Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền quán Hiện Tại Lạc Trú - Pháp đàm Hiệu Quả Tu Đúng và Nghiệp quả không thể ngờ

2026-03-03 00:55:50
THIỀN QUÁN – HIỆN TẠI LẠC TRÚ

PHÁP ĐÀM – HIỆU QUẢ TU ĐÚNG & NGHIỆP QUẢ KHÔNG THỂ NGỜ!

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thiền quán Hiện Tại Lạc Trú PAGEREF _Toc127443003 \h 1

II.Trọng tâm của đạo Phật PAGEREF _Toc127443004 \h 4

III.Pháp đàm nghiệp quả không ngờ PAGEREF _Toc127443005 \h 6

Thiền quán Hiện Tại Lạc Trú

Mỗi ngày, hãy dành thời gian để nhắc nhở cảm thọ: “Dễ chịu nha, ngọt ngào nha, hoan hỷ với sự ngồi yên này nha”. Khi ngồi đây tu học, chúng ta không còn cự cãi, giận hờn gì ai, tâm không giận, thật là vui quá! Tâm không thích muốn, tham lam bất cứ điều gì, thật là vui quá! Tâm không hôn trầm, buồn ngủ, tỉnh táo, tỉnh thức, thật là vui quá! Tâm không còn lăng xăng, dao động, thân tâm lắng dịu, yên tịnh, thật là hoan hỷ quá! Tâm không nghi ngờ, không phân vân đối với giáo pháp, thật là vui vẻ, hoan hỷ quá! Tâm lìa năm triền cái – tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi; không còn năm thứ che mờ tâm; không còn tính toán, tham lam nên thật thoải mái, dễ chịu, hoan hỷ. Đây chính là niềm vui của Thượng nhân, niềm vui của Thánh hiền.

Ngược lại, khi tâm có tham muốn, hãy nhớ “tham thì thâm”, tức là tâm không còn sáng tỏ; khi tâm có giận thì “giận quá mất khôn”, tức là không có trí tuệ; khi tâm dao động, lăng xăng, tính toán, suy nghĩ lung tung thì tâm không có định tĩnh, không trong sáng nên không nhìn rõ, đó chính là vô minh; khi buồn ngủ thì tu học không được, vì vậy phải tỉnh táo, tỉnh sáng, ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt.

Thật là vui quá khi tâm tỉnh sáng, không bị che mờ! Thật là vui quá khi tâm không giận không sân! Thật là vui quá khi tâm không tham không muốn! Thật là vui quá khi tâm tỉnh táo, không buồn ngủ, không hôn trầm! Thật là vui quá khi được ngồi yên, không lăng xăng, dao động! Thật là vui quá khi tâm đối với pháp rõ ràng, phân minh, sáng tỏ, không còn nghi ngờ, do dự, lưỡng lự!

Hãy tác ý thật là vui, thật là dễ chịu, thật là hoan hỷ, thật là phấn khởi. Hôm nay được ngồi thiền cùng chú tiểu Minh Thành, thật hạnh phúc quá. Được ngồi thiền cùng nùi giẻ rách Minh Thành, thật hạnh phúc quá! Được ngồi thiền cùng tấm chùi chân có pháp danh là Thích Minh Thành, thật hạnh phúc quá! Được ngồi thiền cùng một ông thầy nghèo tận cùng, phải đi ăn xin, không có một thứ gì trong người, thật hạnh phúc quá, bình an quá…

Đây là chúng ta đang thực tập thiền “hiện pháp lạc trú”, hạnh phúc khi tâm không có năm thứ che đậy. Trong thời Đức Phật, mỗi ngày, mỗi giờ, Ngài và các bậc Thánh chúng đều thực tập thiền này. Nếu chúng ta kiên trì tập cũng sẽ thuần thục, không quá khó. Mỗi khi thấy không giận ai, tâm mát dịu, hãy tác ý vui vẻ, hoan hỷ. Nếu không quán tâm, không nhìn tâm, không rõ biết trạng thái của tâm thì tâm sẽ bị trì trệ, mờ tối, rơi vào si mê.

Vì vậy, mỗi khi về chùa tu học là chúng ta được uống thuốc bổ tâm linh, được tác ý hỷ lạc để nuôi dưỡng đạo tâm của mình. Đừng tu nhiều rồi trở thành vô cảm, mỗi ngày cứ mở quyển kinh giấy trắng mực đen ra để tụng đọc nhưng không thấy niềm vui; đôi khi lên ngồi tu cho có với mọi người nhưng trong lòng lại thấy tẻ nhạt, vô vị. Như vậy là đạo tâm của mình càng ngày càng giảm xuống vì không có pháp hỷ, pháp lạc, pháp vị; không thấy hương vị của pháp, không thấy niềm vui của pháp, không thấy hạnh phúc trong pháp. Cũng như ăn một món ăn nhạt nhẽo thì không ai muốn ăn hoài; còn đối với những món ngon thì ai cũng thích. Pháp cũng giống như vậy, nếu không tìm được hạnh phúc trong pháp thì rất khó tiến bộ trong sự tu học.

Minh Thành suốt ngày ở phòng một mình, đến khi nào giảng pháp mới ra ngoài, vì trong đó có pháp vị, pháp lạc, pháp hỷ, thiền duyệt, thế nên, không cần gặp ai để tìm vui, không cần kiếm ai để nói chuyện, những thú vui này Minh Thành không cần. Tâm thanh tịnh, không tham muốn nên luôn được vui sướng; nhìn những người khổ đau thấy thật xót thương. Tâm không giận ai thật hạnh phúc; nhìn những người đang sân si thật là tội nghiệp, cảm thương. Những người này đang đau khổ nhưng không biết mình đang đau khổ; họ đang bị đốt cháy nhưng không biết mình đang bị đốt cháy. Họ tưởng đâu đó là vui sướng, tài giỏi, mà không biết rằng, họ đang hành hạ chính bản thân mình và hành hạ những người đang phải chịu đựng họ.

Ngay cả người giàu nhất thế giới thì tâm linh vẫn bị suy kiệt, vì suốt ngày căng thẳng trong những con số, tiền tài, danh lợi, người này không có thời gian chăm sóc tâm mình. Còn người tu chúng ta nếu tu khéo, tu đúng, tu siêng, tu giỏi thì có ngày sẽ trở thành tỷ phú tâm linh. Dù đang nơi đâu, chúng ta cũng được hạnh phúc. Dù ăn cháo trắng với củ cải muối cũng hoan hỷ vô ngần. Tết vừa rồi, Minh Thành ở sát trong rừng, mỗi sáng ăn cháo trắng với dưa muối nhưng giảng pháp trong niềm hạnh phúc dạt dào. Khi lạnh quá đốt lửa ngồi bên bếp lò, hoặc đi một mình ngắm nhìn bầu trời, trải tâm từ bao bọc khắp hành tinh trong tình thương bao la, dạt dào, vô tận. Trải tâm đại bi cùng khắp mười phương.

Tâm của chúng ta phải thật giàu có, đừng mang trong người một cái tâm túng quẫn, có bao nhiêu cũng không thấy đủ. Người lúc nào cũng thiếu thốn, khao khát là người có cái tâm nghèo nàn. Hơn nữa, không phải người nghèo mới là kẻ thiếu thốn, mà người giàu cũng là người túng thiếu, vì họ lúc nào cũng tìm cầu, cũng đòi hỏi, cũng muốn thêm. Đó là một nội tâm nghèo thiếu, nghèo khó, nghèo cùng, nghèo nàn, khổ hoài cho đến chết, đến khi nhắm mắt vẫn chưa thấy đủ, lúc lấy hơi lên vẫn còn muốn cái này, cái nọ, cái kia.

Có người sắp chết rồi nhưng vẫn dặn con cháu chôn mình, không được hỏa thiêu, rồi muốn nhìn ngắm tiền vàng lúc còn sống đã chất chứa, người này khi chết sẽ bị đọa ngạ quỷ, vì vậy, ngay từ bây giờ, chúng ta phải tập buông xả. Người thường xuyên giận người này, bực người kia, tức người khác, khi chết sẽ sanh làm súc sanh để cắn xé nhau trong một cái tâm đau khổ. Ngược lại, người luôn nhớ đến những bậc có ân nghĩa với mình trong cuộc sống và những vị giúp mình tu học thì đây là người sống với tâm ngọt ngào, biết ơn, hiền thiện từ trong ra bên ngoài. Người có tâm biết ơn đời sau sẽ được sanh làm người hoặc sanh lên cõi trời. Còn người mở miệng ra là chê bai, phê phán, chỉ trích, nói xấu người khác, đến khi chết sẽ bị đọa thành súc sanh, thú vật, hoặc rơi vào địa ngục tối tăm.

Vì vậy, hãy cố gắng tu tập mỗi ngày để tâm mình luôn được dạt dào tình thương, rộng lớn, bao dung, độ lượng, ngọt ngào. Hai chữ “ngọt ngào” này là cả một công trình tu học. Được như vậy thì đến đâu cũng thấy hạnh phúc, ăn cái gì cũng thấy thơm ngon, ở đâu cũng thấy vừa lòng, không đòi hỏi điều gì, luôn tùy duyên thuận pháp. Lúc ở nhà, mọi thứ có thể nương theo ý mình, còn khi đến chỗ người khác thì họ cho ăn gì thì ăn món đó, không nên đòi hỏi, vì nếu đòi hỏi không được thì lại buồn giận, phiền não, chỉ thêm mệt mỏi, đau khổ. Sống như vậy thì tâm mình sẽ dễ chịu, dễ nuôi và luôn được an lạc, hạnh phúc.

Trọng tâm của đạo Phật

Người mà trong tâm luôn chất chứa những tham dục, tham lam, hơn thua, tức giận, sân hận, ta đây thì người này chỉ khổ chứ không vui, chỉ bất an chứ không được an, chỉ bất thiện chứ không được thiện. Dù người này có tài sản thật nhiều, địa vị thật cao thì đây cũng chỉ là một người đau khổ. Cho nên, điều cội gốc nhất trong sự tu này chính là nhìn lại và nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, vì chúng chính là kẻ thù của ta, chứ không phải ai khác bên ngoài.

Một người biết tu, dù bị người khác chửi mắng thì tâm họ chỉ tràn đầy cảm giác tội nghiệp, xót thương cho kẻ chửi mắng mình, vì người đó đang bị lửa đốt; còn mình không nổi sân, không có nhiên liệu gây cháy, không có những thứ bắt cháy, tâm mình là một hồ nước dịu mát nên mình không có khổ khi nghe họ chửi, dù bị chửi nhưng bên trong tâm vẫn lắng dịu, an tịnh. Còn người không biết tu, khi gặp những chuyện không vui, dù họ không nổi giận ra bên ngoài, nhưng bên trong họ chất chứa vô số những suy nghĩ khó chịu, bực bội, đó là họ đang tự mình đốt mình. Cho nên, kẻ thù của chúng ta không phải người ngoài, mà chính là cảm giác bên trong.

Thuở xưa, Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ ngồi dưới cội bồ đề để diệt hết những cảm giác của tham, sân, si; đến khi tâm hoàn toàn tịch tịnh, vắng lặng thì Ngài đạt được tâm bất động giải thoát, chứng thành đạo quả tối cao của nhân thiên. Ngài không còn sót lại một chút tham, sân, si nào; tâm Ngài sạch hoàn toàn, sạch trọn vẹn tất cả tham, sân, si và Ngài thành Phật. Còn chúng ta hãy tự nhìn lại để thấy đống tham, sân, si trong người mình đã lớn đến dường nào! Cũng bởi vì không lo tu, không để tâm vào sự chế ngự, nhiếp phục tham, sân, si nên những cấu nhiễm trong tâm ngày một nhiều hơn. Vì vậy, người tu chúng ta phải luôn thường trực nhìn vào tâm, cứ thấy tham, sân, si thì lập tức trừ diệt, tu như vậy chắc chắn sẽ thành chánh quả.

Bất cứ khi nào và ở đâu, nếu thấy sân giận xuất hiện thì phải tác ý, nhiếp phục, diệt tận nó: “Cảm giác sân hận này hãy đi chỗ khác chơi, chết tới nơi rồi. Bên ngoài dịch bệnh, động đất, chiến tranh đang diễn ra ở khắp nơi, ngươi hãy để cho ta tu, đừng chọc giận ta nữa”.

Khi tham muốn sanh khởi, hãy đuổi cảm giác tham dục ra khỏi tâm mình: “Thôi, tham mấy chục năm rồi, gần chết đến nơi rồi, tham gì hoài vậy, hãy để cho ta tu. Mọi người xung quanh chết nhiều vô số chưa thấy hay sao. Giờ lại muốn tham bộ xương, hủ cốt, nấm mồ hay đống tro tàn? Thôi đi chỗ khác chơi đi, để yên cho ta tu, đừng phá ta nữa”.

Mỗi lần bản ngã hơn thua, muốn giành phần thắng, giành phần phải, giành phần hơn, giành phần đúng, giành số một thì tác ý rằng: “Thôi, cũng vì bản ngã này mà sanh tử vô lượng vô biên kiếp vừa qua. Cũng vì cái ta mà cứ đấu đá, đánh đấm hoài với nhau, để rồi đau khổ, nước mắt không ngừng. Làm ơn, làm phước diệt bản ngã này đi”. Ta quỳ xuống sám hối trước Đức Phật và nguyện rằng: “Phật ơi, hãy độ cho con diệt bản ngã này! Độ cho con chôn vùi bản ngã này xuống lòng đất!”. Sau đó lạy cúi xuống, áp vầng trán sát dưới đất thật lâu, tác ý mạnh rằng: “Chết nè, phải chôn cái bản ngã này xuống lòng đất. Bản ngã ơi, người cứ hơn thua mãi không dừng, từ ngay ta sẽ chôn ngươi xuống lòng đất, cho người tan biến, không bao giờ sống dậy nữa. Từ giờ về sau, ta sẽ hãy sống với tâm hiền từ, nhu hòa, khiêm cung, khiêm hạ”…

Như vậy, cốt tủy sự tu này là nhắm thẳng vào tham, sân, si, vô minh, bản ngã để nhiếp phục và diệt tận nó. Tu như vậy thì đời đời được sanh trong cõi Người, cõi Trời, được hưởng phước lành để tiếp tục tu tập cho đến ngày thành tựu trọn vẹn, không bao giờ rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thế nên, giáo pháp của đạo Phật không nhiều, tóm gọn lại chỉ có bấy nhiêu, chúng ta chỉ cần nhất hướng mà đi thì sẽ đến ngày thành tựu. Bất cứ khi nào, chỉ cần phát hiện tham, sân, si thì phải tiêu diệt chúng; không để tâm mình đi theo những chiều hướng của tham, sân, si. Mỗi ngày cố gắng tu tập, tưới tẩm, nuôi dưỡng để có được một nội tâm ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, hiền lành, khiêm cung, khiêm hạ, bao dung, từ ái, thương yêu. Đó là trọng tâm của sự tu học.

Pháp đàm nghiệp quả không ngờ

Câu hỏi: Tiến trình nhân quả?

Trong đạo Phật, nhân quả có đến ba đời, nhưng chúng ta chỉ nhìn được nhân quả ở trước mắt, nhân quả xa hơn thì mình không biết. Ví dụ đơn giản về nhân quả dễ thấy ngay trước mắt: mình nói nặng người ta một câu, người ta nói mình lại mấy câu; mình chửi người ta một câu, người ta chửi lại hai, ba câu; người này đánh người kia một cái, sau đó người kia đánh lại hai, ba; người đi trộm cắp thì phải bị tù tội…

Sâu xa hơn là những nhân quả đã làm ở kiếp trước thì mình không biết được. Vì không có thiên nhãn thông, không có sanh tử trí như các bậc chứng đắc thần thông nên chúng ta không biết đời trước mình sanh ra ở đâu, đã làm cái gì, đã từng giúp ai, đã từng hại ai, mình là người tốt hay kẻ xấu… Như trận động đất vừa rồi ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, hơn 28.000 người ở đó, họ không hề hay biết hôm đó sẽ có động đất, nếu biết trước thì họ đã thoát khỏi thảm hoạ.

Cho nên, quả của nghiệp thiện và nghiệp ác Đức Phật gọi là quả dị thục của nghiệp, quả này là bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng được. Trong đó, “dị” là biến đổi, “thục” là chín muồi; giống như trái cây, lúc mới trồng thì trái nhỏ và chua; theo thời gian, trái lớn lên, dần dần chín muồi và sẽ cho quả ngọt. Cũng như, khi vay của người ta năm mươi đồng, sau tám tháng, hoặc ba năm thì số tiền phải trả sẽ thay đổi, đó là sự biến đổi của nghiệp. Sự biến đổi này có thể theo nhiều chiều hướng xấu hoặc tốt. Từ khi biến đổi, cho đến lúc trổ quả, Đức Phật nói rằng, không ai có thể tưởng tượng được. Nếu một người cố gắng suy tư, tưởng tượng thì người này có thể bị điên loạn.

Chính vì vậy, Đức Phật khuyên chúng ta nên làm thiện, nghĩ thiện, nói điều thiện để có kết quả thiện. Còn nếu nói ác, làm ác, nghĩ ác thì nhất định kết quả khổ đau, không thể có kết quả thiện. Đức Phật đã tuyên bố, không thể một nhân ác mà có được quả thiện, không thể từ một nhân thiện mà sanh ra quả ác. Điều này đúng hoàn toàn tuyệt đối. Hiện tại, chúng ta đang được an ổn nhưng đừng cho rằng sự an ổn này là còn hoài, vì tất cả đều là vô thường, đổi thay. Thế nên, trong lúc còn an ổn, chúng ta cần làm nhiều việc thiện, tích luỹ công đức, tu tập trí huệ, để sự an ổn được kéo dài và tốt đẹp hơn.

Như vậy, một mặt, phải tu tập nghiệp thiện, làm phước công đức để được an ổn về phần thân xác. Mặt khác, cố gắng tu tập trí tuệ, thấy được sự thật bản chất của tứ đại, ngũ uẩn này là khổ, tan hoại. Đến khi khổ xảy ra, nhờ đã được học, đã hiểu về khố nên chúng ta sẽ thấy ít đau khổ, hoặc chỉ khổ phần thân, còn tâm không khổ. Các bậc Thánh chỉ khổ thân nhưng không bị khổ tâm. Ngay cả Đức Phật, Ngài vẫn bị bệnh, phải chịu nỗi khổ về thân như đau bụng, tiêu chảy, nhức mỏi khi về già. Có những buổi giảng pháp, Đức Phật mỏi lưng và bảo ngài Anan xếp y, gấp làm bốn để Ngài nằm nghỉ. Còn các vị khác như Mục Kiền Liên, nếu đã vượt qua cơn buồn ngủ thì sẽ tiếp tục giảng pháp. Có những bài kinh trong Nikāya nói rằng, vào những năm 80 tuổi, có lúc Đức Phật phải dùng thiền định để nhiếp phục các cảm thọ đau đớn, vì bản chất của thân tứ đại này là phải già, bệnh, chết. Chính vì vậy, Phật và các bậc Thánh tuy đã đắc đạo nhưng vẫn phải khổ về thân, riêng tâm của các Ngài là bất động.

Đức Phật dạy người tu, khi nghe một lời khen, sanh khởi lạc thọ, ngay lúc đó, ta phải xả cái thọ vui, không được ham thích chúng. Khi tâm khởi lên cảm thọ vui thì phải an trú trong tâm xả, biết buông xuống, không dính mắc vào đó. Cũng vậy, đến khi bị chê, hãy trú trong tâm xả để không buồn phiền, tức giận. Khi lúc nào cũng trú trong tâm xả, chúng ta sẽ không bị những sự khen chê, vinh nhục, được mất, hơn thua làm cho khổ đau. Bản chất của thế gian là biến động, không ai suốt đời được khen, cũng không ai mãi mãi được chê, nếu ta giữ tâm được bất động thì sẽ không đau khổ. Khi giàu có, không được khinh khi người nghèo khổ, vì ta biết rằng cái giàu này cũng vô thường, còn phước thì còn giàu, hết phước thì ta sẽ khổ. Cao như cửu ngũ chí tôn cũng có thể vào tù hoặc chết bất ngờ, trong tích tắc, tất cả đều tan biến. Chính vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta phải luôn an trú trong tâm xả.

Chúng ta chỉ nên vui mừng khi có cơ hội được làm nhiều công đức, được tu tập tăng trưởng thiện pháp, chứ không nên kiêu căng, cống cao, ngã mạn vì những gì làm được. Hãy tin rằng, khi làm việc thiện thì sẽ có phước báu, có hoa đẹp, có quả ngọt, có trái thơm; đừng nên mong cầu sau này sẽ được gì lớn lao, to tát, vì như đã nói, đây là quả dị thục của nghiệp, là điều không thể nghĩ bàn. Vì vậy, ta cứ nhắm thẳng hồng tâm mà đi, một là cố gắng tu thiện, làm điều thiện, làm các việc phước báu công đức thì ta sẽ luôn gặp điều tốt lành. Hai là cố gắng tu đắc đạo, được chứng quả, chứng tam minh, có thiên nhãn thông thì chúng ta sẽ biết tất cả về sự thành hoại của trái đất này, về tiền kiếp của chính mình trong vô lượng kiếp. Trước mắt, chúng ta hãy bắt đầu tu tập từ những việc cơ bản, thực tế nhất, đó là nghĩ điều thiện, nói lời thiện, làm việc thiện, đạt kết quả tốt đẹp, hạnh phúc. Khi đó, chúng ta sẽ không lo lắng những thứ xa vời, mà chỉ lo lắng khi mình làm việc bất thiện; từ đó cố gắng hết sức để tu tập, để thân tâm trở nên hiền thiện.

Câu hỏi: Sau khi trả hết nghiệp ở ba đường ác, ta sẽ tái sanh vào cảnh giới nào?

Đây là điều chúng ta không tưởng tượng được. Trong Tương Ưng Lakkhana, khi đang cùng với một thầy Tỷ Kheo đi xuống núi, Ngài Mục Kiền Liên nhìn vào trong hư không, thấy một bộ xương đi trong hư không kêu la thảm thiết, đau đớn vì bị các cục than cháy đỏ, đổ lên khắp bộ xương. Bộ xương đó là một đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga nhưng vì ghen với một hoàng phi, hoàng hậu đã dùng than đỏ đổ lên người của hoàng phi cho đến chết. Khi vị hoàng hậu này chết liền sanh vào loại ngạ quỷ, với hình tướng là một bộ xương, kêu la thảm thiết trong hư không. Một người đang là đệ nhất phu nhân, trong chốc lát trở thành một cô hồn, với hình dáng một bộ xương kêu la khủng khiếp.

Qua câu chuyện, chúng ta thật khó tưởng tượng về nghiệp quả. Lúc còn sống, ta hãnh diện về bản thân, danh tiếng lẫy lừng nhưng khi chết, theo nghiệp, không biết ta sẽ đi về đâu. Các minh tinh điện ảnh trong và ngoài nước, phút chốc có thể vào tù, mang những trọng án. Cũng vậy, chúng ta không thể tưởng tượng được một khi quả dị thục của nghiệp trổ quả, chín muồi. Những người có tu, thấy được nhân quả sẽ rất sợ khi lỡ làm ác. Vì thế, họ luôn cẩn trọng, rất sợ nghiệp ác, sợ điều bất thiện trong mọi việc. Khi sanh vào ba đường ác ở đời sau, không ai có thể chịu đựng thay thế cho mình, cũng không ai đi chung với mình, chỉ có nghiệp quyết định tất cả. Cái nhìn phàm phu của chúng ta thật nhỏ hẹp; còn các bậc Thánh luôn nhìn xa, trông rộng qua nhiều đời nhiều kiếp của một vòng luân hồi. Cho nên, các Ngài rất cẩn trọng về nhân quả, nghiệp báu, rất sợ ác nghiệp. Còn chúng ta chỉ lo ăn ngon, hưởng thụ thật nhiều, rồi chết về đâu thì mặc kệ.

Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo, hãy sợ hãi đối với ác nghiệp, hãy kinh sợ đối với ác nghiệp, hãy lo sợ đối với ác nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần tu tập thiện nghiệp, tích luỹ từng thiện nghiệp nhỏ. Một vòi nước nhỏ từng giọt, lâu dần cũng đầy thùng. Chúng ta không nên xem thường những ngày thọ bát, những ngày tu Nikāya, vì những lúc đó, quý vị được nhỏ từng giọt cam lộ vào trong tâm. Chúng ta phải tích luỹ thiện pháp hàng ngày, khi còn khả năng làm chúng ta cứ làm. Để khi vô thường đến, ta có đầy đủ các tư lương, ngày ra đi mang theo các phước lành đã tạo. Cho nên, chúng ta hãy siêng làm các việc công đức, tu tập trí tuệ để thấy được khổ, thấy được nhân quả, nghiệp báu để cố gắng tu tập.

Câu hỏi: Con chọn đề mục “bốn không: không mong, không muốn, không tìm, không cầu” để đánh vỡ ly dục, ly ác, bất thiện pháp khi thực tập sơ thiền có đúng không? “Xả thọ” và “thọ xả” giống hay khác nhau không?

Đầu tiên, “xả thọ” và “thọ xả” là giống nhau, trong đó, xả thọ có hai ý nghĩa: ý nghĩa đầu tiên là cảm giác thường thường, không vui cũng không khổ; ý nghĩa thứ hai là tu tập tâm buông xả, buông bỏ.

Thứ hai, khi thực tập thiền, mình tác ý hướng tâm vào sự hoan hỷ khi lìa xa các dục vọng của thế gian, không mong cầu, không đòi hỏi gì về ngũ dục của thế gian mà hân hoan rời xa chúng. Đó là chúng ta đang tác ý hướng đến hỷ do ly dục sanh, một hạnh phúc của bậc thượng nhân, hướng tâm về tầng thiền thứ nhất. Hạnh phúc lớn nhất của các bậc chân tu là niềm vui cao thượng khi được tu học. Chúng ta vừa vui mà vừa lo, đây là hai mặt hỷ và ưu trong sự tu học. Mừng vui vì chúng ta được tu học thiện pháp; còn lo lắng vì ta còn nhiều bất thiện pháp, cần phải trừ diệt, tẩy sạch. Hỷ và ưu sẽ giúp chúng ta thấm thía và cảm nhận được pháp, đồng thời, phá tan được những cảm giác trơ trơ, si mê, vô minh để mình có động lực tiến lên.

./.