Tương Ưng Thôn Trưởng - Kịch Sư - Chiến Đấu Sư - 3 Thửa Ruộng & 3 Loại Bình
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tương Ưng Thôn Trưởng
Kịch Sư - Chiến Đấu Sư
3 Thửa Ruộng & 3 Loại Bình
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu hỏi của vị kịch sư PAGEREF _Toc139895286 \h 1
II. Câu hỏi của chiến đấu sư PAGEREF _Toc139895287 \h 5
III. Ân Đức Tam Bảo PAGEREF _Toc139895288 \h 7
I. Câu hỏi của vị kịch sư
Hôm nay chúng ta nghe về Tương Ưng Thôn Trưởng, chương VIII, bài kinh "Tàn bạo" chúng ta đã nghe rồi nên không lặp lại, Đức Phật giải thích chữ hiền và dữ. Bây giờ chúng ta bước qua bài tiếp theo là "Puta" nói về vũ kịch sư, Tương Ưng này rất thú vị, giống như tái hiện lại Đức Thế Tôn và các vị cư sĩ nhiều giới, từ nghệ sĩ, võ sĩ, từ những người trưởng thôn có địa vị trong xã hội sẽ đến thăm viếng và thưa hỏi, được bậc Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải, đại đạo sư khai mở trí tuệ cho các vị này. Chúng ta nghe rồi sẽ thấy như mình lùi lại 26 thế kỉ trước, chứng kiến đời sống sinh hoạt của Đức Thế Tôn, các bậc Thánh chúng cũng như con người thời đó.
"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: 'Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Vũ là múa hát, vũ điệu, kịch là vở tuồng. Đạo sư, tổ sư trong đoạn kinh trên là tổ nghề, tức là các vị tổ trong nghề vũ kịch, trong các nghề đều có các vị tổ như tổ thợ mộc, tổ thợ may, tổ sân khấu, tổ thợ hồ. Nhà vũ kịch sư Talaputa nói với Thế Tôn rằng ông nghe những vị tổ trong nghề của ông nói rằng nhà vũ kịch trên sân khấu có những điệu bộ hài hước, làm mọi người thích thú thì những người này sau khi chết đi sẽ được sống chung với chư thiên hay cười. Vị vũ kịch sư này hỏi Thế Tôn thấy việc này như thế nào?
"-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: 'Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Lần thứ hai nhà vũ kịch sư Talaputa lặp lại câu hỏi nhưng Thế Tôn vẫn từ chối không trả lời, qua đây chúng ta học được sự định tuệ của Thế Tôn, không phải cái nào ngài cũng nói thậm chí là người ta tha thiết hỏi, ngài biết nhưng phải xem có đúng người không, đúng chỗ không, đúng việc không thì ngài mới trả lời.
"Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: 'Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: 'Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.
Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.
Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: 'Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười'. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Talaputa rất tha thiết được nghe Thế Tôn nói nên mới hỏi lại ba lần như vậy, Thế Tôn nói người nào có những cái nhìn nhận sai lầm tà kiến là nếu chọc cho người ta cười thì sau khi chết đi người đó được sanh ra trong cõi trời sống chung với chư thiên hay cười thì người này chỉ có hai chỗ để đi, chính là địa ngục và súc sanh.
"Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.
-- Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: 'Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'.
-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: 'Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười'" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Oai đức, oai lực của Như Lai khi nói ra làm cho nhà vũ kịch tuôn trào nước mắt, khóc phát ra tiếng. Chính vì điều này mà Như Lai không muốn nói ra nhưng nhà vũ kịch nói ngài khóc không phải vì Thế Tôn nói ra mà khóc vì bị các vị tổ nghề lừa dối, dối trá, dẫn dắt ông lầm lạc. Ngài khóc vì ngài bị lừa gạt lâu ngày mà ngài không hay biết.
"Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!
Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa... trở thành một vị A-la-hán nữa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Lời kinh trong Nikāya nhất quán xuyên suốt từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, ai nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si thì đó là thiện pháp, sẽ được đi lên các cảnh giới cao thiện lành, thậm chí đoạn tận sanh tử khổ đau, còn người để cho tham, sân, si buông thả, buông lung phóng dật thì người đó sẽ rơi vào ba đường ác. Đây là chuẩn mực để chúng ta học và tu.
Nếu những người diễn tuồng đó tập trung vào những pháp hấp dẫn, khiến cho lòng tham lớn mạnh, khi chúng ta xem những phim tình cảm hoặc những cuộc đấu đá, đánh nhau, đá banh, quyền anh thì mình có muốn bên nào thắng, bên nào thua? Có tâm hơn thua trong đó không?
Nếu mình còn thích, còn ưa những cái đó là tâm mình còn tham, sân, si, còn hơn thua, mình thấy hai người đánh nhau hoặc phim tình cảm yêu đương với nhau thì đó là tham với sân, trong đó có si. Nếu đạo diễn hoặc những người diễn kịch đó tập trung những pháp liên hệ đến lòng thù hận làm cho sự tức giận của người xem càng tăng trưởng lớn mạnh, hoặc có những phim dạy cho mình tâm sân hận, hận thù, những phim hành động hở chút là đâm, là chém nhau, hở chút là bắn giết nhau, ngoài ra còn những trò game, khi tiếp xúc sẽ sanh ra thọ, nó huân tập những cái thấy, cái nghe, cảm giác đó.
Ngày nay có nhiều tệ nạn xã hội, nhiều trẻ vị thành niên đi cướp của giết người, hãm hiếp, đốt nhà, đó là do huân tập từ cái thấy, cái nghe đó. Bây giờ những tác phẩm để khuyến thiện, hướng thiện rất hiếm hoi ít ỏi cho nên những đạo diễn, những người đóng tuồng tập trung vào những sự liên hệ đến thù hận, sân giận sẽ làm cho người xem, người nghe đắm say trong đó.
Ngày xưa ở nhà khi các cô xem phim, đến người vai ác xuất hiện là các cô mong cho người này chết đi, đó là sanh khởi lên tâm sân hận, tăng trưởng ác tâm. Khi đến cảnh tình cảm ướt át thì mình đắm đuối trong đó, tham ái, tham dục trong đó, đối với si cũng vậy cho nên mình lấy chuẩn tham, sân, si để tu học và làm việc, nếu làm mà sanh khởi ra lòng tham, lòng sân, lòng si, bản ngã trong đó thì đừng lại, dừng lại hết để tu hoặc giảm bớt công việc lại vì làm như vậy là sai trật.
Mình lấy cái chuẩn nhiếp phục tham, sân, si, đoạn tận tham, sân, si, diệt tận tham, sân, si để mình hành đạo, học hành, tu và làm việc. Nếu mình tu mà các pháp đó nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận thì mình tu, nếu mình học để cho các pháp đó lắng dịu thì mình học, còn nếu mình học, mình tu, mình làm mà các pháp đó tăng trưởng, tăng thêm thì phải dừng lại hoặc bỏ ngay. Sau khi nghe Thế Tôn nói thì vị vũ kịch sư này khóc do bị các ông tổ nghề lừa gạt, tiếp theo ông xin Thế Tôn cho xuất gia bằng cả tấm lòng chân thành, chân chánh đoạn tận tham, sân, si nên cuối cùng thành tựu giới, định, tuệ, chứng nhập Thánh quả A-la-hán, đó là thôn trưởng vũ kịch sư Talaputa. Sau đây là đến chiến đấu sư.
II. Câu hỏi của chiến đấu sư
"Rồi chiến đấu sư Yodhàjivo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: 'Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, III. Yodhàjivo (Kẻ chiến đấu))
Con nghe các vị thầy xưa, các vị tổ xưa nói về những người chiến đấu mà hăng say, tinh tấn nhưng bị người khác đánh bại thì sau khi chết sẽ được sanh trên trời làm chư thiên.
"-- Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Lần thứ hai...
Lần thứ ba, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: 'Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: 'Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời.
Này Chiến đấu sư, đối với chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau: 'Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!', hay: 'Mong họ chớ có tồn tại!' Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy, nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục tên là Saràjità. Nếu người ấy có tà kiến như sau: 'Vị chiến đấu viên nào giữa chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến này, này Chiến đấu sư, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh'.
Khi được nói vậy, vị chiến đấu sư phát khóc, rơi nước mắt.
-- Chính vì vậy, này Chiến đấu sư, Ta không chấp nhận và nói: 'Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'.
-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư, các chiến đấu viên thuở trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn con lầm lạc, nói rằng: 'Ai là người chiến đấu viên giữa các chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... Từ nay cho đến mệnh chung con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, III. Yodhàjivo (Kẻ chiến đấu))
Có rất nhiều người huấn luyện voi, huấn luyện ngựa đi đến hỏi Đức Phật, chúng ta vẫn lấy thước đo của tham, sân, si làm chuẩn mực. Hai người đang tức giận với nhau mà người ở ngoài còn nói thêm vào, đổ dầu vô lửa, đâm bị thóc chọc bị gạo, qua bên đây nói vầy, qua bên kia lại nói khác, với ác tâm muốn chia rẻ, muốn làm cho người ta chia ly, đổ vỡ, đó là từ ác khẩu đã khổ biết bao nhiêu rồi. Ngày xưa cũng có nhiều vị tướng quân rất đức độ, những vị vua rất hiền thiện, không phải vị nào cũng tàn sát mà có nhiều người rất nhân đức nhưng lại rất ít ỏi, nếu học theo lời Đức Phật dạy thì thế giới không có chiến tranh, thiên hạ thái bình, quốc thái dân an, mưa hòa gió thuận. Tuy nhiên với lòng tham, lòng sân, tâm tham lam, ích kỷ của con người, tâm sân hận của con người mới đem quân đi đánh, đi cướp của người khác rồi làm cho khổ đau, làm cho tang tóc, làm cho nước mắt, máu đổ đầu rơi. Còn nếu học như vầy thì làm gì có chiến tranh, không có chiến tranh thì hòa bình, thiên hạ thái bình cho nên với những tâm mà Đức Phật gọi là ác ý, ác nguyện, "Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!, hay mong họ chớ có tồn tại!", với ác tâm đó dẫn người đó đi vào ác đạo. Với ác tâm, ác ngữ, ác hạnh thì đi vào trong ác đạo, đó là sự tương ứng của nhân quả, rất rõ ràng, minh bạch, thực tế.
III. Ân Đức Tam Bảo
Nếu đất nước nào cũng chăm lo cho dân bằng tấm lòng nhân đức, thương dân như con, ai cũng lo giữ gìn, giúp đỡ người nghèo khổ, đói khát, tạo điều kiện cho những người thất nghiệp có việc làm, ai cũng bằng lòng với lãnh thổ của mình, giáo hóa dân mình bằng sự hiền đức, niệm pháp thì thế gian này bình an biết bao nhiêu. Vì thế chỉ có học giáo pháp của Đức Phật, nhiếp phục tham, sân, si, tu tập từ, bi, hỷ, xả mới thay đổi được thế giới, thay đổi được suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ của con người, thay đổi được những phong tục, hoàn cảnh, thay đổi được xã hội, đất nước.
"Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân tộc Kosala cùng với đại chúng Tỳ-kheo và đi đến Nàlandà. Tại đây, Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvarikamba.
Lúc bấy giờ, Nàlandà đang bị đói kém, khó để lo miệng sống (dviihitikà), xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ (sàlàkàvuttà)" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Người ta đói chỉ còn da bọc xương, lúa chỉ còn là những cọng rạ không có hạt lúa, tức là bị mất mùa nên đói kém. Vị thôn trưởng này là đệ tử của một vị ngoại đạo lõa thể, Nigantha là những người theo đạo lõa thể không mặc quần áo.
"Lúc bấy giờ Nigantha Nàtaputta sống ở Nàlandà với đại chúng Nigantha.
Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của Nigantha Nàtaputta, đi đến Nigantha Nàtaputta; sau khi đến đảnh lễ Nigantha Nàtaputta rồi ngồi xuống một bên.
Nigantha Nàtaputtta nói với thôn trưởng Asibandhakaputta đang ngồi một bên:
-- Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến cật vấn Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được lan khắp về Ông: 'Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị thôn trưởng Asibandhakaputta cật vấn!'
-- Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể cật vấn Sa-môn Gotama, một vị có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Vị Ni-kiền-tử kêu ông thôn trưởng đi đến cật vấn Sa-môn Gotama để được nổi tiếng.
"-- Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến Sa-môn Gotama; sau khi đến, nói với Sa-môn Gotama như sau:
'-- Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán bảo vệ các gia đình, tán thán từ mẫn với các gia đình'?
Này Thôn trưởng, được hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như sau:
'-- Ðúng như vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn'.
Thời ông hỏi Sa-môn Gotama:
'-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỳ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành sự bất hạnh cho các gia đình, thực hành sự tổn hại cho các gia đình'" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Vị Ni-kiền-tử đó dạy cho thôn trưởng hỏi Thế Tôn nếu Thế Tôn thương mến các gia đình thì tại sao lại đến đây xin ăn trong khi ở đây đang đói kém, mất mùa. Ngài nói ngài thương, ngài từ mẫn trong khi người ta đói đến trơ xương ra mà ngài lại đến đây xin ăn nữa thì đó là ngài làm cho các gia đình này bất hạnh thêm nữa.
"Như vậy, này Thôn trưởng, bị ông hỏi với câu hỏi có hai đầu nhọn, Sa-môn Gotama không có thể nhổ ra, cũng như không có thể nuốt xuống" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Đầu tiên vị thôn trưởng đi đến Sa-môn Gotama hỏi rằng có phải ngài thương mến các gia đình không, nếu Sa-môn Gotama nói phải thì hỏi tiếp, nếu thương mến thì tại sao ở đây đang mất mùa, đói trơ xương mà lại đến đây đi khất thực, như vậy là đang làm tổn hại cho các gia đình, tàn phá các gia đình. Câu hỏi này có hai đầu nhọn làm Sa-môn Gotama không thể nhổ ra cũng không thể nuốt xuống, giống như gọng kiềm, nói như thế nào cũng bị kẹp chặt.
"-- Thưa vâng, Tôn giả.
Thôn trưởng Asibandhakaputta vâng đáp Nigantha Nàtaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigantha Nàtaputta, thân phía hữu hướng về người rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thôn trưởng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
-- Có phải, bạch Thế Tôn, Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn?
-- Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn.
-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỳ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình.
- Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ chín mươi mốt kiếp về trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của nhiều, tài sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tất cả tài sản ấy được thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch một cách chân thật, được thâu hoạch một cách tự chế.
Này Thôn trưởng, có tám nhân, có tám duyên làm tổn hại các gia đình. Do quốc vương, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do trộm cướp, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do lửa, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do nước, các gia đình đi đến tổn hại. Hay họ tìm không được tiền của dấu cất. Hay do biếng nhác, họ bỏ bê công việc. Hay trong gia đình khởi lên kẻ phá hoại gia đình, người ấy phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati vidhamati viddhamseti). Và vô thường là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám nhân, tám duyên này làm tổn hại các gia đình.
Này Thôn trưởng, vì rằng tám nhân này, tám duyên này có mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: 'Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn (yathàhatam) người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như vậy.
Khi được nói vậy, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Đức Phật trả lời 91 kiếp về trước ngài không hề biết làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường vì những gia đình rất giàu có, tài sản nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tức là ngài đi đến đâu mà nhận sự cúng dường thì những người bố thí cho ngài dù chỉ một bữa cơm sẽ rất giàu có, nhiều tiền của, tài sản, vàng bạc, rất nhiều vật dụng, ngũ cốc.
Ngài đi đến đâu là đem phúc lạc đến cho những người đó, đem lại lợi ích cho những người đó, vì lợi ích cho chúng sanh, vì thương tưởng cho chúng sanh, vì lợi ích cho chư thiên và loài người. Vì thế con mắt phàm phu của thế gian nhìn làm sao đúng? Những tài sản của những người cúng dường có được là có một cách chân thật, một cách tự chế, nghĩa là tự kiềm chế chính mình không tham lam, không phung phí, biết bảo hộ, giữ gìn tài sản mình có được cũng như cái phước của mình, mình tu mà không biết tiếc phước, tích phước, không biết tự chế tổn phước thì tu một thời gian là không tu được nữa, bệnh ít thành bệnh nhiều, bệnh nhiều thành bệnh nặng, chướng ngại ít thành nhiều, chướng ngại nhiều thành đại chướng ngại làm không tu được nữa.
Có khi mình hướng dẫn Phật tử bố thí nhưng bản thân mình lại không bố thí, gần nhất là trong huynh đệ, tỉ muội, kế đó là các Phật tử đến chùa, xa hơn là mình có duyên với những người nghèo khổ. Đức Phật nói tám nguyên nhân làm cho các gia đình đi đến tổn hại, đó là vua, trộm cướp, hỏa hoạn, nước, có những căn nhà ở miền tây bị sạt lở sụp đổ hết căn nhà, biết bao năm tích lũy, dành dụm để xây nhà mà giờ đành nhìn căn nhà trôi xuống sông.
Chiến tranh có hàng trăm ngàn người chết, nhà tan cửa nát cho nên bài kinh chiến đấu sư nói rằng tâm ác độc muốn hại người, muốn giết người, muốn tàn phá người thì tâm đó sẽ đi vào địa ngục, súc sanh. Có khi chập điện hỏa hoạn chết cả nhà, chết tức tưởi, chết trong kinh hoàng, hoảng loạn hoặc là chết trong sự vô tri không biết gì hết, đang nằm ngủ bị ngạt thở chết luôn, mưa đá cũng gây chết người, lũ lụt, sóng thần, chạy xe té sông cũng chết. Lý do tiếp theo làm tổn hại các gia đình là không tìm được tiền của cất giấu, biếng nhác, bỏ bê công việc, trong gia đình có kẻ phá của, phá gia chi tử, cuối cùng là vô thường. Khi vô thường đến là kết thúc mọi thứ, tám nhân tám duyên này sẽ tàn phá gia đình, người nào cho rằng Đức Phật thực hành tàn phá các gia đình, làm bất hạnh các gia đình, làm tổn hại các gia đình, nếu người nào không bỏ lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy thì chắc chắn sẽ đi vào địa ngục, vị Ni-kiền-tử đó nếu không từ bỏ những quan điểm này thì chắc chắn sẽ đi vào địa ngục.
"Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?
-- Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
-- Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Có phải Thế Tôn sống thương tưởng đối với tất cả chúng sanh không, vì muốn cho tất cả chúng sanh hạnh phúc không. Thế Tôn trả lời phải, sau đó vị thôn trưởng này hỏi tiếp, nếu Thế Tôn sống như vậy thì tại sao với một số người Thế Tôn thuyết pháp đầy đủ, trọn vẹn, sâu sắc nhưng có một số người ngài lại không thuyết pháp đầy đủ, trọn vẹn như vậy. Thế thì có bình đẳng không?
"-- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?
-- Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.
-- Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-Ni đó là thửa ruộng tốt của Như Lai, các vị khoác tấm y trên người, đối với những vị đó ta thuyết pháp hoàn thiện ở chặng đầu, hoàn thiện ở chặng giữa, hoàn thiện ở chặng cuối, có văn chương, có nghĩa lý thâm sâu. Người xuất gia lấy Đức Phật làm ngọn đèn, lấy Đức Phật làm hang trú ẩn, lấy Đức Phật làm chỗ che chở, lấy Đức Phật làm chỗ nương tựa, cả một đời của người xuất gia là trọn trái tim, tất cả tấm lòng, cả sinh mạng này nương về với Đức Phật. Đức Phật đối với chúng ta được xem là ngọn đèn, được xem là hang trú ẩn, được xem là chỗ che chở, được xem là nơi nương tựa. Đó là thửa ruộng tốt của ngài, ngài sẽ gieo những hạt giống đầy đủ.
"Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Các nam nữ cư sĩ được ví như thửa ruộng loại trung, các nam cư sĩ, nữ cư sĩ lấy Đức Phật làm ngọn đèn, lấy Đức Phật làm hang trú ẩn, lấy Đức Phật làm chỗ che chở và lấy Đức Phật làm nơi nương tựa.
"Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Ruộng thì xấu lại còn có muối, có chất độc trong đó, chất độc là những âm mưu muốn hãm hại Đức Phật và các vị Tỳ-kheo, giống như một vị Ni-kiền-tử xúi giục đệ tử mình đi đến cật vấn Đức Phật như hai mũi kẹp chặt nhưng rồi vị đệ tử kia cuối cùng lại trở thành đệ tử Đức Phật. Nếu mình tu mà không khéo cũng có khả năng trở thành thửa ruộng xấu, đầy muối và chất độc vì không nghe lời Đức Phật, không đi theo Thánh đạo của Đức Phật.
Những ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ nào dù chỉ hiểu được một câu thôi cũng được an lạc, hạnh phúc dài lâu. Hôm trước Đức Phật nói những người nào dù chỉ tin tưởng ngài, hướng đến ngài thì tất cả cũng đều hướng đến thiên giới.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Còn ở đây dù chỉ hiểu được một câu của Thế Tôn nói thôi thì cũng được an lạc dài lâu. Chúng ta đã thấy được phước báo, lợi lạc, lợi đắc của mình trong sự tu học này không? Chúng ta phải siêng năng học, siêng năng thực hành, tác ý, quán chiếu, phải có mặt đầy đủ trong tất cả các buổi học, trong các thời khóa tu. Khóa tu sắp tới phải có mặt đầy đủ, chúng ta đã ăn tết mấy chục năm trong tham, sân, si rồi, bây giờ là tết viễn ly, tết ly tham, chúng ta nếm hương vị mùa xuân trên đỉnh linh sơn, trên non thiêng thánh pháp.
Quý vị chỉ cần ngồi một chỗ có con đọc cho từng câu để nghe rồi nhắc tới nhắc lui, nhắc đi nhắc lại, nhấn nhá để thấm thía. Mình có thấy phước báo của mình không? Tương Ưng Bộ kinh là cốt tủy của tất cả các kinh, là thâm sâu vi diệu nhất mà ngài Ấn Thuận đạo sư bên Đài Loan đã nói đây là "vô biên thậm thâm pháp nghĩa". Cả cuộc đời ngài Ấn Thuận nghiên cứu về kinh điển cả hai hệ thống, cuối cùng ngài kết luận lại Tương Ưng Bộ kinh là vô biên thậm thâm pháp nghĩa, là chỗ thâm sâu nhất của tất cả Phật pháp, tóm thâu hết tất cả tinh túy cốt lõi.
Hằng ngày chúng ta đều trở về Bồ-đề đạo tràng, mỗi sáng chúng ta đều trở về Trúc Lâm Tinh Xá, được trở về Kỳ Viên pháp hội, sáng nào chúng ta cũng lắng nghe sự đối thoại của Đức Thế Tôn. Chúng ta phải tác ý như vậy, quán chiếu như vậy, cảm nhận như vậy, chỉ cần hiểu một câu của Thế Tôn dạy thôi nhưng phải hiểu cho thấm thía, hiểu cho tột cùng, hiểu cho trọn vẹn thì lợi ích biết bao nhiêu, hạnh phúc biết bao nhiêu, an lạc dài lâu biết bao nhiêu, cho nên dù có mệt mỏi, có bệnh trong người nhưng khi lên chia sẻ pháp xong là hết bệnh, mai này có chết thì quán chiếu về pháp là bất tử vì pháp này là pháp siêu việt sanh, già, bệnh, chết, chấm dứt khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Nếu bệnh mà quán chiếu về pháp thì mình sẽ không bị cái bệnh trói cột trong những cảm thọ nữa, nếu già mà quán chiếu về pháp này thì không còn bị cái già chi phối nữa, chỉ có thân già đi thôi chứ tâm không bị ảnh hưởng, sắp chết mà quán chiếu về pháp cho thâm sâu, thâm nhập trí tuệ này thì mình đi đến bất tử không chết. Mình quán chiếu, diệt tận, tẩy sạch hết thì mình ra khỏi tham, sân, si, nếu bị bản ngã đè đầu cưỡi cổ thì mình quán chiếu, sỉ nhục bản ngã, phỉ nhổ vào bản ngã rồi mình sẽ đi ra khỏi bản ngã. Vì thế chỉ cần hiểu một câu thôi là được hạnh phúc, an lạc dài lâu.
"Ví như, này Thôn trưởng, một người có ba bình nước, một bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước; một bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước; một bình nước nứt rạn, chảy nước, thấm nước. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa nước ở đâu trước, người ấy chứa bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, hay bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, hay bình nước nứt rạn, chảy nước và thấm nước?
-- Bạch Thế Tôn, người ấy muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa vào bình nước không có nứt rạn, không có chảy nước, không có thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước vào bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước hay không chứa nước vào bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước. Vì sao? Vì ít nhứt cũng có thể dùng để rửa vật dụng.
-- Ví dụ với bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, này Thôn trưởng, là các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Những bình nước nguyên vẹn rót nước vào là đựng được hết, không bị rỉ chảy. Các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-Ni cũng vậy, họ sống lấy Thế Tôn làm ngọn đèn, lấy Thế Tôn làm hang trú ẩn, lấy Thế Tôn làm chỗ che chở, lấy Thế Tôn làm nơi nương tựa.
"Ví dụ với cái bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, này Thôn trưởng, là các nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Các nam nữ cư sĩ khi đến đạo tràng tu học cũng tinh tấn nhưng khi trở về nhà lại bị thế sự, thế vật, thế tình, thế nhân nên bị rỉ chảy cái pháp, bị nứt chảy cái pháp. Đó là lý do chúng ta phải nghe pháp hằng ngày để trám những chỗ nứt chảy đó lại, những khóa tu phải có mặt để giữ nước pháp trọn vẹn trong bình tâm của mình cho nên con thường khuyến tấn chúng ta phải có mặt đầy đủ trong các khóa tu và có mặt đầy đủ trong những buổi học pháp hằng ngày.
"Ví dụ với cái bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ chỉ hiểu được một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Tại sao có sự sai biệt khi Thế Tôn giảng pháp? Có khi ngài giảng đầy đủ viên mãn, có khi ngài giảng vừa phải hay ngài giảng ít thôi, đó là vì đối tượng nghe giảng chứ không phải do tâm Phật không bình đẳng. Tâm của Phật lúc nào cũng đầy ắp tình thương, không có sự phân biệt, không có thương ghét, không phải thương người này nên nói nhiều cho họ còn người kia không thương nên nói ít, vì có nói họ cũng không hiểu, không tiếp nhận, có khi còn chống đối nên không nói được.
Ngay cả các vị xuất gia với con không phải cái gì con cũng chỉ dẫn hết được, tùy người đó tâm có thiện lành không, có sự cung kính, khát ngưỡng, có sự tôn trọng cầu pháp, tha thiết đến mức độ nào, có sự khát khao hướng thượng không, họ có muốn tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ không, thánh giải thoát, giải thoát tri kiến không, họ có chân thành bằng tất cả tấm lòng, có diệt được bản ngã không. Nếu bây giờ chỉ vừa nói một chút mà họ đã giận thì nói làm gì nữa? Chỉ mới dạy một chút đã né tránh thì còn hướng dẫn, dạy dỗ gì nữa? Đối với các vị cư sĩ về tu học cũng vậy, không phải ai con cũng nói, có những người con biết hết nhưng con không nói tới nhiều vì con thấy chưa đến đúng lúc, để tâm họ thuần một chút, đến khi nào con thấy đúng thời nói được thì lúc đó mới nói.
Quý vị đừng nghĩ tại sao thầy không nói đến mình, không phải vậy, thật ra từng người con đều để tâm, ngay cả người mới đến con còn nhắc nhở quý thầy, quý cô giúp đỡ những trí tuệ căn bản thì huống chi những người ở trong chúng lại không quan tâm. Có những cây tưới nước nhiều quá sẽ chết, bón phân nhiều cũng chết, có những cây cứ để như vậy lâu lâu tưới một chút thì lại sống cho nên điều quan trọng nhất là tâm của người đó có mong muốn, có tha thiết, khát ngưỡng, cung kính, có diệt bản ngã để lắng nghe, để tiếp nhận, để chịu sự huấn luyện, rèn giũa, đào luyện không. Dục như ý túc của họ đến mức độ nào, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc tức là muốn, nỗ lực, để tâm để tiến bộ không, bốn thần túc của họ có lớn mạnh không. Những người mới đến tâm còn góc cạnh rất nhiều nên để trong chúng rèn giũa, pháp rèn giũa, những sự va chạm rèn giũa, khi chia sẻ pháp là con sẽ nhắm vào vài vị, khi con nói chung trong chúng nếu vị đó tinh ý, tinh mắt, có sự cảm thọ sắc bén sẽ biết thầy thương mình, muốn giúp cho mình.
Nếu bây giờ hướng dẫn từng chút là không ai chịu được, so với bậc đạo sư hướng dẫn con thì trong chúng hiện tại không có một ai có sức chịu đựng nổi. Mình phải không ngừng nỗ lực phấn đấu, đừng làm cái bình vừa nứt vừa chảy vừa bị thấm nước, dù là cư sĩ hay người xuất gia cũng phải làm cái bình trọn vẹn, làm thửa ruộng tốt đẹp để Đức Phật, bậc đạo sư và các vị thầy gieo vào những hạt giống trí tuệ, từ bi, thiện lành cho mình. Nếu trong thửa ruộng của mình có muối, có chất độc, đất cứng chắc, chai sạn thì gieo hạt giống vào cũng không sống nổi, có sống cũng èo uột, phải làm ruộng mảnh đất tâm của mình, phải cày, phải xới lên, đừng để mảnh đất tâm chai sạn, chai cứng, cái tâm mình phải nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng chứ đừng để tâm cứng cỏi, khó dạy, khó bảo, khó nghe thì mình không đi sâu vào dòng pháp này được.
Để đi sâu vào dòng pháp này mình phải chịu bầm dập, mình phải tôi luyện cái ngã mình thành nùi giẻ rách thì mới đi thâm sâu vào dòng pháp này, mình bị hủy nhục, bị phỉ nhổ nhưng mình vẫn nhiếp phục, vẫn chấp nhận vì pháp hi sinh thì mình mới học được thánh pháp tối thượng này. Đằng này mới vừa nói một chút thôi, mới vừa chạm một chút thôi là mình buồn, mình giận, mình hờn mác, mình bản ngã thì mình chỉ học được chút đỉnh thôi, chỉ gieo duyên với thánh pháp này thôi chứ không thể nhập được.
Chúng ta phải đập tan bản ngã, vì pháp quên thân, vì muốn lợi ích, vì muốn an lạc, vì muốn mình thành tựu chánh tri kiến, vì muốn đào tạo, rèn luyện, tinh luyện cho mình, muốn đem hết tim gan, tâm huyết, cốt tủy truyền trao cho mình. Mình phải hiểu biết điều đó, phải tâm tâm niệm niệm ân đức của thầy, niệm ân đức của pháp, niệm ân đức của bậc đạo sư, trở thành trong tâm mình một tường đồng vách sắt ân đức, không gì có thể phá hoại được tịnh tín bất động của mình thì lúc đó mình mới có thể thể nhập sâu vào dòng pháp thậm thâm vi diệu, thần diệu tối thượng này. Còn mình cứ suy nghĩ theo lối thường tình của buồn vui, đúng sai, cao thấp, bản ngã thì mình chỉ tu gieo duyên trong dòng pháp này thôi.
Dù bị nói oan nhưng mình vẫn phải thực tập tâm an tịnh, lắng dịu, bình tĩnh suy xét, có khi đó chính là những bài tập, mình nắm bắt cơ hội đó làm bài tập, bài thi cho mình để mình trở thành pháp khí, những đồ chứa đựng pháp nguyên vẹn không bị nứt chảy thì gọi là bậc pháp khí. Khí là đồ đựng chánh pháp vì vậy khi nghe những bài kinh này thì mình phải cố gắng để được hạnh phúc dài lâu trong thánh pháp này. Nếu mình chịu lắng nghe, chịu suy tư, chịu tinh cần, tinh tấn, chịu dốc hết sức của mình thì mình sẽ thành tựu một sự thành tựu bất diệt, bất tử. Một người đã thấy đúng, thực hành đúng tinh cần, tinh tấn thì không lâu sẽ Nhập Lưu, sẽ thể nhập vào dòng trí tuệ tối thượng mà bậc chí chơn Chánh Đẳng Giác truyền trao cho mình. Chúc tất cả quý vị có một ngày thể nhập chánh kiến thâm sâu thần diệu.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tương Ưng Thôn Trưởng
Kịch Sư - Chiến Đấu Sư
3 Thửa Ruộng & 3 Loại Bình
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu hỏi của vị kịch sư PAGEREF _Toc139895286 \h 1
II. Câu hỏi của chiến đấu sư PAGEREF _Toc139895287 \h 5
III. Ân Đức Tam Bảo PAGEREF _Toc139895288 \h 7
I. Câu hỏi của vị kịch sư
Hôm nay chúng ta nghe về Tương Ưng Thôn Trưởng, chương VIII, bài kinh "Tàn bạo" chúng ta đã nghe rồi nên không lặp lại, Đức Phật giải thích chữ hiền và dữ. Bây giờ chúng ta bước qua bài tiếp theo là "Puta" nói về vũ kịch sư, Tương Ưng này rất thú vị, giống như tái hiện lại Đức Thế Tôn và các vị cư sĩ nhiều giới, từ nghệ sĩ, võ sĩ, từ những người trưởng thôn có địa vị trong xã hội sẽ đến thăm viếng và thưa hỏi, được bậc Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải, đại đạo sư khai mở trí tuệ cho các vị này. Chúng ta nghe rồi sẽ thấy như mình lùi lại 26 thế kỉ trước, chứng kiến đời sống sinh hoạt của Đức Thế Tôn, các bậc Thánh chúng cũng như con người thời đó.
"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: 'Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Vũ là múa hát, vũ điệu, kịch là vở tuồng. Đạo sư, tổ sư trong đoạn kinh trên là tổ nghề, tức là các vị tổ trong nghề vũ kịch, trong các nghề đều có các vị tổ như tổ thợ mộc, tổ thợ may, tổ sân khấu, tổ thợ hồ. Nhà vũ kịch sư Talaputa nói với Thế Tôn rằng ông nghe những vị tổ trong nghề của ông nói rằng nhà vũ kịch trên sân khấu có những điệu bộ hài hước, làm mọi người thích thú thì những người này sau khi chết đi sẽ được sống chung với chư thiên hay cười. Vị vũ kịch sư này hỏi Thế Tôn thấy việc này như thế nào?
"-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: 'Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Lần thứ hai nhà vũ kịch sư Talaputa lặp lại câu hỏi nhưng Thế Tôn vẫn từ chối không trả lời, qua đây chúng ta học được sự định tuệ của Thế Tôn, không phải cái nào ngài cũng nói thậm chí là người ta tha thiết hỏi, ngài biết nhưng phải xem có đúng người không, đúng chỗ không, đúng việc không thì ngài mới trả lời.
"Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: 'Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: 'Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.
Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.
Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: 'Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười'. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Talaputa rất tha thiết được nghe Thế Tôn nói nên mới hỏi lại ba lần như vậy, Thế Tôn nói người nào có những cái nhìn nhận sai lầm tà kiến là nếu chọc cho người ta cười thì sau khi chết đi người đó được sanh ra trong cõi trời sống chung với chư thiên hay cười thì người này chỉ có hai chỗ để đi, chính là địa ngục và súc sanh.
"Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.
-- Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: 'Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'.
-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: 'Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười'" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Oai đức, oai lực của Như Lai khi nói ra làm cho nhà vũ kịch tuôn trào nước mắt, khóc phát ra tiếng. Chính vì điều này mà Như Lai không muốn nói ra nhưng nhà vũ kịch nói ngài khóc không phải vì Thế Tôn nói ra mà khóc vì bị các vị tổ nghề lừa dối, dối trá, dẫn dắt ông lầm lạc. Ngài khóc vì ngài bị lừa gạt lâu ngày mà ngài không hay biết.
"Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!
Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa... trở thành một vị A-la-hán nữa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, II. Puta)
Lời kinh trong Nikāya nhất quán xuyên suốt từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, ai nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si thì đó là thiện pháp, sẽ được đi lên các cảnh giới cao thiện lành, thậm chí đoạn tận sanh tử khổ đau, còn người để cho tham, sân, si buông thả, buông lung phóng dật thì người đó sẽ rơi vào ba đường ác. Đây là chuẩn mực để chúng ta học và tu.
Nếu những người diễn tuồng đó tập trung vào những pháp hấp dẫn, khiến cho lòng tham lớn mạnh, khi chúng ta xem những phim tình cảm hoặc những cuộc đấu đá, đánh nhau, đá banh, quyền anh thì mình có muốn bên nào thắng, bên nào thua? Có tâm hơn thua trong đó không?
Nếu mình còn thích, còn ưa những cái đó là tâm mình còn tham, sân, si, còn hơn thua, mình thấy hai người đánh nhau hoặc phim tình cảm yêu đương với nhau thì đó là tham với sân, trong đó có si. Nếu đạo diễn hoặc những người diễn kịch đó tập trung những pháp liên hệ đến lòng thù hận làm cho sự tức giận của người xem càng tăng trưởng lớn mạnh, hoặc có những phim dạy cho mình tâm sân hận, hận thù, những phim hành động hở chút là đâm, là chém nhau, hở chút là bắn giết nhau, ngoài ra còn những trò game, khi tiếp xúc sẽ sanh ra thọ, nó huân tập những cái thấy, cái nghe, cảm giác đó.
Ngày nay có nhiều tệ nạn xã hội, nhiều trẻ vị thành niên đi cướp của giết người, hãm hiếp, đốt nhà, đó là do huân tập từ cái thấy, cái nghe đó. Bây giờ những tác phẩm để khuyến thiện, hướng thiện rất hiếm hoi ít ỏi cho nên những đạo diễn, những người đóng tuồng tập trung vào những sự liên hệ đến thù hận, sân giận sẽ làm cho người xem, người nghe đắm say trong đó.
Ngày xưa ở nhà khi các cô xem phim, đến người vai ác xuất hiện là các cô mong cho người này chết đi, đó là sanh khởi lên tâm sân hận, tăng trưởng ác tâm. Khi đến cảnh tình cảm ướt át thì mình đắm đuối trong đó, tham ái, tham dục trong đó, đối với si cũng vậy cho nên mình lấy chuẩn tham, sân, si để tu học và làm việc, nếu làm mà sanh khởi ra lòng tham, lòng sân, lòng si, bản ngã trong đó thì đừng lại, dừng lại hết để tu hoặc giảm bớt công việc lại vì làm như vậy là sai trật.
Mình lấy cái chuẩn nhiếp phục tham, sân, si, đoạn tận tham, sân, si, diệt tận tham, sân, si để mình hành đạo, học hành, tu và làm việc. Nếu mình tu mà các pháp đó nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận thì mình tu, nếu mình học để cho các pháp đó lắng dịu thì mình học, còn nếu mình học, mình tu, mình làm mà các pháp đó tăng trưởng, tăng thêm thì phải dừng lại hoặc bỏ ngay. Sau khi nghe Thế Tôn nói thì vị vũ kịch sư này khóc do bị các ông tổ nghề lừa gạt, tiếp theo ông xin Thế Tôn cho xuất gia bằng cả tấm lòng chân thành, chân chánh đoạn tận tham, sân, si nên cuối cùng thành tựu giới, định, tuệ, chứng nhập Thánh quả A-la-hán, đó là thôn trưởng vũ kịch sư Talaputa. Sau đây là đến chiến đấu sư.
II. Câu hỏi của chiến đấu sư
"Rồi chiến đấu sư Yodhàjivo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: 'Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, III. Yodhàjivo (Kẻ chiến đấu))
Con nghe các vị thầy xưa, các vị tổ xưa nói về những người chiến đấu mà hăng say, tinh tấn nhưng bị người khác đánh bại thì sau khi chết sẽ được sanh trên trời làm chư thiên.
"-- Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Lần thứ hai...
Lần thứ ba, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: 'Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: 'Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời.
Này Chiến đấu sư, đối với chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau: 'Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!', hay: 'Mong họ chớ có tồn tại!' Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy, nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục tên là Saràjità. Nếu người ấy có tà kiến như sau: 'Vị chiến đấu viên nào giữa chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến này, này Chiến đấu sư, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh'.
Khi được nói vậy, vị chiến đấu sư phát khóc, rơi nước mắt.
-- Chính vì vậy, này Chiến đấu sư, Ta không chấp nhận và nói: 'Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này'.
-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư, các chiến đấu viên thuở trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn con lầm lạc, nói rằng: 'Ai là người chiến đấu viên giữa các chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità'.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... Từ nay cho đến mệnh chung con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, III. Yodhàjivo (Kẻ chiến đấu))
Có rất nhiều người huấn luyện voi, huấn luyện ngựa đi đến hỏi Đức Phật, chúng ta vẫn lấy thước đo của tham, sân, si làm chuẩn mực. Hai người đang tức giận với nhau mà người ở ngoài còn nói thêm vào, đổ dầu vô lửa, đâm bị thóc chọc bị gạo, qua bên đây nói vầy, qua bên kia lại nói khác, với ác tâm muốn chia rẻ, muốn làm cho người ta chia ly, đổ vỡ, đó là từ ác khẩu đã khổ biết bao nhiêu rồi. Ngày xưa cũng có nhiều vị tướng quân rất đức độ, những vị vua rất hiền thiện, không phải vị nào cũng tàn sát mà có nhiều người rất nhân đức nhưng lại rất ít ỏi, nếu học theo lời Đức Phật dạy thì thế giới không có chiến tranh, thiên hạ thái bình, quốc thái dân an, mưa hòa gió thuận. Tuy nhiên với lòng tham, lòng sân, tâm tham lam, ích kỷ của con người, tâm sân hận của con người mới đem quân đi đánh, đi cướp của người khác rồi làm cho khổ đau, làm cho tang tóc, làm cho nước mắt, máu đổ đầu rơi. Còn nếu học như vầy thì làm gì có chiến tranh, không có chiến tranh thì hòa bình, thiên hạ thái bình cho nên với những tâm mà Đức Phật gọi là ác ý, ác nguyện, "Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!, hay mong họ chớ có tồn tại!", với ác tâm đó dẫn người đó đi vào ác đạo. Với ác tâm, ác ngữ, ác hạnh thì đi vào trong ác đạo, đó là sự tương ứng của nhân quả, rất rõ ràng, minh bạch, thực tế.
III. Ân Đức Tam Bảo
Nếu đất nước nào cũng chăm lo cho dân bằng tấm lòng nhân đức, thương dân như con, ai cũng lo giữ gìn, giúp đỡ người nghèo khổ, đói khát, tạo điều kiện cho những người thất nghiệp có việc làm, ai cũng bằng lòng với lãnh thổ của mình, giáo hóa dân mình bằng sự hiền đức, niệm pháp thì thế gian này bình an biết bao nhiêu. Vì thế chỉ có học giáo pháp của Đức Phật, nhiếp phục tham, sân, si, tu tập từ, bi, hỷ, xả mới thay đổi được thế giới, thay đổi được suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ của con người, thay đổi được những phong tục, hoàn cảnh, thay đổi được xã hội, đất nước.
"Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân tộc Kosala cùng với đại chúng Tỳ-kheo và đi đến Nàlandà. Tại đây, Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvarikamba.
Lúc bấy giờ, Nàlandà đang bị đói kém, khó để lo miệng sống (dviihitikà), xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ (sàlàkàvuttà)" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Người ta đói chỉ còn da bọc xương, lúa chỉ còn là những cọng rạ không có hạt lúa, tức là bị mất mùa nên đói kém. Vị thôn trưởng này là đệ tử của một vị ngoại đạo lõa thể, Nigantha là những người theo đạo lõa thể không mặc quần áo.
"Lúc bấy giờ Nigantha Nàtaputta sống ở Nàlandà với đại chúng Nigantha.
Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của Nigantha Nàtaputta, đi đến Nigantha Nàtaputta; sau khi đến đảnh lễ Nigantha Nàtaputta rồi ngồi xuống một bên.
Nigantha Nàtaputtta nói với thôn trưởng Asibandhakaputta đang ngồi một bên:
-- Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến cật vấn Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được lan khắp về Ông: 'Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị thôn trưởng Asibandhakaputta cật vấn!'
-- Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể cật vấn Sa-môn Gotama, một vị có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Vị Ni-kiền-tử kêu ông thôn trưởng đi đến cật vấn Sa-môn Gotama để được nổi tiếng.
"-- Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến Sa-môn Gotama; sau khi đến, nói với Sa-môn Gotama như sau:
'-- Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán bảo vệ các gia đình, tán thán từ mẫn với các gia đình'?
Này Thôn trưởng, được hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như sau:
'-- Ðúng như vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn'.
Thời ông hỏi Sa-môn Gotama:
'-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỳ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành sự bất hạnh cho các gia đình, thực hành sự tổn hại cho các gia đình'" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Vị Ni-kiền-tử đó dạy cho thôn trưởng hỏi Thế Tôn nếu Thế Tôn thương mến các gia đình thì tại sao lại đến đây xin ăn trong khi ở đây đang đói kém, mất mùa. Ngài nói ngài thương, ngài từ mẫn trong khi người ta đói đến trơ xương ra mà ngài lại đến đây xin ăn nữa thì đó là ngài làm cho các gia đình này bất hạnh thêm nữa.
"Như vậy, này Thôn trưởng, bị ông hỏi với câu hỏi có hai đầu nhọn, Sa-môn Gotama không có thể nhổ ra, cũng như không có thể nuốt xuống" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Đầu tiên vị thôn trưởng đi đến Sa-môn Gotama hỏi rằng có phải ngài thương mến các gia đình không, nếu Sa-môn Gotama nói phải thì hỏi tiếp, nếu thương mến thì tại sao ở đây đang mất mùa, đói trơ xương mà lại đến đây đi khất thực, như vậy là đang làm tổn hại cho các gia đình, tàn phá các gia đình. Câu hỏi này có hai đầu nhọn làm Sa-môn Gotama không thể nhổ ra cũng không thể nuốt xuống, giống như gọng kiềm, nói như thế nào cũng bị kẹp chặt.
"-- Thưa vâng, Tôn giả.
Thôn trưởng Asibandhakaputta vâng đáp Nigantha Nàtaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigantha Nàtaputta, thân phía hữu hướng về người rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thôn trưởng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
-- Có phải, bạch Thế Tôn, Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn?
-- Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn.
-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỳ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình.
- Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ chín mươi mốt kiếp về trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của nhiều, tài sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tất cả tài sản ấy được thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch một cách chân thật, được thâu hoạch một cách tự chế.
Này Thôn trưởng, có tám nhân, có tám duyên làm tổn hại các gia đình. Do quốc vương, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do trộm cướp, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do lửa, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do nước, các gia đình đi đến tổn hại. Hay họ tìm không được tiền của dấu cất. Hay do biếng nhác, họ bỏ bê công việc. Hay trong gia đình khởi lên kẻ phá hoại gia đình, người ấy phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati vidhamati viddhamseti). Và vô thường là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám nhân, tám duyên này làm tổn hại các gia đình.
Này Thôn trưởng, vì rằng tám nhân này, tám duyên này có mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: 'Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn (yathàhatam) người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như vậy.
Khi được nói vậy, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, IX. Gia Tộc)
Đức Phật trả lời 91 kiếp về trước ngài không hề biết làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường vì những gia đình rất giàu có, tài sản nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tức là ngài đi đến đâu mà nhận sự cúng dường thì những người bố thí cho ngài dù chỉ một bữa cơm sẽ rất giàu có, nhiều tiền của, tài sản, vàng bạc, rất nhiều vật dụng, ngũ cốc.
Ngài đi đến đâu là đem phúc lạc đến cho những người đó, đem lại lợi ích cho những người đó, vì lợi ích cho chúng sanh, vì thương tưởng cho chúng sanh, vì lợi ích cho chư thiên và loài người. Vì thế con mắt phàm phu của thế gian nhìn làm sao đúng? Những tài sản của những người cúng dường có được là có một cách chân thật, một cách tự chế, nghĩa là tự kiềm chế chính mình không tham lam, không phung phí, biết bảo hộ, giữ gìn tài sản mình có được cũng như cái phước của mình, mình tu mà không biết tiếc phước, tích phước, không biết tự chế tổn phước thì tu một thời gian là không tu được nữa, bệnh ít thành bệnh nhiều, bệnh nhiều thành bệnh nặng, chướng ngại ít thành nhiều, chướng ngại nhiều thành đại chướng ngại làm không tu được nữa.
Có khi mình hướng dẫn Phật tử bố thí nhưng bản thân mình lại không bố thí, gần nhất là trong huynh đệ, tỉ muội, kế đó là các Phật tử đến chùa, xa hơn là mình có duyên với những người nghèo khổ. Đức Phật nói tám nguyên nhân làm cho các gia đình đi đến tổn hại, đó là vua, trộm cướp, hỏa hoạn, nước, có những căn nhà ở miền tây bị sạt lở sụp đổ hết căn nhà, biết bao năm tích lũy, dành dụm để xây nhà mà giờ đành nhìn căn nhà trôi xuống sông.
Chiến tranh có hàng trăm ngàn người chết, nhà tan cửa nát cho nên bài kinh chiến đấu sư nói rằng tâm ác độc muốn hại người, muốn giết người, muốn tàn phá người thì tâm đó sẽ đi vào địa ngục, súc sanh. Có khi chập điện hỏa hoạn chết cả nhà, chết tức tưởi, chết trong kinh hoàng, hoảng loạn hoặc là chết trong sự vô tri không biết gì hết, đang nằm ngủ bị ngạt thở chết luôn, mưa đá cũng gây chết người, lũ lụt, sóng thần, chạy xe té sông cũng chết. Lý do tiếp theo làm tổn hại các gia đình là không tìm được tiền của cất giấu, biếng nhác, bỏ bê công việc, trong gia đình có kẻ phá của, phá gia chi tử, cuối cùng là vô thường. Khi vô thường đến là kết thúc mọi thứ, tám nhân tám duyên này sẽ tàn phá gia đình, người nào cho rằng Đức Phật thực hành tàn phá các gia đình, làm bất hạnh các gia đình, làm tổn hại các gia đình, nếu người nào không bỏ lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy thì chắc chắn sẽ đi vào địa ngục, vị Ni-kiền-tử đó nếu không từ bỏ những quan điểm này thì chắc chắn sẽ đi vào địa ngục.
"Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?
-- Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
-- Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Có phải Thế Tôn sống thương tưởng đối với tất cả chúng sanh không, vì muốn cho tất cả chúng sanh hạnh phúc không. Thế Tôn trả lời phải, sau đó vị thôn trưởng này hỏi tiếp, nếu Thế Tôn sống như vậy thì tại sao với một số người Thế Tôn thuyết pháp đầy đủ, trọn vẹn, sâu sắc nhưng có một số người ngài lại không thuyết pháp đầy đủ, trọn vẹn như vậy. Thế thì có bình đẳng không?
"-- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?
-- Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.
-- Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-Ni đó là thửa ruộng tốt của Như Lai, các vị khoác tấm y trên người, đối với những vị đó ta thuyết pháp hoàn thiện ở chặng đầu, hoàn thiện ở chặng giữa, hoàn thiện ở chặng cuối, có văn chương, có nghĩa lý thâm sâu. Người xuất gia lấy Đức Phật làm ngọn đèn, lấy Đức Phật làm hang trú ẩn, lấy Đức Phật làm chỗ che chở, lấy Đức Phật làm chỗ nương tựa, cả một đời của người xuất gia là trọn trái tim, tất cả tấm lòng, cả sinh mạng này nương về với Đức Phật. Đức Phật đối với chúng ta được xem là ngọn đèn, được xem là hang trú ẩn, được xem là chỗ che chở, được xem là nơi nương tựa. Đó là thửa ruộng tốt của ngài, ngài sẽ gieo những hạt giống đầy đủ.
"Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Các nam nữ cư sĩ được ví như thửa ruộng loại trung, các nam cư sĩ, nữ cư sĩ lấy Đức Phật làm ngọn đèn, lấy Đức Phật làm hang trú ẩn, lấy Đức Phật làm chỗ che chở và lấy Đức Phật làm nơi nương tựa.
"Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Ruộng thì xấu lại còn có muối, có chất độc trong đó, chất độc là những âm mưu muốn hãm hại Đức Phật và các vị Tỳ-kheo, giống như một vị Ni-kiền-tử xúi giục đệ tử mình đi đến cật vấn Đức Phật như hai mũi kẹp chặt nhưng rồi vị đệ tử kia cuối cùng lại trở thành đệ tử Đức Phật. Nếu mình tu mà không khéo cũng có khả năng trở thành thửa ruộng xấu, đầy muối và chất độc vì không nghe lời Đức Phật, không đi theo Thánh đạo của Đức Phật.
Những ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ nào dù chỉ hiểu được một câu thôi cũng được an lạc, hạnh phúc dài lâu. Hôm trước Đức Phật nói những người nào dù chỉ tin tưởng ngài, hướng đến ngài thì tất cả cũng đều hướng đến thiên giới.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Còn ở đây dù chỉ hiểu được một câu của Thế Tôn nói thôi thì cũng được an lạc dài lâu. Chúng ta đã thấy được phước báo, lợi lạc, lợi đắc của mình trong sự tu học này không? Chúng ta phải siêng năng học, siêng năng thực hành, tác ý, quán chiếu, phải có mặt đầy đủ trong tất cả các buổi học, trong các thời khóa tu. Khóa tu sắp tới phải có mặt đầy đủ, chúng ta đã ăn tết mấy chục năm trong tham, sân, si rồi, bây giờ là tết viễn ly, tết ly tham, chúng ta nếm hương vị mùa xuân trên đỉnh linh sơn, trên non thiêng thánh pháp.
Quý vị chỉ cần ngồi một chỗ có con đọc cho từng câu để nghe rồi nhắc tới nhắc lui, nhắc đi nhắc lại, nhấn nhá để thấm thía. Mình có thấy phước báo của mình không? Tương Ưng Bộ kinh là cốt tủy của tất cả các kinh, là thâm sâu vi diệu nhất mà ngài Ấn Thuận đạo sư bên Đài Loan đã nói đây là "vô biên thậm thâm pháp nghĩa". Cả cuộc đời ngài Ấn Thuận nghiên cứu về kinh điển cả hai hệ thống, cuối cùng ngài kết luận lại Tương Ưng Bộ kinh là vô biên thậm thâm pháp nghĩa, là chỗ thâm sâu nhất của tất cả Phật pháp, tóm thâu hết tất cả tinh túy cốt lõi.
Hằng ngày chúng ta đều trở về Bồ-đề đạo tràng, mỗi sáng chúng ta đều trở về Trúc Lâm Tinh Xá, được trở về Kỳ Viên pháp hội, sáng nào chúng ta cũng lắng nghe sự đối thoại của Đức Thế Tôn. Chúng ta phải tác ý như vậy, quán chiếu như vậy, cảm nhận như vậy, chỉ cần hiểu một câu của Thế Tôn dạy thôi nhưng phải hiểu cho thấm thía, hiểu cho tột cùng, hiểu cho trọn vẹn thì lợi ích biết bao nhiêu, hạnh phúc biết bao nhiêu, an lạc dài lâu biết bao nhiêu, cho nên dù có mệt mỏi, có bệnh trong người nhưng khi lên chia sẻ pháp xong là hết bệnh, mai này có chết thì quán chiếu về pháp là bất tử vì pháp này là pháp siêu việt sanh, già, bệnh, chết, chấm dứt khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Nếu bệnh mà quán chiếu về pháp thì mình sẽ không bị cái bệnh trói cột trong những cảm thọ nữa, nếu già mà quán chiếu về pháp này thì không còn bị cái già chi phối nữa, chỉ có thân già đi thôi chứ tâm không bị ảnh hưởng, sắp chết mà quán chiếu về pháp cho thâm sâu, thâm nhập trí tuệ này thì mình đi đến bất tử không chết. Mình quán chiếu, diệt tận, tẩy sạch hết thì mình ra khỏi tham, sân, si, nếu bị bản ngã đè đầu cưỡi cổ thì mình quán chiếu, sỉ nhục bản ngã, phỉ nhổ vào bản ngã rồi mình sẽ đi ra khỏi bản ngã. Vì thế chỉ cần hiểu một câu thôi là được hạnh phúc, an lạc dài lâu.
"Ví như, này Thôn trưởng, một người có ba bình nước, một bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước; một bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước; một bình nước nứt rạn, chảy nước, thấm nước. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa nước ở đâu trước, người ấy chứa bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, hay bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, hay bình nước nứt rạn, chảy nước và thấm nước?
-- Bạch Thế Tôn, người ấy muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa vào bình nước không có nứt rạn, không có chảy nước, không có thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước vào bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước hay không chứa nước vào bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước. Vì sao? Vì ít nhứt cũng có thể dùng để rửa vật dụng.
-- Ví dụ với bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, này Thôn trưởng, là các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Những bình nước nguyên vẹn rót nước vào là đựng được hết, không bị rỉ chảy. Các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-Ni cũng vậy, họ sống lấy Thế Tôn làm ngọn đèn, lấy Thế Tôn làm hang trú ẩn, lấy Thế Tôn làm chỗ che chở, lấy Thế Tôn làm nơi nương tựa.
"Ví dụ với cái bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, này Thôn trưởng, là các nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Các nam nữ cư sĩ khi đến đạo tràng tu học cũng tinh tấn nhưng khi trở về nhà lại bị thế sự, thế vật, thế tình, thế nhân nên bị rỉ chảy cái pháp, bị nứt chảy cái pháp. Đó là lý do chúng ta phải nghe pháp hằng ngày để trám những chỗ nứt chảy đó lại, những khóa tu phải có mặt để giữ nước pháp trọn vẹn trong bình tâm của mình cho nên con thường khuyến tấn chúng ta phải có mặt đầy đủ trong các khóa tu và có mặt đầy đủ trong những buổi học pháp hằng ngày.
"Ví dụ với cái bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ chỉ hiểu được một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp)
Tại sao có sự sai biệt khi Thế Tôn giảng pháp? Có khi ngài giảng đầy đủ viên mãn, có khi ngài giảng vừa phải hay ngài giảng ít thôi, đó là vì đối tượng nghe giảng chứ không phải do tâm Phật không bình đẳng. Tâm của Phật lúc nào cũng đầy ắp tình thương, không có sự phân biệt, không có thương ghét, không phải thương người này nên nói nhiều cho họ còn người kia không thương nên nói ít, vì có nói họ cũng không hiểu, không tiếp nhận, có khi còn chống đối nên không nói được.
Ngay cả các vị xuất gia với con không phải cái gì con cũng chỉ dẫn hết được, tùy người đó tâm có thiện lành không, có sự cung kính, khát ngưỡng, có sự tôn trọng cầu pháp, tha thiết đến mức độ nào, có sự khát khao hướng thượng không, họ có muốn tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ không, thánh giải thoát, giải thoát tri kiến không, họ có chân thành bằng tất cả tấm lòng, có diệt được bản ngã không. Nếu bây giờ chỉ vừa nói một chút mà họ đã giận thì nói làm gì nữa? Chỉ mới dạy một chút đã né tránh thì còn hướng dẫn, dạy dỗ gì nữa? Đối với các vị cư sĩ về tu học cũng vậy, không phải ai con cũng nói, có những người con biết hết nhưng con không nói tới nhiều vì con thấy chưa đến đúng lúc, để tâm họ thuần một chút, đến khi nào con thấy đúng thời nói được thì lúc đó mới nói.
Quý vị đừng nghĩ tại sao thầy không nói đến mình, không phải vậy, thật ra từng người con đều để tâm, ngay cả người mới đến con còn nhắc nhở quý thầy, quý cô giúp đỡ những trí tuệ căn bản thì huống chi những người ở trong chúng lại không quan tâm. Có những cây tưới nước nhiều quá sẽ chết, bón phân nhiều cũng chết, có những cây cứ để như vậy lâu lâu tưới một chút thì lại sống cho nên điều quan trọng nhất là tâm của người đó có mong muốn, có tha thiết, khát ngưỡng, cung kính, có diệt bản ngã để lắng nghe, để tiếp nhận, để chịu sự huấn luyện, rèn giũa, đào luyện không. Dục như ý túc của họ đến mức độ nào, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc tức là muốn, nỗ lực, để tâm để tiến bộ không, bốn thần túc của họ có lớn mạnh không. Những người mới đến tâm còn góc cạnh rất nhiều nên để trong chúng rèn giũa, pháp rèn giũa, những sự va chạm rèn giũa, khi chia sẻ pháp là con sẽ nhắm vào vài vị, khi con nói chung trong chúng nếu vị đó tinh ý, tinh mắt, có sự cảm thọ sắc bén sẽ biết thầy thương mình, muốn giúp cho mình.
Nếu bây giờ hướng dẫn từng chút là không ai chịu được, so với bậc đạo sư hướng dẫn con thì trong chúng hiện tại không có một ai có sức chịu đựng nổi. Mình phải không ngừng nỗ lực phấn đấu, đừng làm cái bình vừa nứt vừa chảy vừa bị thấm nước, dù là cư sĩ hay người xuất gia cũng phải làm cái bình trọn vẹn, làm thửa ruộng tốt đẹp để Đức Phật, bậc đạo sư và các vị thầy gieo vào những hạt giống trí tuệ, từ bi, thiện lành cho mình. Nếu trong thửa ruộng của mình có muối, có chất độc, đất cứng chắc, chai sạn thì gieo hạt giống vào cũng không sống nổi, có sống cũng èo uột, phải làm ruộng mảnh đất tâm của mình, phải cày, phải xới lên, đừng để mảnh đất tâm chai sạn, chai cứng, cái tâm mình phải nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng chứ đừng để tâm cứng cỏi, khó dạy, khó bảo, khó nghe thì mình không đi sâu vào dòng pháp này được.
Để đi sâu vào dòng pháp này mình phải chịu bầm dập, mình phải tôi luyện cái ngã mình thành nùi giẻ rách thì mới đi thâm sâu vào dòng pháp này, mình bị hủy nhục, bị phỉ nhổ nhưng mình vẫn nhiếp phục, vẫn chấp nhận vì pháp hi sinh thì mình mới học được thánh pháp tối thượng này. Đằng này mới vừa nói một chút thôi, mới vừa chạm một chút thôi là mình buồn, mình giận, mình hờn mác, mình bản ngã thì mình chỉ học được chút đỉnh thôi, chỉ gieo duyên với thánh pháp này thôi chứ không thể nhập được.
Chúng ta phải đập tan bản ngã, vì pháp quên thân, vì muốn lợi ích, vì muốn an lạc, vì muốn mình thành tựu chánh tri kiến, vì muốn đào tạo, rèn luyện, tinh luyện cho mình, muốn đem hết tim gan, tâm huyết, cốt tủy truyền trao cho mình. Mình phải hiểu biết điều đó, phải tâm tâm niệm niệm ân đức của thầy, niệm ân đức của pháp, niệm ân đức của bậc đạo sư, trở thành trong tâm mình một tường đồng vách sắt ân đức, không gì có thể phá hoại được tịnh tín bất động của mình thì lúc đó mình mới có thể thể nhập sâu vào dòng pháp thậm thâm vi diệu, thần diệu tối thượng này. Còn mình cứ suy nghĩ theo lối thường tình của buồn vui, đúng sai, cao thấp, bản ngã thì mình chỉ tu gieo duyên trong dòng pháp này thôi.
Dù bị nói oan nhưng mình vẫn phải thực tập tâm an tịnh, lắng dịu, bình tĩnh suy xét, có khi đó chính là những bài tập, mình nắm bắt cơ hội đó làm bài tập, bài thi cho mình để mình trở thành pháp khí, những đồ chứa đựng pháp nguyên vẹn không bị nứt chảy thì gọi là bậc pháp khí. Khí là đồ đựng chánh pháp vì vậy khi nghe những bài kinh này thì mình phải cố gắng để được hạnh phúc dài lâu trong thánh pháp này. Nếu mình chịu lắng nghe, chịu suy tư, chịu tinh cần, tinh tấn, chịu dốc hết sức của mình thì mình sẽ thành tựu một sự thành tựu bất diệt, bất tử. Một người đã thấy đúng, thực hành đúng tinh cần, tinh tấn thì không lâu sẽ Nhập Lưu, sẽ thể nhập vào dòng trí tuệ tối thượng mà bậc chí chơn Chánh Đẳng Giác truyền trao cho mình. Chúc tất cả quý vị có một ngày thể nhập chánh kiến thâm sâu thần diệu.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.