầu tiên trong kinh tạng Nikāya tu tập tâm biết ơn và nhớ ơn.
Khi đến Cổng Trời – Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta sẽ liền thấy câu “Nhớ Ơn Và Biết Ơn Mới Là Bậc Chân Nhân”, nghĩa là biết ơn và nhớ ơn mới là một con người thật sự là người, đây là lời dạy rất quan trọng của Đức Phật trong kinh tạng nguyên thủy. Ngài dạy rằng, người biết ơn và nhớ ơn đối với người có ơn với mình thì người đó mới là một con người thật thụ, thật sự, được gọi là bậc chân nhân, nghĩa là “người thật”.
Còn bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Đối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Đây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, bài kinh Đất)
Các vị Hiền trí thân mến! Trong bước đầu tu tập, chúng ta cần thường luôn sanh khởi ý niệm nhớ ơn, biết ơn và cảm ơn đối với tất cả những người ân nhân có nghĩa, có tình đã từng giúp đỡ, hỗ trợ mọi mặt từ vật chất đến tinh thần khi ta gặp khó khăn, nguy cấp, khổ nạn; đặc biệt là đối với ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng, anh chị em của mình. Đây là pháp tu tuyệt đối quan trọng, là căn bản luân lý đạo đức của một con người, cũng là chất liệu của bậc chân nhân theo tinh thần lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Vậy, tâm biết ơn được nuôi dưỡng như thế nào?
Đối với cha mẹ, đối với ông bà, cô bác, đối với vợ chồng, con cái, bạn bè, bạn đạo và tất cả những người có ơn với ta, ta phải luôn luôn khắc ghi công ơn của các vị ấy, không được lãng quên.
Nếu suy nghĩ về cha mẹ, ông bà hãy suy nghĩ về ân đức, sự hy sinh, sự khó khăn, gian khổ, nhọc nhằn, vất vả của cha mẹ, ông bà dành cho chúng ta. Với bà con quyến thuộc, dòng họ, cô bác, chú dì, hãy nghĩ về những điều tốt đẹp mà họ đã làm để tạo nhiều duyên lành, giúp đỡ, nâng đỡ, hỗ trợ chúng ta.
Đối với vợ chồng, nếu nghĩ về nhau, hãy nghĩ về những lúc khó khăn, bệnh tật, những lúc yếu đuối, suy sụp nhất, chúng ta đã đồng cam cộng khổ, chia sẻ nghĩa tình, sớt chia ngọt bùi cùng nhau. Những lúc nằm ở bệnh viện, ta được chăm sóc từng ly nước, viên thuốc, bát cháo, với những lời động viên an ủi, khích lệ. Trong những lúc cô đơn, lẻ loi, đơn độc trên cuộc đời này, ta còn có một người thân bên cạnh để yêu thương, thật ấm áp, ngọt ngào, nghĩa tình. Khi nhớ về vợ chồng hãy nhớ về những ân nghĩa, tình cảm của nhau. Đây là cách để chúng ta thực tập tâm nhớ ơn và biết ơn.
Đối với con cháu, chúng ta đừng lấy quyền làm ông, làm bà, làm cha, làm mẹ ra dạy dỗ; mà hãy nhìn một cách khách quan, bình đẳng vì con cháu cũng là những người ân nhân đã giúp đỡ, hỗ trợ, lo lắng, chăm sóc chúng ta; cho chúng ta có được những cảm giác ngọt ngào, yêu thương, trìu mến. Chúng ta phải biết cảm ơn và biết ơn vì có một người để chúng ta yêu thương, đồng thời có một người luôn thương yêu chúng ta. Khi nhớ về con cháu, ta hãy nhớ như vậy.
Từ trong nhà cho đến ngoài phố, những người hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đèn có nhau, hãy nhớ đến những gì họ đã giúp đỡ, hỗ trợ mình. Trong công ty, xí nghiệp, trong tình đồng đội, đồng chí, đồng học, đồng tu, chúng ta hãy cùng nhìn nhau bằng ánh nhìn của các bậc ân nhân, ân đức, nghĩa tình.
Trong đạo tràng thì hãy nhớ ơn những vị gánh vác đạo tràng cực khổ. Khi có sự nhớ ơn đó, chúng ta sẽ nhìn mọi người bằng ánh nhìn thiện cảm; nói với nhau bằng lời nói nhớ ơn, cảm ơn; suy nghĩ bằng suy nghĩ nhớ ơn, cảm ơn về những người có ơn trong đạo tràng. Nhờ vậy, khi các vị ấy chẳng may có sơ suất, chúng ta sẽ bỏ qua một cách nhẹ nhàng.
Rộng hơn nữa, khi bước đi trên một con đường, lòng chúng ta hãy khởi lên tâm biết ơn đối với người đã làm nên con đường ấy. Khi ăn một chén cơm, ta cũng nhớ ơn của những người đã cấy cày, trồng trọt, với biết bao mồ hôi nước mắt. Khi được ở trong ngôi nhà vững chắc, được che mưa che nắng, ta cũng thầm cảm ơn những người thợ đã dựng xây lên ngôi nhà này…
Tâm biết ơn, nhớ ơn này cần được tu tập cho thật sâu sắc, thấm thía, lan tỏa, trải rộng, để mỗi ngày ta đều sống trong thế giới của sự biết ơn. Từng làn gió mát, từng ánh nắng mặt trời soi chiếu ấm áp, từng chiếc lá xanh, từng bông hoa khoe sắc trên cành, cho đến dòng sông, biển cả, con suối, giọt nước, ngọn đồi… ta đều trải tâm biết ơn. Khi uống một chung trà, hãy nhớ nước này ở đâu mà có, lá trà này ai chăm sóc, ai khéo vun trồng. Khi ăn chén cơm, hãy biết ơn người nấu nướng, dọn bưng…
Tâm biết ơn là điều rất quan trọng trong sự thực hành. Những gì Minh Thành chia sẻ với quý vị là Pháp hành, không phải chỉ nghe giảng cho vui một chút rồi thôi. Bước đầu tiên là chúng ta phải ghi nhớ; nhớ thì mới thực hành; sau khi thực hành được thì mới có kết quả; nhờ đó ta mới có được hoa thơm, trái ngọt của thành quả tu học.
Thực tâm biết ơn mang đến cho chúng ta rất nhiều lợi ích:
Nhờ thường nhớ, thường nghĩ, thường nói và thường thực hành pháp nhớ ơn, biết ơn đối với cha mẹ; khi cha mẹ lỡ có lớn tiếng rầy la, hay làm gì chạm đến tự ái của ta thì ta có thể nhẹ nhàng bỏ qua, dễ dàng tha thứ, lại càng yêu thương cha mẹ, người thân nhiều hơn.
Có những người con sống trong sự hờn giận cha mẹ, thậm chí không hiếu thảo đối với cha mẹ là vì người này không thực tập nhớ ơn và biết ơn. Vợ chồng cũng vậy, nói vài câu với nhau là xảy ra chuyện, đó cũng là vì không trú trong tâm biết ơn và nhớ ơn. Ngược lại, nếu ta nhìn những người thân yêu và nhớ lại lúc mình bệnh họ nấu cháo cho mình ăn, lúc mình ốm đau họ kề cận bên giường bệnh chăm sóc thì sẽ không có những suy nghĩ, hành động hay lời nói không hay dành cho nhau. Khi thường suy nghĩ bằng sự biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn; nói những lời bằng sự biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn; làm những việc bằng lòng biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn thì đối với tất cả mọi người mình đều thấy họ là ân nhân. Và đối với ân nhân thì ta sẽ không cự cãi, không sân hận với ân nhân của mình. Khi sống được như vậy là đủ để chúng ta sanh lại làm người, không rơi vào ba ác đạo. Đây cũng là nguyên nhân ở Linh Quy Pháp Ấn có thiền biết ơn.
Vừa rồi, Minh Thành cũng đã tổ chức thiền biết ơn ở Hồng Kông và ba, bốn tiểu bang ở Úc Châu, từ ơn cha mẹ cho đến ơn vợ chồng, chị em, cô chú bác và các cháu. Buổi thiền này nhận được sự hưởng ứng và được mọi người cảm nhận rất sâu sắc. Qua khóa tu chưa đầy bốn ngày ở Úc Châu, vào ngày tu thứ ba, một người vợ đã quỳ trước người chồng để thực hành thiền biết ơn. Điều này làm người chồng vô cùng bất ngờ, sau đó hai vợ chồng quỳ đối diện nhau, bày tỏ lòng biết ơn và lạy nhau. Người chồng đã nói rằng, hai vợ chồng sống cùng nhau đã hơn bốn mươi năm, nhưng ngày hôm đó là ngày làm cho ông bất ngờ nhất, vì không ngờ mới tu ba ngày mà vợ làm được thế này, nếu về Linh Quy tu ba tuần thì càng hạnh phúc hơn nữa. Qua đó, ta thấy được, chỉ ba ngày tu mà đã có thể thay đổi được một người.
Cho nên nói, trong sự tu học này, điều quan trọng hơn hết là phải thực tập, không phải chỉ học lý thuyết là đủ. Hơn thế nữa, chúng ta không chỉ thực hành thiền biết ơn trong buổi lễ, mà ngay trong gia đình, chúng ta sẽ thực hành tâm biết ơn qua cách nói chuyện, cư xử, trong từng hành động, cử chỉ. Chẳng hạn lấy ly nước, dọn mâm cơm, đưa món đồ cho cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em bằng sự trân trọng, trân quý, quý trọng, quý kính. Làm được như vậy, khi ba mẹ trăm tuổi, lúc đó ta sẽ không hối tiếc, vì mình đã sống với cha mẹ bằng tất cả lòng hiếu thảo và tâm biết ơn. Nhờ vậy, lúc ấy tâm ta cũng phần nào được nhẹ nhàng, bình an. Đối với vợ chồng, nhờ có thực hành sự biết ơn với nhau mà gia đình bớt mâu thuẫn, cãi nhau, cả nhà được ấm áp, an vui, hạnh phúc.
Như vậy pháp tu đầu tiên để bước vào dòng pháp Nikāya là nuôi dưỡng tâm biết ơn và nhớ ơn. Khi sống trong tâm này, ta nhìn mọi người, cảnh vật, đồ vật xung quanh đều bằng tâm biết ơn, nhớ ơn. Nhờ vậy tâm ta được dễ chịu, ngọt ngào, ấm áp, dạt dào; xua tan được những cảm thọ sân hận, bực bội, khó chịu; đẩy lùi tâm phản phúc, phản trắc, vô ơn, vô nghĩa, vô tình; ít nhất cũng làm giảm thiểu, đoạn giảm, giảm bớt rồi dần dần đi đến chỗ diệt tận, tẩy sạch những tâm bất thiện. Tâm bất hiếu, ngỗ nghịch, vô ơn, phản bội sẽ được tâm biết ơn và cảm ơn của bậc chân nhân tẩy xóa, gội rửa để đi đến chỗ trong sạch hoàn toàn.
Hành trì tâm hiền thiện
Pháp hành thứ hai là hành trì tâm hiền thiện, bậc Đạo Sư nói:“Người tu tâm thật là hiền – Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên”. Nghe tâm hiền thì thấy dễ nhưng thực hành là điều không đơn giản.
Vậy, tâm hiền là gì và thực tập như thế nào?
Tâm hiền là tâm hiền diệu, hiền lành, hiền thiện, hiền đức, hiền lương, hiền hậu. Trong từng cử chỉ, hành vi, lời nói, ánh mắt, suy nghĩ, cảm xúc… đều nhẹ nhàng, dịu dàng, êm ái, an tịnh, lắng dịu, khéo lèo lái đưa vào tâm hiền. Thực tập được tâm hiền đòi hỏi sự bền chí, kiên trì thật nhiều, bắt đầu từ thô đến tế, vì khi nhiếp phục được những tập khí thô ở bên ngoài thì ta mới có thể đi đến điều sâu sắc trong tâm.
Thứ nhất là tâm hiền trong hành động. Cần tập cho mọi hành động luôn được an tịnh, lắng dịu, hạn chế phát ra tiếng động một cách tối đa, chẳng hạn khi mở cánh cửa, nhấc cái ghế, lấy cái chén… từng cử chỉ phải nhẹ nhàng, êm ái, lắng dịu. Trong nhà nếu có người cứ đóng cửa ầm ầm, dọn cơm mà tô chén để xuống thô tháo thì bữa ăn gia đình sẽ không thể ngon được. Thử nhìn lại đôi dép ta để ở cửa có ngay ngắn không, ta đi đứng có nhẹ nhàng, chánh niệm không? Khi lên xe đi từ thiện, quý vị có đi từ từ không hay là chen chút giành chỗ với nhau?
Thứ hai là tâm hiền trong lời nói. Chúng ta cần để ý lời nói mình phát ra có hiền thiện, hiền lành, hiền lương, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền trí để đi theo các bậc Hiền Thánh Tăng hay không? Ở đây có hai yếu tố là “Hiền” và “Thánh”, hiện tại trước mắt, “Hiền” là điều chúng ta hướng tới trong sự tu tập.
Khi nói chuyện cần xem lại khẩu khí ta có cao giọng, to tiếng không? Âm giọng, chất giọng, giọng điệu lúc nói chuyện có hiền dịu, dễ chịu, ngọt ngào không? Ta có nói lời từ ái, hiền hòa, được Đức Phật gọi là lời nói như hoa, như mật không? Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập I, bài kinh “Nói Như Hoa”, Đức Phật dạy có ba dạng nói lời: thứ nhất là lời nói như phân, đây là lời nói làm khổ mình khổ người, làm người khác đau đớn, khó chịu, lập tức tránh xa; lời nói thứ hai là lời nói như hoa, tỏa ngát hương thơm; lời nói thứ ba là lời nói như mật, ngọt ngào, bổ dưỡng, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho mọi người. Trong ba lời nói này, chúng ta hãy nhìn lại, xem mình thường nói lời nào nhiều hơn?!
Lúc nói chuyện với mọi người, người khác chưa nói hết, mình có nhảy vào giành nói không? Vợ chồng nói chuyện, chia sẻ với nhau, mình có giành nói không? Nếu ta thường ngắt lời, xen ngang lúc người khác đang nói là lời nói của ta chưa hiền. Thay vào đó, ta nên để cho người kia nói hết, rồi mình mới từ từ giải bày. Thậm chí có lúc người ta đã nói hết nhưng mình cũng không vội nói, mà cứ lẳng lặng, để bên kia được dịu xuống. Bằng không, bên kia đang sôi sùng sục, nếu ta cứ đụng vào là cả hai sẽ cùng bị bỏng.
Hơn nữa, chúng ta hung dữ, cáu gắt, sân giận để được cái gì?! Chẳng những không đem lại lợi ích, mà còn khiến cho bản thân bị thù ghét, chất chứa thêm nhiều sân giận, phiền não và khổ đau, cùng những sự khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh… Do vậy, ta đừng “đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi”, mà hãy nói bằng tâm từ, tâm thương, nói lời chân thật, chân thành, dùng lời ái ngữ, nói đúng người, đúng lúc, đúng thời điểm bằng giọng nói nhỏ nhẹ, nhu hòa, hòa nhã, đó là tâm hiền từ miệng thốt ra.
Thứ ba là tâm hiền trong suy nghĩ. Nếu ta thấy mình có những suy nghĩ không hiền thì hãy lập tức nhiếp phục, tác ý đưa chúng quay trở về với những suy nghĩ thiện lành. Tập nhận diện những hình bóng, những suy nghĩ nói thầm, những cảm xúc trong tâm đang sanh khởi thế nào để dẫn dắt, đưa chúng trở về theo chiều hướng hiền thiện.
Trong ánh mắt cũng vậy, hãy tập cho mình ánh nhìn hiền từ, dùng “mắt thương nhìn cuộc đời”. Đừng nhìn nhau bằng ánh mắt tóe lửa, khiến cho người khác lo sợ, bất an, đau khổ hoặc bực bội, khó chịu.
Trong khi ăn cũng cần có sự kiểm soát, ta nên ăn với một cảm giác an tịnh, lắng dịu, không húp sồn sột, không vừa ăn vừa nói, làm văng cơm ra ngoài.
Tất cả mọi cử chỉ, hành động, đều nằm trong sự an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, không nói lời hại người, không suy nghĩ những tư tưởng hại người, không muốn ai làm hại mình, không muốn mình làm hại ai. Tự thân chúng ta phải hoàn toàn vô hại, bất hại, không hại đối với tất cả mọi người, cho đến từng con vật nhỏ. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào khi tiếp xúc với xung quanh, chúng ta cũng hoàn toàn vô hại, bất hại, không có não hại. Đây là phương pháp thực tập tâm hiền.
Quan trọng hơn, chúng ta cần tu tâm hiền nhất là đối với vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, huynh đệ, tỷ muội đang giận. “Chồng giận thì vợ bớt lời – Cơm sôi bớt lửa, một đời không khê”. Một nồi cơm đang sôi mà ta cứ chụm thêm củi vào, thổi lửa cho to hơn thì cơm chắc chắn sẽ bị khét, không cho ra chén cơm ngon được. Cũng vậy, với người đang sân giận, ta lại đổ thêm dầu vào lửa, rồi phựt cháy theo thì điều ta nhận lại chỉ phiền não, bực bội, khổ đau, không thể có được hạnh phúc. Còn người có tu tâm hiền, mỗi lời nói ra sẽ rất dễ thương, dễ chịu, tránh gây ra mâu thuẫn, bất hòa.
Nếu đứng trước một ly nước cam vắt mật ong và một ly nước độc thì không ai chọn uống ly có chất độc cả. Cũng vậy, tại sao ta lại chọn đưa chất độc vào người, tại sao ta lại phát tác ra những chất độc trong miệng, trong ánh mắt, trong suy nghĩ để làm mình trúng độc. Chúng ta tự nhìn lại xem mỗi ngày ta trúng độc bao nhiêu lần? Khi trong cảm giác chất chứa sự bực bội, tức giận, sân hận, cau có, cọc cằn, khó chịu, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhít, nhỏ nhen thì đó là ta trúng độc. Nếu ta không giải độc tham, độc sân, độc si trong tâm thì chất độc này sẽ phát tác ra nơi lời nói, ánh mắt, suy nghĩ, hành động.
Thế nên, mỗi khi nói, khi làm, khi tư duy, ta cần xem xét có bực bội, có tham lam, có bản ngã trong đó không để đề phòng chất độc phát tác. Mỗi ngày mỗi giờ, ta cần tu tập tâm hiền để cảm thọ, cảm giác luôn được ngọt ngào. Từng ánh mắt, hành vi, lời nói, cử chỉ đều đưa tất cả vào đạo lộ của tâm hiền lành, hiền thiện. Mỗi khi chắp tay cúi đầu, quý vị hãy nhớ trong tâm mình là sự dễ thương, hiền hòa. Trong hoàn cảnh nào cũng trú trong cảm giác toàn thân để tu tập tâm hiền thiện, ngọt ngào. Dù trời đang nóng gắt gần bốn mươi độ thì gương mặt mình vẫn như mùa xuân, như hoa sen đang nở rộ. Dù khí trời khó chịu nhưng bên trong cảm thọ lúc nào cũng dễ chịu. Dù có người đang đến gây chuyện với mình nhưng trong tâm lại thấy thương họ, vì hiểu rằng họ đang bị tâm bệnh. Khi thấy một ai đó đang bị lửa thiêu đốt khắp người thì ta sẽ lấy nước giúp họ dập lửa; chứ không lấy dầu, lấy xăng để đổ thêm vào. Cũng vậy, với người đang bị ngọn lửa sân hận thiêu đốt, ta không nên đổ thêm xăng, thêm dầu vào để ngọn lửa phựt cháy luôn cả mình. Thay vì bốc cháy sân hận theo, chúng ta nên dùng tâm hiền hòa, hiền lương, nhún nhường, nhẫn nhịn, hỷ xả, tha thứ, bao dung, độ lượng.
Thực tập được như vậy thật là kỳ tích, là phép màu trong cuộc sống. Trí tuệ này là Thánh trí, là kim cương, quý vị hãy ghi nhớ thật kỹ và thực hành theo. Vì đây là pháp hành nên chúng ta không phải nghe bằng tai, nói bằng miệng rồi để đó là xong, mà ta phải thực tập cho đến hết cuộc đời. Hơn thế nữa, tâm hiền là pháp tu xuyên suốt trong tất cả các pháp hành, chúng ta không rời khỏi tâm hiền dù tu bất cứ pháp nào.
Thực hành sự hòa kính
Pháp hành thứ ba là thực tập tâm hòa kính. Trong đó, “hòa” là lục hòa, “kính” là cung kính.
Tâm hòa kính là chất liệu quan trọng để xây dựng hạnh phúc trong Tăng đoàn, trong đạo tràng, trong gia đình, trong đoàn thể, trong tập thể, trong công ty, trong xí nghiệp. Đạo tràng Nikāya luôn chú trọng chất liệu trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn nhằm xây dựng tinh thần tu học là phải trang nghiêm, chùa không phải là nơi vui chơi giải trí, đến chùa để nghe pháp, không phải đến để nghe tấu hài, xem hài kịch, tìm niềm vui. Nếu không khéo léo trong việc hành trì, tu tập, giảng giải thì một thời gian nữa chúng ta sẽ làm biến chất, mất chất giáo pháp.
Mặt khác, trong cuộc sống, ta cần phải có sự hài hòa, nếu không, đôi khi chúng ta chỉ có tâm hiền nhưng lại sống không chan hòa với những người xung quanh. Cứ nghĩ rằng “tôi tu cho mình tôi, tôi làm cho tôi, người muốn làm gì thì tự làm, tôi không đụng chạm đến ai và cũng không muốn ai đụng chạm đến tôi”. Như vậy là không có sự hòa kính với nhau.
Dù là vợ chồng, cha mẹ hay thầy trò, huynh đệ, tỷ muội…đều cần có sự tôn trọng, kính quý, kính trọng nhất định. Không phải ở chung một thời gian là hỗn tạp, không còn trên dưới, trước sau. Khi trật tự lễ giáo bị mất đi, sanh ra tâm xem thường nhau, tất cả sẽ trở thành một mớ hỗn độn, một đống xà bần. Nếu xã hội không có pháp kính lễ thì sẽ mất đi trật tự, thiên hạ đại loạn, không có thứ bậc, tôn ti, trật tự, lễ nghi, lễ kính, không biết ai là thầy, ai là trò, ai là cha mẹ, ai là cô chú bác… ăn nói trống không, ngang hàng phải lứa, không biết ai là ai.
Vì lẽ ấy, chúng ta cần thực hành tu tập tâm hòa ái cùng với tâm cung kính, kính quý, kính trọng, kính ái, kính mến, kính thương nhau; dù thương yêu nhau nhưng luôn có sự kính trọng lẫn nhau. Chữ “trọng” ở đây là có sức nặng, có trọng lượng, không phải là xem nhẹ, khinh thường. Lúc nào cũng thấy được ân nghĩa, ân tình với nhau rất là sâu nặng, là ân thâm nghĩa trọng. Nhờ vậy, ta luôn kính trọng nghĩa tình đó và chung sống, đối đãi với nhau một cách hòa kính, tôn trọng, quý mến nhau.
Người xưa có câu “tương kính như tân”, nghĩa là kính nhau giống như lần đầu mới gặp. Lần đầu khách đến nhà, gia chủ thường rất giữ kẻ, rất lịch sự, rất cẩn thận, chú ý từng cử chỉ, từng hành động, ăn mặc kín đáo, nhà cửa sạch sẽ thơm tho, chén bát gọn gàng, tươm tất. Cũng vậy, nếu ta luôn sống với nhau bằng sự kính trọng như khách; kính nhau, quý nhau, trọng nhau như lần đầu gặp gỡ thì mọi người sẽ được hạnh phúc dài lâu. Ba năm, bảy năm, mười năm, mười lăm năm mọi người gặp lại Minh Thành, chúng ta vẫn ngọt ngào, ấm áp, nghĩa tình với nhau là nhờ chúng ta có sự quý trọng, kính quý nhau.
Khi có sự quý trọng, kính trọng, trân trọng lẫn nhau thì đời sống chúng ta sẽ có sự thay đổi. Bình thường khi gặp người lạ ở ngoài đường, chúng ta thường giữ kẽ, ăn nói lựa lời, cử chỉ hành động đàng hoàng, văn minh, lịch sự; nhưng khi về đến nhà thì ta lại không được như thế, đây là chỗ rất thất bại. Vì vậy, chúng ta cần thường xuyên thực tập thân làm việc từ hòa, miệng nói lời từ hòa, ý nghĩ điều từ hòa. Thường suy nghĩ những điều đưa đến sự hòa hợp của tình thương, nói những lời nói đưa đến sự hài hòa trong từ tâm rộng mở, những việc ta làm cũng đưa đến sự gắn kết, từ ái với nhau.
Mỗi khi tức giận, trước khi nói điều gì, hãy nhắc nhở mình câu “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến” nhiều lần, sau đó mới nói. Hoặc khi trong tâm có sự thúc giục, muốn nói nhanh thì ta cũng niệm câu “an tịnh, lắng dịu” để cảm giác trong tâm được lắng xuống; khi nào tâm được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào thì mới nói. Hoặc khi có sự hơn thua, muốn giành phần thắng thì cũng niệm câu này lên để tâm an tịnh lắng dịu, đến khi nào có sự ngọt ngào trong cảm thọ thì mới làm việc cần làm.
Khi nhận được thức ăn ngon hay món đồ gì đó cũng chia đều với nhau, gọi là lợi hòa đồng quân. Giới hòa đồng tu là sống trong đại chúng, trong một tập thể thì người sao mình vậy, không làm ngược lại. Còn nếu giờ đại chúng đi tu, mình đi ngủ; giờ đại chúng nghỉ ngơi, mình đi tu; giờ đại chúng thiền quán, mình thiền chỉ; giờ đại chúng thiền chỉ, mình đeo tai nghe thiền quán; giờ đại chúng đi làm, mình đi đọc kinh; giờ đại chúng đọc kinh, mình lại đi làm… thường làm điều không giống mọi người cho thấy người này không có tinh thần hòa hợp.
Để có thể hòa hợp với mọi người, ít nhất trong những khóa tu, như khóa tu hai tuần, khóa tu một ngày hành trì hiền trí, khóa tu một ngày giữ Bát quan trai… đây là thời gian chúng ta rèn luyện tâm, thực tập tâm hòa kính, sống hài hòa với bạn đồng tu và mọi người xung quanh, tập cho tâm không chống đối. Bởi lẽ, tâm chúng ta khi nghe một việc gì đó thường thích cãi trước rồi tính sau, phải cãi lại một chút mới chịu, không cần biết là đúng hay sai, thậm chí biết mình không đúng vẫn cứ cãi, tâm này gọi là tâm bất thiện. Cho nên, sự tu tập tâm hòa ái là để diệt tâm chống đối. Vì vậy, ta cần cố gắng tu tập được tâm hài hòa, nhất là hài hòa trong sự tu học, trong đời sống đức hạnh, trong những pháp hành cao quý, trong Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo.
Dù có vào chùa tu tập bao nhiêu năm đi nữa, dù đối với học trò hay Phật tử, ta hãy cố gắng giữ gìn cho mình tâm kính quý. Lúc nào cũng kính trọng Chư Tôn Đức, Chư vị Hiền trí, không vì quen thuộc mà xem nhau giống như người trong nhà. Một khi đã có suy nghĩ như vậy là bắt đầu cho sự buông lung, thả lỏng tập khí, bung ra những thói quen, bản ngã, tật xấu; tâm kính trọng, kính ái, kính quý thuở ban đầu cũng sẽ bị mất đi. Cho nên, chúng ta hãy thường đọc tụng, chiêm nghiệm bài kinh Người Vợ Trẻ, Tăng Chi Bộ Kinh tập I để nhắc nhở bản thân giữ tâm mình như một cô dâu mới về nhà chồng, luôn cẩn trọng, e dè, khép nép, một dạ hai vâng.
Khi Minh Thành được bậc Đạo sư chỉ dạy, từ lúc ban đầu cho đến ba bốn năm về sau này, trong tin nhắn Ngài gửi cho Minh Thành luôn là một dạ hai thưa, trước sau như một không thay đổi, chính vì điều này khiến cho Minh Thành luôn muốn học hỏi. Trong từng tin nhắn, trong từng lời nói, trong từng hành động, Ngài giáo huấn, giáo dục, dạy dỗ một cách tự nhiên và Minh Thành cảm nhận được pháp cung kính phải là như vậy.
Trong thời Đức Phật, các bậc Thánh Tăng, chư vị Tỳ-kheo khi được Đức Phật hỏi các Ngài cùng sống, cùng tu hành với nhau có an ổn không thì các Ngài nói các Ngài rất an ổn, an lạc, thân tuy khác nhau nhưng tâm giống như đồng một tâm (Trung bộ kinh, 31. Tiểu kinh Rừng sừng bò). Đồng một tâm ở đây là vị nào cũng muốn diệt tham, sân, si, bẽ gãy bản ngã, diệt tận vô minh, làm sạch hết khát ái, tu tập tâm hiền, hướng đến trí tuệ.
Cũng vậy, chúng ta hãy thường tự nhắc mình đồng tâm với nhau, cùng hòa vào tâm tu học, tâm hiền kính, hiền trí, hiền thiện, không chống đối, không khó chịu, không trái nghịch với nhau…. không những ở trong lời nói, hành động, mà cả trong tâm niệm. Thực tập được điều này, những thành viên sống chung trong một gia đình sẽ rất bình an, hạnh phúc, ngọt ngào. Như câu “gia hòa vạn sự hưng”, gia đình nào sống hài hòa, hòa hợp với nhau thì sẽ phát triển, hưng thịnh. Còn gia đình chồng nói một tiếng, vợ cự lại ba tiếng; mẹ dạy một câu, con cãi lại bốn câu thì làm sao gọi là hòa hợp; mà không hòa hợp thì không thể hưng thịnh; bất hòa thì chỉ có suy vong, chỉ bại hoại mà không có thành công. Có rất nhiều đôi vợ chồng sống chung với nhau một thời gian thì mất đi sự ngọt ngào, đậm đà, thương kính như lúc ban đầu. Họ không còn sự kín kẽ, kính quý như buổi ban đầu mới gặp, thay vào đó là phô bày ra hết những tập khí, thói hư tật xấu, cuối cùng gia đình không còn là mái ấm. Cho nên, điều quan trọng là chúng ta tập kính quý những người ở chung trong gia đình. Đây mới chính là bí kiếp bình an, bí quyết hạnh phúc, bí chiêu để có mái ấm tuyệt vời trong gia đình.
Hơn thế nữa, chúng ta không phải chỉ kính quý Tam Bảo thôi là đủ, mà hãy đem tâm kính quý này đối đãi với cha mẹ, chồng con, anh chị em, bà con. Bởi lẽ, chúng ta tu với người ngoài không nhiều, tu với tượng Phật cũng không nhiều, Phật không kêu chúng ta phải vào vái lạy nhiều; mà những người ở cạnh chính là đối tượng ta cần tu tập nhiều nhất. Nếu đối với cha mẹ mà trong tâm ta còn có sự bất kính thì đối với ai chúng ta có thể cung kính được? Đối với ông bà còn tỏ ra vô lễ thì ta lễ phép được với ai? Đối với thầy, bậc đạo sư, người mà mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu để đi theo, nhưng ở một thời gian lại bất kính vô lễ với thầy thì cuối cùng mình kính trọng được ai? Đối với vợ chồng mà sống với nhau không nghĩa tình thì nghĩa tình được với ai? Đối với con cái không có sự thương yêu hy sinh bằng tất cả tấm lòng thì chúng ta có thể thương yêu ai được?
Cho nên, từ sự cung kính Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới, cung kính bậc đạo sư, thầy tổ như thế nào thì chúng ta cung kính ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái trong gia đình cũng như vậy. Đồng thời đem tâm cung kính ấy đối đãi với người ngang hàng, với bạn đồng tu, với người kém may mắn hơn mình… dù người ta có thấp kém hơn, chúng ta vẫn kính quý tấm lòng, nghĩa tình, tâm chân thành của họ. Qua đây, chúng ta thấy được tầm quan trọng của pháp hòa hợp, cung kính và đó cũng là pháp hành cao đẹp trong đạo tràng Nikāya.
Khi có sự kính ái, kính thương, kính trọng, kính quý thì tâm chúng ta sẽ ngọt ngào, ấm áp, dễ chịu, cao đẹp. Gia đình sẽ rất bình an, hạnh phúc, hòa thuận. Đạo tràng luôn được trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn, trật tự rõ ràng, trên dưới trước sau minh bạch.
Cách nhiếp phục dục, tham
Pháp hành thứ tư là kiểm soát sự thúc giục từ bên trong. Dục ở đây có nghĩa rất rộng, không phải chỉ có dục giữa nam nữ, mà còn là sự thúc giục trong lời nói, việc làm, hành động, trong suy nghĩ, trong cảm thọ. Ngoài ra còn có dục ăn, dục nói, dục chơi, dục làm... rất nhiều loại dục gây ra khiến chúng ta tan nhà nát cửa, tán gia bại sản, vợ chồng phân ly, con cái khổ đau, cho nên phải nhìn thấy được những thúc giục bất thiện trong tâm để nhiếp phục.
Bên cạnh đó, có những loại thúc giục hướng thượng, hướng thiện cần được phát huy như tâm thúc giục chúng ta đi làm từ thiện, đi chùa nghe pháp, giảng kinh hay có sự thúc giục hy sinh, đóng góp cho cộng đồng, cho số đông… Còn những loại thúc giục đưa đến khổ đau như sát sanh, trộm cắp, tà dâm thì ta cần nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, tẩy sạch, dùng chổi quét những loại thúc giục này ra khỏi căn nhà nội tâm.
Khi nhận thấy bên trong có sự thúc giục muốn nói cái này cái kia, chuyện này chuyện nọ thì cố gắng nhiếp phục, giữ bình tĩnh, lắng dịu, tĩnh tâm, tĩnh tư, tĩnh mặc, trầm tĩnh lại. Không phải muốn làm là làm, muốn nói là nói; mà cần kiểm tra, kiểm soát những sự thúc giục trong tâm rồi nhiếp phục dục. Nếu có sự thúc giục mình tham gia vào những câu chuyện thị phi, phù phiếm, nói những câu chuyện vô ích, không hướng đến mục đích, “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, nói lời thêu dệt, gây chia rẽ, chia lìa; chúng ta phải nhận thấy được sự thúc giục này và cố gắng dùng nhiều cách để nhiếp phục, chế ngự hoàn toàn sự thúc giục.
Trước tiên hãy thực tập tịnh khẩu, không cho dục nói hoành hành, lúc đó hãy vào ngồi thiền, nhận diện ngũ uẩn, đánh đuổi những cảm thọ thúc giục đang dâng lên, làm cho tâm yên tịnh, lắng dịu xuống. Sau đó vào quỳ lạy sám hối, xử phạt, dạy dỗ tâm, vì đã để cho cảm thọ thúc giục, xúi bậy, làm chủ. Hoặc dùng phương pháp nhẹ nhàng hơn như nói chuyện, năn nỉ, tác ý, nhắc nhở, quỳ lạy, van xin những cảm thọ thúc giục đó buông tha mình: “Tao lạy mày, thúc giục ơi, mày làm ơn lắng dịu xuống dùm tao, mày thúc giục tao làm những chuyện tội lỗi, gây ra bao khổ sở, phiền não. Tao lạy mày, thúc giục ơi, làm ơn để cho tao yên, đừng giục tao làm bậy rồi đẩy tao xuống hố than hừng, rơi vào trong biển lửa, rớt xuống vực thẳm, đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hãy tan biến hoàn toàn, diệt tận hoàn toàn, đoạn tận hoàn toàn khỏi tâm ta đi!”.
Khi tham gia giao thông, nếu đoạn đường đó cho phép lưu thông tối đa 70km/h, mà người điều khiển xe máy cứ chạy 110-120km/h thì kết quả xảy ra là người này có thể không còn toàn thây để mà vào bệnh viện. Vì vậy, những lúc chạy xe trên đường, nếu trong tâm có sự thúc giục cứ muốn tăng ga chạy cho nhanh, chạy hết tốc độ mới thỏa mãn thì ta cần nhận diện được sự thúc giục đó, quán chiếu sự nguy hiểm mà nó mang lại để điều chỉnh xe chạy đúng tốc độ.
Sâu xa hơn là phải nhiếp phục được ái dục, tình dục, dâm dục. Đây là thứ làm cho mình và người đau khổ triền miên, suốt đời, suốt kiếp vì không thoả mãn nhục dục, dục vọng. Đức Phật bằng tình thương đã dạy cho chúng ta những pháp quán để diệt dục như quán tứ đại, quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán bộ xương, quán giòi ăn cơ thể. Quán sự nhơ nhớp, bẩn thỉu, bất tịnh, tanh hôi, ô uế của tấm thân này, cũng như kết cuộc, chung cuộc của nó. Quán những nguy hiểm và tai hại của lòng dục, của tâm thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Thường niệm câu “Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái” (Kinh Ratthapala – Trung Bộ Kinh II) và quán chiếu sự thật này để làm cho những khao khát, ái dục, khát ái được lắng dịu, dừng lại bằng những phương pháp Đức Phật đã chỉ dạy.
Tu tập tâm khiêm hạ
Pháp hành thứ năm là bẻ gãy bản ngã. Chính bản ngã này là con rắn độc làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, hành tội mình hành tội người, hành xác mình hành xác người, hành hạ mình hành hạ người, hành hình mình hành hình người.
Thân người này dù chỉ cao một mét bảy nhưng bản ngã, chấp ngã, cái tôi, cái ta của con người lại lớn hơn cả trời đất, lớn hơn vũ trụ, lớn hơn quả địa cầu và chính điều này làm cho ta khổ đau. Do cái tôi này rất lớn nên con người dễ chạm tự ái lẫn nhau. Nói chuyện qua lại một lúc là có chuyện. Nói tới nói lui một hồi là sân hận, bực bội khởi lên.
Vì vậy, điều cốt lõi trong sự tu là đánh cho gục ngã được bản ngã, đây là điều quan trọng nhất trong công cuộc tu tập. Không phải đọc tụng nhiều, nói hay, làm nhiều thứ rồi cho phép cái tôi ngày càng lớn hơn; như vậy tuy có phước nhưng mình vẫn sẽ phải khổ đau, vì ta không có trí, không có tuệ. Cho nên phước huệ song tu cũng như chim có hai cánh, chiếc xe có hai bánh. Chim có đôi cánh thì mới bay được, chiếc xe có đủ hai bánh thì mới chạy được. Cũng vậy, sự tu thì phải có phước và tuệ; trí tuệ ở đây là trí vô ngã, gọi là Vô Ngã Thánh Trí.
Vậy, làm sao để hạ thấp cái tôi này xuống?
Thực tập Năm Khiêm Hai Khéo
Pháp hành diệt ngã rất thiết thực. Đầu tiên là ứng xử theo tinh thần “năm khiêm, hai khéo”:
“Lời nói khiêm nhường,
Tâm hồn khiêm hạ,
Hành xử khiêm cung,
Hiền hòa, khiêm tốn.
Kính trên, nhường dưới,
Khiêm nhã, nhún nhường,
Khéo xét lỗi mình
Khéo phòng hộ căn”.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Sự thực tập theo năm khiêm hai khéo sẽ giúp bẻ gãy bản ngã, nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bản ngã to lớn, ác độc, ngu si, tai hoạ này.
Như Lý Tác Ý
Thường xuyên nhắc nhở bản ngã rằng: “Ngươi đừng ngẩng cao đầu nữa, ta lạy ngươi. Ngươi càng ngẩng lên là ta càng khổ, người đừng làm ta nhục nhã trên cuộc đời này thêm nữa. Ngươi hãy để cho ta được sống thanh cao, cao thượng, cao đẹp trong cuộc đời này, nên người hãy tan biến hoàn toàn thành mây thành khói thành hư không đi”.
Trong sự tu tập này, nếu khéo tác ý, ta có thể ứng dụng, thực hành pháp bằng nhiều cách. Chẳng hạn, mỗi khi đốt nhang, ta tác ý rằng: “Ta đốt mi, ta đốt cái bản ngã này, ta đốt cho ngươi thành tro bụi”. Tay ta cầm nhang, nguyện cho thật là lâu, để cho nhang cháy hết, rớt tàn rơi xuống, cũng như bản ngã này bị tan xác, banh xác, tan biến thành bụi nhang, thành khói mây rồi gió thổi bay đi mất, không bao giờ xuất hiện trở lại nữa. Mỗi khi đốt nhang hay đốt củi lửa cũng là lúc ta đốt bản ngã. Vận dụng Thánh trí tuệ như vậy để bẻ gãy cái bản ngã, đánh cho tới tấp, tơi bời, tan tành, tan nát cái bản ngã này. Lúc nó đã nát tan thì chúng ta cũng được bình an, hạnh phúc tối thượng.
Khi cầm cây chổi quét nhà, ta cũng có thể tác ý: “Ta quét ngươi, quét cái bản ngã đi ra khỏi căn nhà nội tâm”. Khi ngồi xắt ớt thì ta quán chiếu: “Ta xắt ngươi, ta bầm người ra, cái bản ngã cay độc này. Ta bầm cho tan nát cái tôi, cái bản ngã ngu si, ác độc này. Ta sẽ diệt tận, đánh đuổi hoàn toàn con rắn độc này ra khỏi tâm ta”. Khi rửa tay, ta quán chiếu là mình đang rửa vết nhục của sự vênh váo, hống hách, đi đâu cũng ta đây, cao ngạo. Mình sẽ rửa vết nhục này cho sạch hoàn toàn, không còn ở trong tâm này nữa.
Pháp hành này vô cùng tuyệt vời vi diệu, chỉ cần có sự để tâm thì khi làm việc gì, chúng ta cũng thấy pháp trong đó. Đặc biệt nhất vẫn là cách quỳ lạy diệt ngã. Khi cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em lạy sám hối nhau cũng chính là lạy diệt ngã, lạy cho bản ngã này gục xuống, đổ xuống, tan biến, diệt tận hoàn toàn.
Lạy Diệt Ngã
Chắp tay xá chào
Khi chưa biết tu thì cái tôi của ai cũng rất lớn, đi đâu cũng ngẩng mặt lên, ưỡn ngực ra. Sau khi trở thành Phật tử, từ chỗ hất mặt, ưỡn ngực, ta đây thì dần dần học được tâm khiêm hạ, mỗi lần gặp nhau đều: “Mô Phật, kính chào huynh đệ”, đầu cúi xuống và chắp tay xá chào nhau. Đây là bước đầu tiên của sự tu học. Khi xá chào nhau phải xá thật chân thành, cung kính, bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim, không phải làm qua loa, hời hợt, cho có. Không phải chỉ khi vào lạy Phật mới đặt tâm vào, mà đối với người nào cũng vậy, khi mới đến chùa và lúc sắp ra về, huynh đệ hãy tập xá chào nhau một cách sâu sắc, cúi đầu sâu xuống, tay chắp nghiêm chỉnh, chân thành, cung kính. Nhờ vậy mà bản ngã hạ thấp được một chút. Ta hãy thực tập làm cho hình ảnh chắp tay cúi đầu thường an trú trong tâm tưởng mỗi khi nghĩ về mình.
Quỳ xuống, chắp tay
Tu thêm một thời gian nữa thì thực hành quỳ xuống chắp tay, làm cho bản ngã ngày càng được hạ xuống. Bây giờ chúng ta chưa đạt đến vô ngã được thì ít nhất cũng hạ được bản ngã, làm cho bản ngã gục xuống. Bình thường, ta thường hất mặt, ưỡn ngực, ngẩng cao đầu, ra vẻ to cao, ta đây. Giờ đây khi đã vào đạo, mỗi lần nhớ về tự thân, hãy tập thấy hình bóng mình quỳ xuống, chắp tay, cúi đầu: “Con nguyện từ bỏ cái ta này. Con nguyện từ bỏ bản ngã này. Con nguyện từ bỏ sự chấp thủ vào trong tấm thân vô thường, bất tịnh này. Ta nguyện từ nay về sau sẽ sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã; sống với tâm hiền hòa, hạ thấp đến tận cùng”. Làm cho hình bóng tự thân quỳ xuống thường hiện hữu trong tâm những lúc nghĩ về mình, đây gọi là phép quán tưởng.
Lạy xuống chôn vùi bản ngã
Trên đời này không có nghi lễ nào cao hơn nghi lễ lạy Phật, không có sự thành kính nào so sánh được lúc ta lạy Phật. Lúc ấy, trán chạm sát đất, hai khuỷu tay chạm sát đất, hai đầu gối cũng chạm sát đất, gọi là “năm vóc sát đất”. Khi lạy chung đại chúng thì khác, giờ đây khi lạy một mình, mỗi một cái lạy xuống, ta lạy cho thật là chậm, khi trán chạm vào đất, ta giữ yên một chút để quán chiếu bản ngã này đang gục ngã, đang cúi đầu, đang hạ thấp xuống, đồng thời tác ý:
“Hỡi bản ngã, ngươi phải biết sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn. Ngươi phải biết hạ thấp, hạ sâu xuống, ngươi còn ngẩng đầu lên là ta còn khổ. Người còn vênh váo là ta còn tai họa, hiểm nạn. Ngươi còn hống hách, cao ngạo, kiêu căng thì ta còn xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dài dài. Ta còn làm những thân con chó, còn giòi, con heo, những thân súc sanh, thú vật là vì cái bản ngã ngông nghênh, kiêu ngạo, dương dương tự đắc, cống cao, ngạo mạn, kiêu mạn này. Ngày hôm nay là ngày ta chôn sống, chôn lấp, chôn vùi mi. Ngay nơi trước Phật, trước Pháp, trước Tăng, ta cho đất cát vùi lấp bản ngã này, ta chôn cất cái tôi này, ta vùi lấp cái ta này xuống. Ta cho bản ngã này khai tử, đoạn tận, diệt tận một cách hoàn toàn trong mỗi cái lạy này. Ngày hôm nay, ngay tại chỗ này, giờ này, nơi này, ta chôn sống mi, ta đưa mi xuống lòng đất, huyệt sâu. Ta sẽ mai táng cái bản ngã ngu si, ác độc, vô minh này để cho ngươi diệt tận hoàn toàn.”.
Đây chính pháp hành giúp ta chôn vùi, mai táng, đưa bản ngã vào lòng đất, đưa xuống huyệt sâu, rồi lấp lại, diệt tận nó. Ta tiếp tục quán tấm thân này rã rời hết thịt ra, chỉ còn một bộ xương đang lạy xuống. Rồi bộ xương này từ từ tan rã ra thành một nắm tro tàn đang lạy, chứ không có ai cả. Bộ xương này dần dần cũng tan ra, tấm thân này trở thành một nắm tro, cát bụi trở về với cát bụi. Tất cả chúng ta đến cuối cùng chắc chắn cũng sẽ trở thành một nắm tro tàn, tan biến thành cát bụi, không ai tránh khỏi điều này. Sau khi chôn xong bản ngã rồi ta mới ngẩng đầu đứng lên.
Mỗi một cái lạy ta quán được như vậy thì tội được diệt bớt, phước báu thêm sanh, công đức tăng trưởng, trí tuệ được rực sáng, đánh gục được bản ngã, vô minh, chấp thủ. Đó là cách lạy Phật diệt ngã, thể nhập Thánh Trí Vô Ngã. Điều đặc biệt trong sự tu này là càng hạ thấp xuống thì càng được nâng cao lên; càng ngẩng cao lên thì lại càng bị thấp xuống; càng nhỏ thì lại càng lớn; nghĩa là bản ngã càng lớn, đạo đức càng nhỏ; bản ngã càng thấp thì đức hạnh lại càng cao.
---
Đạo tràng chúng ta mỗi khi tổ chức khóa tu ở bất cứ nơi nào, hãy thực hành thời khóa này ít nhất nửa tiếng, có thể mở xem những bài quý thầy hướng dẫn và thực tập theo. Mỗi ngày dành khoảng ba mươi phút cho thời khóa lạy diệt ngã này, quý vị sẽ thấy phép màu xuất hiện trong cuộc đời mình. Cứ mỗi lần lạy xuống là quán tưởng hình ảnh một bộ xương đang lạy, một nắm tro tàn đang lạy; lạy xuống là chôn vùi cái ta, cái tôi, cái đúng sai, cái hay dở, cái cao thấp trong cuộc đời, làm cho chúng tan biến thành mây khói, thành cát bụi, thành hư không. Tâm mình lúc này là cả một sự khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, khiêm nhã, khiêm tốn, ngọt ngào, dễ chịu. Có khi mình lạy như vậy mà nước mắt trào ra trong sự hạnh phúc, sung sướng, an lạc. Cái lạy này là kết tinh hơn ba mươi năm tu học của chú tiểu Minh Thành tặng cho quý vị. Quý vị đã nhận được chưa?! Đây chính là Thánh Trí Vô Ngã, là báu vật, là gia tài của bậc Thánh, là tài sản của Đức Phật và chúng ta đang được thừa kế gia tài ấy.
Sự tu tập này vô cùng rõ ràng, minh bạch, đây chính là pháp hành tối thượng. Thánh trí này chúng ta đã cầm ở trong tay như “thượng phương bảo kiếm”. Thật không gì sánh bằng, không còn muốn gì hơn nữa. Giờ đây ta chỉ cần “tiền trảm hậu tấu”, chém bay bản ngã trước rồi về thưa với thầy rằng: “Thưa thầy con đã chém bản ngã xong rồi!”, thật là hạnh phúc vô cùng. Giờ đây ta có trong tay tất cả Thánh lệnh, Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo; nhờ sự cố gắng tu tập chúng ta sẽ được Thánh quả!
Khéo trú bốn tâm vô lượng – thương-xót-vui-buông
Pháp hành tiếp theo là tu tập Tứ vô lượng tâm – từ, bi, hỷ, xả. Trong đó, từ là thương; bi là xót; hỷ là mừng; xả là buông. Tu tập Tứ vô lượng tâm tức là thực tập trải tâm thương, tâm xót, tâm vui và tâm buông. Đây cũng là sự thực hành tâm thương rộng lớn, thực hành tâm xót rộng lớn, thực hành tâm hoan hỷ, vui sướng, hạnh phúc, vui vẻ trong sự tu tập. Nhờ nhiếp phục được những tâm bất thiện nên ta thấy vui; khi đưa mình vào khuôn phép, cung kính nên ta thấy mừng; khi đưa mình vào khuôn khổ, nề nếp, biết ơn, hiền thiện nên chúng ta hạnh phúc, sung sướng. Khi sống với tâm buông bỏ thì tâm ta được nhẹ nhàng, thảnh thơi. Để thực tập được bốn tâm vô lượng này không phải chỉ nói suông là được, mà ta có phương pháp thực tập rất rõ ràng.
---
Trước tiên là thực tập tâm từ. Cần biết thương mình trước vì mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này. Chúng ta đều là những ngũ uẩn vô minh và khát ái. Từ muôn thuở đã sống trong tâm mù lòa, bệnh hoạn, đầy thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Ta rất đáng tội nghiệp, vì tham, dục, ái bao nhiêu kiếp mà còn chưa đủ, cứ thèm khát hoài, thật là thương mình và đau xót cho chính mình. Đó là từ bi với chính mình, thương xót cho chính mình.
Hơn thế nữa, ta là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã; tất cả người thân ở cạnh mình cũng là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã; tất cả nhân loại trên địa cầu, tám tỷ người trên trái đất này và tất cả hữu tình chúng sanh đều là nạn nhân của tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã (chỉ trừ những bậc A-la-hán, đã thành tựu Thánh quả cao nhất thì mới không còn). Cho nên chúng ta cần thương mình trước và hiểu những người xung quanh cũng khổ giống mình. Ba mẹ mình cũng sân, cũng bản ngã; chồng con mình cũng sân, cũng bản ngã; chúng ta biết đi chùa, biết tu tập nhưng cũng tham, sân, si, cũng bản ngã, huống gì những người không biết. Vì vậy, ta hãy thương mọi người đi, đừng giận làm gì: “Thôi thương đi tâm ơi!”.
Có gì đâu mà hờn mà giận,
Có gì đâu mà hận mà sân,
Tâm ơi cứ giận sân hoài,
Tâm càng sân hận thì càng khổ đau.
(Giận Làm Chi – Cửa Vào Bất Tử)
Hãy thương xót mình và thương xót mọi người, để không làm khổ mình, không làm khổ người nữa. Hãy lấy cái khổ của mình và mọi người ra, rồi đem niềm vui đặt vào đó, như vậy mới là người tu. Tu là diệt khổ nhưng tại sao ta lại làm cho mình khổ, làm cho người ở chung mình khổ, vậy là mình chưa biết tu, tâm càng sân hận thì chỉ càng nhận về khổ đau, cho nên:“Tâm ơi, hãy thương đi!”.
Tâm thương cảm giác ngọt ngào
Tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng
Tâm thương dễ chịu làm sao
Nhờ vào trí tuệ, nhờ vào từ bi
(Giận Làm Chi – Cửa Vào Bất Tử)
Tại sao mình cứ sân si, bực bội, khó chịu, hơn thua, ganh tỵ? Đối với cha mẹ, vợ chồng mà ta cũng giận hờn, bản ngã, ta đây, đúng sai, hay dở; với anh em ruột trong nhà thì ích kỷ, nhỏ mọn, tính toán, chi li, keo kiệt; với đồng nghiệp, bạn đồng tu thì so bì, hơn thua, tranh giành, tật đố… Tại sao chúng ta lại đáng thương như vậy? Thật là đáng thương với tâm bệnh tật, bệnh hoạn này.
Nhìn lại cả quãng đời đã đi qua mà soi xét lại, quán sát lại để thấy thương mình thật nhiều, tình thương tràn ngập khắp châu thân, từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, trong từng tế bào, làn da, thớ thịt, ngấm vào xương tủy…là một tình thương dào dạt sung mãn tràn ngập không thể dung chứa hết nên tuôn trào những nước mắt để chảy ra bên ngoài. Thật quá là thương mình, tội nghiệp cho chính mình khi sống trong tâm vô minh, khát ái, ngã mạn, ngu si, không biết xấu hổ này.
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
(Sám Hối Diệt Ngã – Nghi thức tu học Nikāya)
Thương mình nên thấy hổ thẹn với những tâm tham, sân, si, vô minh, dục, ái. Đó là mình thương xót, từ bi với chính mình. Từ đó cố gắng nhiếp phục, chế ngự những dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh ở trong tâm.
Sau đó nhìn ra ngoài, thấy ông bà, cha mẹ, cô bác, anh chị em, con cháu, họ cũng giống mình, cũng đáng thương như vậy nên ta trải được tình thương từ bên trong tâm này đến với mọi người. Vì nghiệp quả với tâm đầy sân hận, si mê nên họ mới làm khổ đau cho ta. Khi cảm thông được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã đó giống như việc ta hiểu được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã của chính mình. Nhờ vậy ta có sự đồng cảm và thông cảm, cảm nhận và cảm động trước nỗi khổ chung của tất cả ngũ uẩn, của tất cả hữu tình, vạn loài chúng sanh. Từ đó tâm từ bi, thương xót trong lòng sẽ trải rộng cùng khắp đến cả nhân loại, thế giới muôn loài, cho đến các dị loại là những loài thú vật, cô hồn, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục, A-tu-la và đến cả Chư thiên vẫn còn đang đau khổ trong tham, sân, si, bản ngã, họ chỉ hơn chúng ta được một chút phước lành, phước báu, nhưng vẫn còn trong luân hồi sinh tử khổ đau. Cho nên, ta trải rộng tình thương đó đến cùng khắp lục đạo luân hồi. Tình thương, lòng xót xa của mình là vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận, đó chính là tu tâm từ bi vô lượng.
Ta mong muốn tự thân mình cùng cha mẹ, anh chị em, bà con cô bác dòng họ, con cháu, cũng như tất cả những người thân thương, ngay cả những người hận thù mình, làm cho mình đau khổ... đều nhìn thấy được khổ uẩn, thấy đống khổ ngũ uẩn to lớn này. Ta mong tự thân mình và tất cả hữu tình chúng sanh nhận thấy được dục, ái, tham, sân, si, bản ngã là nguyên nhân của khổ, thấy được sự chấm dứt khổ để cùng nhau đi trên đạo lộ diệt khổ thì mới giải thoát khỏi đau khổ. Con đường đó chính là Bát Chánh Đạo, là con đường Tám Đúng, là những pháp hành vi diệu, tối thượng, cao đẹp mà ta đã được thực hành.
Ta mong những sự tu học, hành trì, thấy hiểu này sẽ được chia sẻ, lan tỏa. Mong được in kinh sách, mong những bài pháp được thuyết giảng đến tay người học. Mong muốn được lan toả Chánh pháp này đến khắp tất cả những chúng sanh đang mù lòa, điên loạn, đau khổ trong bóng đêm; đang bị lửa thiêu quằn quại trong những cảm thọ sân, si; đang bị hôn ám, ngu mê trong những cảm xúc vô minh; đang bị lún sâu xuống đầm lầy của những cảm giác dục vọng, dục ái, dục tình, dục tham. Đó cũng là tâm thương và tâm xót rộng lớn, cùng khắp, bao la, vô tận, vô biên, vô cùng, vô lượng, không có bến bờ.
Chúng ta mong muốn Chánh Pháp được trao truyền; mong muốn chư Tăng Ni, các bậc chân tu, chân chánh mở khóa tu ở khắp nơi để pháp hành này được lan tỏa rộng rãi đến với mọi người. Khi làm thiện pháp với tâm rộng lớn như vậy là chúng ta đang châm thêm dầu để ánh sáng Chánh Pháp được trường minh, trường tồn, trường cửu trong cuộc đời đầy hôn ám, si mê, vô minh, tăm tối, đầy khổ đau này. Cho nên, sự cúng dường Pháp chính là sự cúng dường tối thượng.
Tất cả những việc chúng ta cần làm là cố gắng nỗ lực, nghe, học, tu, lan tỏa đến mọi người và hướng dẫn người thân cùng tu tập. Mẹ đi tu về có sự thay đổi lớn làm cho con cảm động và cảm hóa được tâm con. Con đi tu về cũng thay đổi làm mẹ cảm nhận được, rồi cảm động và cuối cùng cũng cảm hóa được tâm mẹ, nhờ vậy mẹ con cùng tu. Vợ chồng với nhau cũng vậy, hãy khích lệ nhau tu tập, nỗ lực, tiến lên trong Chánh Pháp. Đó là Phật pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Tuyệt vời là như vậy, tình thương là như vậy, từ bi là như vậy, thương xót cho nhau là như vậy!
----
Tiếp theo là phát khởi lên tâm hỷ, tâm vui mừng. Nhờ biết tu tập mà giờ đây mình từ bỏ được sát sanh, lúc còn ăn mặn đã sát hại thẳng tay biết bao nhiêu loài sinh vật, giờ đã từ bỏ điều này thì vui biết bao nhiêu. Nếu chưa được trọn vẹn thì cứ tập dần dần cho đến ngày ăn chay trường, phát khởi lên lòng thương đối với chúng sanh muôn loài. Hơn thế nữa, mình còn từ bỏ được việc trộm cắp, tà dâm, nói dối, lừa gạt người, nói lời hung dữ, nói lời phù phiếm, nói lời gây chia rẽ, ly gián, vui biết bao nhiêu!
Ta vui vì giờ đây ta biết giữ giới hạnh, nghe pháp, tu hành, thực tập tâm hiền, trở thành người sống biết ơn, nhớ ơn. Vui vì ta biết sống hòa đồng, vui vì ta có đức cung kính. Vui vì ta biết nhiếp phục, chế ngự lòng dục, lòng tham. Vui vì ta biết bẻ gãy bản ngã, cao ngạo, vênh váo. Vui vì ta biết sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Thật là vui sướng, hạnh phúc, hoan hỷ!
Ngồi nghe Pháp như là được ở trên mây, ngồi thiền an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, được nghe tác ý để triển khai thiền quán trong những giọt lệ tuôn chảy dâng trào ngọt ngào. Đó là những giọt lệ của giác ngộ, của hạnh phúc, của sự thẩm thấu vào Thánh trí tuệ tuyệt diệu, tối diệu, thần diệu, vi diệu, thắng diệu, thù diệu của giáo pháp ly tham tối thượng này. Thật là sung sướng hạnh phúc, hoan hy, như hoa sen nở trong lòng. Tâm rực sáng như ánh mặt trời, lòng phơi phới trong sự hạnh phúc, hoan hỷ.
Hơn tám tỷ người trên hành tinh này, có bao nhiêu người được học trong dòng Thánh pháp Nikāya này, bao nhiêu người được nghe, bao nhiêu người được hiểu, bao nhiêu người được hành, bao nhiêu người được trải nghiệm, cảm nhận những thành quả, thành tích, thành công. Chúng ta đang được, tuy rằng chưa đạt được nhiều nhưng chúng ta đang được hạnh phúc, hân hoan, hoan hỷ với những điều chúng ta đã được học, được nghe, được hiểu, được tu, được hành; những thành quả nho nhỏ cũng đủ làm sung sướng hạnh phúc, phấn khởi, hân hoan, hỷ lạc.
Chúng ta cho hỷ lạc này tràn ngập khắp châu thân, từ đảnh tóc đến gót chân, từng làn da, thớ thịt, từng lỗ chân lông, từ tế bào, ngấm vào trong xương, trong tủy, trong não, sung sướng hân hoan, hạnh phúc, hỷ lạc. Lúc nào cũng vui trong Chánh Pháp, chỉ cần tác ý là sanh khởi tâm hoan hỷ. Giống như chạy xe, chỉ cần bấm nút đề là máy khởi động sẵn sàng chạy. Cũng vậy, ta khởi động, tác ý: “Vui quá, hạnh phúc quá, mình được tu học lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh Nikāya, Thánh Trí Ngũ Uẩn tối thượng”, nhờ vậy sanh khởi hỷ lạc, hạnh phúc, hân hoan, tuyệt vời, tuyệt diệu, thù thắng, hy hữu, hiếm có khó gặp, vi diệu, thần diệu, tối diệu, thắng diệu, thù diệu.
Còn ai trên được đời này được hạnh phúc bằng chúng ta khi gặp được Thánh pháp chân truyền hơn 2500 năm. Chúng ta đang được nghe, học, hiểu, tu, hành và đang nếm trải hương vị, thành quả, thành tích, thành công. Sung sướng làm sao, hỷ lạc làm sao, hạnh phúc làm sao, hân hoan làm sao, tuyệt diệu làm sao! Mình mong muốn đem niềm hỷ lạc này chia cho con, cho chồng, cho cha mẹ và hướng dẫn họ từ từ tu học. Chúng ta cũng lan tỏa niềm hỷ lạc này đến mọi nơi, mong cho tất cả mọi người, nhân loại, chúng sinh, vạn loài, tất cả đều được niềm hỷ lạc, hân hoan này. Như vậy gọi là hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, là đền ơn, đáp nghĩa, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Với việc học, tu, hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, cúng dường Chánh pháp bằng tâm rộng lớn vô lượng vô biên thì công đức cũng tương xứng vô lượng, vô biên như vậy. Chúng ta cúng dường Pháp, cúng dường ánh sáng trí tuệ, cúng dường sự thật, cúng dường Thánh đạo, cúng dường Thánh trí hướng đến Thánh quả, đó là ý nghĩa trong sự tu học.
Chúng ta siêng năng tu tập, làm mọi việc lành, hy sinh, dấn thân, phụng sự nhưng phải hoan hỷ. Không nên làm mà mặt cau có khó chịu, hoặc làm nhiều rồi cho rằng mình giỏi, mình có công, như vậy là không biết tu, là thất bại thảm hại trong bản ngã và chấp thủ. Thay vào đó, trong mọi việc, ta phải tập tâm hỷ xả, làm xong rồi cho qua, làm trong sự vui vẻ, hoan hỷ, cam tâm tình nguyện. Vì không ai bắt mình tu, cũng không ai bắt mình làm, tất cả là mình tự phát nguyện, vậy sao mình làm rồi lại sân si để làm gì?! Làm rồi khoe công, kể công để làm gì?! Cho nên, đối với những thiện pháp, ta nên làm với một tâm vui vẻ, hoan hỷ; nếu không hoan hỷ thì không nên làm, cũng không ai bắt ta phải làm cả. Khi đi phát quà giúp đỡ người khó khăn, dù có mệt mỏi, có khát nước nhưng lúc trao món quà hãy cười lên thật tươi với tâm vui vẻ, hoan hỷ. Trong khi tu tập, cảm thọ thấy buồn chán, mệt mỏi thì tác ý “buồn cái gì mà buồn, tu vui chứ buồn cái gì, ở ngoài không biết tu mới là buồn, tham, sân, si mới buồn. Mình bây giờ đang từ, bi, hỷ, xả thì tại sao buồn, hãy vui lên!
Sau đó tâm buông xả tất cả, nhẹ nhàng, tâm rộng lớn, độ lượng, bao dung, vô lượng vô biên.
---
Xả vô lượng tâm là tâm buông bỏ, làm được mọi việc nhưng không chấp, không nắm giữ việc đó. Vì nếu nắm giữ sẽ dừng chân tại chỗ, không tiến lên được nữa. Cũng như việc phải đi qua bậc thang của tầng thứ nhất thì mới bước lên được bậc thang của tầng thứ hai. Lên được bậc thang của tầng thứ hai mà đứng luôn ở đó thì không thể lên được tầng thứ ba. Chỉ khi buông tầng thứ hai thì mình mới lên được tầng thứ ba… Cứ như vậy mà buông cho đến khi nào không còn tầng nào để mà buông nữa thì chúng ta thể nhập được vào tâm thanh tịnh, cứu cánh cùng cực, xả vô lượng tâm.
Khi tu thì tu hết mình nhưng đừng có đi đâu cũng khoe tôi biết tu còn người khác không biết tu, khen mình chê người, có suy nghĩ như vậy là có nhân ngã, sẽ dẫn đến phiền não. Ví dụ, trong khi đại chúng đang im lặng tu học mà có một người nói chuyện, gây ra tiếng động là lập tức mình hướng ánh mắt khó chịu, không thiện cảm về phía người ấy, như vậy là mình có tu mà không có xả. Ta cần biết thương người, thương tập khí mà họ chưa nhiếp phục được, hoặc vì họ mới đến chùa, chưa hiểu hết về thanh quy đạo tràng, vì vậy bằng tâm thương, ta từ từ chia sẻ, hướng dẫn cho các vị mới. Cho nên, không phải mình giữ được giới mà thấy người không giữ giới được thì mình khinh khi, mình tu tâm từ mà thấy người khác sân hận thì mình xem thường họ, như vậy là không nên. Thay vào đó, ta hãy tu học và làm việc trong tâm thái nhẹ nhàng, buông xả, thương xót, cảm thông, tha thứ.
Sâu sắc hơn, xả bỏ thân kiến là cái xả bỏ quan trọng nhất trong sự nghiệp tu tập. Vì khi xả bỏ cái nhìn sai lầm về thân, xả bỏ tham, sân, si, xả bỏ tâm kiêu mạn của chính mình được thì sau đó mới có thể giúp cho người khác xả bỏ giống như mình đã xả bỏ. Tâm buông xả này sẽ giúp ta được nhẹ và khỏe vô cùng. Ví dụ, quý vị một mình vác ba lô nặng 50 ký trên lưng, hai tay xách thêm hai cái vali rồi leo lên núi, quý vị không thể đi được vì quá nặng nề nhưng nếu quý vị đặt xuống, không đeo không mang nữa thì quý vị sẽ khỏe hơn rất nhiều. Hơn nữa, nếu trong vali, balo đó chứa đựng toàn những chất độc, gai độc, bất thiện thì ta càng nên vứt bỏ, không có gì để tiếc nuối. Những thứ làm cho mình vô minh, say mê, tham đắm, sân, si, thì giữ để làm gì, buông bỏ càng nhẹ thì càng được lên cao, được bay xa. Mỗi lần buông là mỗi lần đi lên, khi buông hết rồi thì tự động bay lên cao.
Hơn thế nữa, buông bỏ là để đi đến mục tiêu cuối cùng, đó là sự giải thoát; không phải tu là để ta đây, để hơn thua, vỗ ngực xưng tên với đời rằng “ta tu đúng Chánh pháp, các người không tu đúng Chánh pháp”…Tu mà còn chấp, còn nắm giữ như vậy là còn tai họa, phiền não, sân si; khi còn phiền não, còn sân si là còn khổ đau không có ngày chấm dứt.
Vì vậy, khi đã có được con đường đúng đắn để đi thì ta hãy cố gắng thực hành để đạt được thành quả. Còn chuyện của người khác là tùy duyên, có duyên thì tốt, chưa có duyên thì tạo duyên. Một khi đã không có duyên, dù có cố tình đưa đến, có dúi vào trong tay nhưng họ không nắm lấy thì cũng không thể làm gì được. Cho nên, chúng ta chỉ gieo duyên, tạo duyên còn lại là tùy duyên ở người. Đối với tự thân, chúng ta cố gắng nỗ lực để đi đến cuối con đường mình đang hướng đến, buông xả tâm để càng ngày càng nhẹ, càng trống, càng khỏe, càng an lạc, thảnh thơi.
Lời Kết
Chư vị Hiền trí thân mến! Tóm lại tổng quát pháp hành Nikāya chính là Tâm Hiền Trí. Trong đó, tâm Hiền là một nội tâm hiền lành, hiền thiện, sống biết ơn, nhớ ơn, có nghĩa có tình, hòa hợp, quý kính, cung kính lẫn nhau. Cùng với tâm biết thương mình, thương người, cảm thông, thấu hiểu, xót xa, đầy lòng trắc ẩn đối với nỗi khổ, niềm đau của chính mình và người khác. Nhờ vậy ta luôn sống trong tâm đầy niềm cảm thông, tha thứ cho nhau. Tâm hoan hỷ tu tập nhưng vẫn trú trong trạng thái buông xả nhẹ nhàng, không dính mắc, chấp thủ. Luôn an trú trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào. Đó là chất liệu của tâm hiền, là những phương diện căn bản, những khía cạnh cần phải có của một Hiền giả, một bậc Hiền, một người Hiền trí trong Thánh Pháp cao đẹp.
Về phần Trí là cần nhìn ra được Ngũ Uẩn để nhiếp phục được những dục, tham, ái; đánh gục được bản ngã. Vì chính lòng khao khát, thúc giục, thèm muốn này đã sai khiến, sai xử tất cả chúng sanh làm nô lệ cho tham ái, làm nô bộc cho tham dục. Nhờ sự tu tập nhận diện theo Trí Ngũ Uẩn, ta sẽ phát giác, phát hiện và nhìn ra được nguyên nhân thật sự sâu xa bên trong của đau khổ như Đức Thế Tôn đã nói: “Tất cả đau khổ trong quá khứ của chúng sanh đều xuất phát từ gốc rễ của tham dục. Tất cả đau khổ trong hiện tại của chúng sanh căn bản đều từ tham dục. Và tất cả nỗi khổ niềm đau của hữu tình vạn loài trong tương lai đều phát xuất từ tham dục” (Tương Ưng Bộ Kinh IV, bài kinh Bhadra). Cho nên bậc trí là người nhìn thấy được những dục, tham, ái này chính là nguyên nhân của đau khổ, từ đó đi đến nhiếp phục, chế ngự và diệt tận chúng.
Tiếp theo là nhìn thấy được sự chấp thủ của tâm hôn mê, tâm mù lòa đã nắm chắc, giữ chặt, bám sâu vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, cho rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, để rồi khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, hơn thua, giành giật, đấu đá, xâu xé, khẩu tranh, cạnh tranh, chiến tranh, gây ra nhiều đau khổ. Ta dùng Thánh Trí Vô Ngã đánh gục, nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bản ngã này với những phương pháp cúi đầu, chắp tay, quỳ lạy, năm vóc sát đất. Sự diệt tận bản ngã này sẽ đem lại cho các hành giả, các bậc Hiền trí một nội tâm nhún nhường, khiêm hạ, khiêm cung, khiêm tốn; một nội tâm ngọt ngào, dễ thương, dễ mến; một nội tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Từ đó nghiêng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nhập vào Niết-bàn, hướng đến diệt tận toàn toàn sự chấp thủ đối với năm uẩn bằng một nội tâm an tịnh, lắng dịu, thấu suốt bản chất trống rỗng, trống không, vô thường, duyên sanh, vô ngã của thân tâm này, của ngũ uẩn này, của đời sống này và của thế giới này.
Một người tu đầy đủ hai chất liệu Hiền và Trí chính là có được điều kiện tiên quyết để thể nhập vào dòng Thánh Pháp, tiến vào Dự lưu Thánh quả, từng bước thâm nhập, thể nhập, chứng nhập và chứng đạt những trí tuệ thâm sâu, thần diệu của Thượng Nhân Pháp về sau!
Chúng con mong rằng với Pháp bảo này, Chư vị Hiền trí sẽ thấy được đạo lộ tu tập minh bạch, tỏ tường, từ đó hành trì bằng tất cả trái tim để thành tựu những đức hạnh cao đẹp mà Đức Thế Tôn để lại. Kính chúc quý Tăng Ni và các bậc Hiền trí có một đời sống bình an, hạnh phúc, an lạc trong khu vườn giới hạnh ngọt ngào, tỏa ngát hương thơm.
./.
PHÁP HÀNH NIKĀYA
TỔNG QUÁT
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u Lời Ngỏ PAGEREF _Toc172540020 \h 1
I.Nuôi dưỡng lòng biết ơn PAGEREF _Toc172540021 \h 2
II.Hành trì tâm hiền thiện PAGEREF _Toc172540022 \h 5
III.Thực hành sự hòa kính PAGEREF _Toc172540023 \h 8
IV.Cách nhiếp phục dục, tham PAGEREF _Toc172540024 \h 12
V.Tu tập tâm khiêm hạ PAGEREF _Toc172540025 \h 13
VI.Khéo trú bốn tâm vô lượng – thương-xót-vui-buông PAGEREF _Toc172540026 \h 18
Lời Kết PAGEREF _Toc172540027 \h 25
Lời Ngỏ
Các vị Hiền trí thân mến! Trước đây chúng con đã chia sẻ trong quyển Pháp Hành Nikāya Căn Bản về phương pháp nhận diện thân và tâm, thấy được nguyên nhân của phiền não, từ đó phát hiện ra những cấu nhiễm trong tự thân và cách nhiếp phục chúng theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya; nhờ vậy đạt được bình an, hạnh phúc ngay hiện tại.
Tiếp theo, chúng con xin gửi đến quý vị quyển sách có tựa đề Pháp Hành Nikāya Tổng Quát, nhằm bổ túc, bổ sung những pháp hành cần thiết, thiết yếu trên bước đường tu tập. Đặc biệt, Tâm Hiền Trí là chất liệu tiên quyết để có thể bước vào dòng pháp vi diệu, cao thượng của Đức Thế Tôn. Trong đó, những pháp hành quan trọng, gốc rễ các hành giả cần thực hành là tâm biết ơn, nhớ ơn, tâm hiền thiện, tâm hòa kính, tâm khiêm hạ, nhiếp phục dục tham, đánh gục bản ngã, an trú vào bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả. Chính những đức hạnh thiện lành, cao đẹp này sẽ giúp ta tẩy sạch nội tâm cấu nhiễm, từng bước đi đến một nội tâm thanh tịnh, từ bỏ việc ác, tăng trưởng thiện pháp. Nhờ vậy, tâm ta dần dần được lắng dịu, thanh tịnh, trong sạch để thể nhập vào những trí tuệ thâm sâu, giúp phá vỡ, đoạn tận những lậu hoặc, đạt đến Thượng Nhân Pháp, thành tựu đời sống đức hạnh cao đẹp, chân chánh của một người tu.
Bằng tất cả tấm lòng trân quý, kính trọng, chúng con xin góp nhặt những pháp hành từ lời dạy của Đức Thế Tôn, cùng Chư Thánh Hiền và bậc Đạo Sư, một dạ chí thành cúng dường Pháp bảo này đến Chư Tôn Thiền Đức, cùng toàn thể Chư vị Hiền trí và tất cả những người có duyên đang thiết tha cầu học Chánh Pháp. Mong rằng các vị thấy được một pháp hành chân chánh, rõ ràng, đầy đủ, đem lại những cảm giác ngọt ngào, hiền thiện, từ bi. Đồng thời san sẻ, tưới tẩm và lan tỏa trí tuệ này để mọi người được tu tập trên con đường thấy khổ và diệt khổ, thành tựu đạo và quả theo các bậc Thánh hiền, cùng nhau tiến bước trên đạo lộ Chánh Giác.
Linh Quy Pháp Ấn
Ngày 30/6/2024 (25/5/Giáp Thìn)
Con trò Thích Minh Thành
Trân trọng kính lễ!
Nuôi dưỡng lòng biết ơn
Theo tinh thần những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, pháp hành tổng quát đầu tiên trong kinh tạng Nikāya tu tập tâm biết ơn và nhớ ơn.
Khi đến Cổng Trời – Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta sẽ liền thấy câu “Nhớ Ơn Và Biết Ơn Mới Là Bậc Chân Nhân”, nghĩa là biết ơn và nhớ ơn mới là một con người thật sự là người, đây là lời dạy rất quan trọng của Đức Phật trong kinh tạng nguyên thủy. Ngài dạy rằng, người biết ơn và nhớ ơn đối với người có ơn với mình thì người đó mới là một con người thật thụ, thật sự, được gọi là bậc chân nhân, nghĩa là “người thật”.
Còn bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Đối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Đây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, bài kinh Đất)
Các vị Hiền trí thân mến! Trong bước đầu tu tập, chúng ta cần thường luôn sanh khởi ý niệm nhớ ơn, biết ơn và cảm ơn đối với tất cả những người ân nhân có nghĩa, có tình đã từng giúp đỡ, hỗ trợ mọi mặt từ vật chất đến tinh thần khi ta gặp khó khăn, nguy cấp, khổ nạn; đặc biệt là đối với ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng, anh chị em của mình. Đây là pháp tu tuyệt đối quan trọng, là căn bản luân lý đạo đức của một con người, cũng là chất liệu của bậc chân nhân theo tinh thần lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Vậy, tâm biết ơn được nuôi dưỡng như thế nào?
Đối với cha mẹ, đối với ông bà, cô bác, đối với vợ chồng, con cái, bạn bè, bạn đạo và tất cả những người có ơn với ta, ta phải luôn luôn khắc ghi công ơn của các vị ấy, không được lãng quên.
Nếu suy nghĩ về cha mẹ, ông bà hãy suy nghĩ về ân đức, sự hy sinh, sự khó khăn, gian khổ, nhọc nhằn, vất vả của cha mẹ, ông bà dành cho chúng ta. Với bà con quyến thuộc, dòng họ, cô bác, chú dì, hãy nghĩ về những điều tốt đẹp mà họ đã làm để tạo nhiều duyên lành, giúp đỡ, nâng đỡ, hỗ trợ chúng ta.
Đối với vợ chồng, nếu nghĩ về nhau, hãy nghĩ về những lúc khó khăn, bệnh tật, những lúc yếu đuối, suy sụp nhất, chúng ta đã đồng cam cộng khổ, chia sẻ nghĩa tình, sớt chia ngọt bùi cùng nhau. Những lúc nằm ở bệnh viện, ta được chăm sóc từng ly nước, viên thuốc, bát cháo, với những lời động viên an ủi, khích lệ. Trong những lúc cô đơn, lẻ loi, đơn độc trên cuộc đời này, ta còn có một người thân bên cạnh để yêu thương, thật ấm áp, ngọt ngào, nghĩa tình. Khi nhớ về vợ chồng hãy nhớ về những ân nghĩa, tình cảm của nhau. Đây là cách để chúng ta thực tập tâm nhớ ơn và biết ơn.
Đối với con cháu, chúng ta đừng lấy quyền làm ông, làm bà, làm cha, làm mẹ ra dạy dỗ; mà hãy nhìn một cách khách quan, bình đẳng vì con cháu cũng là những người ân nhân đã giúp đỡ, hỗ trợ, lo lắng, chăm sóc chúng ta; cho chúng ta có được những cảm giác ngọt ngào, yêu thương, trìu mến. Chúng ta phải biết cảm ơn và biết ơn vì có một người để chúng ta yêu thương, đồng thời có một người luôn thương yêu chúng ta. Khi nhớ về con cháu, ta hãy nhớ như vậy.
Từ trong nhà cho đến ngoài phố, những người hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đèn có nhau, hãy nhớ đến những gì họ đã giúp đỡ, hỗ trợ mình. Trong công ty, xí nghiệp, trong tình đồng đội, đồng chí, đồng học, đồng tu, chúng ta hãy cùng nhìn nhau bằng ánh nhìn của các bậc ân nhân, ân đức, nghĩa tình.
Trong đạo tràng thì hãy nhớ ơn những vị gánh vác đạo tràng cực khổ. Khi có sự nhớ ơn đó, chúng ta sẽ nhìn mọi người bằng ánh nhìn thiện cảm; nói với nhau bằng lời nói nhớ ơn, cảm ơn; suy nghĩ bằng suy nghĩ nhớ ơn, cảm ơn về những người có ơn trong đạo tràng. Nhờ vậy, khi các vị ấy chẳng may có sơ suất, chúng ta sẽ bỏ qua một cách nhẹ nhàng.
Rộng hơn nữa, khi bước đi trên một con đường, lòng chúng ta hãy khởi lên tâm biết ơn đối với người đã làm nên con đường ấy. Khi ăn một chén cơm, ta cũng nhớ ơn của những người đã cấy cày, trồng trọt, với biết bao mồ hôi nước mắt. Khi được ở trong ngôi nhà vững chắc, được che mưa che nắng, ta cũng thầm cảm ơn những người thợ đã dựng xây lên ngôi nhà này…
Tâm biết ơn, nhớ ơn này cần được tu tập cho thật sâu sắc, thấm thía, lan tỏa, trải rộng, để mỗi ngày ta đều sống trong thế giới của sự biết ơn. Từng làn gió mát, từng ánh nắng mặt trời soi chiếu ấm áp, từng chiếc lá xanh, từng bông hoa khoe sắc trên cành, cho đến dòng sông, biển cả, con suối, giọt nước, ngọn đồi… ta đều trải tâm biết ơn. Khi uống một chung trà, hãy nhớ nước này ở đâu mà có, lá trà này ai chăm sóc, ai khéo vun trồng. Khi ăn chén cơm, hãy biết ơn người nấu nướng, dọn bưng…
Tâm biết ơn là điều rất quan trọng trong sự thực hành. Những gì Minh Thành chia sẻ với quý vị là Pháp hành, không phải chỉ nghe giảng cho vui một chút rồi thôi. Bước đầu tiên là chúng ta phải ghi nhớ; nhớ thì mới thực hành; sau khi thực hành được thì mới có kết quả; nhờ đó ta mới có được hoa thơm, trái ngọt của thành quả tu học.
Thực tâm biết ơn mang đến cho chúng ta rất nhiều lợi ích:
Nhờ thường nhớ, thường nghĩ, thường nói và thường thực hành pháp nhớ ơn, biết ơn đối với cha mẹ; khi cha mẹ lỡ có lớn tiếng rầy la, hay làm gì chạm đến tự ái của ta thì ta có thể nhẹ nhàng bỏ qua, dễ dàng tha thứ, lại càng yêu thương cha mẹ, người thân nhiều hơn.
Có những người con sống trong sự hờn giận cha mẹ, thậm chí không hiếu thảo đối với cha mẹ là vì người này không thực tập nhớ ơn và biết ơn. Vợ chồng cũng vậy, nói vài câu với nhau là xảy ra chuyện, đó cũng là vì không trú trong tâm biết ơn và nhớ ơn. Ngược lại, nếu ta nhìn những người thân yêu và nhớ lại lúc mình bệnh họ nấu cháo cho mình ăn, lúc mình ốm đau họ kề cận bên giường bệnh chăm sóc thì sẽ không có những suy nghĩ, hành động hay lời nói không hay dành cho nhau. Khi thường suy nghĩ bằng sự biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn; nói những lời bằng sự biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn; làm những việc bằng lòng biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn thì đối với tất cả mọi người mình đều thấy họ là ân nhân. Và đối với ân nhân thì ta sẽ không cự cãi, không sân hận với ân nhân của mình. Khi sống được như vậy là đủ để chúng ta sanh lại làm người, không rơi vào ba ác đạo. Đây cũng là nguyên nhân ở Linh Quy Pháp Ấn có thiền biết ơn.
Vừa rồi, Minh Thành cũng đã tổ chức thiền biết ơn ở Hồng Kông và ba, bốn tiểu bang ở Úc Châu, từ ơn cha mẹ cho đến ơn vợ chồng, chị em, cô chú bác và các cháu. Buổi thiền này nhận được sự hưởng ứng và được mọi người cảm nhận rất sâu sắc. Qua khóa tu chưa đầy bốn ngày ở Úc Châu, vào ngày tu thứ ba, một người vợ đã quỳ trước người chồng để thực hành thiền biết ơn. Điều này làm người chồng vô cùng bất ngờ, sau đó hai vợ chồng quỳ đối diện nhau, bày tỏ lòng biết ơn và lạy nhau. Người chồng đã nói rằng, hai vợ chồng sống cùng nhau đã hơn bốn mươi năm, nhưng ngày hôm đó là ngày làm cho ông bất ngờ nhất, vì không ngờ mới tu ba ngày mà vợ làm được thế này, nếu về Linh Quy tu ba tuần thì càng hạnh phúc hơn nữa. Qua đó, ta thấy được, chỉ ba ngày tu mà đã có thể thay đổi được một người.
Cho nên nói, trong sự tu học này, điều quan trọng hơn hết là phải thực tập, không phải chỉ học lý thuyết là đủ. Hơn thế nữa, chúng ta không chỉ thực hành thiền biết ơn trong buổi lễ, mà ngay trong gia đình, chúng ta sẽ thực hành tâm biết ơn qua cách nói chuyện, cư xử, trong từng hành động, cử chỉ. Chẳng hạn lấy ly nước, dọn mâm cơm, đưa món đồ cho cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em bằng sự trân trọng, trân quý, quý trọng, quý kính. Làm được như vậy, khi ba mẹ trăm tuổi, lúc đó ta sẽ không hối tiếc, vì mình đã sống với cha mẹ bằng tất cả lòng hiếu thảo và tâm biết ơn. Nhờ vậy, lúc ấy tâm ta cũng phần nào được nhẹ nhàng, bình an. Đối với vợ chồng, nhờ có thực hành sự biết ơn với nhau mà gia đình bớt mâu thuẫn, cãi nhau, cả nhà được ấm áp, an vui, hạnh phúc.
Như vậy pháp tu đầu tiên để bước vào dòng pháp Nikāya là nuôi dưỡng tâm biết ơn và nhớ ơn. Khi sống trong tâm này, ta nhìn mọi người, cảnh vật, đồ vật xung quanh đều bằng tâm biết ơn, nhớ ơn. Nhờ vậy tâm ta được dễ chịu, ngọt ngào, ấm áp, dạt dào; xua tan được những cảm thọ sân hận, bực bội, khó chịu; đẩy lùi tâm phản phúc, phản trắc, vô ơn, vô nghĩa, vô tình; ít nhất cũng làm giảm thiểu, đoạn giảm, giảm bớt rồi dần dần đi đến chỗ diệt tận, tẩy sạch những tâm bất thiện. Tâm bất hiếu, ngỗ nghịch, vô ơn, phản bội sẽ được tâm biết ơn và cảm ơn của bậc chân nhân tẩy xóa, gội rửa để đi đến chỗ trong sạch hoàn toàn.
Hành trì tâm hiền thiện
Pháp hành thứ hai là hành trì tâm hiền thiện, bậc Đạo Sư nói:“Người tu tâm thật là hiền – Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên”. Nghe tâm hiền thì thấy dễ nhưng thực hành là điều không đơn giản.
Vậy, tâm hiền là gì và thực tập như thế nào?
Tâm hiền là tâm hiền diệu, hiền lành, hiền thiện, hiền đức, hiền lương, hiền hậu. Trong từng cử chỉ, hành vi, lời nói, ánh mắt, suy nghĩ, cảm xúc… đều nhẹ nhàng, dịu dàng, êm ái, an tịnh, lắng dịu, khéo lèo lái đưa vào tâm hiền. Thực tập được tâm hiền đòi hỏi sự bền chí, kiên trì thật nhiều, bắt đầu từ thô đến tế, vì khi nhiếp phục được những tập khí thô ở bên ngoài thì ta mới có thể đi đến điều sâu sắc trong tâm.
Thứ nhất là tâm hiền trong hành động. Cần tập cho mọi hành động luôn được an tịnh, lắng dịu, hạn chế phát ra tiếng động một cách tối đa, chẳng hạn khi mở cánh cửa, nhấc cái ghế, lấy cái chén… từng cử chỉ phải nhẹ nhàng, êm ái, lắng dịu. Trong nhà nếu có người cứ đóng cửa ầm ầm, dọn cơm mà tô chén để xuống thô tháo thì bữa ăn gia đình sẽ không thể ngon được. Thử nhìn lại đôi dép ta để ở cửa có ngay ngắn không, ta đi đứng có nhẹ nhàng, chánh niệm không? Khi lên xe đi từ thiện, quý vị có đi từ từ không hay là chen chút giành chỗ với nhau?
Thứ hai là tâm hiền trong lời nói. Chúng ta cần để ý lời nói mình phát ra có hiền thiện, hiền lành, hiền lương, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền trí để đi theo các bậc Hiền Thánh Tăng hay không? Ở đây có hai yếu tố là “Hiền” và “Thánh”, hiện tại trước mắt, “Hiền” là điều chúng ta hướng tới trong sự tu tập.
Khi nói chuyện cần xem lại khẩu khí ta có cao giọng, to tiếng không? Âm giọng, chất giọng, giọng điệu lúc nói chuyện có hiền dịu, dễ chịu, ngọt ngào không? Ta có nói lời từ ái, hiền hòa, được Đức Phật gọi là lời nói như hoa, như mật không? Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập I, bài kinh “Nói Như Hoa”, Đức Phật dạy có ba dạng nói lời: thứ nhất là lời nói như phân, đây là lời nói làm khổ mình khổ người, làm người khác đau đớn, khó chịu, lập tức tránh xa; lời nói thứ hai là lời nói như hoa, tỏa ngát hương thơm; lời nói thứ ba là lời nói như mật, ngọt ngào, bổ dưỡng, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho mọi người. Trong ba lời nói này, chúng ta hãy nhìn lại, xem mình thường nói lời nào nhiều hơn?!
Lúc nói chuyện với mọi người, người khác chưa nói hết, mình có nhảy vào giành nói không? Vợ chồng nói chuyện, chia sẻ với nhau, mình có giành nói không? Nếu ta thường ngắt lời, xen ngang lúc người khác đang nói là lời nói của ta chưa hiền. Thay vào đó, ta nên để cho người kia nói hết, rồi mình mới từ từ giải bày. Thậm chí có lúc người ta đã nói hết nhưng mình cũng không vội nói, mà cứ lẳng lặng, để bên kia được dịu xuống. Bằng không, bên kia đang sôi sùng sục, nếu ta cứ đụng vào là cả hai sẽ cùng bị bỏng.
Hơn nữa, chúng ta hung dữ, cáu gắt, sân giận để được cái gì?! Chẳng những không đem lại lợi ích, mà còn khiến cho bản thân bị thù ghét, chất chứa thêm nhiều sân giận, phiền não và khổ đau, cùng những sự khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh… Do vậy, ta đừng “đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi”, mà hãy nói bằng tâm từ, tâm thương, nói lời chân thật, chân thành, dùng lời ái ngữ, nói đúng người, đúng lúc, đúng thời điểm bằng giọng nói nhỏ nhẹ, nhu hòa, hòa nhã, đó là tâm hiền từ miệng thốt ra.
Thứ ba là tâm hiền trong suy nghĩ. Nếu ta thấy mình có những suy nghĩ không hiền thì hãy lập tức nhiếp phục, tác ý đưa chúng quay trở về với những suy nghĩ thiện lành. Tập nhận diện những hình bóng, những suy nghĩ nói thầm, những cảm xúc trong tâm đang sanh khởi thế nào để dẫn dắt, đưa chúng trở về theo chiều hướng hiền thiện.
Trong ánh mắt cũng vậy, hãy tập cho mình ánh nhìn hiền từ, dùng “mắt thương nhìn cuộc đời”. Đừng nhìn nhau bằng ánh mắt tóe lửa, khiến cho người khác lo sợ, bất an, đau khổ hoặc bực bội, khó chịu.
Trong khi ăn cũng cần có sự kiểm soát, ta nên ăn với một cảm giác an tịnh, lắng dịu, không húp sồn sột, không vừa ăn vừa nói, làm văng cơm ra ngoài.
Tất cả mọi cử chỉ, hành động, đều nằm trong sự an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, không nói lời hại người, không suy nghĩ những tư tưởng hại người, không muốn ai làm hại mình, không muốn mình làm hại ai. Tự thân chúng ta phải hoàn toàn vô hại, bất hại, không hại đối với tất cả mọi người, cho đến từng con vật nhỏ. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào khi tiếp xúc với xung quanh, chúng ta cũng hoàn toàn vô hại, bất hại, không có não hại. Đây là phương pháp thực tập tâm hiền.
Quan trọng hơn, chúng ta cần tu tâm hiền nhất là đối với vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, huynh đệ, tỷ muội đang giận. “Chồng giận thì vợ bớt lời – Cơm sôi bớt lửa, một đời không khê”. Một nồi cơm đang sôi mà ta cứ chụm thêm củi vào, thổi lửa cho to hơn thì cơm chắc chắn sẽ bị khét, không cho ra chén cơm ngon được. Cũng vậy, với người đang sân giận, ta lại đổ thêm dầu vào lửa, rồi phựt cháy theo thì điều ta nhận lại chỉ phiền não, bực bội, khổ đau, không thể có được hạnh phúc. Còn người có tu tâm hiền, mỗi lời nói ra sẽ rất dễ thương, dễ chịu, tránh gây ra mâu thuẫn, bất hòa.
Nếu đứng trước một ly nước cam vắt mật ong và một ly nước độc thì không ai chọn uống ly có chất độc cả. Cũng vậy, tại sao ta lại chọn đưa chất độc vào người, tại sao ta lại phát tác ra những chất độc trong miệng, trong ánh mắt, trong suy nghĩ để làm mình trúng độc. Chúng ta tự nhìn lại xem mỗi ngày ta trúng độc bao nhiêu lần? Khi trong cảm giác chất chứa sự bực bội, tức giận, sân hận, cau có, cọc cằn, khó chịu, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhít, nhỏ nhen thì đó là ta trúng độc. Nếu ta không giải độc tham, độc sân, độc si trong tâm thì chất độc này sẽ phát tác ra nơi lời nói, ánh mắt, suy nghĩ, hành động.
Thế nên, mỗi khi nói, khi làm, khi tư duy, ta cần xem xét có bực bội, có tham lam, có bản ngã trong đó không để đề phòng chất độc phát tác. Mỗi ngày mỗi giờ, ta cần tu tập tâm hiền để cảm thọ, cảm giác luôn được ngọt ngào. Từng ánh mắt, hành vi, lời nói, cử chỉ đều đưa tất cả vào đạo lộ của tâm hiền lành, hiền thiện. Mỗi khi chắp tay cúi đầu, quý vị hãy nhớ trong tâm mình là sự dễ thương, hiền hòa. Trong hoàn cảnh nào cũng trú trong cảm giác toàn thân để tu tập tâm hiền thiện, ngọt ngào. Dù trời đang nóng gắt gần bốn mươi độ thì gương mặt mình vẫn như mùa xuân, như hoa sen đang nở rộ. Dù khí trời khó chịu nhưng bên trong cảm thọ lúc nào cũng dễ chịu. Dù có người đang đến gây chuyện với mình nhưng trong tâm lại thấy thương họ, vì hiểu rằng họ đang bị tâm bệnh. Khi thấy một ai đó đang bị lửa thiêu đốt khắp người thì ta sẽ lấy nước giúp họ dập lửa; chứ không lấy dầu, lấy xăng để đổ thêm vào. Cũng vậy, với người đang bị ngọn lửa sân hận thiêu đốt, ta không nên đổ thêm xăng, thêm dầu vào để ngọn lửa phựt cháy luôn cả mình. Thay vì bốc cháy sân hận theo, chúng ta nên dùng tâm hiền hòa, hiền lương, nhún nhường, nhẫn nhịn, hỷ xả, tha thứ, bao dung, độ lượng.
Thực tập được như vậy thật là kỳ tích, là phép màu trong cuộc sống. Trí tuệ này là Thánh trí, là kim cương, quý vị hãy ghi nhớ thật kỹ và thực hành theo. Vì đây là pháp hành nên chúng ta không phải nghe bằng tai, nói bằng miệng rồi để đó là xong, mà ta phải thực tập cho đến hết cuộc đời. Hơn thế nữa, tâm hiền là pháp tu xuyên suốt trong tất cả các pháp hành, chúng ta không rời khỏi tâm hiền dù tu bất cứ pháp nào.
Thực hành sự hòa kính
Pháp hành thứ ba là thực tập tâm hòa kính. Trong đó, “hòa” là lục hòa, “kính” là cung kính.
Tâm hòa kính là chất liệu quan trọng để xây dựng hạnh phúc trong Tăng đoàn, trong đạo tràng, trong gia đình, trong đoàn thể, trong tập thể, trong công ty, trong xí nghiệp. Đạo tràng Nikāya luôn chú trọng chất liệu trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn nhằm xây dựng tinh thần tu học là phải trang nghiêm, chùa không phải là nơi vui chơi giải trí, đến chùa để nghe pháp, không phải đến để nghe tấu hài, xem hài kịch, tìm niềm vui. Nếu không khéo léo trong việc hành trì, tu tập, giảng giải thì một thời gian nữa chúng ta sẽ làm biến chất, mất chất giáo pháp.
Mặt khác, trong cuộc sống, ta cần phải có sự hài hòa, nếu không, đôi khi chúng ta chỉ có tâm hiền nhưng lại sống không chan hòa với những người xung quanh. Cứ nghĩ rằng “tôi tu cho mình tôi, tôi làm cho tôi, người muốn làm gì thì tự làm, tôi không đụng chạm đến ai và cũng không muốn ai đụng chạm đến tôi”. Như vậy là không có sự hòa kính với nhau.
Dù là vợ chồng, cha mẹ hay thầy trò, huynh đệ, tỷ muội…đều cần có sự tôn trọng, kính quý, kính trọng nhất định. Không phải ở chung một thời gian là hỗn tạp, không còn trên dưới, trước sau. Khi trật tự lễ giáo bị mất đi, sanh ra tâm xem thường nhau, tất cả sẽ trở thành một mớ hỗn độn, một đống xà bần. Nếu xã hội không có pháp kính lễ thì sẽ mất đi trật tự, thiên hạ đại loạn, không có thứ bậc, tôn ti, trật tự, lễ nghi, lễ kính, không biết ai là thầy, ai là trò, ai là cha mẹ, ai là cô chú bác… ăn nói trống không, ngang hàng phải lứa, không biết ai là ai.
Vì lẽ ấy, chúng ta cần thực hành tu tập tâm hòa ái cùng với tâm cung kính, kính quý, kính trọng, kính ái, kính mến, kính thương nhau; dù thương yêu nhau nhưng luôn có sự kính trọng lẫn nhau. Chữ “trọng” ở đây là có sức nặng, có trọng lượng, không phải là xem nhẹ, khinh thường. Lúc nào cũng thấy được ân nghĩa, ân tình với nhau rất là sâu nặng, là ân thâm nghĩa trọng. Nhờ vậy, ta luôn kính trọng nghĩa tình đó và chung sống, đối đãi với nhau một cách hòa kính, tôn trọng, quý mến nhau.
Người xưa có câu “tương kính như tân”, nghĩa là kính nhau giống như lần đầu mới gặp. Lần đầu khách đến nhà, gia chủ thường rất giữ kẻ, rất lịch sự, rất cẩn thận, chú ý từng cử chỉ, từng hành động, ăn mặc kín đáo, nhà cửa sạch sẽ thơm tho, chén bát gọn gàng, tươm tất. Cũng vậy, nếu ta luôn sống với nhau bằng sự kính trọng như khách; kính nhau, quý nhau, trọng nhau như lần đầu gặp gỡ thì mọi người sẽ được hạnh phúc dài lâu. Ba năm, bảy năm, mười năm, mười lăm năm mọi người gặp lại Minh Thành, chúng ta vẫn ngọt ngào, ấm áp, nghĩa tình với nhau là nhờ chúng ta có sự quý trọng, kính quý nhau.
Khi có sự quý trọng, kính trọng, trân trọng lẫn nhau thì đời sống chúng ta sẽ có sự thay đổi. Bình thường khi gặp người lạ ở ngoài đường, chúng ta thường giữ kẽ, ăn nói lựa lời, cử chỉ hành động đàng hoàng, văn minh, lịch sự; nhưng khi về đến nhà thì ta lại không được như thế, đây là chỗ rất thất bại. Vì vậy, chúng ta cần thường xuyên thực tập thân làm việc từ hòa, miệng nói lời từ hòa, ý nghĩ điều từ hòa. Thường suy nghĩ những điều đưa đến sự hòa hợp của tình thương, nói những lời nói đưa đến sự hài hòa trong từ tâm rộng mở, những việc ta làm cũng đưa đến sự gắn kết, từ ái với nhau.
Mỗi khi tức giận, trước khi nói điều gì, hãy nhắc nhở mình câu “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến” nhiều lần, sau đó mới nói. Hoặc khi trong tâm có sự thúc giục, muốn nói nhanh thì ta cũng niệm câu “an tịnh, lắng dịu” để cảm giác trong tâm được lắng xuống; khi nào tâm được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào thì mới nói. Hoặc khi có sự hơn thua, muốn giành phần thắng thì cũng niệm câu này lên để tâm an tịnh lắng dịu, đến khi nào có sự ngọt ngào trong cảm thọ thì mới làm việc cần làm.
Khi nhận được thức ăn ngon hay món đồ gì đó cũng chia đều với nhau, gọi là lợi hòa đồng quân. Giới hòa đồng tu là sống trong đại chúng, trong một tập thể thì người sao mình vậy, không làm ngược lại. Còn nếu giờ đại chúng đi tu, mình đi ngủ; giờ đại chúng nghỉ ngơi, mình đi tu; giờ đại chúng thiền quán, mình thiền chỉ; giờ đại chúng thiền chỉ, mình đeo tai nghe thiền quán; giờ đại chúng đi làm, mình đi đọc kinh; giờ đại chúng đọc kinh, mình lại đi làm… thường làm điều không giống mọi người cho thấy người này không có tinh thần hòa hợp.
Để có thể hòa hợp với mọi người, ít nhất trong những khóa tu, như khóa tu hai tuần, khóa tu một ngày hành trì hiền trí, khóa tu một ngày giữ Bát quan trai… đây là thời gian chúng ta rèn luyện tâm, thực tập tâm hòa kính, sống hài hòa với bạn đồng tu và mọi người xung quanh, tập cho tâm không chống đối. Bởi lẽ, tâm chúng ta khi nghe một việc gì đó thường thích cãi trước rồi tính sau, phải cãi lại một chút mới chịu, không cần biết là đúng hay sai, thậm chí biết mình không đúng vẫn cứ cãi, tâm này gọi là tâm bất thiện. Cho nên, sự tu tập tâm hòa ái là để diệt tâm chống đối. Vì vậy, ta cần cố gắng tu tập được tâm hài hòa, nhất là hài hòa trong sự tu học, trong đời sống đức hạnh, trong những pháp hành cao quý, trong Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo.
Dù có vào chùa tu tập bao nhiêu năm đi nữa, dù đối với học trò hay Phật tử, ta hãy cố gắng giữ gìn cho mình tâm kính quý. Lúc nào cũng kính trọng Chư Tôn Đức, Chư vị Hiền trí, không vì quen thuộc mà xem nhau giống như người trong nhà. Một khi đã có suy nghĩ như vậy là bắt đầu cho sự buông lung, thả lỏng tập khí, bung ra những thói quen, bản ngã, tật xấu; tâm kính trọng, kính ái, kính quý thuở ban đầu cũng sẽ bị mất đi. Cho nên, chúng ta hãy thường đọc tụng, chiêm nghiệm bài kinh Người Vợ Trẻ, Tăng Chi Bộ Kinh tập I để nhắc nhở bản thân giữ tâm mình như một cô dâu mới về nhà chồng, luôn cẩn trọng, e dè, khép nép, một dạ hai vâng.
Khi Minh Thành được bậc Đạo sư chỉ dạy, từ lúc ban đầu cho đến ba bốn năm về sau này, trong tin nhắn Ngài gửi cho Minh Thành luôn là một dạ hai thưa, trước sau như một không thay đổi, chính vì điều này khiến cho Minh Thành luôn muốn học hỏi. Trong từng tin nhắn, trong từng lời nói, trong từng hành động, Ngài giáo huấn, giáo dục, dạy dỗ một cách tự nhiên và Minh Thành cảm nhận được pháp cung kính phải là như vậy.
Trong thời Đức Phật, các bậc Thánh Tăng, chư vị Tỳ-kheo khi được Đức Phật hỏi các Ngài cùng sống, cùng tu hành với nhau có an ổn không thì các Ngài nói các Ngài rất an ổn, an lạc, thân tuy khác nhau nhưng tâm giống như đồng một tâm (Trung bộ kinh, 31. Tiểu kinh Rừng sừng bò). Đồng một tâm ở đây là vị nào cũng muốn diệt tham, sân, si, bẽ gãy bản ngã, diệt tận vô minh, làm sạch hết khát ái, tu tập tâm hiền, hướng đến trí tuệ.
Cũng vậy, chúng ta hãy thường tự nhắc mình đồng tâm với nhau, cùng hòa vào tâm tu học, tâm hiền kính, hiền trí, hiền thiện, không chống đối, không khó chịu, không trái nghịch với nhau…. không những ở trong lời nói, hành động, mà cả trong tâm niệm. Thực tập được điều này, những thành viên sống chung trong một gia đình sẽ rất bình an, hạnh phúc, ngọt ngào. Như câu “gia hòa vạn sự hưng”, gia đình nào sống hài hòa, hòa hợp với nhau thì sẽ phát triển, hưng thịnh. Còn gia đình chồng nói một tiếng, vợ cự lại ba tiếng; mẹ dạy một câu, con cãi lại bốn câu thì làm sao gọi là hòa hợp; mà không hòa hợp thì không thể hưng thịnh; bất hòa thì chỉ có suy vong, chỉ bại hoại mà không có thành công. Có rất nhiều đôi vợ chồng sống chung với nhau một thời gian thì mất đi sự ngọt ngào, đậm đà, thương kính như lúc ban đầu. Họ không còn sự kín kẽ, kính quý như buổi ban đầu mới gặp, thay vào đó là phô bày ra hết những tập khí, thói hư tật xấu, cuối cùng gia đình không còn là mái ấm. Cho nên, điều quan trọng là chúng ta tập kính quý những người ở chung trong gia đình. Đây mới chính là bí kiếp bình an, bí quyết hạnh phúc, bí chiêu để có mái ấm tuyệt vời trong gia đình.
Hơn thế nữa, chúng ta không phải chỉ kính quý Tam Bảo thôi là đủ, mà hãy đem tâm kính quý này đối đãi với cha mẹ, chồng con, anh chị em, bà con. Bởi lẽ, chúng ta tu với người ngoài không nhiều, tu với tượng Phật cũng không nhiều, Phật không kêu chúng ta phải vào vái lạy nhiều; mà những người ở cạnh chính là đối tượng ta cần tu tập nhiều nhất. Nếu đối với cha mẹ mà trong tâm ta còn có sự bất kính thì đối với ai chúng ta có thể cung kính được? Đối với ông bà còn tỏ ra vô lễ thì ta lễ phép được với ai? Đối với thầy, bậc đạo sư, người mà mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu để đi theo, nhưng ở một thời gian lại bất kính vô lễ với thầy thì cuối cùng mình kính trọng được ai? Đối với vợ chồng mà sống với nhau không nghĩa tình thì nghĩa tình được với ai? Đối với con cái không có sự thương yêu hy sinh bằng tất cả tấm lòng thì chúng ta có thể thương yêu ai được?
Cho nên, từ sự cung kính Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới, cung kính bậc đạo sư, thầy tổ như thế nào thì chúng ta cung kính ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái trong gia đình cũng như vậy. Đồng thời đem tâm cung kính ấy đối đãi với người ngang hàng, với bạn đồng tu, với người kém may mắn hơn mình… dù người ta có thấp kém hơn, chúng ta vẫn kính quý tấm lòng, nghĩa tình, tâm chân thành của họ. Qua đây, chúng ta thấy được tầm quan trọng của pháp hòa hợp, cung kính và đó cũng là pháp hành cao đẹp trong đạo tràng Nikāya.
Khi có sự kính ái, kính thương, kính trọng, kính quý thì tâm chúng ta sẽ ngọt ngào, ấm áp, dễ chịu, cao đẹp. Gia đình sẽ rất bình an, hạnh phúc, hòa thuận. Đạo tràng luôn được trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn, trật tự rõ ràng, trên dưới trước sau minh bạch.
Cách nhiếp phục dục, tham
Pháp hành thứ tư là kiểm soát sự thúc giục từ bên trong. Dục ở đây có nghĩa rất rộng, không phải chỉ có dục giữa nam nữ, mà còn là sự thúc giục trong lời nói, việc làm, hành động, trong suy nghĩ, trong cảm thọ. Ngoài ra còn có dục ăn, dục nói, dục chơi, dục làm... rất nhiều loại dục gây ra khiến chúng ta tan nhà nát cửa, tán gia bại sản, vợ chồng phân ly, con cái khổ đau, cho nên phải nhìn thấy được những thúc giục bất thiện trong tâm để nhiếp phục.
Bên cạnh đó, có những loại thúc giục hướng thượng, hướng thiện cần được phát huy như tâm thúc giục chúng ta đi làm từ thiện, đi chùa nghe pháp, giảng kinh hay có sự thúc giục hy sinh, đóng góp cho cộng đồng, cho số đông… Còn những loại thúc giục đưa đến khổ đau như sát sanh, trộm cắp, tà dâm thì ta cần nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, tẩy sạch, dùng chổi quét những loại thúc giục này ra khỏi căn nhà nội tâm.
Khi nhận thấy bên trong có sự thúc giục muốn nói cái này cái kia, chuyện này chuyện nọ thì cố gắng nhiếp phục, giữ bình tĩnh, lắng dịu, tĩnh tâm, tĩnh tư, tĩnh mặc, trầm tĩnh lại. Không phải muốn làm là làm, muốn nói là nói; mà cần kiểm tra, kiểm soát những sự thúc giục trong tâm rồi nhiếp phục dục. Nếu có sự thúc giục mình tham gia vào những câu chuyện thị phi, phù phiếm, nói những câu chuyện vô ích, không hướng đến mục đích, “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, nói lời thêu dệt, gây chia rẽ, chia lìa; chúng ta phải nhận thấy được sự thúc giục này và cố gắng dùng nhiều cách để nhiếp phục, chế ngự hoàn toàn sự thúc giục.
Trước tiên hãy thực tập tịnh khẩu, không cho dục nói hoành hành, lúc đó hãy vào ngồi thiền, nhận diện ngũ uẩn, đánh đuổi những cảm thọ thúc giục đang dâng lên, làm cho tâm yên tịnh, lắng dịu xuống. Sau đó vào quỳ lạy sám hối, xử phạt, dạy dỗ tâm, vì đã để cho cảm thọ thúc giục, xúi bậy, làm chủ. Hoặc dùng phương pháp nhẹ nhàng hơn như nói chuyện, năn nỉ, tác ý, nhắc nhở, quỳ lạy, van xin những cảm thọ thúc giục đó buông tha mình: “Tao lạy mày, thúc giục ơi, mày làm ơn lắng dịu xuống dùm tao, mày thúc giục tao làm những chuyện tội lỗi, gây ra bao khổ sở, phiền não. Tao lạy mày, thúc giục ơi, làm ơn để cho tao yên, đừng giục tao làm bậy rồi đẩy tao xuống hố than hừng, rơi vào trong biển lửa, rớt xuống vực thẳm, đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hãy tan biến hoàn toàn, diệt tận hoàn toàn, đoạn tận hoàn toàn khỏi tâm ta đi!”.
Khi tham gia giao thông, nếu đoạn đường đó cho phép lưu thông tối đa 70km/h, mà người điều khiển xe máy cứ chạy 110-120km/h thì kết quả xảy ra là người này có thể không còn toàn thây để mà vào bệnh viện. Vì vậy, những lúc chạy xe trên đường, nếu trong tâm có sự thúc giục cứ muốn tăng ga chạy cho nhanh, chạy hết tốc độ mới thỏa mãn thì ta cần nhận diện được sự thúc giục đó, quán chiếu sự nguy hiểm mà nó mang lại để điều chỉnh xe chạy đúng tốc độ.
Sâu xa hơn là phải nhiếp phục được ái dục, tình dục, dâm dục. Đây là thứ làm cho mình và người đau khổ triền miên, suốt đời, suốt kiếp vì không thoả mãn nhục dục, dục vọng. Đức Phật bằng tình thương đã dạy cho chúng ta những pháp quán để diệt dục như quán tứ đại, quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán bộ xương, quán giòi ăn cơ thể. Quán sự nhơ nhớp, bẩn thỉu, bất tịnh, tanh hôi, ô uế của tấm thân này, cũng như kết cuộc, chung cuộc của nó. Quán những nguy hiểm và tai hại của lòng dục, của tâm thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Thường niệm câu “Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái” (Kinh Ratthapala – Trung Bộ Kinh II) và quán chiếu sự thật này để làm cho những khao khát, ái dục, khát ái được lắng dịu, dừng lại bằng những phương pháp Đức Phật đã chỉ dạy.
Tu tập tâm khiêm hạ
Pháp hành thứ năm là bẻ gãy bản ngã. Chính bản ngã này là con rắn độc làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, hành tội mình hành tội người, hành xác mình hành xác người, hành hạ mình hành hạ người, hành hình mình hành hình người.
Thân người này dù chỉ cao một mét bảy nhưng bản ngã, chấp ngã, cái tôi, cái ta của con người lại lớn hơn cả trời đất, lớn hơn vũ trụ, lớn hơn quả địa cầu và chính điều này làm cho ta khổ đau. Do cái tôi này rất lớn nên con người dễ chạm tự ái lẫn nhau. Nói chuyện qua lại một lúc là có chuyện. Nói tới nói lui một hồi là sân hận, bực bội khởi lên.
Vì vậy, điều cốt lõi trong sự tu là đánh cho gục ngã được bản ngã, đây là điều quan trọng nhất trong công cuộc tu tập. Không phải đọc tụng nhiều, nói hay, làm nhiều thứ rồi cho phép cái tôi ngày càng lớn hơn; như vậy tuy có phước nhưng mình vẫn sẽ phải khổ đau, vì ta không có trí, không có tuệ. Cho nên phước huệ song tu cũng như chim có hai cánh, chiếc xe có hai bánh. Chim có đôi cánh thì mới bay được, chiếc xe có đủ hai bánh thì mới chạy được. Cũng vậy, sự tu thì phải có phước và tuệ; trí tuệ ở đây là trí vô ngã, gọi là Vô Ngã Thánh Trí.
Vậy, làm sao để hạ thấp cái tôi này xuống?
Thực tập Năm Khiêm Hai Khéo
Pháp hành diệt ngã rất thiết thực. Đầu tiên là ứng xử theo tinh thần “năm khiêm, hai khéo”:
“Lời nói khiêm nhường,
Tâm hồn khiêm hạ,
Hành xử khiêm cung,
Hiền hòa, khiêm tốn.
Kính trên, nhường dưới,
Khiêm nhã, nhún nhường,
Khéo xét lỗi mình
Khéo phòng hộ căn”.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Sự thực tập theo năm khiêm hai khéo sẽ giúp bẻ gãy bản ngã, nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bản ngã to lớn, ác độc, ngu si, tai hoạ này.
Như Lý Tác Ý
Thường xuyên nhắc nhở bản ngã rằng: “Ngươi đừng ngẩng cao đầu nữa, ta lạy ngươi. Ngươi càng ngẩng lên là ta càng khổ, người đừng làm ta nhục nhã trên cuộc đời này thêm nữa. Ngươi hãy để cho ta được sống thanh cao, cao thượng, cao đẹp trong cuộc đời này, nên người hãy tan biến hoàn toàn thành mây thành khói thành hư không đi”.
Trong sự tu tập này, nếu khéo tác ý, ta có thể ứng dụng, thực hành pháp bằng nhiều cách. Chẳng hạn, mỗi khi đốt nhang, ta tác ý rằng: “Ta đốt mi, ta đốt cái bản ngã này, ta đốt cho ngươi thành tro bụi”. Tay ta cầm nhang, nguyện cho thật là lâu, để cho nhang cháy hết, rớt tàn rơi xuống, cũng như bản ngã này bị tan xác, banh xác, tan biến thành bụi nhang, thành khói mây rồi gió thổi bay đi mất, không bao giờ xuất hiện trở lại nữa. Mỗi khi đốt nhang hay đốt củi lửa cũng là lúc ta đốt bản ngã. Vận dụng Thánh trí tuệ như vậy để bẻ gãy cái bản ngã, đánh cho tới tấp, tơi bời, tan tành, tan nát cái bản ngã này. Lúc nó đã nát tan thì chúng ta cũng được bình an, hạnh phúc tối thượng.
Khi cầm cây chổi quét nhà, ta cũng có thể tác ý: “Ta quét ngươi, quét cái bản ngã đi ra khỏi căn nhà nội tâm”. Khi ngồi xắt ớt thì ta quán chiếu: “Ta xắt ngươi, ta bầm người ra, cái bản ngã cay độc này. Ta bầm cho tan nát cái tôi, cái bản ngã ngu si, ác độc này. Ta sẽ diệt tận, đánh đuổi hoàn toàn con rắn độc này ra khỏi tâm ta”. Khi rửa tay, ta quán chiếu là mình đang rửa vết nhục của sự vênh váo, hống hách, đi đâu cũng ta đây, cao ngạo. Mình sẽ rửa vết nhục này cho sạch hoàn toàn, không còn ở trong tâm này nữa.
Pháp hành này vô cùng tuyệt vời vi diệu, chỉ cần có sự để tâm thì khi làm việc gì, chúng ta cũng thấy pháp trong đó. Đặc biệt nhất vẫn là cách quỳ lạy diệt ngã. Khi cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em lạy sám hối nhau cũng chính là lạy diệt ngã, lạy cho bản ngã này gục xuống, đổ xuống, tan biến, diệt tận hoàn toàn.
Lạy Diệt Ngã
Chắp tay xá chào
Khi chưa biết tu thì cái tôi của ai cũng rất lớn, đi đâu cũng ngẩng mặt lên, ưỡn ngực ra. Sau khi trở thành Phật tử, từ chỗ hất mặt, ưỡn ngực, ta đây thì dần dần học được tâm khiêm hạ, mỗi lần gặp nhau đều: “Mô Phật, kính chào huynh đệ”, đầu cúi xuống và chắp tay xá chào nhau. Đây là bước đầu tiên của sự tu học. Khi xá chào nhau phải xá thật chân thành, cung kính, bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim, không phải làm qua loa, hời hợt, cho có. Không phải chỉ khi vào lạy Phật mới đặt tâm vào, mà đối với người nào cũng vậy, khi mới đến chùa và lúc sắp ra về, huynh đệ hãy tập xá chào nhau một cách sâu sắc, cúi đầu sâu xuống, tay chắp nghiêm chỉnh, chân thành, cung kính. Nhờ vậy mà bản ngã hạ thấp được một chút. Ta hãy thực tập làm cho hình ảnh chắp tay cúi đầu thường an trú trong tâm tưởng mỗi khi nghĩ về mình.
Quỳ xuống, chắp tay
Tu thêm một thời gian nữa thì thực hành quỳ xuống chắp tay, làm cho bản ngã ngày càng được hạ xuống. Bây giờ chúng ta chưa đạt đến vô ngã được thì ít nhất cũng hạ được bản ngã, làm cho bản ngã gục xuống. Bình thường, ta thường hất mặt, ưỡn ngực, ngẩng cao đầu, ra vẻ to cao, ta đây. Giờ đây khi đã vào đạo, mỗi lần nhớ về tự thân, hãy tập thấy hình bóng mình quỳ xuống, chắp tay, cúi đầu: “Con nguyện từ bỏ cái ta này. Con nguyện từ bỏ bản ngã này. Con nguyện từ bỏ sự chấp thủ vào trong tấm thân vô thường, bất tịnh này. Ta nguyện từ nay về sau sẽ sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã; sống với tâm hiền hòa, hạ thấp đến tận cùng”. Làm cho hình bóng tự thân quỳ xuống thường hiện hữu trong tâm những lúc nghĩ về mình, đây gọi là phép quán tưởng.
Lạy xuống chôn vùi bản ngã
Trên đời này không có nghi lễ nào cao hơn nghi lễ lạy Phật, không có sự thành kính nào so sánh được lúc ta lạy Phật. Lúc ấy, trán chạm sát đất, hai khuỷu tay chạm sát đất, hai đầu gối cũng chạm sát đất, gọi là “năm vóc sát đất”. Khi lạy chung đại chúng thì khác, giờ đây khi lạy một mình, mỗi một cái lạy xuống, ta lạy cho thật là chậm, khi trán chạm vào đất, ta giữ yên một chút để quán chiếu bản ngã này đang gục ngã, đang cúi đầu, đang hạ thấp xuống, đồng thời tác ý:
“Hỡi bản ngã, ngươi phải biết sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn. Ngươi phải biết hạ thấp, hạ sâu xuống, ngươi còn ngẩng đầu lên là ta còn khổ. Người còn vênh váo là ta còn tai họa, hiểm nạn. Ngươi còn hống hách, cao ngạo, kiêu căng thì ta còn xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dài dài. Ta còn làm những thân con chó, còn giòi, con heo, những thân súc sanh, thú vật là vì cái bản ngã ngông nghênh, kiêu ngạo, dương dương tự đắc, cống cao, ngạo mạn, kiêu mạn này. Ngày hôm nay là ngày ta chôn sống, chôn lấp, chôn vùi mi. Ngay nơi trước Phật, trước Pháp, trước Tăng, ta cho đất cát vùi lấp bản ngã này, ta chôn cất cái tôi này, ta vùi lấp cái ta này xuống. Ta cho bản ngã này khai tử, đoạn tận, diệt tận một cách hoàn toàn trong mỗi cái lạy này. Ngày hôm nay, ngay tại chỗ này, giờ này, nơi này, ta chôn sống mi, ta đưa mi xuống lòng đất, huyệt sâu. Ta sẽ mai táng cái bản ngã ngu si, ác độc, vô minh này để cho ngươi diệt tận hoàn toàn.”.
Đây chính pháp hành giúp ta chôn vùi, mai táng, đưa bản ngã vào lòng đất, đưa xuống huyệt sâu, rồi lấp lại, diệt tận nó. Ta tiếp tục quán tấm thân này rã rời hết thịt ra, chỉ còn một bộ xương đang lạy xuống. Rồi bộ xương này từ từ tan rã ra thành một nắm tro tàn đang lạy, chứ không có ai cả. Bộ xương này dần dần cũng tan ra, tấm thân này trở thành một nắm tro, cát bụi trở về với cát bụi. Tất cả chúng ta đến cuối cùng chắc chắn cũng sẽ trở thành một nắm tro tàn, tan biến thành cát bụi, không ai tránh khỏi điều này. Sau khi chôn xong bản ngã rồi ta mới ngẩng đầu đứng lên.
Mỗi một cái lạy ta quán được như vậy thì tội được diệt bớt, phước báu thêm sanh, công đức tăng trưởng, trí tuệ được rực sáng, đánh gục được bản ngã, vô minh, chấp thủ. Đó là cách lạy Phật diệt ngã, thể nhập Thánh Trí Vô Ngã. Điều đặc biệt trong sự tu này là càng hạ thấp xuống thì càng được nâng cao lên; càng ngẩng cao lên thì lại càng bị thấp xuống; càng nhỏ thì lại càng lớn; nghĩa là bản ngã càng lớn, đạo đức càng nhỏ; bản ngã càng thấp thì đức hạnh lại càng cao.
---
Đạo tràng chúng ta mỗi khi tổ chức khóa tu ở bất cứ nơi nào, hãy thực hành thời khóa này ít nhất nửa tiếng, có thể mở xem những bài quý thầy hướng dẫn và thực tập theo. Mỗi ngày dành khoảng ba mươi phút cho thời khóa lạy diệt ngã này, quý vị sẽ thấy phép màu xuất hiện trong cuộc đời mình. Cứ mỗi lần lạy xuống là quán tưởng hình ảnh một bộ xương đang lạy, một nắm tro tàn đang lạy; lạy xuống là chôn vùi cái ta, cái tôi, cái đúng sai, cái hay dở, cái cao thấp trong cuộc đời, làm cho chúng tan biến thành mây khói, thành cát bụi, thành hư không. Tâm mình lúc này là cả một sự khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, khiêm nhã, khiêm tốn, ngọt ngào, dễ chịu. Có khi mình lạy như vậy mà nước mắt trào ra trong sự hạnh phúc, sung sướng, an lạc. Cái lạy này là kết tinh hơn ba mươi năm tu học của chú tiểu Minh Thành tặng cho quý vị. Quý vị đã nhận được chưa?! Đây chính là Thánh Trí Vô Ngã, là báu vật, là gia tài của bậc Thánh, là tài sản của Đức Phật và chúng ta đang được thừa kế gia tài ấy.
Sự tu tập này vô cùng rõ ràng, minh bạch, đây chính là pháp hành tối thượng. Thánh trí này chúng ta đã cầm ở trong tay như “thượng phương bảo kiếm”. Thật không gì sánh bằng, không còn muốn gì hơn nữa. Giờ đây ta chỉ cần “tiền trảm hậu tấu”, chém bay bản ngã trước rồi về thưa với thầy rằng: “Thưa thầy con đã chém bản ngã xong rồi!”, thật là hạnh phúc vô cùng. Giờ đây ta có trong tay tất cả Thánh lệnh, Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo; nhờ sự cố gắng tu tập chúng ta sẽ được Thánh quả!
Khéo trú bốn tâm vô lượng – thương-xót-vui-buông
Pháp hành tiếp theo là tu tập Tứ vô lượng tâm – từ, bi, hỷ, xả. Trong đó, từ là thương; bi là xót; hỷ là mừng; xả là buông. Tu tập Tứ vô lượng tâm tức là thực tập trải tâm thương, tâm xót, tâm vui và tâm buông. Đây cũng là sự thực hành tâm thương rộng lớn, thực hành tâm xót rộng lớn, thực hành tâm hoan hỷ, vui sướng, hạnh phúc, vui vẻ trong sự tu tập. Nhờ nhiếp phục được những tâm bất thiện nên ta thấy vui; khi đưa mình vào khuôn phép, cung kính nên ta thấy mừng; khi đưa mình vào khuôn khổ, nề nếp, biết ơn, hiền thiện nên chúng ta hạnh phúc, sung sướng. Khi sống với tâm buông bỏ thì tâm ta được nhẹ nhàng, thảnh thơi. Để thực tập được bốn tâm vô lượng này không phải chỉ nói suông là được, mà ta có phương pháp thực tập rất rõ ràng.
---
Trước tiên là thực tập tâm từ. Cần biết thương mình trước vì mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này. Chúng ta đều là những ngũ uẩn vô minh và khát ái. Từ muôn thuở đã sống trong tâm mù lòa, bệnh hoạn, đầy thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Ta rất đáng tội nghiệp, vì tham, dục, ái bao nhiêu kiếp mà còn chưa đủ, cứ thèm khát hoài, thật là thương mình và đau xót cho chính mình. Đó là từ bi với chính mình, thương xót cho chính mình.
Hơn thế nữa, ta là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã; tất cả người thân ở cạnh mình cũng là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã; tất cả nhân loại trên địa cầu, tám tỷ người trên trái đất này và tất cả hữu tình chúng sanh đều là nạn nhân của tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã (chỉ trừ những bậc A-la-hán, đã thành tựu Thánh quả cao nhất thì mới không còn). Cho nên chúng ta cần thương mình trước và hiểu những người xung quanh cũng khổ giống mình. Ba mẹ mình cũng sân, cũng bản ngã; chồng con mình cũng sân, cũng bản ngã; chúng ta biết đi chùa, biết tu tập nhưng cũng tham, sân, si, cũng bản ngã, huống gì những người không biết. Vì vậy, ta hãy thương mọi người đi, đừng giận làm gì: “Thôi thương đi tâm ơi!”.
Có gì đâu mà hờn mà giận,
Có gì đâu mà hận mà sân,
Tâm ơi cứ giận sân hoài,
Tâm càng sân hận thì càng khổ đau.
(Giận Làm Chi – Cửa Vào Bất Tử)
Hãy thương xót mình và thương xót mọi người, để không làm khổ mình, không làm khổ người nữa. Hãy lấy cái khổ của mình và mọi người ra, rồi đem niềm vui đặt vào đó, như vậy mới là người tu. Tu là diệt khổ nhưng tại sao ta lại làm cho mình khổ, làm cho người ở chung mình khổ, vậy là mình chưa biết tu, tâm càng sân hận thì chỉ càng nhận về khổ đau, cho nên:“Tâm ơi, hãy thương đi!”.
Tâm thương cảm giác ngọt ngào
Tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng
Tâm thương dễ chịu làm sao
Nhờ vào trí tuệ, nhờ vào từ bi
(Giận Làm Chi – Cửa Vào Bất Tử)
Tại sao mình cứ sân si, bực bội, khó chịu, hơn thua, ganh tỵ? Đối với cha mẹ, vợ chồng mà ta cũng giận hờn, bản ngã, ta đây, đúng sai, hay dở; với anh em ruột trong nhà thì ích kỷ, nhỏ mọn, tính toán, chi li, keo kiệt; với đồng nghiệp, bạn đồng tu thì so bì, hơn thua, tranh giành, tật đố… Tại sao chúng ta lại đáng thương như vậy? Thật là đáng thương với tâm bệnh tật, bệnh hoạn này.
Nhìn lại cả quãng đời đã đi qua mà soi xét lại, quán sát lại để thấy thương mình thật nhiều, tình thương tràn ngập khắp châu thân, từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, trong từng tế bào, làn da, thớ thịt, ngấm vào xương tủy…là một tình thương dào dạt sung mãn tràn ngập không thể dung chứa hết nên tuôn trào những nước mắt để chảy ra bên ngoài. Thật quá là thương mình, tội nghiệp cho chính mình khi sống trong tâm vô minh, khát ái, ngã mạn, ngu si, không biết xấu hổ này.
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
(Sám Hối Diệt Ngã – Nghi thức tu học Nikāya)
Thương mình nên thấy hổ thẹn với những tâm tham, sân, si, vô minh, dục, ái. Đó là mình thương xót, từ bi với chính mình. Từ đó cố gắng nhiếp phục, chế ngự những dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh ở trong tâm.
Sau đó nhìn ra ngoài, thấy ông bà, cha mẹ, cô bác, anh chị em, con cháu, họ cũng giống mình, cũng đáng thương như vậy nên ta trải được tình thương từ bên trong tâm này đến với mọi người. Vì nghiệp quả với tâm đầy sân hận, si mê nên họ mới làm khổ đau cho ta. Khi cảm thông được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã đó giống như việc ta hiểu được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã của chính mình. Nhờ vậy ta có sự đồng cảm và thông cảm, cảm nhận và cảm động trước nỗi khổ chung của tất cả ngũ uẩn, của tất cả hữu tình, vạn loài chúng sanh. Từ đó tâm từ bi, thương xót trong lòng sẽ trải rộng cùng khắp đến cả nhân loại, thế giới muôn loài, cho đến các dị loại là những loài thú vật, cô hồn, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục, A-tu-la và đến cả Chư thiên vẫn còn đang đau khổ trong tham, sân, si, bản ngã, họ chỉ hơn chúng ta được một chút phước lành, phước báu, nhưng vẫn còn trong luân hồi sinh tử khổ đau. Cho nên, ta trải rộng tình thương đó đến cùng khắp lục đạo luân hồi. Tình thương, lòng xót xa của mình là vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận, đó chính là tu tâm từ bi vô lượng.
Ta mong muốn tự thân mình cùng cha mẹ, anh chị em, bà con cô bác dòng họ, con cháu, cũng như tất cả những người thân thương, ngay cả những người hận thù mình, làm cho mình đau khổ... đều nhìn thấy được khổ uẩn, thấy đống khổ ngũ uẩn to lớn này. Ta mong tự thân mình và tất cả hữu tình chúng sanh nhận thấy được dục, ái, tham, sân, si, bản ngã là nguyên nhân của khổ, thấy được sự chấm dứt khổ để cùng nhau đi trên đạo lộ diệt khổ thì mới giải thoát khỏi đau khổ. Con đường đó chính là Bát Chánh Đạo, là con đường Tám Đúng, là những pháp hành vi diệu, tối thượng, cao đẹp mà ta đã được thực hành.
Ta mong những sự tu học, hành trì, thấy hiểu này sẽ được chia sẻ, lan tỏa. Mong được in kinh sách, mong những bài pháp được thuyết giảng đến tay người học. Mong muốn được lan toả Chánh pháp này đến khắp tất cả những chúng sanh đang mù lòa, điên loạn, đau khổ trong bóng đêm; đang bị lửa thiêu quằn quại trong những cảm thọ sân, si; đang bị hôn ám, ngu mê trong những cảm xúc vô minh; đang bị lún sâu xuống đầm lầy của những cảm giác dục vọng, dục ái, dục tình, dục tham. Đó cũng là tâm thương và tâm xót rộng lớn, cùng khắp, bao la, vô tận, vô biên, vô cùng, vô lượng, không có bến bờ.
Chúng ta mong muốn Chánh Pháp được trao truyền; mong muốn chư Tăng Ni, các bậc chân tu, chân chánh mở khóa tu ở khắp nơi để pháp hành này được lan tỏa rộng rãi đến với mọi người. Khi làm thiện pháp với tâm rộng lớn như vậy là chúng ta đang châm thêm dầu để ánh sáng Chánh Pháp được trường minh, trường tồn, trường cửu trong cuộc đời đầy hôn ám, si mê, vô minh, tăm tối, đầy khổ đau này. Cho nên, sự cúng dường Pháp chính là sự cúng dường tối thượng.
Tất cả những việc chúng ta cần làm là cố gắng nỗ lực, nghe, học, tu, lan tỏa đến mọi người và hướng dẫn người thân cùng tu tập. Mẹ đi tu về có sự thay đổi lớn làm cho con cảm động và cảm hóa được tâm con. Con đi tu về cũng thay đổi làm mẹ cảm nhận được, rồi cảm động và cuối cùng cũng cảm hóa được tâm mẹ, nhờ vậy mẹ con cùng tu. Vợ chồng với nhau cũng vậy, hãy khích lệ nhau tu tập, nỗ lực, tiến lên trong Chánh Pháp. Đó là Phật pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Tuyệt vời là như vậy, tình thương là như vậy, từ bi là như vậy, thương xót cho nhau là như vậy!
----
Tiếp theo là phát khởi lên tâm hỷ, tâm vui mừng. Nhờ biết tu tập mà giờ đây mình từ bỏ được sát sanh, lúc còn ăn mặn đã sát hại thẳng tay biết bao nhiêu loài sinh vật, giờ đã từ bỏ điều này thì vui biết bao nhiêu. Nếu chưa được trọn vẹn thì cứ tập dần dần cho đến ngày ăn chay trường, phát khởi lên lòng thương đối với chúng sanh muôn loài. Hơn thế nữa, mình còn từ bỏ được việc trộm cắp, tà dâm, nói dối, lừa gạt người, nói lời hung dữ, nói lời phù phiếm, nói lời gây chia rẽ, ly gián, vui biết bao nhiêu!
Ta vui vì giờ đây ta biết giữ giới hạnh, nghe pháp, tu hành, thực tập tâm hiền, trở thành người sống biết ơn, nhớ ơn. Vui vì ta biết sống hòa đồng, vui vì ta có đức cung kính. Vui vì ta biết nhiếp phục, chế ngự lòng dục, lòng tham. Vui vì ta biết bẻ gãy bản ngã, cao ngạo, vênh váo. Vui vì ta biết sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Thật là vui sướng, hạnh phúc, hoan hỷ!
Ngồi nghe Pháp như là được ở trên mây, ngồi thiền an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, được nghe tác ý để triển khai thiền quán trong những giọt lệ tuôn chảy dâng trào ngọt ngào. Đó là những giọt lệ của giác ngộ, của hạnh phúc, của sự thẩm thấu vào Thánh trí tuệ tuyệt diệu, tối diệu, thần diệu, vi diệu, thắng diệu, thù diệu của giáo pháp ly tham tối thượng này. Thật là sung sướng hạnh phúc, hoan hy, như hoa sen nở trong lòng. Tâm rực sáng như ánh mặt trời, lòng phơi phới trong sự hạnh phúc, hoan hỷ.
Hơn tám tỷ người trên hành tinh này, có bao nhiêu người được học trong dòng Thánh pháp Nikāya này, bao nhiêu người được nghe, bao nhiêu người được hiểu, bao nhiêu người được hành, bao nhiêu người được trải nghiệm, cảm nhận những thành quả, thành tích, thành công. Chúng ta đang được, tuy rằng chưa đạt được nhiều nhưng chúng ta đang được hạnh phúc, hân hoan, hoan hỷ với những điều chúng ta đã được học, được nghe, được hiểu, được tu, được hành; những thành quả nho nhỏ cũng đủ làm sung sướng hạnh phúc, phấn khởi, hân hoan, hỷ lạc.
Chúng ta cho hỷ lạc này tràn ngập khắp châu thân, từ đảnh tóc đến gót chân, từng làn da, thớ thịt, từng lỗ chân lông, từ tế bào, ngấm vào trong xương, trong tủy, trong não, sung sướng hân hoan, hạnh phúc, hỷ lạc. Lúc nào cũng vui trong Chánh Pháp, chỉ cần tác ý là sanh khởi tâm hoan hỷ. Giống như chạy xe, chỉ cần bấm nút đề là máy khởi động sẵn sàng chạy. Cũng vậy, ta khởi động, tác ý: “Vui quá, hạnh phúc quá, mình được tu học lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh Nikāya, Thánh Trí Ngũ Uẩn tối thượng”, nhờ vậy sanh khởi hỷ lạc, hạnh phúc, hân hoan, tuyệt vời, tuyệt diệu, thù thắng, hy hữu, hiếm có khó gặp, vi diệu, thần diệu, tối diệu, thắng diệu, thù diệu.
Còn ai trên được đời này được hạnh phúc bằng chúng ta khi gặp được Thánh pháp chân truyền hơn 2500 năm. Chúng ta đang được nghe, học, hiểu, tu, hành và đang nếm trải hương vị, thành quả, thành tích, thành công. Sung sướng làm sao, hỷ lạc làm sao, hạnh phúc làm sao, hân hoan làm sao, tuyệt diệu làm sao! Mình mong muốn đem niềm hỷ lạc này chia cho con, cho chồng, cho cha mẹ và hướng dẫn họ từ từ tu học. Chúng ta cũng lan tỏa niềm hỷ lạc này đến mọi nơi, mong cho tất cả mọi người, nhân loại, chúng sinh, vạn loài, tất cả đều được niềm hỷ lạc, hân hoan này. Như vậy gọi là hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, là đền ơn, đáp nghĩa, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Với việc học, tu, hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, cúng dường Chánh pháp bằng tâm rộng lớn vô lượng vô biên thì công đức cũng tương xứng vô lượng, vô biên như vậy. Chúng ta cúng dường Pháp, cúng dường ánh sáng trí tuệ, cúng dường sự thật, cúng dường Thánh đạo, cúng dường Thánh trí hướng đến Thánh quả, đó là ý nghĩa trong sự tu học.
Chúng ta siêng năng tu tập, làm mọi việc lành, hy sinh, dấn thân, phụng sự nhưng phải hoan hỷ. Không nên làm mà mặt cau có khó chịu, hoặc làm nhiều rồi cho rằng mình giỏi, mình có công, như vậy là không biết tu, là thất bại thảm hại trong bản ngã và chấp thủ. Thay vào đó, trong mọi việc, ta phải tập tâm hỷ xả, làm xong rồi cho qua, làm trong sự vui vẻ, hoan hỷ, cam tâm tình nguyện. Vì không ai bắt mình tu, cũng không ai bắt mình làm, tất cả là mình tự phát nguyện, vậy sao mình làm rồi lại sân si để làm gì?! Làm rồi khoe công, kể công để làm gì?! Cho nên, đối với những thiện pháp, ta nên làm với một tâm vui vẻ, hoan hỷ; nếu không hoan hỷ thì không nên làm, cũng không ai bắt ta phải làm cả. Khi đi phát quà giúp đỡ người khó khăn, dù có mệt mỏi, có khát nước nhưng lúc trao món quà hãy cười lên thật tươi với tâm vui vẻ, hoan hỷ. Trong khi tu tập, cảm thọ thấy buồn chán, mệt mỏi thì tác ý “buồn cái gì mà buồn, tu vui chứ buồn cái gì, ở ngoài không biết tu mới là buồn, tham, sân, si mới buồn. Mình bây giờ đang từ, bi, hỷ, xả thì tại sao buồn, hãy vui lên!
Sau đó tâm buông xả tất cả, nhẹ nhàng, tâm rộng lớn, độ lượng, bao dung, vô lượng vô biên.
---
Xả vô lượng tâm là tâm buông bỏ, làm được mọi việc nhưng không chấp, không nắm giữ việc đó. Vì nếu nắm giữ sẽ dừng chân tại chỗ, không tiến lên được nữa. Cũng như việc phải đi qua bậc thang của tầng thứ nhất thì mới bước lên được bậc thang của tầng thứ hai. Lên được bậc thang của tầng thứ hai mà đứng luôn ở đó thì không thể lên được tầng thứ ba. Chỉ khi buông tầng thứ hai thì mình mới lên được tầng thứ ba… Cứ như vậy mà buông cho đến khi nào không còn tầng nào để mà buông nữa thì chúng ta thể nhập được vào tâm thanh tịnh, cứu cánh cùng cực, xả vô lượng tâm.
Khi tu thì tu hết mình nhưng đừng có đi đâu cũng khoe tôi biết tu còn người khác không biết tu, khen mình chê người, có suy nghĩ như vậy là có nhân ngã, sẽ dẫn đến phiền não. Ví dụ, trong khi đại chúng đang im lặng tu học mà có một người nói chuyện, gây ra tiếng động là lập tức mình hướng ánh mắt khó chịu, không thiện cảm về phía người ấy, như vậy là mình có tu mà không có xả. Ta cần biết thương người, thương tập khí mà họ chưa nhiếp phục được, hoặc vì họ mới đến chùa, chưa hiểu hết về thanh quy đạo tràng, vì vậy bằng tâm thương, ta từ từ chia sẻ, hướng dẫn cho các vị mới. Cho nên, không phải mình giữ được giới mà thấy người không giữ giới được thì mình khinh khi, mình tu tâm từ mà thấy người khác sân hận thì mình xem thường họ, như vậy là không nên. Thay vào đó, ta hãy tu học và làm việc trong tâm thái nhẹ nhàng, buông xả, thương xót, cảm thông, tha thứ.
Sâu sắc hơn, xả bỏ thân kiến là cái xả bỏ quan trọng nhất trong sự nghiệp tu tập. Vì khi xả bỏ cái nhìn sai lầm về thân, xả bỏ tham, sân, si, xả bỏ tâm kiêu mạn của chính mình được thì sau đó mới có thể giúp cho người khác xả bỏ giống như mình đã xả bỏ. Tâm buông xả này sẽ giúp ta được nhẹ và khỏe vô cùng. Ví dụ, quý vị một mình vác ba lô nặng 50 ký trên lưng, hai tay xách thêm hai cái vali rồi leo lên núi, quý vị không thể đi được vì quá nặng nề nhưng nếu quý vị đặt xuống, không đeo không mang nữa thì quý vị sẽ khỏe hơn rất nhiều. Hơn nữa, nếu trong vali, balo đó chứa đựng toàn những chất độc, gai độc, bất thiện thì ta càng nên vứt bỏ, không có gì để tiếc nuối. Những thứ làm cho mình vô minh, say mê, tham đắm, sân, si, thì giữ để làm gì, buông bỏ càng nhẹ thì càng được lên cao, được bay xa. Mỗi lần buông là mỗi lần đi lên, khi buông hết rồi thì tự động bay lên cao.
Hơn thế nữa, buông bỏ là để đi đến mục tiêu cuối cùng, đó là sự giải thoát; không phải tu là để ta đây, để hơn thua, vỗ ngực xưng tên với đời rằng “ta tu đúng Chánh pháp, các người không tu đúng Chánh pháp”…Tu mà còn chấp, còn nắm giữ như vậy là còn tai họa, phiền não, sân si; khi còn phiền não, còn sân si là còn khổ đau không có ngày chấm dứt.
Vì vậy, khi đã có được con đường đúng đắn để đi thì ta hãy cố gắng thực hành để đạt được thành quả. Còn chuyện của người khác là tùy duyên, có duyên thì tốt, chưa có duyên thì tạo duyên. Một khi đã không có duyên, dù có cố tình đưa đến, có dúi vào trong tay nhưng họ không nắm lấy thì cũng không thể làm gì được. Cho nên, chúng ta chỉ gieo duyên, tạo duyên còn lại là tùy duyên ở người. Đối với tự thân, chúng ta cố gắng nỗ lực để đi đến cuối con đường mình đang hướng đến, buông xả tâm để càng ngày càng nhẹ, càng trống, càng khỏe, càng an lạc, thảnh thơi.
Lời Kết
Chư vị Hiền trí thân mến! Tóm lại tổng quát pháp hành Nikāya chính là Tâm Hiền Trí. Trong đó, tâm Hiền là một nội tâm hiền lành, hiền thiện, sống biết ơn, nhớ ơn, có nghĩa có tình, hòa hợp, quý kính, cung kính lẫn nhau. Cùng với tâm biết thương mình, thương người, cảm thông, thấu hiểu, xót xa, đầy lòng trắc ẩn đối với nỗi khổ, niềm đau của chính mình và người khác. Nhờ vậy ta luôn sống trong tâm đầy niềm cảm thông, tha thứ cho nhau. Tâm hoan hỷ tu tập nhưng vẫn trú trong trạng thái buông xả nhẹ nhàng, không dính mắc, chấp thủ. Luôn an trú trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào. Đó là chất liệu của tâm hiền, là những phương diện căn bản, những khía cạnh cần phải có của một Hiền giả, một bậc Hiền, một người Hiền trí trong Thánh Pháp cao đẹp.
Về phần Trí là cần nhìn ra được Ngũ Uẩn để nhiếp phục được những dục, tham, ái; đánh gục được bản ngã. Vì chính lòng khao khát, thúc giục, thèm muốn này đã sai khiến, sai xử tất cả chúng sanh làm nô lệ cho tham ái, làm nô bộc cho tham dục. Nhờ sự tu tập nhận diện theo Trí Ngũ Uẩn, ta sẽ phát giác, phát hiện và nhìn ra được nguyên nhân thật sự sâu xa bên trong của đau khổ như Đức Thế Tôn đã nói: “Tất cả đau khổ trong quá khứ của chúng sanh đều xuất phát từ gốc rễ của tham dục. Tất cả đau khổ trong hiện tại của chúng sanh căn bản đều từ tham dục. Và tất cả nỗi khổ niềm đau của hữu tình vạn loài trong tương lai đều phát xuất từ tham dục” (Tương Ưng Bộ Kinh IV, bài kinh Bhadra). Cho nên bậc trí là người nhìn thấy được những dục, tham, ái này chính là nguyên nhân của đau khổ, từ đó đi đến nhiếp phục, chế ngự và diệt tận chúng.
Tiếp theo là nhìn thấy được sự chấp thủ của tâm hôn mê, tâm mù lòa đã nắm chắc, giữ chặt, bám sâu vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, cho rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, để rồi khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, hơn thua, giành giật, đấu đá, xâu xé, khẩu tranh, cạnh tranh, chiến tranh, gây ra nhiều đau khổ. Ta dùng Thánh Trí Vô Ngã đánh gục, nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bản ngã này với những phương pháp cúi đầu, chắp tay, quỳ lạy, năm vóc sát đất. Sự diệt tận bản ngã này sẽ đem lại cho các hành giả, các bậc Hiền trí một nội tâm nhún nhường, khiêm hạ, khiêm cung, khiêm tốn; một nội tâm ngọt ngào, dễ thương, dễ mến; một nội tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Từ đó nghiêng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nhập vào Niết-bàn, hướng đến diệt tận toàn toàn sự chấp thủ đối với năm uẩn bằng một nội tâm an tịnh, lắng dịu, thấu suốt bản chất trống rỗng, trống không, vô thường, duyên sanh, vô ngã của thân tâm này, của ngũ uẩn này, của đời sống này và của thế giới này.
Một người tu đầy đủ hai chất liệu Hiền và Trí chính là có được điều kiện tiên quyết để thể nhập vào dòng Thánh Pháp, tiến vào Dự lưu Thánh quả, từng bước thâm nhập, thể nhập, chứng nhập và chứng đạt những trí tuệ thâm sâu, thần diệu của Thượng Nhân Pháp về sau!
Chúng con mong rằng với Pháp bảo này, Chư vị Hiền trí sẽ thấy được đạo lộ tu tập minh bạch, tỏ tường, từ đó hành trì bằng tất cả trái tim để thành tựu những đức hạnh cao đẹp mà Đức Thế Tôn để lại. Kính chúc quý Tăng Ni và các bậc Hiền trí có một đời sống bình an, hạnh phúc, an lạc trong khu vườn giới hạnh ngọt ngào, tỏa ngát hương thơm.
./.