Kinh Nikāya Giảng Giải - Tam Minh - Tứ Thiền - Tứ Trí - Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 4
Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 4
Thích Minh Thành
Ngày 30 tháng 11 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh giới uẩn PAGEREF _Toc92097193 \h 1
II. Chánh niệm, tỉnh giác của bậc Thánh PAGEREF _Toc92097194 \h 5
II. Từ bỏ tham ái PAGEREF _Toc92097195 \h 8
III. Từ bỏ sân hận PAGEREF _Toc92097196 \h 8
V. Từ bỏ hôn trầm thụy miên PAGEREF _Toc92097197 \h 11
VI. Từ bỏ trạo hối PAGEREF _Toc92097198 \h 12
VII. Từ bỏ hoài nghi PAGEREF _Toc92097199 \h 12
VIII. Các tầng thiền PAGEREF _Toc92097200 \h 13
IX. Túc mạng minh PAGEREF _Toc92097201 \h 16
X. Sanh tử trí PAGEREF _Toc92097202 \h 18
XI. Lậu tận minh PAGEREF _Toc92097203 \h 19
I. Thánh giới uẩn
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tiếp tục học để trọn vẹn tiểu kinh Ví dụ dấu chân voi. Trong bài kinh này Đức Thế Tôn nói tổng quát tình tự tu học rất thiết yếu của đạo lộ hành trì.
Đầu tiên, Ngài dạy về Thánh giới uẩn, những điều mà chúng ta giữ gìn để làm cho đời sống đạo đức của mình được tăng thượng, hướng thượng, phát triển.
“Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt.
Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...
Khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.”
Nếu như mình thực hành theo những giới hạnh đó, đức hạnh đó, đạo hạnh đó thì mình sẽ có những cảm giác lạc thọ ở bên trong tâm của mình. Tự tâm mình không có thấy lỗi lầm, không bị ray rứt, không bị trạo hối, hối hận, hối tiếc và sau đó chúng ta tiếp tục thực hành sự hộ trì các căn, đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Khi chúng ta tiếp xúc với sáu đối tượng đó, sắc, tiếng, mùi, vị, tiếp xúc và ý nhận thức các pháp thì Đức Thế Tôn dạy mình không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho sáu căn của mình không được chế ngự, làm cho sự ham thích hay bực bội, khó chịu, buồn đau, lo lắng, những pháp ác, bất thiện sanh khởi lên thì phải tự mình chế ngự những nguyên nhân đó. Luôn luôn giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Có vị hỏi ở đây không nắm giữ tướng chung, tướng riêng của sắc. Về tướng chung là tướng tổng quát, tướng riêng là tướng chi tiết, từng bộ phận nhỏ. Có vị hỏi rằng “Như vậy khi tai nghe tiếng, thì làm sao hiểu được thế nào là tướng chung của âm thanh và tướng riêng của âm thanh?” Minh Thành xin giải thích: Ví dụ khi chúng ta nghe một lời khen, khi người ta khen sẽ khen nhiều mặt, nhiều khía cạnh, vấn đề của câu chuyện đó. Nếu như mình nghe trong sự chánh niệm và tỉnh thức thì mình biết có lời khen mình, mình nghe với tính chất nghe hiểu biết chung. Còn nghe để mình nắm giữ tướng riêng là mình nhớ nghĩ từng từ ngữ, câu chữ ở trong lời nói đó, đó là tướng riêng của âm thanh, thanh trầm.
Hoặc khi mình bị người khác chỉ trích, chê bai, ủy nhục, phê phán thì toàn bộ những lời đó là tướng chung của lời chê bai, mình ghi nhớ từng chữ, từng câu ở trong lời nói đó thì gọi là tướng riêng của âm thanh.
Chúng ta nên ghi nhớ, tướng chung là tính chung chung, tướng riêng là những phần nhỏ, chi tiết, nhỏ nhiễm. Khi chúng ta nắm giữ cả hai tướng chung và tướng riêng đó thì mình rất dễ làm cho mình tham ái và sân hận, như được khen rồi mình ham, thích, khoái, khi bị chê thì mình tức tối, bực bội, khó chịu, sân hận. Vậy nên sự giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình là một pháp tu hết sức căn bản, quan trọng.
Về sắc, thanh, hương, vị cũng vậy, mình nghe và chỉ biết có mùi thơm, mình để ý đó là mùi như thế nào, mùi này là nước hoa của Pháp, hàng ngoại nhập hay của nước nào, từ loại nào, làm từ gì ra… Đó là tướng riêng. Từng chi tiết mình đi sâu vào đó, mình đi tiếp, đi vào chi tiết thì mình nắm giữ thọ trong đó, thọ nhận các hương trầm.
Về thức ăn cũng vậy, cũng có tướng chung, tướng riêng, thì khi ăn mình cũng biết là dễ ăn, ngon, nhưng nếu mình không quán chiếu thì mình ham thích. Và khi ngon thì ngon như thế nào, ngon ra sao, trong đó có những gì, mình thích những gì trong đó… Từng chi tiết nhỏ trong vị đó và mình ưa thích những chi tiết đó, những gia vị, hương vị thì đó là mình đi vào tướng riêng.
Nhưng nếu mình nắm giữ sắc, thanh, hương, vị, xúc, dù là tướng chung hay tướng riêng thì đều là nguyên nhân làm cho mình sanh khởi ham muốn và tức giận, thích hay không thích, ưa hay không ưa, muốn hay không muốn, ngon hay dở, khen hay chê, thơm hay hôi, đẹp hay xấu… Nếu mình không có sự chế ngự, sự hộ trì, kiềm chế, thắng lại, thu thúc, hộ trì, giữ gìn lại, mình không để cho sự hướng ngoại của mình được thả lỏng, buông lơi. Dù cho trong hoàn cảnh đó mọi người buông lơi nhưng mình phải khéo léo phòng hộ, quay trở lại để giữ gìn cảm giác toàn thân và hộ trì các căn của mình.
Vì những nguyên nhân gì khiến cho sự ham thích sanh khởi? Mình phải chế ngự nguyên nhân đó. Ví dụ khi mình nhìn thấy điều gì đó làm cho mình sanh khởi nên ham thích thì mình thu lại, không cho nhìn tiếp, nếu sanh khởi lên sự mến mến, khoái khoái, có sự dính mắc trong đó thì mình chế ngự lại, thu thúc, thâu lại. Như một chiếc xe chạy tới dốc nguy hiểm thì mình phải đạp thắng lại, rà thắng lại để cho độ đi xuống dốc chậm lại, từ từ mưới kiểm soát được.
Sự chế ngự là như mình chạy xe có thắng, phòng hộ là sự canh chừng, như người gác cổng, gác cửa. Nên pháp hộ trì các căn hết sức quan trọng trong thời Đức Phật còn tại thế và cho đến ngày nay các vị tu theo kinh tạng của Đức Phật thì các Ngài giữ rất kĩ các phần này, mắt các Ngài luôn giữ rõ biết ở phía trước mặt, không láo liên, nghe hay nói đều trầm tĩnh. Chính những điều đó làm cho mình có sự chế ngự, đề phòng, dè dặt, cẩn thận, phòng hộ, bảo vệ, thì khi những cái bên ngoài muốn xâm nhập vào thì không phải dễ.
Còn nếu mình thả lỏng các căn, mắt như là cửa sổ tâm hồn, để cho nó nhìn thoải mái thì các pháp đi vào, gọi là căn môn, sắc đi vào, tiếng vào tai, mũi thì hương đi vào, lưỡi thì vị đi vào, thân thì xúc đi vào, ý thì các pháp đi vào. Tức những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác bên trong.
Như vậy, Đức Phật dạy chúng ta là: có sáu bụi của sắc, hình sắc, của tiếng, của mùi, vị. Nếu mình không biết tu thì vị ngon hay không ngon đều dính phải, một là tham, hay là sân, vị không ngon không dở mình nghĩ là êm đẹp nhưng lại là bị si, khi mình không có chánh niệm tỉnh giác, chánh quán thọ thực.
Như chúng ta đã học chánh quán thọ thực, trong ba cảm thọ thích, không thích, không thích và không không thích đều phải có sự chánh niệm tỉnh giác. Nếu chúng ta không có sự thực tập như vậy thì chúng ta rất khó kiểm soát, giống như một căn nhà không có chốt, ống khóa hay chìa khóa, không có móc khóa hay cánh cửa. Một nội tâm thả lỏng các căn, buông lung phóng dật thì các ác, bất thiện pháp nội công ngoại kích thì chúng ta tu hoài cũng không thanh lọc được thân tâm của mình.
Ngoại kích là năm dục trưởng dưỡng bên ngoài, sắc đến với mắt, âm thanh tác động vào tai, mùi tác động mũi, vị tác động lưỡi, đó là ngoại kích. Nội công là công phạt, công phá từ bên trong của những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác bên trong tâm. Chúng ta nhớ duyên sanh pháp, pháp trần là thọ, tưởng, hành, chính những suy nghĩ về ham muốn này, dục tư duy, sân tư duy và hại tư duy, những suy nghĩ về ham muốn, thúc giục, những suy nghĩ về ham thích, tìm cầu, tìm kiếm năm thứ bên ngoài đó. Những suy nghĩ về bực bội, bức xúc, tức giận, suy nghĩ về thù hận, tranh đua, tranh đấu, tranh giành, những suy nghĩ mê muội, ngu si, hại mình, hại người, làm khổ mình làm khổ người thì những suy nghĩ đó là nội công, công phá từ bên trong.
Nếu mình không có sự hộ trì các căn, hộ trì ý căn thì trong hay ngoài chúng ta đều bị tơi tả, bầm dập, mình trở thành binh tạc tướng bại, chỉ cần thấy là dục, tham, ái khởi lên, chỉ nghe là sân khởi lên, khó chịu khởi lên, bức xúc khởi lên, dao động khởi lên. Khi không nhìn, không quán, không nội soi, hướng nội, không soi rọi thọ, tưởng, hành, làm cho sáu xúc, sáu thọ sanh khởi, làm cho dục ái, tham, sân, si, bản ngã sanh khởi. Nếu mình không khéo phòng hộ, giữ gìn, bảo hộ, bảo vệ thì nhà không cửa, tủ không khóa, xe không khóa, điện thoại không mật khẩu… Vì vậy, bên ngoài hay bên trong đều có thể tấn công mình bất cứ lúc nào.
Nên sự Thánh hộ trì các căn này hết sức quan trọng, phải giữ từ phía bên ngoài ngoại cảnh, đến kế bên là thân và các căn, giữ tiếp vào sâu bên trong là nội tâm và các thọ, tưởng, hành.
Đức Thế Tôn đã dạy mình rất đầy đủ, cụ thể, tuần tự, là tu từ cảnh – thân – tâm. Phải giữ không cho mắt, tai chạy theo sắc ở ngoại cảnh, nói gọn là tinh sắc, phải giữ để thân chạy theo những xúc ham muốn, bực bội, giữ miệng, mũi, đó là lớp thứ hai. Sâu vào lớp thứ ba là giữ những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong, đó gọi là hộ trì ý căn, khi ý nhận thức các pháp, khi mình để ý trở lại bên trong thì có hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ, khi đó suy nghĩ được trong các hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ nào là nguyên nhân khiến cho mình sanh khởi lên tham muốn, yêu thích thì mình phải chế ngự ngay những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ đó.
Những suy nghĩ, tư tưởng nào sanh khởi lên sự bực tức, bực bội, tác động tâm ý theo chiều sân tư duy thì phải ngăn chặn ngay những cảm thọ, tư tưởng đó, giải tỏa, giải phóng, giải phá, thoát ra khỏi tư tưởng, cảm giác đó, không cho nó tiếp tục, dẫn dắt, lập tức ngăn chặn, phòng hộ trong tương lai, nếu nó chưa sanh thì không cho sanh khởi, nếu đã sanh thì phải làm cho đoạn tận, không để cho nó tiếp tục sanh khởi trong tương lai nữa. Phải diệt tận từ trong tư tưởng, cảm giác, như vậy gọi là Thánh hộ trì ý căn – sự hộ trì tâm ý của bậc Thánh.
Khi chúng ta học nhận diện ngũ uẩn thì sẽ thấy rất rõ thọ, tưởng, hành. Và để sự hộ trì này tiến thêm một mức độ sâu sắc hơn thì Đức Thế Tôn đã dạy Thánh chánh niệm tỉnh giác. Đây là cách giáo dục, chánh niệm, đào tạo, tuần tự của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác dạy chúng ta đầy đủ, viên mãn mọi khía cạnh, thân tâm cảnh, không phải nói có một pháp tu là được chứng được Thánh quả. Chúng ta thấy chỉ sự hộ trì các căn mà chúng ta tu được là cả một sự giới đức, giới hạnh, đức hạnh cao thượng.
II. Chánh niệm, tỉnh giác của bậc Thánh
Tiếp theo là Đức Phật dạy cho chúng ta sự chánh niệm tỉnh giác của bậc Thánh:
“Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, y bát đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.”
Nếu mỗi ngày chúng ta đều đọc tới đọc lui cũng nhắc nhở mình, phải thường xuyên tác ý, tâm thức niệm, tâm không an trú pháp, tâm hay quên mà chỉ nhớ chuyện đời, chỉ nhớ chuyện đời, nay ăn gì, làm gì, đi đâu mà không nhớ những pháp, chính vì vậy mình phải học pháp, nhắc pháp, học pháp, ôn pháp, học thuộc lòng những pháp cần học tập, thực tập, cần phải hành trì là phải học thuộc lòng.
Khi đi đứng, nằm ngồi, co duỗi, ăn uống, nấu… đều phải tỉnh giác. Nếu mình thường nhắc, đọc câu này thì chúng ta thấy công năng, tác dụng của sự tác ý tuyệt vời không? Nó đã tác động vào tâm ý mình bằng sự nhắc nhở “Ngồi phải tỉnh, đi phải tỉnh giác, không được quên. Co duỗi tay hay đắp y, ôm bình bát phải tỉnh giác!” Phải nhắc mình như vậy, từ bên ngoài đến bên trong.
Đức Phật dạy chánh niệm tỉnh giác hay chú tâm cảnh giác từ bên ngoài đến bên trong, từ oai nghi, cử chỉ, hành vi, thân thể sử dụng như thế nào phải biết đang sử dụng như thế đó. Chúng ta nên học lại phần niệm thân trong kinh Tứ niệm xứ, cần phải học thuộc lòng, vì mỗi cử chỉ, động tác, oai nghi của mình đều có sự tỉnh thức, nhận biết, chánh niệm, như vậy thì mới có thể chế ngự được những tham ưu ở đời, những ham muốn, lo lắng, nóng giận, sân si ở đời này là nhờ chánh niệm tỉnh giác.
Đối với bên trong, những tưởng, cảm thọ, suy nghĩ, ý hành sanh khởi lên, chúng ta đều biết khi chúng sanh khởi, an trú và chấm dứt. Phải biết cảm thọ này sanh khởi lên là cảm thọ gì, có làm khó chịu người huynh đệ của mình không. Cảm giác này có bị tham ái không, cảm thọ, suy nghĩ này có muốn phô trương cái tôi của mình không? Có muốn biểu hiện, thể hiện, khoe khoang không? Mình phải kiểm soát hết và khi có những cái đó thì phải thấy biết, đẩy nó ra, như quét rác ra khỏi căn nhà nội tâm của mình, làm sạch sẽ, vệ sinh sạch sẽ, tẩy sạch nó, như vậy là Thánh chánh niệm tỉnh giác.
Không thể chỉ biết đi, đứng, nằm, ngồi là xong, đó chỉ là bên ngoài, nhưng bên trong có những cảm giác, tư tưởng, suy nghĩ, có tham, sân, si không, có dục ái, bản ngã hay không? Có vô minh không? Nếu có là lập tức giải phá, giải tỏa, giải phóng, giải thoát ra khỏi nó. Sự chánh niệm tỉnh giác như vậy gọi là sự chánh niệm tỉnh giác của bậc Thánh.
Chúng ta có cảm thấy tuyệt vời không? Tu được như vậy có xứng đáng với đồng tiền bát gạo của đàn na tín thí cúng dường không?
Nếu như mình cứ thả trôi, thả lỏng, mắt muốn nhìn gì cũng nhìn quên mình, tai nghe gì cũng thọ nhận và tham sân lên, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân tiếp xúc quên mình, thất niệm, không an trú thân hành niệm, không nhớ sự thực tập hộ trì căn, không nhớ sự thực tập chánh niệm tỉnh giác, cứ sống thả lỏng, buông trôi. Tu hoài ở chùa, ăn hết tương, chao, đậu hủ, bao nhiên tấn gạo, dù tới già cũng không nỗ lực hành trì những pháp này thì chúng ta vẫn là một người mang nợ, vẫn là số không, thậm chí là âm rất nhiều. Thiếu nợ, mang nợ và phải trả nợ, như mang lông đội sừng.
Vị có thể thành tựu được sự hộ trì các căn, vị này có cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục, có được một cảm giác vui, yên an, vui vì không bị nội công ngoại kích, không bị sáu thứ bụi vấy bẩn, nội tâm không bị ô nhiễm. Như ở các thành phố lớn trên thế giới đều đang bị ô nhiễm, thậm chí những đứa trẻ bị bệnh nặng về đường hô hấp, thậm chí là ô nhiễm. Không chỉ ô nhiễm ngoại cảnh mà còn ô nhiễm ở thực phẩm, nguồn nước, không khí, thức ăn, thậm chí ô nhiễm trong thân thể, tâm thức hữu tình của chúng sanh.
Sự tu tập để đưa đến sự không vẩn đục, tức là sự trong sạch của nội tâm. Và muốn có sự trong sạch đó thì phải có sự giữ gìn, bảo hộ, bảo vệ, chăm sóc, tỉnh táo, luôn luôn có sự chánh niệm tỉnh giác, không quên việc mình đang làm, dù cho ở bất cứ hoàn cảnh nào đều không quên việc mình đang làm hay pháp mình đang thực tập, hộ trì căn và chánh niệm tỉnh giác. Dù cho người đó là ai, thậm chí là người thân trong gia đình của mình cũng đừng quên sự chánh niệm tỉnh giác.
Dù là bạn bè thân nhau, thầy trò xem nhau như người trong nhà nhưng rồi cũng sẽ có chuyện, vì muốn nói gì nói, muốn làm gì làm, bị thả lỏng, buông lung, tập khí sanh khởi, thói quen trở lại, phàm tục tánh, mèo hoàn mèo.
Chúng ta nên nhớ phần hộ trì căn và chánh niệm tỉnh giác là rất quan trọng.
“Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.”
Như chúng ta đã nói về tham ái, để chúng ta thấy được chỗ trú, sanh khởi, an trú của tham ái, diệt trừ ở trong sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái. Giới thiệu thêm để chúng ta có thêm được một cách nhìn mới, sâu sắc, tinh tế về những cái ham thích của chúng ta.
Vì chúng ta cứ nghĩ tham ái là một thứ gì đó dễ hiểu, mình đã học và đã biết. Khi chúng ta đọc một đoạn trong bài kinh Đại niệm xứ thì chúng ta có bất ngờ không? Không ngờ là tham ái lại đến như vậy? Sau này có duyên thì chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn, quý vị muốn nghe thì Minh Thành cũng từng chia sẻ về chủ đề ái dục, thì nó rất rộng, không chỉ như mình hiểu trong từ đó.
II. Từ bỏ tham ái
“Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái,”
Về tham ái này Đức Thế Tôn dạy chúng ta gội rửa nó bằng các Quán Bất Tịnh, Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, quán ung nhọt, quán bộ xương, quán thân lủng lỗ, rỉ chảy, xấu hổ, tàm quý. Chúng ta phải thực tập các phương pháp đó thì mới có thể giảm bớt, nhiếp phục tham ái đối với tự thân. Từ tham ái đối với tự thân đó mới lan ra tham ái đối với đồ vật, cảnh vật rồi đến tham ái cả thế giới.
III. Từ bỏ sân hận
“Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận,”
Muốn từ bỏ sân hận nên thọ tập khởi, tức do sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình thì sanh khởi ra những cảm giác bực bội, sân hận đó. Mình muốn cho cảm giác bực bội, sân hận đó chấm dứt thì mình phải nhìn cho đúng về bản chất của bực bội này. Nguồn cơn, tác hại nguy hiểm của nó, sẽ dẫn đi đến đâu, thấy, biết, hiểu về nó, thành tựu trí tuệ về nó. Thấy đúng về cơn giận, làm đúng cách để dập tắt được cơn giận. Siêng năng, nỗ lực trong sự dập tắt cơn giận, bằng sự như lý tác ý đánh đuổi trong tư duy, cảm giác của mình, làm cho mình sanh khởi lên những cảm xúc từ tâm, tình thương.
Tưới tẩm hàng ngày hàng giờ, để mình xóa đi, gội rửa, tẩy đi những cảm thọ bức xúc, bực bội, sân hận, khó chịu, cộc cằn, gay gắt, thù hằn, thù hận thì phải nhờ những cảm thọ hiền thiện, tu tập tâm hiền, tâm từ, tu tập lòng bi mẫn, thương xót.
Minh Thành đã có hướng dẫn hết trên trang Linhquyphapan, chúng ta vào đó xem sẽ thấy được từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm như thế nào, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm thực tập như thế nào. Và trong từng bài có giải thích từng câu, từng chữ bên trong. Chúng ta cần chịu khó học thêm. Đó là những phương pháp thực tập hàng ngày hàng giờ, thậm chí mỗi khi cảm thọ, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức của mình đều phải thực tập. Tập thay đổi suy nghĩ mà chỉ theo suy nghĩ thường tình của phàm phu, mà nên tập theo suy nghĩ trí tuệ của bậc Thánh, không có suy nghĩ theo thường tình.
Mình cho là mình đúng nên cơn giận của mình không dập tắt được, mà mình nên nói “Giận là sai!” Dù bất cứ gì khởi lên theo bản ngã là sai, người tu sanh khởi ham thích trong năm dục, hay sanh khởi lên sự sân hận, sanh khởi lên cái tôi, cái ta, hơn thua là hoàn toàn sai, không đúng.
Mình có một chánh kiến, cái thấy chân quyết, xác quyết như vậy thì những suy nghĩ theo thường tình, hơn thua, cao thấp, nhân ngã thì mới nhổ tận gốc rễ, diệt tận được triệt để, làm cho nó không còn sanh khởi trong tương lai, như chặt cây dừa, cây cao, đào bới gốc rễ, sau đó chẻ ra, bằm ra, đốt lên, nghiền thành tro, đổ xuống sông xuống biển để gió thổi mười phương tám hướng bay vào hư không, tan biến thành mây thành khói hoàn toàn trong tâm mình, không còn chút gốc rễ nào trong tâm mình. Đó chính là công phu hành trì của chúng ta.
Chúng ta nên thực tập tâm từ, tình thương nhiều lần cùng lòng bi mẫn, thương mình, thương hữu tình, thương cho người thù mình, giận mình, tất cả chúng ta là nạn nhân, là vô minh, mê muội, là những kẻ đáng thương xót, tự hành hạ, làm khổ mình, làm khổ người khác. Tự thiêu đốt mình, thiêu đốt người khác, tự hành hạ mình hành hạ người khác, tự đài đọa mình, đài đọa người khác, tự hành tội mình, hành tội người khác.
Chúng ta ôm ấp một tâm tức giận mà ở chung hai huynh đệ, hai tỉ muội thì thấy khổ không? Như vậy có phải là làm khổ mình khổ người không? Có phải khổ huynh khổ đệ khổ mình không? Có phải tự mình hành hạ mình và người ở chung mình không? Hai mẹ con ở chung, thầy trò với nhau mà giận nhau ba ngày không nói chuyện? Đó là hành tội mình hành tội người, làm khổ mình làm khổ người.
Chúng ta bắt nhau phải chịu những cảm thọ cay đắng, chua chát, khó chịu như vậy. Mà chẳng qua là sự không thấy không biết sự thật mà cứ ai cũng giành phần đúng cho mình, ai cũng là hay là hơn, là giỏi, đều là bản ngã, vô minh, sân hận chứ chẳng là gì. Chúng ta giành được phần thắng, phần hơn, phần hay, phần phải thì chúng ta được gì? Được người khác ghét, được phiền não, được bực bội, được ganh tị, được mọi người đố kị hay được gì? Được hơn thua, được tranh giành, tranh đấu?
Mà sao chúng ta cứ cố giành phần phải, phần đúng, phần hơn, phần thắng, cứ tranh đấu, tranh giành hơn thua, giành giật để làm gì? Giành giật đến cuối cùng cũng chỉ là một đống tro, một hũ cốt, giành giật cả đời chỉ còn là một tử thi đưa vào lò thêu. Hơn thua, giành giật sáu, bảy mươi năm như vậy thì cuối cùng nhận lại một cái hòm. Đó là giỏi theo kiểu vô minh, ngu muội, phàm phu, thấp hèn, hạ liệt, thấp kém, giỏi mà nước mắt cứ chảy hoài, giận hoài, buồn hoài, tức hoài, ganh hoài, tật đố hoài, hơn thua, cau có hoài.
Thật đáng thương cho chúng ta, mình mới là người đáng thương nhất hành tinh và cũng đừng vội thương ai, nói “Tôi đại từ đại bi!” Nhưng khoan, hãy xem lại kĩ mình có đang từ bi với chính mình chưa, có bắt mình phải chịu những cảm thọ đau khổ, bức xúc, nóng bức, nhiệt não không? Mình có bắt mình với người ở chung chịu đựng không? Những cảm giác cay đắng, chua chát, bức xúc, nhất là trong thời gian đau khổ, đại thảm họa này, đi đứng không được, bao nhiêu lợi ích đều không có được, không được thoải mái như bình thường, bao nhiêu bức xúc bên trong mà chúng ta không tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, thì lại hằn học với nhau, làm khổ nhau rồi bất an.
Nên trong sự tu tập của chúng ta phải để ý thật kĩ tham và sân.
Tiếp theo là phương pháp đối trị tham và sân, từ bỏ hôn trầm, thụy miên.
V. Từ bỏ hôn trầm thụy miên
“- Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên.”
Từ bỏ ngủ gà gật, lên tụng kinh, ngồi thiền, học nhưng gật gù, mắt lơ đơ, lờ mờ, đơ đơ, ngáo ngáo. Phải đánh đuổi những cảm thọ, cảm giác đó, làm cho mắt của mình tinh minh, rực sáng lên, sáng tỏ lên, mắt của mình phải là mắt pháp, mắt trí, mắt tuệ, không thể tu mãi nhưng mắt vẫn mờ. Phải xem lại cảm thọ của mắt, mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên, bất cứ lúc nào, nhìn ánh nhìn trong sáng, tỏa sáng, tinh minh, tinh anh, tuệ trí trong ánh nhìn.
Vì vậy phải đánh đuổi được hôn trầm, trạng thái đơ đơ, lơ mơ, lờ mờ. Mình không ưa thích, ghét bỏ, đánh đuổi nó, tẩy sạch, đoạn tận, diệt tận, phải tác ý như vậy, sống trong một tâm trong sáng, tỏa sáng, rực sáng trong chánh niệm tỉnh giác của bậc Thánh.
Như nói đã rồi hỏi lại nói gì, kêu việc này làm việc kia, cầm chổi để đâu cũng không biết, dép để đâu cũng không biết. Tâm như vậy là mờ, ngơ ngáo.
Trong chánh niệm tỉnh giác đánh phá tâm, hôn trầm, thụy miên. Trầm là chìm, hôn là mờ tối, một tâm chìm trong chỗ mờ tối, gọi là hôn trầm. Thụy miên là ngủ gục, ngủ nghỉ, có khi ngủ luôn trong giờ thiền, giờ học, giờ tu và có khi ngủ nhưng không tỉnh, chìm vào chỗ lờ mờ gọi là hôn trầm.
Minh Thành đã có chia sẻ những phương pháp Đức Phật dạy cho Ngài Mục-kiền-liên trị bệnh hôn trầm, chúng ta nên chịu khó xem thêm, đều đã có dạy các phương pháp hóa giải.
VI. Từ bỏ trạo hối
“- Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá.”
Đây là tâm tham sân, tâm hối tiếc, hối hận những tội lỗi. Hối là hối hận, quá là tội lỗi. Trạo cử là lăn xăn, dao động, ray rứt, bức rứt, vì nó hối hận những tội lỗi nên tâm bứt rứt, dao động, ray rứt. Như vậy gọi là trạo cứ, hối quá.
Khi nhìn lại, soi lại và thấy những lỗi lầm mà tự thân sai phạm nên tâm đó, bị hối hận, hối tiếc, hối lỗi, làm cho tâm bất an, dao động, ray rứt, hối tiếc, đó gọi là trạo cử hối quá. Vị ấy từ bỏ trạo cử vì vị ấy giữ các giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, vị ấy bỏ những cấu nhiễm, tập khí, thói quen, ác bất thiện pháp nên vị này có được một nội tâm trầm lặng. Là một nội tâm yên lặng, bình lặng, an yên, an tịnh, khi vị này nhìn vào bên trong thấy mình không có lỗi lầm. Các giới, các sự hộ trì, chánh niệm tỉnh giác, các lậu hoặc, tham, sân, si bản ngã không xâm chiếm, chế ngự, áp đảo. Vị này giữ được một nội tâm trong sạch, thanh tịnh thì vị này hoan hỷ, an lạc, an vui với sự trong sạch, thanh tịnh của mình, với sự không cấu nhiễm của tâm mình. Vị này được một nội tâm an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, tĩnh lặng.
VII. Từ bỏ hoài nghi
“- Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.”
Nghi ngờ trong kinh Nikāya diễn tả rõ nghĩa, còn lúc trước chúng ta chỉ học chung chung. Nghi ngờ này là nghi ngờ đối với ngũ uẩn, không biết lúc trước kia là sao, sau này sẽ như thế nào, bây giờ mình ra sao. Nếu không thành tựu ngũ uẩn thì mình sẽ có những câu hỏi đó. Và câu hỏi đó không bao giờ giải quyết được nếu như mình chưa thành tựu về sự nhận diện năm uẩn, trí tuệ về năm uẩn.
Nếu mình thành tựu được, nhận diện được, thấy được lúc xưa là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì sau này cũng là chúng, bây giờ cũng là chúng, đều không có gì khác. Như vậy thì sự nghi ngờ này sẽ chấm dứt hoàn toàn, khi mình nhìn ra được năm thủ uẩn, nhìn ra được sự nắm chặt trong hình sắc, cảm giác, hình bóng trong tâm, suy nghĩ và nhận thức này. Nhìn ra được và nắm chặt vào năm uẩn này của quá khứ, nhìn thấy rõ ở hiện tại là đang nắm chặt, yêu thích, tham ái bên trong nên tương lai mình cũng sẽ giống như vậy nên vị này phá hết tất cả mọi nghi ngờ, không còn hồ nghi, phân vân, lưỡng lự, do dự, mờ tối. Tất cả chỉ là sự vô minh, tham ái đối với năm thủ uẩn, tất cả chúng sanh như vậy. Vị này xác quyết tuyệt đối, tâm vị này không còn do dự, phân vân, ngờ vực về năm uẩn, vị này phá sạch những nghi ngờ.
Quá khứ là năm uẩn, hiện tại là năm uẩn, tương lai là năm uẩn nếu còn vô minh và tham ái, cho đến khi nào hết vô minh, dứt tham ái thì mới không còn tái sanh trong những hình thái của năm uẩn này nữa, vị này mới dứt hết được nghi ngờ.
VIII. Các tầng thiền
“Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược, ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Như vậy, vị này từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, năm thứ gồm tham, sân, hôn trầm, thùy miên, trạo cử, nói quá, nghi ngờ là này những thứ làm cho tâm dơ bẩn, làm cho trí huệ bị mờ tối. Vị này lìa xa được năm thứ này thì nội tâm lìa tham muốn, lìa những pháp ác bất thiện và chứng, trú được thiền thứ nhất. Khi lìa được năm thứ này thì có được một nội tâm an lạc do li dục sanh, không còn chạy theo các đối tượng sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài mà có được một nội tâm tự nó an lạc, không cần, không lệ thuộc vào những thứ bên ngoài nữa, tự nó an lạc. Vị này chứng và trú được thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do li dục, sanh có tầm có tứ.
Thế nào là tầm là tứ? Là một sự hướng tâm về hỷ lạc mà mình đang có, mình vui mừng, ngồi và thấy nội tâm của mình không có tham, không muốn thêm gì nữa hết. Mình ngồi đây và không thấy giận ai, không buồn ngủ, tâm không chìm vào chỗ lờ mờ, tâm tỏa sáng, ngồi không thấy có dao động, không thấy có sự hối hận nào trong tâm. Mà mình ngồi đây và tâm nhận diện được rõ ràng đối với sự nhận diện của năm uẩn, vị này sanh khởi lên niềm vui, niềm hỷ lạc, hạnh phúc, vui sướng, an lạc, trong sự rời bỏ, trói buộc, ô nhiễm của tâm. Vị này vui thích, hoan hỷ, hân hoan, hạnh phúc, vui sướng trong đó và vị này tác ý sự vui sướng đó gọi là tầm, an trú trong sự vui sướng đó gọi là tứ.
Như con bướm bay luôn hướng về bông hoa, bay tới như vậy gọi là tầm, tầm cầu bông hoa, khi nó bay tới bông hoa, đậu vào nhụy thì đó là tứ, bám vào trong bông hoa, là đối tượng tầm cầu đó.
Cũng vậy, tâm này hướng đến sự hỷ lạc, an lạc, hạnh phúc, hoan hỷ trong việc xa lìa các tham muốn, vui thích trong đó, hân hoan, hỷ lạc trong đó, hạnh phúc, hài lòng trong đó, vị này an trú trọn vẹn trong đó. Nên vị này chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có sự hướng tâm và an trú trong đó. Nếu mình tu đúng pháp và siêng năng thì điều này rất dễ có được, không khó, đó là trạng thái sơ thiền. Đức Thế Tôn gọi đó là dấu chân của Như Lai, người đạt đến được trạng thái đó gọi là thấy được dấu chân của Như Lai, thấy được dấu cọ xát, cắt chém của Như Lai. Là ví dụ cho dấu chân voi, đi đến và nhìn ra được dấu vết rồi mới chắc chắn bên trong này có tượng vương – voi chúa bên trong.
Người có được những trạng thái, nếm được hương vị của sơ thiền, hỷ lạc này thì người này bắt đầu nhìn thấy được dấu vết của Như Lai. Khi đó lòng tin của người đó không bị lay chuyển, tuy vị Thánh đệ tử này thấy được như vậy nhưng vẫn không kết luận Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, vẫn chưa kết luận pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, chúng tăng khéo hành trì. Tuy là đạt được sơ thiền nhưng chưa tuyệt đối.
Đây là Thế Tôn nói đến chỗ tận cùng, còn vị đạt đến sơ thiền, thành tựu Chánh Kiến là các vị này đi vào hàng bốn đôi tám chúng, Thế Tôn muốn nói đến cứu cánh pháp.
Sau đó Đức Phật nói đến nhị thiền, tức vị này đã đi vào hàng Bốn đôi tám chúng, cứu cánh pháp:
“Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc, do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Tức là trạng thái tác ý, hướng tâm, bám trú vào đối tượng không còn, chỉ là trạng thái hỷ lạc nhè nhẹ do định sanh, không có tầm không có tứ, nội tỉnh nhất tâm. Trong tâm có một sự vui nhẹ, không có tác ý, bám trụ đối tượng, xả trạng thái thích thú, hạnh phúc, khoan khoái còn thô của thiền thứ nhất. Để đi vào trạng thái vui nhẹ, của các lạc thọ của tâm, đi vào trạng thái thiền thứ hai, nội tỉnh nhất tâm.
Như vậy, đó là bắt đầu thấy được dấu vết của Như Lai, mà vị này cũng chưa vội kết luận, vị này lìa niềm vui và trú tâm trong trạng thái buông xả, ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Tức không an trú trong niềm vui đó mà trú tâm mình trong sự buông, xả, ngay cả cảm giác vui nhẹ cũng buông xả. Vị này chánh niệm tỉnh giác, thân cảm vào sự lạc thọ của các bậc Thánh, gọi là xả niệm lạc trú. Điều này gọi là ly hỷ diệu lạc.
“Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Thứ nhất là ly dục sanh hỷ lạc, thứ hai là định sanh hỷ lạc, thứ ba là ly hỷ diệu lạc – là ly của sự hoan hỷ, đạt được an lạc rất nhỏ nhiệm, màu nhiệm, sự lạc thọ của bậc Thánh. Do tâm buông xả, không thích an lạc đó.
Đó là thiền thứ ba, vị này tiếp tục:
“Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai, nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Khi đi vào những tầng thiền này cùng với Chánh Tri Kiến đã là thành Bốn đôi tám chúng, là từ Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu đến Nhất Lai. Tiếp theo đi đến các Thánh quả, bài kinh này Thế Tôn nói đến cứu cánh thành tựu tam minh của bậc A-la-hán và của Chánh Đẳng Giác.
IX. Túc mạng minh
“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh.”
Với một tâm định tĩnh, hoàn toàn yên tĩnh, một tâm thuần tịnh, không còn chút là dục tham sân, hôn trầm, trạo cử bên trong, nghi ngờ. Hoàn toàn tất cả năm triền cái đều đã sạch, một nội tâm thuần tịnh, định tĩnh, thuần túy, tinh thuần trong sự thanh tịnh, trong sạch, không cấu nhiễm một chút nào, không còn những phiền não, lậu hoặc, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Nhu nhuyến là một nội tâm mềm mại, hướng tới đâu là thông tới đó, không còn gì chướng ngại, đó gọi là nhu nhuyến.
Tâm mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, người này làm chủ được tâm của mình, hướng tới đâu là soi thấu đến đó, không còn gì chướng ngại của tâm. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát tức là tâm đã thoát ra khỏi tham ái và tâm đó đã thoát hoàn toàn vô minh, trí tuệ đó đã được khai mở một cách toàn diện. Đó là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, một tâm trong sạch, không cấu nhiễm, không phiền não, một tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Vị ấy dẫn tâm của mình, hướng tâm.
Một khi nội tâm có chỗ thuần tịnh như vậy, không cấu nhiễm, dễ sử dụng, nhu nhuyến, vững chắc như vậy thì vị này dẫn tâm, hướng tâm của mình đến đâu thì sẽ thông suốt đến đó, không còn gì chướng ngại. Vị này dẫn tâm đến những đời sống trong quá khứ của mình, vị này xem những đời sống trong quá khứ của mình đã từng như thế nào, thì khi vị này hướng tâm tới các đời sống trong quá khứ thì nó hiện ra hết, đó là Túc mạng minh thành tựu.
Túc là xưa, cũ, mạng là sinh mạng, minh là sự sáng tỏ trí tuệ, tức là trí tuệ sáng tỏ hết tất cả những đời sống quá khứ của chính mình. Đó gọi là Túc mạng minh. Minh là tuệ minh, minh trí, mạng là những sinh mạng quá khứ, thời xưa của tự thân. Dẫn tâm và hướng tâm đến mức độ này thì hướng đến bất cứ chỗ nào thì chỗ đó thông hết, không còn gì chướng ngại, không còn bất cứ pháp nào chướng ngại vì đã ly dục, ly tham, ly ác bất thiện pháp, định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và bình thản. Đã sạch hết tất cả năm triền cái, tham sân si, vô minh, bản ngã đều sạch, không còn bất cứ một điều gì, nó thuần thanh, tuyệt điểm, như bầu trời không một gợn mây, chỉ một màu sanh biếc.
Tâm của vị này cũng giống vậy, thuần tịnh, không còn một chút nào cấu nhiễm trong đó. Với tâm như vậy là nghĩ tới đâu là thông suốt tất cả các pháp đến đó.
“Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp.
Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.”
Ý nói vị đó nhớ tất cả thành kiếp, hoại kiếp trong vô lượng đời sống quá khứ của mình, không có đời nào là không nhớ, đều thấy và nhớ hết. Đó là minh thứ nhất – Túc mạng minh, hay còn gọi là sanh tử trí, trí huệ thông suốt về sự sống chết của chính mình trong vô lượng kiếp vừa qua.
“Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh.”
X. Sanh tử trí
Khi nãy là nói về chính mình, bây giờ hướng đến chúng sanh,
“Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”
Còn chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Đây là Sanh tử minh, Sanh tử trí, khi nãy là Túc mạng minh, khi nãy là tự thân quá khứ của mình, giờ là quá khứ của các chúng sanh.
XI. Lậu tận minh
Tiếp theo là Lậu tận minh, còn gọi là lậu tận trí. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Là dẫn tâm đến trí tuệ làm cho sạch hết tất cả sự cấu nhiễm, nhỏ nhiệm, vi tế nhất, vị ấy hướng tâm đến đó.
“Vị ấy biết như thật: "Đây là Khổ", biết như thật: "Đây là Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là sự Khổ diệt", biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là các lậu hoặc diệt", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt"”
Tức, biết như thật sắc là khổ, tổ hợp cảm giác là khổ, tổ hợp hình bóng trong tâm tưởng này là khổ, tổ hợp của suy nghĩ, của hành, của sáu thức, sự nhận thức, rõ biết là khổ. Vị ấy biết một cách đúng như thật ngũ uẩn này là khổ, nguyên nhân của sự đau khổ trong năm uẩn (dục ái, tham, sân si, vô minh và bản ngã).
Vị ấy cũng biết được sự dập tắt tham, sân si, bản ngã là do khổ dập tắt, vì vị ấy biết đúng như thật rằng “Đây là con đường đưa đến khổ chấm dứt” đó là thành tựu bốn Thánh trí về khổ.
Tiếp theo là thành tựu Bốn Thánh trí về lậu hoặc, khi hướng tâm tới đâu thì pháp rực sáng tới đó, hiển bài một cách viên mãn, trọn vẹn hết tất cả các khía cạnh, góc độ của nó. Vì tâm giờ không còn gì chướng ngại, cấu nhiễm nên hướng tâm tới gì thì hiển lộ viên mãn tất cả mọi khía cạnh, góc độ, trí tuệ về vấn đề đó. Nên khi hướng tâm tới khổ thì thành tựu Bốn Thánh trí về khổ, hướng tâm về lậu hoặc thì thành tựu Bốn Thánh trí về lậu hoặc.
Vị ấy “biết như thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là các lậu hoặc diệt", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt"”
Đó là vị ấy thành tựu được Bốn Thánh trí về lậu hoặc. Bên trên là Bốn Thánh trí về khổ.
“Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".
Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát".
Vị ấy biết một cách đúng như thật, không phải do tưởng tượng, mà“Thật sự là ta đã giải thoát khỏi tất cả tham, sân, si, lậu hoặc, mê lầm ngấm ngầm hoạt động trong ngũ uẩn này.”
“Vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa".”
Đây là thành tựu cứu cánh phạm hạnh, mục tiêu, mục đích tối thượng của người xuất gia, viên mãn, cứu cánh, rốt ráo, tròn đầy, tròn vẹn.
“Này Bà- la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Này Bà- la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì". Này Bà-la-môn, tới mức độ này, ví dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi.”
Đến đây mới là sự giải thích trọn vẹn Ví dụ về dấu chân voi một cáchd đầy đủ, rộng rãi.
“Được nghe nói vậy, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng!”
(Tiểu kinh dụ dấu chân voi – Trung Bộ Kinh)
Đức Thế Tôn giải thích xong ví dụ dấu chân voi thì vị Bà-la-môn này quy y Tam Bảo và xin làm đệ tử.
Qua đó, chúng ta thấy được trình tự tu học trong bài kinh này hết sức quan trọng. Đây là trình tự, đạo lộ, thứ tự, lớp lang, những bước, nấc thang của một người xuất gia tu học.
Vì vậy chúng ta cần học kĩ về kinh này. Chúng ta nhớ từng bước và nắm thật vững: Đầu tiên là vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn, cảm giác lạc thọ thuộc về nội tâm không lỗi lầm. Kế đến vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm không vẩn đục, các căn của vị này trong sáng. Tiếp theo, vị này thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác. Sau khi thành tựu giới, sự hộ trì căn và Thánh chánh niệm tỉnh giác thì vị này từ bỏ Năm triền cái. Sau khi từ bỏ Năm triền cái thì vị này an trú vào Bốn thiền. Sau khi an trú vào Bốn thiền, vị này thành tựu được Tam minh, gồm có Túc mạng minh, Sanh tử minh và Lậu tận minh.
Đến đó là tột cùng của sự tu học, là cứu cánh, đại thành tựu của người xuất gia. Khi vị này thành tựu tam minh thì vị này thành tựu được Bốn Thánh trí về khổ và thành tựu được Bốn Thánh trí về lậu hoặc. Và Bốn Thánh trí về khổ này cũng là Bốn Thánh trí về ngũ uẩn. Chữ “đây” trong “Đây là khổ” là ngũ uẩn, thành tựu Bốn Thánh trí, sau khi thành tựu Tam minh thì vị này thành tựu Bốn Thánh trí về khổ, gọi là Tứ Thánh Đế.
Nên chúng ta đừng xem thường Tứ Thánh Đế, bậc Thánh tối cao chí thượng mới thành tựu được viên mãn về Bốn Thánh trí của sự khổ, Bốn Thánh trí về lậu hoặc, đến đó thì vị này tự biết mình đã được giải thoát. Không phải giải thoát mà không biết mình đi đến đâu, mà tu đến đâu biết đến đó. Hướng Dự Lưu là biết Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu là biết Nhập Lưu, Nhất Lai là biết Nhất Lai, Bất Lai là biết Bất Lai, vô sanh A-la-hán là biết vô sanh A-la-hán. Không thể nói là tu rồi không biết chứng hay không chứng, không phải vậy, trong đây biết rất rõ.
Như vậy, vị này đến đây thấy rõ đời sống của mình đã cùng tận, đời sống phạm hạnh đã viên thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong năm uẩn này nữa. Đó là đạo lộ, trình tự, thứ lớp, tuần tự, nấc thang, là những bước tu học cũng như thành công của người xuất gia chúng ta.
Mong rằng qua bài kinh này, chúng ta sẽ nghe lại thật nhiều lần, ghi chép ra và học thuộc lòng những bước quan trọng. Để chúng ta lấy đó làm pháp hành, nhắc nhở mình thực tập hành trì để có thành tựu trên con đường sứ mạng cao cả, trọng trách cao thượng của người khất sĩ, của người từ bỏ đời sống đầy phiền não, khổ đau và bất an này.
Thích Minh Thành
Ngày 30 tháng 11 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh giới uẩn PAGEREF _Toc92097193 \h 1
II. Chánh niệm, tỉnh giác của bậc Thánh PAGEREF _Toc92097194 \h 5
II. Từ bỏ tham ái PAGEREF _Toc92097195 \h 8
III. Từ bỏ sân hận PAGEREF _Toc92097196 \h 8
V. Từ bỏ hôn trầm thụy miên PAGEREF _Toc92097197 \h 11
VI. Từ bỏ trạo hối PAGEREF _Toc92097198 \h 12
VII. Từ bỏ hoài nghi PAGEREF _Toc92097199 \h 12
VIII. Các tầng thiền PAGEREF _Toc92097200 \h 13
IX. Túc mạng minh PAGEREF _Toc92097201 \h 16
X. Sanh tử trí PAGEREF _Toc92097202 \h 18
XI. Lậu tận minh PAGEREF _Toc92097203 \h 19
I. Thánh giới uẩn
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tiếp tục học để trọn vẹn tiểu kinh Ví dụ dấu chân voi. Trong bài kinh này Đức Thế Tôn nói tổng quát tình tự tu học rất thiết yếu của đạo lộ hành trì.
Đầu tiên, Ngài dạy về Thánh giới uẩn, những điều mà chúng ta giữ gìn để làm cho đời sống đạo đức của mình được tăng thượng, hướng thượng, phát triển.
“Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt.
Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...
Khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.”
Nếu như mình thực hành theo những giới hạnh đó, đức hạnh đó, đạo hạnh đó thì mình sẽ có những cảm giác lạc thọ ở bên trong tâm của mình. Tự tâm mình không có thấy lỗi lầm, không bị ray rứt, không bị trạo hối, hối hận, hối tiếc và sau đó chúng ta tiếp tục thực hành sự hộ trì các căn, đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Khi chúng ta tiếp xúc với sáu đối tượng đó, sắc, tiếng, mùi, vị, tiếp xúc và ý nhận thức các pháp thì Đức Thế Tôn dạy mình không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho sáu căn của mình không được chế ngự, làm cho sự ham thích hay bực bội, khó chịu, buồn đau, lo lắng, những pháp ác, bất thiện sanh khởi lên thì phải tự mình chế ngự những nguyên nhân đó. Luôn luôn giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Có vị hỏi ở đây không nắm giữ tướng chung, tướng riêng của sắc. Về tướng chung là tướng tổng quát, tướng riêng là tướng chi tiết, từng bộ phận nhỏ. Có vị hỏi rằng “Như vậy khi tai nghe tiếng, thì làm sao hiểu được thế nào là tướng chung của âm thanh và tướng riêng của âm thanh?” Minh Thành xin giải thích: Ví dụ khi chúng ta nghe một lời khen, khi người ta khen sẽ khen nhiều mặt, nhiều khía cạnh, vấn đề của câu chuyện đó. Nếu như mình nghe trong sự chánh niệm và tỉnh thức thì mình biết có lời khen mình, mình nghe với tính chất nghe hiểu biết chung. Còn nghe để mình nắm giữ tướng riêng là mình nhớ nghĩ từng từ ngữ, câu chữ ở trong lời nói đó, đó là tướng riêng của âm thanh, thanh trầm.
Hoặc khi mình bị người khác chỉ trích, chê bai, ủy nhục, phê phán thì toàn bộ những lời đó là tướng chung của lời chê bai, mình ghi nhớ từng chữ, từng câu ở trong lời nói đó thì gọi là tướng riêng của âm thanh.
Chúng ta nên ghi nhớ, tướng chung là tính chung chung, tướng riêng là những phần nhỏ, chi tiết, nhỏ nhiễm. Khi chúng ta nắm giữ cả hai tướng chung và tướng riêng đó thì mình rất dễ làm cho mình tham ái và sân hận, như được khen rồi mình ham, thích, khoái, khi bị chê thì mình tức tối, bực bội, khó chịu, sân hận. Vậy nên sự giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình là một pháp tu hết sức căn bản, quan trọng.
Về sắc, thanh, hương, vị cũng vậy, mình nghe và chỉ biết có mùi thơm, mình để ý đó là mùi như thế nào, mùi này là nước hoa của Pháp, hàng ngoại nhập hay của nước nào, từ loại nào, làm từ gì ra… Đó là tướng riêng. Từng chi tiết mình đi sâu vào đó, mình đi tiếp, đi vào chi tiết thì mình nắm giữ thọ trong đó, thọ nhận các hương trầm.
Về thức ăn cũng vậy, cũng có tướng chung, tướng riêng, thì khi ăn mình cũng biết là dễ ăn, ngon, nhưng nếu mình không quán chiếu thì mình ham thích. Và khi ngon thì ngon như thế nào, ngon ra sao, trong đó có những gì, mình thích những gì trong đó… Từng chi tiết nhỏ trong vị đó và mình ưa thích những chi tiết đó, những gia vị, hương vị thì đó là mình đi vào tướng riêng.
Nhưng nếu mình nắm giữ sắc, thanh, hương, vị, xúc, dù là tướng chung hay tướng riêng thì đều là nguyên nhân làm cho mình sanh khởi ham muốn và tức giận, thích hay không thích, ưa hay không ưa, muốn hay không muốn, ngon hay dở, khen hay chê, thơm hay hôi, đẹp hay xấu… Nếu mình không có sự chế ngự, sự hộ trì, kiềm chế, thắng lại, thu thúc, hộ trì, giữ gìn lại, mình không để cho sự hướng ngoại của mình được thả lỏng, buông lơi. Dù cho trong hoàn cảnh đó mọi người buông lơi nhưng mình phải khéo léo phòng hộ, quay trở lại để giữ gìn cảm giác toàn thân và hộ trì các căn của mình.
Vì những nguyên nhân gì khiến cho sự ham thích sanh khởi? Mình phải chế ngự nguyên nhân đó. Ví dụ khi mình nhìn thấy điều gì đó làm cho mình sanh khởi nên ham thích thì mình thu lại, không cho nhìn tiếp, nếu sanh khởi lên sự mến mến, khoái khoái, có sự dính mắc trong đó thì mình chế ngự lại, thu thúc, thâu lại. Như một chiếc xe chạy tới dốc nguy hiểm thì mình phải đạp thắng lại, rà thắng lại để cho độ đi xuống dốc chậm lại, từ từ mưới kiểm soát được.
Sự chế ngự là như mình chạy xe có thắng, phòng hộ là sự canh chừng, như người gác cổng, gác cửa. Nên pháp hộ trì các căn hết sức quan trọng trong thời Đức Phật còn tại thế và cho đến ngày nay các vị tu theo kinh tạng của Đức Phật thì các Ngài giữ rất kĩ các phần này, mắt các Ngài luôn giữ rõ biết ở phía trước mặt, không láo liên, nghe hay nói đều trầm tĩnh. Chính những điều đó làm cho mình có sự chế ngự, đề phòng, dè dặt, cẩn thận, phòng hộ, bảo vệ, thì khi những cái bên ngoài muốn xâm nhập vào thì không phải dễ.
Còn nếu mình thả lỏng các căn, mắt như là cửa sổ tâm hồn, để cho nó nhìn thoải mái thì các pháp đi vào, gọi là căn môn, sắc đi vào, tiếng vào tai, mũi thì hương đi vào, lưỡi thì vị đi vào, thân thì xúc đi vào, ý thì các pháp đi vào. Tức những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác bên trong.
Như vậy, Đức Phật dạy chúng ta là: có sáu bụi của sắc, hình sắc, của tiếng, của mùi, vị. Nếu mình không biết tu thì vị ngon hay không ngon đều dính phải, một là tham, hay là sân, vị không ngon không dở mình nghĩ là êm đẹp nhưng lại là bị si, khi mình không có chánh niệm tỉnh giác, chánh quán thọ thực.
Như chúng ta đã học chánh quán thọ thực, trong ba cảm thọ thích, không thích, không thích và không không thích đều phải có sự chánh niệm tỉnh giác. Nếu chúng ta không có sự thực tập như vậy thì chúng ta rất khó kiểm soát, giống như một căn nhà không có chốt, ống khóa hay chìa khóa, không có móc khóa hay cánh cửa. Một nội tâm thả lỏng các căn, buông lung phóng dật thì các ác, bất thiện pháp nội công ngoại kích thì chúng ta tu hoài cũng không thanh lọc được thân tâm của mình.
Ngoại kích là năm dục trưởng dưỡng bên ngoài, sắc đến với mắt, âm thanh tác động vào tai, mùi tác động mũi, vị tác động lưỡi, đó là ngoại kích. Nội công là công phạt, công phá từ bên trong của những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác bên trong tâm. Chúng ta nhớ duyên sanh pháp, pháp trần là thọ, tưởng, hành, chính những suy nghĩ về ham muốn này, dục tư duy, sân tư duy và hại tư duy, những suy nghĩ về ham muốn, thúc giục, những suy nghĩ về ham thích, tìm cầu, tìm kiếm năm thứ bên ngoài đó. Những suy nghĩ về bực bội, bức xúc, tức giận, suy nghĩ về thù hận, tranh đua, tranh đấu, tranh giành, những suy nghĩ mê muội, ngu si, hại mình, hại người, làm khổ mình làm khổ người thì những suy nghĩ đó là nội công, công phá từ bên trong.
Nếu mình không có sự hộ trì các căn, hộ trì ý căn thì trong hay ngoài chúng ta đều bị tơi tả, bầm dập, mình trở thành binh tạc tướng bại, chỉ cần thấy là dục, tham, ái khởi lên, chỉ nghe là sân khởi lên, khó chịu khởi lên, bức xúc khởi lên, dao động khởi lên. Khi không nhìn, không quán, không nội soi, hướng nội, không soi rọi thọ, tưởng, hành, làm cho sáu xúc, sáu thọ sanh khởi, làm cho dục ái, tham, sân, si, bản ngã sanh khởi. Nếu mình không khéo phòng hộ, giữ gìn, bảo hộ, bảo vệ thì nhà không cửa, tủ không khóa, xe không khóa, điện thoại không mật khẩu… Vì vậy, bên ngoài hay bên trong đều có thể tấn công mình bất cứ lúc nào.
Nên sự Thánh hộ trì các căn này hết sức quan trọng, phải giữ từ phía bên ngoài ngoại cảnh, đến kế bên là thân và các căn, giữ tiếp vào sâu bên trong là nội tâm và các thọ, tưởng, hành.
Đức Thế Tôn đã dạy mình rất đầy đủ, cụ thể, tuần tự, là tu từ cảnh – thân – tâm. Phải giữ không cho mắt, tai chạy theo sắc ở ngoại cảnh, nói gọn là tinh sắc, phải giữ để thân chạy theo những xúc ham muốn, bực bội, giữ miệng, mũi, đó là lớp thứ hai. Sâu vào lớp thứ ba là giữ những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong, đó gọi là hộ trì ý căn, khi ý nhận thức các pháp, khi mình để ý trở lại bên trong thì có hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ, khi đó suy nghĩ được trong các hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ nào là nguyên nhân khiến cho mình sanh khởi lên tham muốn, yêu thích thì mình phải chế ngự ngay những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ đó.
Những suy nghĩ, tư tưởng nào sanh khởi lên sự bực tức, bực bội, tác động tâm ý theo chiều sân tư duy thì phải ngăn chặn ngay những cảm thọ, tư tưởng đó, giải tỏa, giải phóng, giải phá, thoát ra khỏi tư tưởng, cảm giác đó, không cho nó tiếp tục, dẫn dắt, lập tức ngăn chặn, phòng hộ trong tương lai, nếu nó chưa sanh thì không cho sanh khởi, nếu đã sanh thì phải làm cho đoạn tận, không để cho nó tiếp tục sanh khởi trong tương lai nữa. Phải diệt tận từ trong tư tưởng, cảm giác, như vậy gọi là Thánh hộ trì ý căn – sự hộ trì tâm ý của bậc Thánh.
Khi chúng ta học nhận diện ngũ uẩn thì sẽ thấy rất rõ thọ, tưởng, hành. Và để sự hộ trì này tiến thêm một mức độ sâu sắc hơn thì Đức Thế Tôn đã dạy Thánh chánh niệm tỉnh giác. Đây là cách giáo dục, chánh niệm, đào tạo, tuần tự của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác dạy chúng ta đầy đủ, viên mãn mọi khía cạnh, thân tâm cảnh, không phải nói có một pháp tu là được chứng được Thánh quả. Chúng ta thấy chỉ sự hộ trì các căn mà chúng ta tu được là cả một sự giới đức, giới hạnh, đức hạnh cao thượng.
II. Chánh niệm, tỉnh giác của bậc Thánh
Tiếp theo là Đức Phật dạy cho chúng ta sự chánh niệm tỉnh giác của bậc Thánh:
“Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, y bát đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.”
Nếu mỗi ngày chúng ta đều đọc tới đọc lui cũng nhắc nhở mình, phải thường xuyên tác ý, tâm thức niệm, tâm không an trú pháp, tâm hay quên mà chỉ nhớ chuyện đời, chỉ nhớ chuyện đời, nay ăn gì, làm gì, đi đâu mà không nhớ những pháp, chính vì vậy mình phải học pháp, nhắc pháp, học pháp, ôn pháp, học thuộc lòng những pháp cần học tập, thực tập, cần phải hành trì là phải học thuộc lòng.
Khi đi đứng, nằm ngồi, co duỗi, ăn uống, nấu… đều phải tỉnh giác. Nếu mình thường nhắc, đọc câu này thì chúng ta thấy công năng, tác dụng của sự tác ý tuyệt vời không? Nó đã tác động vào tâm ý mình bằng sự nhắc nhở “Ngồi phải tỉnh, đi phải tỉnh giác, không được quên. Co duỗi tay hay đắp y, ôm bình bát phải tỉnh giác!” Phải nhắc mình như vậy, từ bên ngoài đến bên trong.
Đức Phật dạy chánh niệm tỉnh giác hay chú tâm cảnh giác từ bên ngoài đến bên trong, từ oai nghi, cử chỉ, hành vi, thân thể sử dụng như thế nào phải biết đang sử dụng như thế đó. Chúng ta nên học lại phần niệm thân trong kinh Tứ niệm xứ, cần phải học thuộc lòng, vì mỗi cử chỉ, động tác, oai nghi của mình đều có sự tỉnh thức, nhận biết, chánh niệm, như vậy thì mới có thể chế ngự được những tham ưu ở đời, những ham muốn, lo lắng, nóng giận, sân si ở đời này là nhờ chánh niệm tỉnh giác.
Đối với bên trong, những tưởng, cảm thọ, suy nghĩ, ý hành sanh khởi lên, chúng ta đều biết khi chúng sanh khởi, an trú và chấm dứt. Phải biết cảm thọ này sanh khởi lên là cảm thọ gì, có làm khó chịu người huynh đệ của mình không. Cảm giác này có bị tham ái không, cảm thọ, suy nghĩ này có muốn phô trương cái tôi của mình không? Có muốn biểu hiện, thể hiện, khoe khoang không? Mình phải kiểm soát hết và khi có những cái đó thì phải thấy biết, đẩy nó ra, như quét rác ra khỏi căn nhà nội tâm của mình, làm sạch sẽ, vệ sinh sạch sẽ, tẩy sạch nó, như vậy là Thánh chánh niệm tỉnh giác.
Không thể chỉ biết đi, đứng, nằm, ngồi là xong, đó chỉ là bên ngoài, nhưng bên trong có những cảm giác, tư tưởng, suy nghĩ, có tham, sân, si không, có dục ái, bản ngã hay không? Có vô minh không? Nếu có là lập tức giải phá, giải tỏa, giải phóng, giải thoát ra khỏi nó. Sự chánh niệm tỉnh giác như vậy gọi là sự chánh niệm tỉnh giác của bậc Thánh.
Chúng ta có cảm thấy tuyệt vời không? Tu được như vậy có xứng đáng với đồng tiền bát gạo của đàn na tín thí cúng dường không?
Nếu như mình cứ thả trôi, thả lỏng, mắt muốn nhìn gì cũng nhìn quên mình, tai nghe gì cũng thọ nhận và tham sân lên, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân tiếp xúc quên mình, thất niệm, không an trú thân hành niệm, không nhớ sự thực tập hộ trì căn, không nhớ sự thực tập chánh niệm tỉnh giác, cứ sống thả lỏng, buông trôi. Tu hoài ở chùa, ăn hết tương, chao, đậu hủ, bao nhiên tấn gạo, dù tới già cũng không nỗ lực hành trì những pháp này thì chúng ta vẫn là một người mang nợ, vẫn là số không, thậm chí là âm rất nhiều. Thiếu nợ, mang nợ và phải trả nợ, như mang lông đội sừng.
Vị có thể thành tựu được sự hộ trì các căn, vị này có cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục, có được một cảm giác vui, yên an, vui vì không bị nội công ngoại kích, không bị sáu thứ bụi vấy bẩn, nội tâm không bị ô nhiễm. Như ở các thành phố lớn trên thế giới đều đang bị ô nhiễm, thậm chí những đứa trẻ bị bệnh nặng về đường hô hấp, thậm chí là ô nhiễm. Không chỉ ô nhiễm ngoại cảnh mà còn ô nhiễm ở thực phẩm, nguồn nước, không khí, thức ăn, thậm chí ô nhiễm trong thân thể, tâm thức hữu tình của chúng sanh.
Sự tu tập để đưa đến sự không vẩn đục, tức là sự trong sạch của nội tâm. Và muốn có sự trong sạch đó thì phải có sự giữ gìn, bảo hộ, bảo vệ, chăm sóc, tỉnh táo, luôn luôn có sự chánh niệm tỉnh giác, không quên việc mình đang làm, dù cho ở bất cứ hoàn cảnh nào đều không quên việc mình đang làm hay pháp mình đang thực tập, hộ trì căn và chánh niệm tỉnh giác. Dù cho người đó là ai, thậm chí là người thân trong gia đình của mình cũng đừng quên sự chánh niệm tỉnh giác.
Dù là bạn bè thân nhau, thầy trò xem nhau như người trong nhà nhưng rồi cũng sẽ có chuyện, vì muốn nói gì nói, muốn làm gì làm, bị thả lỏng, buông lung, tập khí sanh khởi, thói quen trở lại, phàm tục tánh, mèo hoàn mèo.
Chúng ta nên nhớ phần hộ trì căn và chánh niệm tỉnh giác là rất quan trọng.
“Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.”
Như chúng ta đã nói về tham ái, để chúng ta thấy được chỗ trú, sanh khởi, an trú của tham ái, diệt trừ ở trong sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái. Giới thiệu thêm để chúng ta có thêm được một cách nhìn mới, sâu sắc, tinh tế về những cái ham thích của chúng ta.
Vì chúng ta cứ nghĩ tham ái là một thứ gì đó dễ hiểu, mình đã học và đã biết. Khi chúng ta đọc một đoạn trong bài kinh Đại niệm xứ thì chúng ta có bất ngờ không? Không ngờ là tham ái lại đến như vậy? Sau này có duyên thì chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn, quý vị muốn nghe thì Minh Thành cũng từng chia sẻ về chủ đề ái dục, thì nó rất rộng, không chỉ như mình hiểu trong từ đó.
II. Từ bỏ tham ái
“Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái,”
Về tham ái này Đức Thế Tôn dạy chúng ta gội rửa nó bằng các Quán Bất Tịnh, Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, quán ung nhọt, quán bộ xương, quán thân lủng lỗ, rỉ chảy, xấu hổ, tàm quý. Chúng ta phải thực tập các phương pháp đó thì mới có thể giảm bớt, nhiếp phục tham ái đối với tự thân. Từ tham ái đối với tự thân đó mới lan ra tham ái đối với đồ vật, cảnh vật rồi đến tham ái cả thế giới.
III. Từ bỏ sân hận
“Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận,”
Muốn từ bỏ sân hận nên thọ tập khởi, tức do sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình thì sanh khởi ra những cảm giác bực bội, sân hận đó. Mình muốn cho cảm giác bực bội, sân hận đó chấm dứt thì mình phải nhìn cho đúng về bản chất của bực bội này. Nguồn cơn, tác hại nguy hiểm của nó, sẽ dẫn đi đến đâu, thấy, biết, hiểu về nó, thành tựu trí tuệ về nó. Thấy đúng về cơn giận, làm đúng cách để dập tắt được cơn giận. Siêng năng, nỗ lực trong sự dập tắt cơn giận, bằng sự như lý tác ý đánh đuổi trong tư duy, cảm giác của mình, làm cho mình sanh khởi lên những cảm xúc từ tâm, tình thương.
Tưới tẩm hàng ngày hàng giờ, để mình xóa đi, gội rửa, tẩy đi những cảm thọ bức xúc, bực bội, sân hận, khó chịu, cộc cằn, gay gắt, thù hằn, thù hận thì phải nhờ những cảm thọ hiền thiện, tu tập tâm hiền, tâm từ, tu tập lòng bi mẫn, thương xót.
Minh Thành đã có hướng dẫn hết trên trang Linhquyphapan, chúng ta vào đó xem sẽ thấy được từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm như thế nào, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm thực tập như thế nào. Và trong từng bài có giải thích từng câu, từng chữ bên trong. Chúng ta cần chịu khó học thêm. Đó là những phương pháp thực tập hàng ngày hàng giờ, thậm chí mỗi khi cảm thọ, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức của mình đều phải thực tập. Tập thay đổi suy nghĩ mà chỉ theo suy nghĩ thường tình của phàm phu, mà nên tập theo suy nghĩ trí tuệ của bậc Thánh, không có suy nghĩ theo thường tình.
Mình cho là mình đúng nên cơn giận của mình không dập tắt được, mà mình nên nói “Giận là sai!” Dù bất cứ gì khởi lên theo bản ngã là sai, người tu sanh khởi ham thích trong năm dục, hay sanh khởi lên sự sân hận, sanh khởi lên cái tôi, cái ta, hơn thua là hoàn toàn sai, không đúng.
Mình có một chánh kiến, cái thấy chân quyết, xác quyết như vậy thì những suy nghĩ theo thường tình, hơn thua, cao thấp, nhân ngã thì mới nhổ tận gốc rễ, diệt tận được triệt để, làm cho nó không còn sanh khởi trong tương lai, như chặt cây dừa, cây cao, đào bới gốc rễ, sau đó chẻ ra, bằm ra, đốt lên, nghiền thành tro, đổ xuống sông xuống biển để gió thổi mười phương tám hướng bay vào hư không, tan biến thành mây thành khói hoàn toàn trong tâm mình, không còn chút gốc rễ nào trong tâm mình. Đó chính là công phu hành trì của chúng ta.
Chúng ta nên thực tập tâm từ, tình thương nhiều lần cùng lòng bi mẫn, thương mình, thương hữu tình, thương cho người thù mình, giận mình, tất cả chúng ta là nạn nhân, là vô minh, mê muội, là những kẻ đáng thương xót, tự hành hạ, làm khổ mình, làm khổ người khác. Tự thiêu đốt mình, thiêu đốt người khác, tự hành hạ mình hành hạ người khác, tự đài đọa mình, đài đọa người khác, tự hành tội mình, hành tội người khác.
Chúng ta ôm ấp một tâm tức giận mà ở chung hai huynh đệ, hai tỉ muội thì thấy khổ không? Như vậy có phải là làm khổ mình khổ người không? Có phải khổ huynh khổ đệ khổ mình không? Có phải tự mình hành hạ mình và người ở chung mình không? Hai mẹ con ở chung, thầy trò với nhau mà giận nhau ba ngày không nói chuyện? Đó là hành tội mình hành tội người, làm khổ mình làm khổ người.
Chúng ta bắt nhau phải chịu những cảm thọ cay đắng, chua chát, khó chịu như vậy. Mà chẳng qua là sự không thấy không biết sự thật mà cứ ai cũng giành phần đúng cho mình, ai cũng là hay là hơn, là giỏi, đều là bản ngã, vô minh, sân hận chứ chẳng là gì. Chúng ta giành được phần thắng, phần hơn, phần hay, phần phải thì chúng ta được gì? Được người khác ghét, được phiền não, được bực bội, được ganh tị, được mọi người đố kị hay được gì? Được hơn thua, được tranh giành, tranh đấu?
Mà sao chúng ta cứ cố giành phần phải, phần đúng, phần hơn, phần thắng, cứ tranh đấu, tranh giành hơn thua, giành giật để làm gì? Giành giật đến cuối cùng cũng chỉ là một đống tro, một hũ cốt, giành giật cả đời chỉ còn là một tử thi đưa vào lò thêu. Hơn thua, giành giật sáu, bảy mươi năm như vậy thì cuối cùng nhận lại một cái hòm. Đó là giỏi theo kiểu vô minh, ngu muội, phàm phu, thấp hèn, hạ liệt, thấp kém, giỏi mà nước mắt cứ chảy hoài, giận hoài, buồn hoài, tức hoài, ganh hoài, tật đố hoài, hơn thua, cau có hoài.
Thật đáng thương cho chúng ta, mình mới là người đáng thương nhất hành tinh và cũng đừng vội thương ai, nói “Tôi đại từ đại bi!” Nhưng khoan, hãy xem lại kĩ mình có đang từ bi với chính mình chưa, có bắt mình phải chịu những cảm thọ đau khổ, bức xúc, nóng bức, nhiệt não không? Mình có bắt mình với người ở chung chịu đựng không? Những cảm giác cay đắng, chua chát, bức xúc, nhất là trong thời gian đau khổ, đại thảm họa này, đi đứng không được, bao nhiêu lợi ích đều không có được, không được thoải mái như bình thường, bao nhiêu bức xúc bên trong mà chúng ta không tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, thì lại hằn học với nhau, làm khổ nhau rồi bất an.
Nên trong sự tu tập của chúng ta phải để ý thật kĩ tham và sân.
Tiếp theo là phương pháp đối trị tham và sân, từ bỏ hôn trầm, thụy miên.
V. Từ bỏ hôn trầm thụy miên
“- Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên.”
Từ bỏ ngủ gà gật, lên tụng kinh, ngồi thiền, học nhưng gật gù, mắt lơ đơ, lờ mờ, đơ đơ, ngáo ngáo. Phải đánh đuổi những cảm thọ, cảm giác đó, làm cho mắt của mình tinh minh, rực sáng lên, sáng tỏ lên, mắt của mình phải là mắt pháp, mắt trí, mắt tuệ, không thể tu mãi nhưng mắt vẫn mờ. Phải xem lại cảm thọ của mắt, mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên, bất cứ lúc nào, nhìn ánh nhìn trong sáng, tỏa sáng, tinh minh, tinh anh, tuệ trí trong ánh nhìn.
Vì vậy phải đánh đuổi được hôn trầm, trạng thái đơ đơ, lơ mơ, lờ mờ. Mình không ưa thích, ghét bỏ, đánh đuổi nó, tẩy sạch, đoạn tận, diệt tận, phải tác ý như vậy, sống trong một tâm trong sáng, tỏa sáng, rực sáng trong chánh niệm tỉnh giác của bậc Thánh.
Như nói đã rồi hỏi lại nói gì, kêu việc này làm việc kia, cầm chổi để đâu cũng không biết, dép để đâu cũng không biết. Tâm như vậy là mờ, ngơ ngáo.
Trong chánh niệm tỉnh giác đánh phá tâm, hôn trầm, thụy miên. Trầm là chìm, hôn là mờ tối, một tâm chìm trong chỗ mờ tối, gọi là hôn trầm. Thụy miên là ngủ gục, ngủ nghỉ, có khi ngủ luôn trong giờ thiền, giờ học, giờ tu và có khi ngủ nhưng không tỉnh, chìm vào chỗ lờ mờ gọi là hôn trầm.
Minh Thành đã có chia sẻ những phương pháp Đức Phật dạy cho Ngài Mục-kiền-liên trị bệnh hôn trầm, chúng ta nên chịu khó xem thêm, đều đã có dạy các phương pháp hóa giải.
VI. Từ bỏ trạo hối
“- Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá.”
Đây là tâm tham sân, tâm hối tiếc, hối hận những tội lỗi. Hối là hối hận, quá là tội lỗi. Trạo cử là lăn xăn, dao động, ray rứt, bức rứt, vì nó hối hận những tội lỗi nên tâm bứt rứt, dao động, ray rứt. Như vậy gọi là trạo cứ, hối quá.
Khi nhìn lại, soi lại và thấy những lỗi lầm mà tự thân sai phạm nên tâm đó, bị hối hận, hối tiếc, hối lỗi, làm cho tâm bất an, dao động, ray rứt, hối tiếc, đó gọi là trạo cử hối quá. Vị ấy từ bỏ trạo cử vì vị ấy giữ các giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, vị ấy bỏ những cấu nhiễm, tập khí, thói quen, ác bất thiện pháp nên vị này có được một nội tâm trầm lặng. Là một nội tâm yên lặng, bình lặng, an yên, an tịnh, khi vị này nhìn vào bên trong thấy mình không có lỗi lầm. Các giới, các sự hộ trì, chánh niệm tỉnh giác, các lậu hoặc, tham, sân, si bản ngã không xâm chiếm, chế ngự, áp đảo. Vị này giữ được một nội tâm trong sạch, thanh tịnh thì vị này hoan hỷ, an lạc, an vui với sự trong sạch, thanh tịnh của mình, với sự không cấu nhiễm của tâm mình. Vị này được một nội tâm an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, tĩnh lặng.
VII. Từ bỏ hoài nghi
“- Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.”
Nghi ngờ trong kinh Nikāya diễn tả rõ nghĩa, còn lúc trước chúng ta chỉ học chung chung. Nghi ngờ này là nghi ngờ đối với ngũ uẩn, không biết lúc trước kia là sao, sau này sẽ như thế nào, bây giờ mình ra sao. Nếu không thành tựu ngũ uẩn thì mình sẽ có những câu hỏi đó. Và câu hỏi đó không bao giờ giải quyết được nếu như mình chưa thành tựu về sự nhận diện năm uẩn, trí tuệ về năm uẩn.
Nếu mình thành tựu được, nhận diện được, thấy được lúc xưa là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì sau này cũng là chúng, bây giờ cũng là chúng, đều không có gì khác. Như vậy thì sự nghi ngờ này sẽ chấm dứt hoàn toàn, khi mình nhìn ra được năm thủ uẩn, nhìn ra được sự nắm chặt trong hình sắc, cảm giác, hình bóng trong tâm, suy nghĩ và nhận thức này. Nhìn ra được và nắm chặt vào năm uẩn này của quá khứ, nhìn thấy rõ ở hiện tại là đang nắm chặt, yêu thích, tham ái bên trong nên tương lai mình cũng sẽ giống như vậy nên vị này phá hết tất cả mọi nghi ngờ, không còn hồ nghi, phân vân, lưỡng lự, do dự, mờ tối. Tất cả chỉ là sự vô minh, tham ái đối với năm thủ uẩn, tất cả chúng sanh như vậy. Vị này xác quyết tuyệt đối, tâm vị này không còn do dự, phân vân, ngờ vực về năm uẩn, vị này phá sạch những nghi ngờ.
Quá khứ là năm uẩn, hiện tại là năm uẩn, tương lai là năm uẩn nếu còn vô minh và tham ái, cho đến khi nào hết vô minh, dứt tham ái thì mới không còn tái sanh trong những hình thái của năm uẩn này nữa, vị này mới dứt hết được nghi ngờ.
VIII. Các tầng thiền
“Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược, ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Như vậy, vị này từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, năm thứ gồm tham, sân, hôn trầm, thùy miên, trạo cử, nói quá, nghi ngờ là này những thứ làm cho tâm dơ bẩn, làm cho trí huệ bị mờ tối. Vị này lìa xa được năm thứ này thì nội tâm lìa tham muốn, lìa những pháp ác bất thiện và chứng, trú được thiền thứ nhất. Khi lìa được năm thứ này thì có được một nội tâm an lạc do li dục sanh, không còn chạy theo các đối tượng sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài mà có được một nội tâm tự nó an lạc, không cần, không lệ thuộc vào những thứ bên ngoài nữa, tự nó an lạc. Vị này chứng và trú được thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do li dục, sanh có tầm có tứ.
Thế nào là tầm là tứ? Là một sự hướng tâm về hỷ lạc mà mình đang có, mình vui mừng, ngồi và thấy nội tâm của mình không có tham, không muốn thêm gì nữa hết. Mình ngồi đây và không thấy giận ai, không buồn ngủ, tâm không chìm vào chỗ lờ mờ, tâm tỏa sáng, ngồi không thấy có dao động, không thấy có sự hối hận nào trong tâm. Mà mình ngồi đây và tâm nhận diện được rõ ràng đối với sự nhận diện của năm uẩn, vị này sanh khởi lên niềm vui, niềm hỷ lạc, hạnh phúc, vui sướng, an lạc, trong sự rời bỏ, trói buộc, ô nhiễm của tâm. Vị này vui thích, hoan hỷ, hân hoan, hạnh phúc, vui sướng trong đó và vị này tác ý sự vui sướng đó gọi là tầm, an trú trong sự vui sướng đó gọi là tứ.
Như con bướm bay luôn hướng về bông hoa, bay tới như vậy gọi là tầm, tầm cầu bông hoa, khi nó bay tới bông hoa, đậu vào nhụy thì đó là tứ, bám vào trong bông hoa, là đối tượng tầm cầu đó.
Cũng vậy, tâm này hướng đến sự hỷ lạc, an lạc, hạnh phúc, hoan hỷ trong việc xa lìa các tham muốn, vui thích trong đó, hân hoan, hỷ lạc trong đó, hạnh phúc, hài lòng trong đó, vị này an trú trọn vẹn trong đó. Nên vị này chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có sự hướng tâm và an trú trong đó. Nếu mình tu đúng pháp và siêng năng thì điều này rất dễ có được, không khó, đó là trạng thái sơ thiền. Đức Thế Tôn gọi đó là dấu chân của Như Lai, người đạt đến được trạng thái đó gọi là thấy được dấu chân của Như Lai, thấy được dấu cọ xát, cắt chém của Như Lai. Là ví dụ cho dấu chân voi, đi đến và nhìn ra được dấu vết rồi mới chắc chắn bên trong này có tượng vương – voi chúa bên trong.
Người có được những trạng thái, nếm được hương vị của sơ thiền, hỷ lạc này thì người này bắt đầu nhìn thấy được dấu vết của Như Lai. Khi đó lòng tin của người đó không bị lay chuyển, tuy vị Thánh đệ tử này thấy được như vậy nhưng vẫn không kết luận Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, vẫn chưa kết luận pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, chúng tăng khéo hành trì. Tuy là đạt được sơ thiền nhưng chưa tuyệt đối.
Đây là Thế Tôn nói đến chỗ tận cùng, còn vị đạt đến sơ thiền, thành tựu Chánh Kiến là các vị này đi vào hàng bốn đôi tám chúng, Thế Tôn muốn nói đến cứu cánh pháp.
Sau đó Đức Phật nói đến nhị thiền, tức vị này đã đi vào hàng Bốn đôi tám chúng, cứu cánh pháp:
“Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc, do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Tức là trạng thái tác ý, hướng tâm, bám trú vào đối tượng không còn, chỉ là trạng thái hỷ lạc nhè nhẹ do định sanh, không có tầm không có tứ, nội tỉnh nhất tâm. Trong tâm có một sự vui nhẹ, không có tác ý, bám trụ đối tượng, xả trạng thái thích thú, hạnh phúc, khoan khoái còn thô của thiền thứ nhất. Để đi vào trạng thái vui nhẹ, của các lạc thọ của tâm, đi vào trạng thái thiền thứ hai, nội tỉnh nhất tâm.
Như vậy, đó là bắt đầu thấy được dấu vết của Như Lai, mà vị này cũng chưa vội kết luận, vị này lìa niềm vui và trú tâm trong trạng thái buông xả, ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Tức không an trú trong niềm vui đó mà trú tâm mình trong sự buông, xả, ngay cả cảm giác vui nhẹ cũng buông xả. Vị này chánh niệm tỉnh giác, thân cảm vào sự lạc thọ của các bậc Thánh, gọi là xả niệm lạc trú. Điều này gọi là ly hỷ diệu lạc.
“Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Thứ nhất là ly dục sanh hỷ lạc, thứ hai là định sanh hỷ lạc, thứ ba là ly hỷ diệu lạc – là ly của sự hoan hỷ, đạt được an lạc rất nhỏ nhiệm, màu nhiệm, sự lạc thọ của bậc Thánh. Do tâm buông xả, không thích an lạc đó.
Đó là thiền thứ ba, vị này tiếp tục:
“Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai, nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
Khi đi vào những tầng thiền này cùng với Chánh Tri Kiến đã là thành Bốn đôi tám chúng, là từ Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu đến Nhất Lai. Tiếp theo đi đến các Thánh quả, bài kinh này Thế Tôn nói đến cứu cánh thành tựu tam minh của bậc A-la-hán và của Chánh Đẳng Giác.
IX. Túc mạng minh
“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh.”
Với một tâm định tĩnh, hoàn toàn yên tĩnh, một tâm thuần tịnh, không còn chút là dục tham sân, hôn trầm, trạo cử bên trong, nghi ngờ. Hoàn toàn tất cả năm triền cái đều đã sạch, một nội tâm thuần tịnh, định tĩnh, thuần túy, tinh thuần trong sự thanh tịnh, trong sạch, không cấu nhiễm một chút nào, không còn những phiền não, lậu hoặc, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Nhu nhuyến là một nội tâm mềm mại, hướng tới đâu là thông tới đó, không còn gì chướng ngại, đó gọi là nhu nhuyến.
Tâm mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, người này làm chủ được tâm của mình, hướng tới đâu là soi thấu đến đó, không còn gì chướng ngại của tâm. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát tức là tâm đã thoát ra khỏi tham ái và tâm đó đã thoát hoàn toàn vô minh, trí tuệ đó đã được khai mở một cách toàn diện. Đó là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, một tâm trong sạch, không cấu nhiễm, không phiền não, một tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Vị ấy dẫn tâm của mình, hướng tâm.
Một khi nội tâm có chỗ thuần tịnh như vậy, không cấu nhiễm, dễ sử dụng, nhu nhuyến, vững chắc như vậy thì vị này dẫn tâm, hướng tâm của mình đến đâu thì sẽ thông suốt đến đó, không còn gì chướng ngại. Vị này dẫn tâm đến những đời sống trong quá khứ của mình, vị này xem những đời sống trong quá khứ của mình đã từng như thế nào, thì khi vị này hướng tâm tới các đời sống trong quá khứ thì nó hiện ra hết, đó là Túc mạng minh thành tựu.
Túc là xưa, cũ, mạng là sinh mạng, minh là sự sáng tỏ trí tuệ, tức là trí tuệ sáng tỏ hết tất cả những đời sống quá khứ của chính mình. Đó gọi là Túc mạng minh. Minh là tuệ minh, minh trí, mạng là những sinh mạng quá khứ, thời xưa của tự thân. Dẫn tâm và hướng tâm đến mức độ này thì hướng đến bất cứ chỗ nào thì chỗ đó thông hết, không còn gì chướng ngại, không còn bất cứ pháp nào chướng ngại vì đã ly dục, ly tham, ly ác bất thiện pháp, định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và bình thản. Đã sạch hết tất cả năm triền cái, tham sân si, vô minh, bản ngã đều sạch, không còn bất cứ một điều gì, nó thuần thanh, tuyệt điểm, như bầu trời không một gợn mây, chỉ một màu sanh biếc.
Tâm của vị này cũng giống vậy, thuần tịnh, không còn một chút nào cấu nhiễm trong đó. Với tâm như vậy là nghĩ tới đâu là thông suốt tất cả các pháp đến đó.
“Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp.
Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.”
Ý nói vị đó nhớ tất cả thành kiếp, hoại kiếp trong vô lượng đời sống quá khứ của mình, không có đời nào là không nhớ, đều thấy và nhớ hết. Đó là minh thứ nhất – Túc mạng minh, hay còn gọi là sanh tử trí, trí huệ thông suốt về sự sống chết của chính mình trong vô lượng kiếp vừa qua.
“Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".”
“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh.”
X. Sanh tử trí
Khi nãy là nói về chính mình, bây giờ hướng đến chúng sanh,
“Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”
Còn chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Đây là Sanh tử minh, Sanh tử trí, khi nãy là Túc mạng minh, khi nãy là tự thân quá khứ của mình, giờ là quá khứ của các chúng sanh.
XI. Lậu tận minh
Tiếp theo là Lậu tận minh, còn gọi là lậu tận trí. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Là dẫn tâm đến trí tuệ làm cho sạch hết tất cả sự cấu nhiễm, nhỏ nhiệm, vi tế nhất, vị ấy hướng tâm đến đó.
“Vị ấy biết như thật: "Đây là Khổ", biết như thật: "Đây là Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là sự Khổ diệt", biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là các lậu hoặc diệt", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt"”
Tức, biết như thật sắc là khổ, tổ hợp cảm giác là khổ, tổ hợp hình bóng trong tâm tưởng này là khổ, tổ hợp của suy nghĩ, của hành, của sáu thức, sự nhận thức, rõ biết là khổ. Vị ấy biết một cách đúng như thật ngũ uẩn này là khổ, nguyên nhân của sự đau khổ trong năm uẩn (dục ái, tham, sân si, vô minh và bản ngã).
Vị ấy cũng biết được sự dập tắt tham, sân si, bản ngã là do khổ dập tắt, vì vị ấy biết đúng như thật rằng “Đây là con đường đưa đến khổ chấm dứt” đó là thành tựu bốn Thánh trí về khổ.
Tiếp theo là thành tựu Bốn Thánh trí về lậu hoặc, khi hướng tâm tới đâu thì pháp rực sáng tới đó, hiển bài một cách viên mãn, trọn vẹn hết tất cả các khía cạnh, góc độ của nó. Vì tâm giờ không còn gì chướng ngại, cấu nhiễm nên hướng tâm tới gì thì hiển lộ viên mãn tất cả mọi khía cạnh, góc độ, trí tuệ về vấn đề đó. Nên khi hướng tâm tới khổ thì thành tựu Bốn Thánh trí về khổ, hướng tâm về lậu hoặc thì thành tựu Bốn Thánh trí về lậu hoặc.
Vị ấy “biết như thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là các lậu hoặc diệt", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt"”
Đó là vị ấy thành tựu được Bốn Thánh trí về lậu hoặc. Bên trên là Bốn Thánh trí về khổ.
“Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì".
Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát".
Vị ấy biết một cách đúng như thật, không phải do tưởng tượng, mà“Thật sự là ta đã giải thoát khỏi tất cả tham, sân, si, lậu hoặc, mê lầm ngấm ngầm hoạt động trong ngũ uẩn này.”
“Vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa".”
Đây là thành tựu cứu cánh phạm hạnh, mục tiêu, mục đích tối thượng của người xuất gia, viên mãn, cứu cánh, rốt ráo, tròn đầy, tròn vẹn.
“Này Bà- la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Này Bà- la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì". Này Bà-la-môn, tới mức độ này, ví dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi.”
Đến đây mới là sự giải thích trọn vẹn Ví dụ về dấu chân voi một cáchd đầy đủ, rộng rãi.
“Được nghe nói vậy, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng!”
(Tiểu kinh dụ dấu chân voi – Trung Bộ Kinh)
Đức Thế Tôn giải thích xong ví dụ dấu chân voi thì vị Bà-la-môn này quy y Tam Bảo và xin làm đệ tử.
Qua đó, chúng ta thấy được trình tự tu học trong bài kinh này hết sức quan trọng. Đây là trình tự, đạo lộ, thứ tự, lớp lang, những bước, nấc thang của một người xuất gia tu học.
Vì vậy chúng ta cần học kĩ về kinh này. Chúng ta nhớ từng bước và nắm thật vững: Đầu tiên là vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn, cảm giác lạc thọ thuộc về nội tâm không lỗi lầm. Kế đến vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm không vẩn đục, các căn của vị này trong sáng. Tiếp theo, vị này thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác. Sau khi thành tựu giới, sự hộ trì căn và Thánh chánh niệm tỉnh giác thì vị này từ bỏ Năm triền cái. Sau khi từ bỏ Năm triền cái thì vị này an trú vào Bốn thiền. Sau khi an trú vào Bốn thiền, vị này thành tựu được Tam minh, gồm có Túc mạng minh, Sanh tử minh và Lậu tận minh.
Đến đó là tột cùng của sự tu học, là cứu cánh, đại thành tựu của người xuất gia. Khi vị này thành tựu tam minh thì vị này thành tựu được Bốn Thánh trí về khổ và thành tựu được Bốn Thánh trí về lậu hoặc. Và Bốn Thánh trí về khổ này cũng là Bốn Thánh trí về ngũ uẩn. Chữ “đây” trong “Đây là khổ” là ngũ uẩn, thành tựu Bốn Thánh trí, sau khi thành tựu Tam minh thì vị này thành tựu Bốn Thánh trí về khổ, gọi là Tứ Thánh Đế.
Nên chúng ta đừng xem thường Tứ Thánh Đế, bậc Thánh tối cao chí thượng mới thành tựu được viên mãn về Bốn Thánh trí của sự khổ, Bốn Thánh trí về lậu hoặc, đến đó thì vị này tự biết mình đã được giải thoát. Không phải giải thoát mà không biết mình đi đến đâu, mà tu đến đâu biết đến đó. Hướng Dự Lưu là biết Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu là biết Nhập Lưu, Nhất Lai là biết Nhất Lai, Bất Lai là biết Bất Lai, vô sanh A-la-hán là biết vô sanh A-la-hán. Không thể nói là tu rồi không biết chứng hay không chứng, không phải vậy, trong đây biết rất rõ.
Như vậy, vị này đến đây thấy rõ đời sống của mình đã cùng tận, đời sống phạm hạnh đã viên thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong năm uẩn này nữa. Đó là đạo lộ, trình tự, thứ lớp, tuần tự, nấc thang, là những bước tu học cũng như thành công của người xuất gia chúng ta.
Mong rằng qua bài kinh này, chúng ta sẽ nghe lại thật nhiều lần, ghi chép ra và học thuộc lòng những bước quan trọng. Để chúng ta lấy đó làm pháp hành, nhắc nhở mình thực tập hành trì để có thành tựu trên con đường sứ mạng cao cả, trọng trách cao thượng của người khất sĩ, của người từ bỏ đời sống đầy phiền não, khổ đau và bất an này.