Pháp Đàm NIKAYA - Đức Phật Có Biết Tương Lai - Thiết Thực Hiện Tại - Có Hiệu Quả Tức Thì
Pháp Đàm Nikāya
ĐỨC PHẬT CÓ BIẾT TƯƠNG LAI?
THIẾT THỰC HIỆN TẠI - CÓ HIỆU QUẢ TỨC THÌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đức Phật có biết vị lai hay không? PAGEREF _Toc137114865 \h 1
II.Vô minh, tà kiến, si mê PAGEREF _Toc137114866 \h 1
1.Thế nào là Chánh kiến PAGEREF _Toc137114867 \h 2
2.Phân biệt vô minh, tà kiến, si mê PAGEREF _Toc137114868 \h 4
III.Nhận diện ngũ uẩn và tham, sân, si PAGEREF _Toc137114869 \h 8
IV.Tu tập cảm thọ PAGEREF _Toc137114870 \h 13
V.Thế nào là Pháp thiết thực hiện tại – đến để mà thấy? PAGEREF _Toc137114871 \h 15
VI.Nhắn gửi người xuất gia PAGEREF _Toc137114872 \h 17
Hôm nay, chúng ta có một buổi pháp đàm để hỏi đáp về những nghi vấn trong pháp học và pháp hành. Trong khi học kinh, học giáo lí nếu có vấn đề gì chưa rõ, chưa hiểu, còn nghi vấn; hoặc trong sự thực hành còn gặp những trắc trở, khó khăn, chướng ngại, chúng ta có thể đặt câu hỏi chung quanh vấn đề tu học của mình.
Từ cách đặt câu hỏi là có thể nhìn thấy được tâm của vị ấy. Câu hỏi mình đặt ra sẽ thể hiện tâm mình đang hướng về chiều hướng nào: chiều hướng tri thức, học vấn; hay chiều hướng quay về nội tâm để tu tập; hay chiều hướng hiếu kỳ, hỏi để cho biết chuyện này, chuyện kia. Cho nên, cách đặt câu hỏi sẽ biểu hiện mức độ tu tập và chiều hướng mà tâm đang hướng tới. Câu hỏi nào quan trọng thì Minh Thành sẽ giải thích nhiều hơn; câu hỏi nào không quan trọng lắm thì Minh Thành chỉ giải thích sơ lược, vì thời gian có hạn.
Đức Phật có biết vị lai hay không?
Với câu hỏi “Đức Phật có biết vị lai hay không? Hay Ngài chỉ biết quá khứ với hiện tại?”. Minh Thành xin trả lời rằng không có điều gì mà Đức Phật không biết. Cho nên, Ngài được gọi là bậc Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác, Thế Gian Giải, Vô Thượng Giác. Danh xưng “Thế Gian Giải” nghĩa là Ngài thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải khổ và nguyên nhân của khổ, thông giải lục đạo, thông giải tứ sanh, thông giải Thánh đạo, thông giải sanh tử, thông giải Tam giới. “Chánh Biến Tri” là cái biết chân chánh, phổ biến cùng khắp. “Vô Thượng Giác” là cái biết không một người nào khác có thể ngang bằng, xứng tầm, cân bằng; Ngài là một chúng sanh duy nhất, độc nhất mà không có một người thứ hai nào có thể sánh bằng, điều này được giải nghĩa trong Tăng Chi Bộ Kinh.
Vì vậy, muốn hiểu được Đức Phật thì chúng ta phải thành tựu Chánh Kiến, bằng không, dù cho là người đã xuất gia thì có khi vẫn hiểu Phật trên sự mê tín. Chỉ khi nào thành tựu được Chánh kiến thì chúng ta mới thật sự biết Đức Phật là ai.
Vô minh, tà kiến, si mê
Tất cả chúng sanh đều chìm trong vô minh, tà kiến, si mê từ vô lượng kiếp. Chính vì vô minh nên không thấy được ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không thấy được vô minh và khát ái ở trong ngũ uẩn. Cho nên, chúng sanh cứ mãi khao khát, thèm muốn, tham đắm, chấp thủ, dục, tham, ái, nắm giữ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Còn Đức Thế Tôn là bậc đi ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì vậy, những người còn ở trong ngũ uẩn không thể nào biết được cảm giác của Đức Phật.
Thế nào là Chánh kiến
Sau đây, Minh Thành xin chia sẻ về Năm Thủ Uẩn, gồm: Sắc Thủ Uẩn, Thọ Thủ Uẩn, Tưởng Thủ Uẩn, Hành Thủ Uẩn và Thức Thủ Uẩn. “Uẩn” có nghĩa là tập hợp, chất chứa và nhóm họp.
Tâm này luôn nắm giữ hình hài, nắm giữ tiền của, nắm giữ đất đai, nắm giữ chùa chiền… đối với tất cả những vật chất, tâm đều muốn nắm giữ. Ngay cả đôi giày, chiếc dép mới mua ở ngoài tiệm, vừa mang vào liền khẳng định rằng “chiếc dép này là của tôi”, “đôi giày tôi mang này là của tôi”, lỡ có ai đụng vào là mệt mỏi, là phiền não. Hơn hết, chúng ta vô cùng quý trọng cái thân này, nghĩa là mình quý trọng cái sắc. Vì quý trọng thân của chính mình nên ta cũng yêu quý, ưa thích thân của người khác. Sự nắm giữ thân này gọi là Sắc Thủ Uẩn.
Chúng ta ưa thích, ham muốn những cảm giác dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào. Hơn nữa, mình còn thích luôn cả những cảm giác bực bội, hận thù, sân hận, vì có những cảm giác sân giận mình cứ nắm giữ mãi, không chịu buông bỏ. Lúc nào cũng đồng hóa với những cảm giác sân giận đó, nghĩ rằng “tôi đang giận, tôi đang hận, tôi đang thù, tôi đang ghét” . Và vì thế, ta bị cảm giác đó xâm chiếm, áp đảo, chi phối, khống chế, làm chủ, xem đó là mình. Đối với bất kỳ cảm giác nào cũng nắm giữ: khổ cũng nắm, vui cũng nắm, không vui không khổ cũng nắm, tất cả cảm giác đều cho là tôi, là của tôi. Sự nắm chặt vào trong tất cả những cảm giác vui, khổ, không vui không khổ như vậy chính là Thọ Thủ Uẩn.
Hình bóng trong tâm là Tưởng. Bất cứ hình bóng gì trong tâm cũng nói “hình bóng này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”. Không những mình nắm những hình bóng yêu thương, mà còn nắm luôn những hình bóng hận thù, đau khổ. Mỗi khi nhớ lại là thân tâm này như bị thiêu đốt, trong lòng cay cú, chua chát, những cảm giác sân hận, bực bội lại sanh khởi nhưng mình vẫn nhớ, vẫn tiếp tục nắm giữ những hình bóng, cảm giác đó. Như vậy được gọi là Tưởng Thủ Uẩn.
Khi nghe giảng về Thánh trí tuệ, chúng ta cần bình tĩnh mà suy nghiệm chớ chúng ta đừng vội phản ứng theo vô minh, đó chính là ngu si. Mình đang học Thánh Trí, đừng đem cái phàm tình, chống đối là Thánh Trí Huệ. Bình tĩnh lắng nghe, không vội phản ứng. Nếu vội phản ứng lại thì đi tu để làm gì? Xuất gia để làm gì? Học Pháp để làm gì? Chúng ta đang học Thánh Trí để phá những cái phàm tình; học Thánh Tuệ để phá ngu mê; học Pháp của thượng nhân để phá những pháp của hạ nhân, của phàm phu, của ngu si, của đau khổ. Vì chính suy nghĩ của phàm tình làm cho mình khổ đau, chấp thủ, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Cho nên, ta cần phải dẹp bỏ, diệt trừ, đánh đổ, đánh sập và diệt tận những suy nghĩ phàm phu như vậy thì mới thể nhập vào trong Thánh Trí Huệ, Thượng Nhân Pháp, Tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tu là lấy trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đưa vào tâm mê này, để làm chuyển đổi, hoán đổi, thay đổi suy nghĩ, thay đổi nhận thức, thay đổi hiểu biết sai lầm trước giờ. Còn nếu cứ giữ y nhận thức phàm tình của mình như trước kia thì chúng ta không có gì thay đổi, như vậy không được gọi là đang tu.
Bất cứ suy nghĩ nào khởi lên cũng luôn nắm giữ, không muốn buông bỏ. Suy nghĩ của chúng ta đã được huân tập mấy chục năm qua, dầu cho đã đi tu, được học rõ ràng là vô thường nhưng thật chất trong tâm mình vẫn nghĩ: “Biết khi nào mới chết? Dễ gì mình chết? Còn lâu lắm mình mới chết”. Thế nhưng, hãy nhớ lại những người bị tai nạn máy bay, tai nạn giao thông, bị Covid mà chết… liệu rằng các vị ấy có nghĩ rằng ngày hôm đó họ phải chết không? Nếu được biết trước, hôm đó người ta đã chuẩn bị tâm thế sẵn sàng và tìm cách tránh né cái sắp chết. Nhưng do suy nghĩ của họ là một suy nghĩ nắm giữ, thường kiến, cho rằng họ sẽ như vậy hoài, còn hoài, thường tồn, trường tồn, thường hằng, vững trú, an trú, vững mạnh… suy nghĩ đó chính là vô minh, là chấp thủ, là u mê, là ngu mê, là hôn mê. Đó chính là vô minh, tà kiến và si mê và chúng ta luôn nắm giữ suy nghĩ đó, như vậy gọi là Hành Thủ Uẩn.
Ví dụ, món đồ mình thích, cho là đẹp mà có người kia nói “xấu lắm, có đẹp gì đâu” là bắt đầu có chuyện, dù không nói ra nhưng bên trong sẽ có những cảm giác, suy nghĩ khó chịu. Còn tâm của quý thầy học pháp ở đây rất là hiền thiện, khi Pháp được truyền đạt là các vị chấp nhận được. Thực tế, nhiều vị xuất gia trẻ thường có tâm chống đối mạnh, chưa chấp nhận học pháp ngay. Thành ra, tâm của thầy là tâm có thể tu tập được, đó cũng là biểu hiện của tâm hiền, như trong Kinh tạng Nikāya, các vị Tỳ-kheo gọi nhau là chư Hiền, Hiền giả, các bậc Hiền trí. Khi tâm hiền thiện, dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng thì tâm mới dễ tu tập, hướng thượng, cao thượng. Còn người với tâm cứng cỏi, ương ngạnh, không chịu nghe lời thì tâm không thay đổi được, bởi vì tâm đó như cục đá, cục đất, như khúc cây.
Thế nên, Đức Phật dạy tâm người tu là tâm mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Ví như khi đổ khuôn, đúc đồng hay đúc vàng thì người ta phải nung tới nhiệt độ thích hợp cho chảy ra thì lúc đó người ta muốn chất liệu đó thành hình dáng gì thì sẽ ra hình dáng đó. Cũng vậy, đối với tâm vô minh, chấp ngã, ngu si, mê muội, tà kiến này phải được Chánh kiến, Chánh tri kiến, Thánh Trí Huệ nung lên, để nó tan chảy ra, rồi sau đó mới tu học được. Còn vào chùa tu mà vẫn khăng khăng nắm giữ những hiểu biết, thói quen, tính tình trước đây rồi bảo “ai tu sao thì tu, còn tôi là vậy” thì người đó vĩnh viễn không có thay đổi. Vị này không được đi vào lò rèn, không được nung nấu lên, không được làm tan chảy những bản ngã, chấp thủ, kiến thức, tri thức, kiến chấp. Chỉ khi nào làm tan chảy những vô minh, si mê, hôn ám trong tâm thì lúc đó cũng như người thợ kim hoàng chế tác được dây chuyền, nhẫn, vương miện, vòng vàng...
Như vậy, trong sự tu này, bước đầu tiên cần dùng Chánh kiến để phá Tà kiến, dùng trí huệ phá vô minh, dùng minh kiến để phá những thấy biết si mê.
Phân biệt vô minh, tà kiến, si mê
Nếu nói một cách chung chung thì ba từ “vô minh, tà kiến, si mê” này cũng gần giống nhau. Nhưng nếu phân tích kĩ thì chúng ta sẽ thấy mỗi từ này mang một góc độ, một khía cạnh khác nhau của tâm.
Vô minh nghĩa là không có sáng. Ví dụ, đang ở trong nhà mà lại bị cúp điện, không có ánh sáng từ mặt trời hay bóng đèn, không có ánh sáng nào khác; lúc đó nếu mọi người đang đi, đang chạy thì có thể bị va đập vào nhau, gây tổn thương, u đầu sứt trán. Cũng vậy, tất cả chúng sanh đang sống với tâm vô minh, không thấy được thọ, tưởng, hành, thức, mà chỉ cho rằng đó tôi, của tôi và tự ngã của tôi; không thấy được ở trong thân tâm này, năm uẩn đang nhóm họp tạo thành, lúc nào cũng nghĩ đó là tôi. Do vậy, khi được khen thì nổ mũi, khi bị chê thì xụ mặt xuống, còn lúc bình thường, đều đều thì lúc nào cũng tôi, của tôi…Cho đến khi nào chúng ta nhìn thấy thân tâm này là từ năm hợp thể, năm nhóm hợp lại tạo thành thì lúc đó mới là cái nhìn của trí tuệ.
---
Nhóm thứ nhất là sắc uẩn, gồm thân người, vật chất tứ đại: đất, nước, gió, lửa.
Đầu tiên, sắc thân tứ đại Minh Thành đang ngồi đây chia sẻ pháp, có để một ly nước bên cạnh, để khi chia sẻ pháp bị khô cổ thì mượn nước trong ly đổ vào thân này một chút, đó là Minh Thành mượn thủy đại. Nước bên trong thân là nội thủy đại, nước bên ngoài là ngoại thủy đại; chỉ cần nội thủy đại bên trong bị trục trặc, nước bên ngoài không có thì mình chết. Như vậy, cái nào là mình?
Kế đến là địa đại – đất. Sau khi tan học, chút nữa mình về ăn cơm thì tất cả những món ăn đa phần đều từ đất. Nói cho dễ hiểu, địa đại bao gồm đất ở bên trong và đất ở bên ngoài. Đất bên trong là tim, gan, máu, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, tủy, não, tóc, lông, móng, răng, da, gân. Còn đất bên ngoài là đất mình đang được ngồi tại đây. Chỉ một trận động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ, địa đại rúng động thì năm chục ngàn người bị chôn vùi hết tất cả, bị chết ngay chính trong căn nhà mình đã tích lũy suốt cả cuộc đời. Như vậy, cái nào là mình?
Phong đại cũng gồm gió bên trong và gió bên ngoài: gió bên trong chính là hơi thở đang khì khịt, tim đập, mạch nhảy, máu huyết tuần hoàn; gió bên ngoài là những cơn gió ở ngoài cơ thể, chỉ cần trúng một cơn gió độc thổi vào người thì mình cũng có thể ra đi. Như vậy, cái nào là mình?
Cuối cùng là hỏa đại, gồm lửa bên trong và lửa bên ngoài. Lửa bên trong chính là nhiệt độ, hơi ấm cơ thể, nếu cơ thể không được ấm, nhiệt độ thấp, toàn thân lạnh cóng thì mình không thể sống được. Bên ngoài nếu không có lửa thì cũngkhông nấu nướng được gì; ở xứ lạnh âm mấy chục độ, không có lửa thì mình cũng chết. Như thầy Khế Định, trụ trì một Thiền viện ở miền Trung, đã từng tu học ở Canada. Thầy có kể lại, lúc ở Canada, một lần, thầy đi ra ngoài quét tuyết mùa đông và thầy lỡ đóng cửa, khi đó nút cửa bị hỏng, không mở được. Do vậy, thầy bị mắc kẹt ở ngoài, không vào nhà được, thày cũng quên không đem điện thoại theo. Thế là thầy bị ngất xỉu, nằm co ro ở bên ngoài khu tu viện ngoại ô hẻo lánh, gần rừng cây. May mắn có người đi ngang phát hiện ra và giúp đỡ, nếu không thầy đã chết cóng ngay tại chỗ âm mấy chục độ. Chỉ cần không có hơi ấm là có thể mất mạng, vậy thì cái nào mới thật sự là mình?
Như vậy, nhóm thứ nhất là sắc uẩn, bao gồm đất, nước, gió, lửa; ngoài ra không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi nhưng chúng ta lại cho đó là mình. Đó chính là vô minh thứ nhất, vô minh về sắc uẩn.
---
Bốn lớp vô minh còn lại là vô minh về thọ, tưởng, hành, thức. Do không có nhiều thời gian nên Minh Thành chỉ chia sẻ tóm tắt.
Cảm giác nào ta cũng cho là mình, ví dụ: “hôm nay tôi vui”, “hôm nay tôi đang bực bội, đừng có lại gần, tôi đang khó chịu”, “hôm nay tôi thấy cũng bình thường”… Nhưng đối người có trí tuệ, biết nhận diện được ngũ uẩn, khi có cảm thọ khó chịu, bực bội thì họ sẽ thấy có một khổ thọ đang xâm chiếm thân tâm nên mới có một cảm giác khó chịu. Hoặc khi thấy có một cảm giác dễ chịu nhưng người này cảm giác đó không phải là tôi. Cảm giác ấy được hình thành do duyên tiếp xúc mà có ra sự dễ chịu hay khó chịu, vui hoặc khổ. Khi mình gặp đám ma thì mình có cảm giác buồn, mà mình gặp đám cưới thì thấy vui. Như vậy thì nỗi buồn niềm vui ấy là do tiếp xúc ở bên ngoài. Nhưng khi mình tiếp xúc và sanh khởi những cảm giác ấy thì cảm giác nào mình cũng nói là của mình hết. Như vậy, mình không biết được thọ uẩn mình đang nắm giữ mà cứ cho đó là tôi, là của tôi, cho nên nó trở thành Thọ Thủ Uẩn – lớp vô minh thứ hai.
Tưởng Thủ Uẩn là những hình bóng trong tâm. Hình bóng này, hình bóng kia trong tâm sanh khởi lên ta đều cho đó là mình: “tôi tưởng”, “tôi nghĩ”, “tôi suy tư” rồi mình nắm giữ, cho rằng cái tưởng ấy là của mình. Đó là lớp vô minh thứ ba.
Tương tự, suy nghĩ nào sanh khởi mình cũng cho đó là mình, đây là lớp vô minh thứ tư – Hành Thủ Uẩn.
Cũng vậy, nhận thức trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết đều là do duyên sanh. Ví dụ như ban đêm, nơi mình ở bị cúp điện hay đi ngoài đường bị cát dính vô mắt thì mình không thấy đường nữa. Hay điện thoại mình bị mất sóng, nói hơn hai mươi phút mà hỏi lại thì không nghe thấy gì hết, … Như vậy, cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của mình là do nhân duyên hội tụ sanh ra, không có thật, thiếu một nhân duyên thôi là nằm liệt tại chỗ, mù, đuôi, điếc, câm, ngọng… nhưng ta lại cho rằng đó là tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi, tôi nếm, tôi xúc chạm, tôi biết và chấp chặt vào đó. Đây là lớp vô minh thứ năm – Thức Thủ Uẩn.
Như vậy, ngũ uẩn này chỉ là những pháp duyên sanh, vô thường, dễ tan hoại. Chỉ trong tích tắc liền có thể trở thành một người khuyết tật. Ngay lập tức có thể trở thành một nắm tro tàn. Chỉ trong tích tắc có thể trở thành một đống bầy nhầy ở dưới bánh xe tải… Đó chính là những sự thật mà mình không có chấp nhận. Chỉ khi nào mình chấp nhận cái bản chất của tứ đại chính là như vậy thì các lớp vô minh này mới từ từ được phá dần.
---
Trong bài kinh “Bậc Dự Lưu”, Đức Phật nói thấy được sắc, thấy được thọ, thấy được tưởng, thấy được hành, thấy được thức được gọi là Chánh kiến, chứng quả Dự Lưu. “Này Ràdha, khi nào bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này. Vị này, này Ràdha, được gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến cứu cánh bồ-đề” (trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Bậc Dự Lưu). Như vậy, nói chung lại, người không thấy được ngũ uẩn, được gọi là tà kiến, là vô minh, là si mê.
Nói rõ hơn, vô minh ở đây là không thấy, không biết ngũ uẩn. Tà kiến là sự hiểu sai, cho rằng ngũ uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cứ tưởng đâu có một người ban phước, giáng họa cho mình, có ai đó làm cho mình khổ nhưng không biết rằng chính tham, sân, si, bản ngã trong tâm làm cho mình khổ. Sự thật bấy lâu nay mình hiểu sai, mình không biết ấy là tà kiến. Si mê là không thấy rõ được tâm mình đang như thế nào. Cứ để tâm đi lang thang, vô gia cư, vất vơ vất vưởng cho nên không có một căn nhà để an trú, vì ta chưa thực tập cảm giác toàn thân, chưa định tâm trên thân được. Tâm thức này là một tâm vất vưởng, một tâm lang thang, không có chỗ trú, cho tới khi nào mình thực tập được cảm giác toàn thân, định tâm ở trên thân thì bấy giờ tâm mình mới có được một chỗ trú ẩn an toàn, an ổn.
Nhận diện ngũ uẩn và tham, sân, si
Phần Thánh quả thì Minh Thành xin thưa rằng, sau khi nghiên cứu và tu học trên ba mươi năm, đi tầm cầu giáo pháp toàn thế giới thì bây giờ, Minh Thành chỉ chia sẻ tạng kinh Nikāya. Những tư tưởng khác, tông phái khác, Minh Thành xin phép không bàn tới mà chỉ nói về tạng kinh Nikāya. Vì vậy Minh Thành sẽ không bàn tới Lục Tổ Huệ Năng. Căn cứ trên ngũ uẩn, chúng ta sẽ nói về Thánh quả:
Thánh quả thứ nhất: người thấy đầy đủ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thấy được tham, sân, si một cách thâm sâu; thấy được những rác bẩn, cấu uế, cấu nhiễm ở trong thân tâm.
Thánh quả thứ hai: người dọn rác trong tâm tương đối.
Thánh quả thứ ba: người dọn sạch rác trong tâm.
Thánh quả thứ tư: người đã dọn rác trong tâm một cách trọn vẹn, không còn một chút rác bẩn nào dù là vi tế, nhỏ nhiệm.
Vì chưa nhận diện được ngũ uẩn nên chúng ta không thấy được nội tâm mình còn dơ đến mức độ nào. Do tthời gian ngắn nên Minh Thành không chia sẻ sâu về phương pháp nhận diện ngũ uẩn, mà chỉ có thể đưa ra một vài ví dụ để chúng ta có thể nhận diện được ngũ uẩn.
Tấm thân này – cục thịt mấy chục kí lô đang ngồi đây được gọi là sắc. Tất cả những thứ xung quanh đây là sắc.
Mời đại chúng nhắm mắt lại và nhớ về người cha quý kính, người mẹ thân thương của mình. Lúc này, hình bóng của cha mẹ hiện ra trong tâm các vị, đó là tưởng. Một cảm giác ấm áp, ngọt ngào, thân thương đi kèm, đó là thọ. Những suy nghĩ liên hệ đến cha mẹ: “không biết giờ này cha mẹ đang làm những gì”, “cha mẹ đang như thế nào”, đó là hành. Khi trong tâm có hình bóng cha mẹ, có cảm giác thân thương và có những suy nghĩ liên hệ đến cha me và chúng ta rõ biết được cái điều đó, như vậy gọi là thức.
Ví dụ khác, chúng ta đang ngồi đây nhưng ở phía bên kia đang Chẩn tế, khi nghe âm thanh đọc kinh thì ở trong tâm ta đồng thời sẽ xuất hiện những hình bóng lờ mờ của các sư thầy đang làm sám chủ, hình bóng đó là tưởng. Ai đi theo hướng kinh sư thì tự nhiên lúc này sẽ thích thích, khoan khái, đó là thọ. Nếu bên đó đang tụng các bài kinh mà mình thuộc thì trong tâm bắt đầu sẽ lẩm nhẩm theo, đó là hành. Sự rõ biết trong tâm mình đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác, đó là thức.
Trên đây là những ví dụ đơn giản, giới thiệu cho chúng ta nhận diện về ngũ uẩn. Nếu không biết được tâm đang hoạt động như vậy thì sự tu tập sẽ không chính xác, không có hiệu quả. Nếu không nhận ra được ngũ uẩn thì chúng ta chỉ đang tu trên những suy tưởng, suy luận. Vì không thấy được tâm thì làm sao chế ngự tâm, quản lí tâm, kiểm soát tâm; làm sao huấn luyện, giáo dục, cải tạo, tẩy sạch, diệt tận những tâm bất thiện. Giống như mình đi đánh giặc nhưng không biết, không thấy được tham, sân, si ở đâu thì làm sao mình diệt được tham, sân, si?
---
Tham, sân, si trú ẩn trong cảm thọ. Cảm thọ khó chịu có sân; cảm thọ dễ chịu có tham; cảm thọ không dễ chịu, không khó chịu có si. Hang ổ, sào quyệt của tham, sân, si nằm ở trong ba cảm thọ, cảm giác. Khi được ăn bữa cơm ngon thì cảm thọ thấy vui, như vậy có tham trong đó. Lúc nghe tiếng người ta mắng chửi, chỉ trích thì cảm thọ lúc đó khó chịu, như vậy có sân trong đó. Còn cảm giác bình thường, đều đều là có si trong đó.
Nhưng vì không thấy được ngũ uẩn nên ta luôn thấy rằng “tôi, ta, tao, mi đang buồn, đang vui, đang bình thường” thì đó là ngu si. Ngược lại, khi thấy được sắc là đây, thọ, tưởng, hành, thức đang vận hành là đây, không có gì là tôi, là của tôi trong đây hết thì lúc đó mới phá được một phần vô minh, si mê. Mà trong ngày, mình nhớ như vậy được bao lâu? Dường như là không có, cho nên suốt ngày mình sống trong vô minh, si mê, tà kiến.
Xuất gia không phải tụng kinh hai thời là xong, đó là những bước mẫu giáo sơ cấp, lớp 1, lớp 2, là những bước thực tập ban đầu cho người xuất gia. Hãy nhớ rằng, người xuất gia cần phải đạt được Chánh kiến, đạt được tri kiến của bậc Thánh, có được cái thấy biết của Đức Phật, gọi là tri kiến Phật, đó chính là thấy được ngũ uẩn, không có tôi, không có của tôi và tự ngã của tôi. Sau khi thấy được ngũ uẩn rồi sẽ thấy được ra cảm thọ. Sau khi thấy được ra cảm thọ, ta sẽ phát giác, phát hiện ra những hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si, bản ngã và dục, ái. Sau khi thấy được sào huyệt, hang ổ và căn cứ địa của dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, lậu hoặc rồi mình mới dùng tất cả những phương pháp nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận bằng Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, lúc đó, từ Thánh quả thứ nhất cho tới Thánh quả thứ tư mới được thành tựu.
Như vậy, bước đầu đòi hỏi chúng ta phải nhận diện được ngũ uẩn. Nhận diện ngũ uẩn chính là thấy được những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ, nhận thức trong tâm. Khi quay trở về nhận diện là chúng ta có thể thấy được hết. Nhờ vậy, trong tâm đang có tham thì mình biết là đang có tham. Trong tâm đang có sân thì h biết là đang có sân. Đó gọi là thiết thực hiện tại, đến đây mà thấy. Hơn nữa, hễ có tham là sẽ có đau khổ, chấp thủ. Mà hễ có sân, có tức giận là có đổ bể, đỗ vỡ, có đổ nát, có đốt cháy, có hủy hoại, có tan nát, có hoại diệt. Hễ có bản ngã là có hơn thua, có đấu khẩu, có đấu tranh, có chiến tranh là bao nhiêu máu đổ. Chúng ta có nhìn thấy không, thế giới đang chiến tranh và sẽ có thể có những chiến tranh lớn sắp sửa nổ ra đó. Chỉ cần một viên đạn, một quả bom thôi là tan tành một quốc gia, một thành phố với hàng trăm, hàng triệu, hàng trăm triệu con người. Mà tất cả những thứ đó là từ đâu? Chính là từ trong bản ngã sân hận và tham dục của con người. Từ tham, sân, si mà ra, chứ không phải từ những điều gì khác.
Khi các vị Tỳ-kheo hỏi Đức Thế Tôn điều gì là cứu cánh, là rốt ráo của một người tu. Đức Phật tuyên bố rằng: đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si là cứu cánh của Phạm hạnh. Giờ đây, chúng ta tu mà không lo nhiếp phục tham, sân, si mà cứ lo làm điều này điều kia trên hình tướng, hình sắc ở bên ngoài, rồi cuối cùng mình sầu bi, khổ, ưu, não. Phật tử hay vào chùa và nói rằng “thầy ơi con khổ quá”, nhưng nhiều khi thầy còn khổ hơn con nữa. Phật tử khổ quá, vào chùa tìm thầy để nương nhờ cứu độ cho con hết khổ mà thầy bận xoay cái này, thầy mắc điện thoại cho người kia, bận đi kiếm tiền rồi xong luôn. Từ chỗ chúng ta không làm đúng mục đích của một người tu, chính vì vậy, khiến Phật tử mất đi lòng tin, mất đi sự tôn trọng, cung kính, rồi dần dần đạo Phật bị thay đổi là do mình không nghe lời Đức Phật. Như vậy là chúng ta không có hiếu thảo, không nghe lời vị cha lành vĩ đại, bậc Đại từ phụ của mình. Và vì không làm đúng theo lời dạy của Đức Như Lai nên mình đau khổ.
---
Tóm lại, tham, sân, si là vấn đề trọng đại nhất của người xuất gia, là kẻ thù độc nhất ở bên trong chúng ta, chứ không có gì khác ở bên ngoài. Nếu tâm mình hoàn toàn ly dục, nhìn thấy thân này là bất tịnh, thối tha, bẩn thỉu, là cầu tiêu di động, là nhà máy sản xuất phân và nước tiểu thì không thể có người nào đẹp tới quyến rũ mình được. Tại trong người mình còn khao khát, còn thèm muốn, còn dục ái, còn khát ái cho nên người ta chưa chạy đến là mình đã chạy đi tìm. Chính vì vậy, mình cứ tìm hoài, kiếm hoài, thèm hoài, khát hoài. Chúng ta luôn khát ái, khao khát, thèm khát, đói khát, ham muốn. Đức Thế Tôn dùng từ khát ái để chỉ cho ngũ uẩn này, chỉ một từ này nhưng có thể thiền quán một trăm năm.
Cho nên, tâm của phàm phu là một cái tâm đói khát, nghèo đói, tâm bần cùng, tâm thiếu thốn, tâm khao khát, thèm muốn và khát ái cho nên khổ hoài. Khổ còn được gọi là bất toại nguyện, là không vừa lòng. Mình thấy ngoài đời một người có một vợ còn chưa vừa lòng, ba vợ ngủ ở chuồng bò cũng chưa vừa lòng. Chúng ta có thấy không cái tâm đói khát, thèm khát, không có thỏa mãn rồi đau khổ hoài. Bất an hoài, tìm kiếm hoài, chạy hoài mà không có ngày dừng. Còn tâm của bậc Thánh là một cái tâm no đủ ở trong Thánh pháp, trong trí tuệ đại từ đại bi, vì vậy, các Ngài không còn tham muốn gì nữa.
Vì vậy, sự tu học của chúng ta là sự quay trở lại nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức; quay trở lại an trú vào trong cảm thọ; quán sát những tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh và nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận nó. Đây mới là cứu cánh phạm hạnh, là mục đích tối thượng của người xuất gia, là chính sự, là bổn phận sự, là việc quan trọng nhất mà chư Thiên và loài người kính ngưỡng, là ruộng phước vô thượng của nhân thiên. Nếu không nhìn được ngũ uẩn, không thấy được cảm thọ, không quán chiếu, không nhiếp phục, không chế ngự được tham, sân, si thì chúng ta sẽ để cho những ác pháp đó xâm chiếm, hoành hành, áp đảo.
Trong kinh Raṭṭḥapāla, Trung Bộ Kinh có câu:
Thân này là vô thường, đi đến hoại diệt.
Thân này là vô hộ, vô chủ.
Thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả.
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái.
Hãy thử nhìn tất cả chúng sanh trong khắp thế gian này, trong khắp hành tinh này và nhìn tự thân xem có đúng như vậy không? Tất cả đều thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái. Dù mang hình thức là một người tu nhưng không quay trở lại tâm mình để nhận diện, nhiếp phục, chế ngự thì mình khổ dài dài, khổ hoài hoài, rồi sầu bi, ưu não, bất an, thiếu thốn, chạy tìm kiếm hoài, không có ngày dừng lại. Cho nên, trong sự tu tập này, tinh thần Nikāya dạy chúng ta rất rõ ràng.
Tu tập cảm thọ
Câu hỏi về A lại da thức thì trong kinh Nikāya không nhắc đến, điều gì trong kinh Nikāya không nói thì Minh Thành không đề cập ở đây. Tinh thần học Nikāya là không phải lấy hết 5 bộ mà chỉ lấy 4 bộ đầu là: Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi Bộ và Tương Ưng Bộ. Vì Tiểu Bộ Kinh sau này mới được bổ sung trong lần kết tập thứ 2 và lần thứ 3. Ngài Ấn Thuận đạo sư, với cả cuộc đời 100 năm nghiên cứu Phật Pháp ở Đài Loan đã tuyên bố: “Tương Ưng Bộ Kinh là vô biên thậm thâm pháp nghĩa”. Minh Thành đã qua thăm Ngài bên Đài Loan và đi các nước khác như Myanmar, Srilanka, Thái Lan; Minh Thành cũng thăm ngài Ajahn Brahm – đệ tử ngài Ajahn Chah, Hòa thượng Tinh Vân, Ni sư Chứng Nghiêm, Phật Quan Sơn… Sau khi đã đi gần hết các nước, đến gặp và tu học cùng hầu hết các vị Tăng Ni nổi danh trên thế giới và cuối cùng, Minh Thành quyết định quay về tạng Nikāya để tìm được chân đứng trong Pháp và Luật của Phật Pháp nguyên chất.
Trong Nikāya có nói: “Tất cả các pháp hội tụ nơi cảm thọ”, đây là một câu rất quan trọng trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” – Tăng Chi Bộ Kinh tập IV. Đức Phật chỉ nói về sáu thức, chứ không có nói A lại da thức, thế nên, muốn biết tâm mình có gì thì chỉ cần nhìn vào cảm thọ, cảm giác của mình là có thể thấy rõ. Ví dụ, mình đang học Kinh Sư mà nghe được tiếng Kinh Sư ở bên ngoài truyền đến là trong tâm bắt đầu có sự đã đã, thích thích. Nếu như không bận gì gấp thì mình cũng sẽ ghé qua nhìn xem buổi lễ như thế nào. Đó là sự thúc giục, hấp dẫn, có lực hút, tại vì tâm mình ưa thích với điều đó. Đây cũng là dục, tham, ái nhưng là thiện pháp.
Trong Tứ Như Ý Túc, gồm: Dục như ý túc, Tấn như ý túc, Thẩm như ý túc và Tư duy như ý túc. Trong mọi việc, đầu tiên thì mình phải muốn, kế đó mình phải nỗ lực, sau đó phải thẩm sát và tư duy, xét nét, tìm cách nào hiểu quả nhất để làm cho viên mãn. Pháp thiện hay bất thiện đều có bốn bước như thế: muốn, nỗ lực, thẩm sát và tư duy – đây là chìa khóa vàng để thành công cho thế gian và cho xuất thế pháp.
Nếu biết nhìn vào cảm thọ, ta có thể lập tức thấy được những tham ái, sân giận, si mê. Người có tâm ngã mạn thì trong suy nghĩ, cảm giác luôn luôn có sự chống đối, thích suy nghĩ về sự hơn thua, so đó với người khác, tự cho mình là phải, là hay, là đúng, là cao chứ không chịu mình thua, mình dở, mình thấp. Khi nhìn vào những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm là mình thấy được hết những điều đó.
Cho nên, phần quan trọng nhất trong năm uẩn là thọ, đây là kho chất chứa của tất cả các pháp. Có những người bị người khác nói nặng, nói nhẹ nhưng họ vẫn bình thản là vì thọ của người này đã tu tập nhiều đời, có một sự an tịnh, lắng dịu. Có những người chưa nói gì hết là họ sân hận lên, đùng đùng lên, chỉ cần nhìn ánh mắt của nhau thôi là xảy ra án mạng. Thọ của người này đầy những pháp bất thiện, cho nên ngay khi còn ở thân người đã phải làm tù nhân trong bốn bức tường, khi người ấy chết đi, đời sau có thể bị sanh vào cõi súc sanh ở dưới địa ngục, ngạ quỷ. Vì thọ ấy là thọ của ác thú, của súc sanh nên người ấy phải vào ở trong tù ngục. Rồi sau khi nhắm mắt, người ấy rơi vào khổ thú, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh.
Vì lẽ đó, sự tu tập cảm thọ là hết sức quan trọng. Phải tu tập làm sao cho cảm thọ của mình được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền lành, hiền thiện, hiền hòa, hiền hậu, hiền thương, hiền lương, hiền từ, hiền đức, hiền trí để mình theo bậc Hiền Thánh. Cần phải huấn luyện, dạy dỗ để tâm tăng trưởng, phát triển những cảm thọ hiền thiện, hiền từ, hiền hòa, hiền lương, hiền đức, hiền lành, hiền hậu, hiền nhân, hiền trí. Minh Thành sắp sửa ra bộ sách về tâm đại hiền trí, có tên Hiền Trí Đại Tuệ. Bộ sách này khá dài, khoảng vài trăm trang, gồm tất cả những lời dạy của Đức Phật về phương pháp tu tập để trở thành bậc Hiền Trí trong Kinh tạng Nikāya.
Như vậy, cảm thọ rất quan trọng trong sự tu học này. Còn những phần nằm ngoài tạng kinh Nikāya thì Minh Thành không đề cập. Chúng ta nên biết rằng, việc phân định cái này đúng hay cái kia đúng, sai, như thế này, như thế kia thì chỉ thêm thị phi, không mang đến lợi lạc, đến uối cùng mình chẳng được gì. Điều quan trọng là trước tiên chúng ta phải làm một con người hiếu thảo, làm một con người đạo đức, đây mới chính là thiện pháp, chúng ta nên lan tỏa pháp lành này.
Thế nên, trước hết, huynh đệ nên tự hỏi rằng mình có hiếu thảo chưa? Có đầy đủ tâm đại hiếu xuất thế gian chưa? Mình có hoàn thành được đầy đủ những đức hạnh căn bản của một chân nhân – người thật sự là người, đó là biết ơn, nhớ ơn hay chưa?
Trong bài kinh “Đất”, Tăng Chi Bộ tập 1, Đức Phật có nói thế nào là địa vị của bậc chân nhân và bậc không phải chân nhân? Đặc tính của bậc chân nhân là người biết ơn và nhớ ơn. Còn bậc phi chân nhân là người không biết ơn, nhớ ơn. Như vậy, tất cả những điều gì có ý nghĩa tán dương, khuyến khích, ca ngợi cách sống có tình, có nghĩa, có hiếu, có thảo, có nhân, có đức… đều là thiện pháp để cho mình tu học và lan tỏa. Chúng ta cần phải nhớ những thiện pháp đó để giúp cho mình và cho người.
Thế nào là Pháp thiết thực hiện tại – đến để mà thấy?
Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Như thế nào là “thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy”? Ngay khi nổi sân giận, ta biết mình đang nổi sân giận; sau đó ta nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch sự sân giận đó là mình hết khổ. Tương tự, khi trong cảm giác có tham, có sự thúc giục, có thèm muốn và khao khát; ta thấy được sự tham muốn đó; sau đó ra sức nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch và trừ diệt nó; không cho tâm đi theo chiều hướng tham muốn bất thiện thì ngay lúc đó ta có được an lạc, có hiệu quả tức thời, thiết thực hiện tại ngay khi đó.
Hoặc khi thấy trong suy nghĩ mình có sự hơn thua, ganh tỵ, muốn đấu khẩu, muốn tranh luận hay dở; chúng ta biết đó là súng ống, là đạn dược, là đau khổ, là sầu bi, chỉ đưa đến đổ vỡ, đổ nát. Nhờ biết như vậy, chúng ta lập tức dừng lại, không cho những cảm giác, nghĩ, tưởng bất thiện sanh khởi nữa. Khi đó, chúng ta la rầy, nhắc nhở tâm mình phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, hiền thiện, hiền hòa; kết hợp trải tâm từ để sanh khởi tình thương.
Thương cho chính mình vì mình là nạn nhân của tham, sân, si. Chính những dục, tham, ái này đã làm cho mình đau khổ, thèm khát, thiếu thốn trong vô lượng vô biên kiếp. Chính cảm giác tham dục này làm cho mình si mê, mê muội, hôn ám vào những thứ bất tịnh, bẩn thỉu, nhơ nhớp, tanh hôi. Chính những tâm bực bội, sân tức này đã đốt cháy hết tất cả tình thân, hiếu đạo, nghĩa tình, thầy trò, huynh đệ. Vì vậy, phải tu tập một tâm từ, một tình thương rộng lớn, thương cho mình là nạn nhân của cơn giận này; thương cho người đang giận mình, bởi họ cũng là nạn nhân của những cơn giận; thương cho cả ông bà, cha mẹ, anh chị em mình cũng đều là nạn nhân của tham, sân, si.
Sau đó ta mở rộng tình thương ra khắp hữu tình chúng sanh trong cả thế giới, trời đất, vũ trụ này. Tất cả đều là những ngũ uẩn đáng thương, đều bị tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã làm cho họ khổ đau. Họ đang gặp tai họa, họ đang bị bủa vây, họ đang bị vây hãm ở trong một trận tuyến đầy cam ro, đầy ác độc của tham, sân, si, của dục, ái, của bản ngã. Họ đang bị nhấn chìm trong biển dục, đang trôi nổi trong dòng sông ái. Họ đang bị đốt cháy trong những ngọn lửa sân hận. Họ đang bị thiêu hủy ở trong những ngọn lửa của hận thù. Chính vì vậy, chúng ta hãy thương họ, thương chính mình, thương tất cả hữu tình chúng sanh. Tâm thương trùm khắp rộng lớn, cùng khắp mười phương, đây là cách thực tập từ vô lượng tâm, trải tâm từ rộng lớn, bao la, trùm khắp, vĩ đại, ôm trọn cả Trái Đất này, cả bầu hư không này…
Khi trải được tâm như vậy thì sự tu tập của chúng ta sẽ tiến bộ, sẽ thay đổi, làm mới mình, sẽ có những bước tiến bộ mà mình không ngờ được. Sự tu tập đúng Chánh Pháp đem lại kết quả, lợi ích rộng lớn, thiết thực, hiện tại ngay lập tức, không có đợi tuần sau, tháng sau, năm sau hay đời sau, mà ngay lúc mình thực hành thì sẽ có hiệu quả lập tức. Chính ngay lúc thực tập trải tâm từ thì chúng ta sẽ có tình thương, khi đó, tâm từ sẽ lớn mạnh, sẽ phát triển, được vững trú và an lạc mà không cần đợi bao lâu nữa. Như khi ăn cơm thì mình no liền chứ không đợi tuần sau mới no; hoặc khát nước thì uống nước sẽ hết khát liền chứ không đợi chiều mới hết khát. Cho nên, tại sao tu tập mà lại đợi đến lúc chết mới có kết quả? Lưu ý, lúc chết chúng ta có kết quả sau cùng, còn trong quá trình tu học, những kết quả sẽ có ngay lúc mình thực hành đối với sự tu hành đúng đắn. Ngược lại, nếu tu không đúng như pháp thì chỉ hứa hẹn những điều viển vông xa vời, còn thực tế thì không thấy được pháp.
Nhắn gửi người xuất gia
Tuy chỉ gặp nhau trong một buổi, nhưng với tâm lòng chân thành, con trò Thích Minh Thành, là đệ tử xin cúng dường Pháp Bảo đến quý Chư Tăng. Mong tất cả Quý Thầy sẽ không quên rằng mình còn có một người cha, một người mẹ đang ở quê nhà luôn nhớ thương và dõi theo mình từng ngày, từng giờ. Đừng quên ông bà, cô bác, những người thân đang chờ sự thành công của mình, đang đặt hết tất cả sự hy vọng, tình thương và niềm tin vào mình. Vì vậy, hãy tu học như thế nào để tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng Thánh Trí Tuệ. Hãy tu tập như thế nào để thành tựu được những đức hạnh cao thượng của các bậc Hiền Thánh. Đừng cô phụ cuộc đời xuất gia khi mình may mắn có thân hình đầy đủ, có tri thức nhận biết và nay lại gặp được Chánh Pháp tối thượng. Nếu ngay bây giờ mình không nắm bắt được cơ hội quý báu này, đến khi tấm y này rơi xuống thì mình sẽ không biết sẽ đi về đâu. Vì vậy, quý thầy hãy đem hết tất cả tấm lòng và trái tim của mình để tìm cầu Chánh Pháp, đừng tu học một cách qua loa, đừng tu học một cách hình thức máy móc cho có. Hãy đem hết tất cả tấm lòng chí thành, cung kính, tha thiết, khát ngưỡng, quy kính đối với Tam Bảo rồi mình sẽ gặt hái được những kết quả không thể ngờ được với một tấm lòng chân thành cung kính Pháp. Người xuất gia phải tham dự vào Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh là ruộng phước vô thượng của Chư Thiên và loài Người, tức là hướng Dự Lưu và Nhập Lưu; hướng Nhất Lai và Nhất Lai; hướng Bất Lai và Bất Lai; hướng A-la-hán và A-la-hán quả. Đó là tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật.
Và chìa khóa đầu tiên muốn đi vào trong tám chúng đó là phải nhận diện được ngũ uẩn. Chỉ khi nhận diện ngũ uẩn một cách rõ ràng, kỹ càng, sáng tỏn thì chúng ta mới có được chìa khóa mở cửa để đi vào trong căn nhà nội tâm. Khi đó, mình sẽ thấy được rác bẩn trong tâm ta từ vô lượng kiếp. Sau khi thấy được rác bẩn từ vô lượng kiếp thì phải dùng công phu tu tập để quét dọn vệ sinh, lau chùi tẩy rửa. Cuối cùng, mình sẽ có được một nội tâm thật thanh tịnh, trong sạch và thuần khiết. Lúc này, ta mới có thể đón chào cha mẹ, cô bác, ông bà, chúng sanh, đàn na tín thí, ân nhân vào căn nhà trong sạch, thanh tịnh của mình. Noi gương các bậc Hiền Thánh là những vị đã báo được bốn ân nặng nhất của cuộc đời mình, không bao giờ quên.
Mỗi ngày ăn cơm, mình phải nhớ đây là mồ hôi, đây là máu, đây là nước mắt của người cúng dường. Khi chạy trên chiếc xe thì mình phải nhớ đây là nước mắt, mồ hôi của những người tín thí. Khi sử dụng những gì trong bốn vật dụng nhu yếu đời sống, mình đừng bao giờ quên ơn đức của những người đã lo lắng hỗ trở cho mình. Thực tập như vậy giúp chúng ta tăng trưởng, phát triển, làm lớn mạnh tâm biết ơn, cảm ơn đối với mọi người. Đó là đặc tính của bậc chân nhân – người thật sự là người. Sống biết ơn và nhớ ơn như vậy thì đời sau mình còn được làm người để tiếp tục tu tập. Ở đây, Đức Phật chưa nói đến trả ơn, Ngài chỉ nói đến biết ơn và nhớ ơn, có hai đặc tính này đã được xem là một bậc chân nhân. Vì vậy, chúng ta càng phải biết ơn và nhớ đến những người có ơn thì đời sau mình có thể còn làm được một con người; nếu không có những đặc tính này thì khả năng mình rơi vào ba đường ác rất là dễ, rất là lớn.
Trên đây là những pháp hành hết sức thiết thực, căn bản và dễ làm mà chúng ta có thể làm được, đóó là những lời mà Minh Thành muốn gửi đến tất cả huynh đệ. Vì sắp đến giờ tan học nên Minh Thành thấy cảm thọ của các vị đang bị thúc giục, dù cho nói nữa cũng không có lợi ích, hơn nữa, chia sẻ những điều trên tương đối cũng là đủ. Mong rằng tất cả chúng ta hãy nhìn kỹ cảm thọ của mình để quán sát, nhiếp phục, chế ngự.
Xin gửi cúng dường đến cho các huynh đệ mỗi người một quyển Pháp hành Nikāya – được biên tập hoàn tất sau năm năm Minh Thành tu học thuần nhuất, chuyên nhất trong Nikāya. Mong rằng các huynh đệ về đọc cho thật kĩ, sẽ thấy được con đường, phương pháp và đạo lộ tu học.
./.
ĐỨC PHẬT CÓ BIẾT TƯƠNG LAI?
THIẾT THỰC HIỆN TẠI - CÓ HIỆU QUẢ TỨC THÌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đức Phật có biết vị lai hay không? PAGEREF _Toc137114865 \h 1
II.Vô minh, tà kiến, si mê PAGEREF _Toc137114866 \h 1
1.Thế nào là Chánh kiến PAGEREF _Toc137114867 \h 2
2.Phân biệt vô minh, tà kiến, si mê PAGEREF _Toc137114868 \h 4
III.Nhận diện ngũ uẩn và tham, sân, si PAGEREF _Toc137114869 \h 8
IV.Tu tập cảm thọ PAGEREF _Toc137114870 \h 13
V.Thế nào là Pháp thiết thực hiện tại – đến để mà thấy? PAGEREF _Toc137114871 \h 15
VI.Nhắn gửi người xuất gia PAGEREF _Toc137114872 \h 17
Hôm nay, chúng ta có một buổi pháp đàm để hỏi đáp về những nghi vấn trong pháp học và pháp hành. Trong khi học kinh, học giáo lí nếu có vấn đề gì chưa rõ, chưa hiểu, còn nghi vấn; hoặc trong sự thực hành còn gặp những trắc trở, khó khăn, chướng ngại, chúng ta có thể đặt câu hỏi chung quanh vấn đề tu học của mình.
Từ cách đặt câu hỏi là có thể nhìn thấy được tâm của vị ấy. Câu hỏi mình đặt ra sẽ thể hiện tâm mình đang hướng về chiều hướng nào: chiều hướng tri thức, học vấn; hay chiều hướng quay về nội tâm để tu tập; hay chiều hướng hiếu kỳ, hỏi để cho biết chuyện này, chuyện kia. Cho nên, cách đặt câu hỏi sẽ biểu hiện mức độ tu tập và chiều hướng mà tâm đang hướng tới. Câu hỏi nào quan trọng thì Minh Thành sẽ giải thích nhiều hơn; câu hỏi nào không quan trọng lắm thì Minh Thành chỉ giải thích sơ lược, vì thời gian có hạn.
Đức Phật có biết vị lai hay không?
Với câu hỏi “Đức Phật có biết vị lai hay không? Hay Ngài chỉ biết quá khứ với hiện tại?”. Minh Thành xin trả lời rằng không có điều gì mà Đức Phật không biết. Cho nên, Ngài được gọi là bậc Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác, Thế Gian Giải, Vô Thượng Giác. Danh xưng “Thế Gian Giải” nghĩa là Ngài thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải khổ và nguyên nhân của khổ, thông giải lục đạo, thông giải tứ sanh, thông giải Thánh đạo, thông giải sanh tử, thông giải Tam giới. “Chánh Biến Tri” là cái biết chân chánh, phổ biến cùng khắp. “Vô Thượng Giác” là cái biết không một người nào khác có thể ngang bằng, xứng tầm, cân bằng; Ngài là một chúng sanh duy nhất, độc nhất mà không có một người thứ hai nào có thể sánh bằng, điều này được giải nghĩa trong Tăng Chi Bộ Kinh.
Vì vậy, muốn hiểu được Đức Phật thì chúng ta phải thành tựu Chánh Kiến, bằng không, dù cho là người đã xuất gia thì có khi vẫn hiểu Phật trên sự mê tín. Chỉ khi nào thành tựu được Chánh kiến thì chúng ta mới thật sự biết Đức Phật là ai.
Vô minh, tà kiến, si mê
Tất cả chúng sanh đều chìm trong vô minh, tà kiến, si mê từ vô lượng kiếp. Chính vì vô minh nên không thấy được ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không thấy được vô minh và khát ái ở trong ngũ uẩn. Cho nên, chúng sanh cứ mãi khao khát, thèm muốn, tham đắm, chấp thủ, dục, tham, ái, nắm giữ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Còn Đức Thế Tôn là bậc đi ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì vậy, những người còn ở trong ngũ uẩn không thể nào biết được cảm giác của Đức Phật.
Thế nào là Chánh kiến
Sau đây, Minh Thành xin chia sẻ về Năm Thủ Uẩn, gồm: Sắc Thủ Uẩn, Thọ Thủ Uẩn, Tưởng Thủ Uẩn, Hành Thủ Uẩn và Thức Thủ Uẩn. “Uẩn” có nghĩa là tập hợp, chất chứa và nhóm họp.
Tâm này luôn nắm giữ hình hài, nắm giữ tiền của, nắm giữ đất đai, nắm giữ chùa chiền… đối với tất cả những vật chất, tâm đều muốn nắm giữ. Ngay cả đôi giày, chiếc dép mới mua ở ngoài tiệm, vừa mang vào liền khẳng định rằng “chiếc dép này là của tôi”, “đôi giày tôi mang này là của tôi”, lỡ có ai đụng vào là mệt mỏi, là phiền não. Hơn hết, chúng ta vô cùng quý trọng cái thân này, nghĩa là mình quý trọng cái sắc. Vì quý trọng thân của chính mình nên ta cũng yêu quý, ưa thích thân của người khác. Sự nắm giữ thân này gọi là Sắc Thủ Uẩn.
Chúng ta ưa thích, ham muốn những cảm giác dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào. Hơn nữa, mình còn thích luôn cả những cảm giác bực bội, hận thù, sân hận, vì có những cảm giác sân giận mình cứ nắm giữ mãi, không chịu buông bỏ. Lúc nào cũng đồng hóa với những cảm giác sân giận đó, nghĩ rằng “tôi đang giận, tôi đang hận, tôi đang thù, tôi đang ghét” . Và vì thế, ta bị cảm giác đó xâm chiếm, áp đảo, chi phối, khống chế, làm chủ, xem đó là mình. Đối với bất kỳ cảm giác nào cũng nắm giữ: khổ cũng nắm, vui cũng nắm, không vui không khổ cũng nắm, tất cả cảm giác đều cho là tôi, là của tôi. Sự nắm chặt vào trong tất cả những cảm giác vui, khổ, không vui không khổ như vậy chính là Thọ Thủ Uẩn.
Hình bóng trong tâm là Tưởng. Bất cứ hình bóng gì trong tâm cũng nói “hình bóng này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”. Không những mình nắm những hình bóng yêu thương, mà còn nắm luôn những hình bóng hận thù, đau khổ. Mỗi khi nhớ lại là thân tâm này như bị thiêu đốt, trong lòng cay cú, chua chát, những cảm giác sân hận, bực bội lại sanh khởi nhưng mình vẫn nhớ, vẫn tiếp tục nắm giữ những hình bóng, cảm giác đó. Như vậy được gọi là Tưởng Thủ Uẩn.
Khi nghe giảng về Thánh trí tuệ, chúng ta cần bình tĩnh mà suy nghiệm chớ chúng ta đừng vội phản ứng theo vô minh, đó chính là ngu si. Mình đang học Thánh Trí, đừng đem cái phàm tình, chống đối là Thánh Trí Huệ. Bình tĩnh lắng nghe, không vội phản ứng. Nếu vội phản ứng lại thì đi tu để làm gì? Xuất gia để làm gì? Học Pháp để làm gì? Chúng ta đang học Thánh Trí để phá những cái phàm tình; học Thánh Tuệ để phá ngu mê; học Pháp của thượng nhân để phá những pháp của hạ nhân, của phàm phu, của ngu si, của đau khổ. Vì chính suy nghĩ của phàm tình làm cho mình khổ đau, chấp thủ, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Cho nên, ta cần phải dẹp bỏ, diệt trừ, đánh đổ, đánh sập và diệt tận những suy nghĩ phàm phu như vậy thì mới thể nhập vào trong Thánh Trí Huệ, Thượng Nhân Pháp, Tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tu là lấy trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đưa vào tâm mê này, để làm chuyển đổi, hoán đổi, thay đổi suy nghĩ, thay đổi nhận thức, thay đổi hiểu biết sai lầm trước giờ. Còn nếu cứ giữ y nhận thức phàm tình của mình như trước kia thì chúng ta không có gì thay đổi, như vậy không được gọi là đang tu.
Bất cứ suy nghĩ nào khởi lên cũng luôn nắm giữ, không muốn buông bỏ. Suy nghĩ của chúng ta đã được huân tập mấy chục năm qua, dầu cho đã đi tu, được học rõ ràng là vô thường nhưng thật chất trong tâm mình vẫn nghĩ: “Biết khi nào mới chết? Dễ gì mình chết? Còn lâu lắm mình mới chết”. Thế nhưng, hãy nhớ lại những người bị tai nạn máy bay, tai nạn giao thông, bị Covid mà chết… liệu rằng các vị ấy có nghĩ rằng ngày hôm đó họ phải chết không? Nếu được biết trước, hôm đó người ta đã chuẩn bị tâm thế sẵn sàng và tìm cách tránh né cái sắp chết. Nhưng do suy nghĩ của họ là một suy nghĩ nắm giữ, thường kiến, cho rằng họ sẽ như vậy hoài, còn hoài, thường tồn, trường tồn, thường hằng, vững trú, an trú, vững mạnh… suy nghĩ đó chính là vô minh, là chấp thủ, là u mê, là ngu mê, là hôn mê. Đó chính là vô minh, tà kiến và si mê và chúng ta luôn nắm giữ suy nghĩ đó, như vậy gọi là Hành Thủ Uẩn.
Ví dụ, món đồ mình thích, cho là đẹp mà có người kia nói “xấu lắm, có đẹp gì đâu” là bắt đầu có chuyện, dù không nói ra nhưng bên trong sẽ có những cảm giác, suy nghĩ khó chịu. Còn tâm của quý thầy học pháp ở đây rất là hiền thiện, khi Pháp được truyền đạt là các vị chấp nhận được. Thực tế, nhiều vị xuất gia trẻ thường có tâm chống đối mạnh, chưa chấp nhận học pháp ngay. Thành ra, tâm của thầy là tâm có thể tu tập được, đó cũng là biểu hiện của tâm hiền, như trong Kinh tạng Nikāya, các vị Tỳ-kheo gọi nhau là chư Hiền, Hiền giả, các bậc Hiền trí. Khi tâm hiền thiện, dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng thì tâm mới dễ tu tập, hướng thượng, cao thượng. Còn người với tâm cứng cỏi, ương ngạnh, không chịu nghe lời thì tâm không thay đổi được, bởi vì tâm đó như cục đá, cục đất, như khúc cây.
Thế nên, Đức Phật dạy tâm người tu là tâm mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Ví như khi đổ khuôn, đúc đồng hay đúc vàng thì người ta phải nung tới nhiệt độ thích hợp cho chảy ra thì lúc đó người ta muốn chất liệu đó thành hình dáng gì thì sẽ ra hình dáng đó. Cũng vậy, đối với tâm vô minh, chấp ngã, ngu si, mê muội, tà kiến này phải được Chánh kiến, Chánh tri kiến, Thánh Trí Huệ nung lên, để nó tan chảy ra, rồi sau đó mới tu học được. Còn vào chùa tu mà vẫn khăng khăng nắm giữ những hiểu biết, thói quen, tính tình trước đây rồi bảo “ai tu sao thì tu, còn tôi là vậy” thì người đó vĩnh viễn không có thay đổi. Vị này không được đi vào lò rèn, không được nung nấu lên, không được làm tan chảy những bản ngã, chấp thủ, kiến thức, tri thức, kiến chấp. Chỉ khi nào làm tan chảy những vô minh, si mê, hôn ám trong tâm thì lúc đó cũng như người thợ kim hoàng chế tác được dây chuyền, nhẫn, vương miện, vòng vàng...
Như vậy, trong sự tu này, bước đầu tiên cần dùng Chánh kiến để phá Tà kiến, dùng trí huệ phá vô minh, dùng minh kiến để phá những thấy biết si mê.
Phân biệt vô minh, tà kiến, si mê
Nếu nói một cách chung chung thì ba từ “vô minh, tà kiến, si mê” này cũng gần giống nhau. Nhưng nếu phân tích kĩ thì chúng ta sẽ thấy mỗi từ này mang một góc độ, một khía cạnh khác nhau của tâm.
Vô minh nghĩa là không có sáng. Ví dụ, đang ở trong nhà mà lại bị cúp điện, không có ánh sáng từ mặt trời hay bóng đèn, không có ánh sáng nào khác; lúc đó nếu mọi người đang đi, đang chạy thì có thể bị va đập vào nhau, gây tổn thương, u đầu sứt trán. Cũng vậy, tất cả chúng sanh đang sống với tâm vô minh, không thấy được thọ, tưởng, hành, thức, mà chỉ cho rằng đó tôi, của tôi và tự ngã của tôi; không thấy được ở trong thân tâm này, năm uẩn đang nhóm họp tạo thành, lúc nào cũng nghĩ đó là tôi. Do vậy, khi được khen thì nổ mũi, khi bị chê thì xụ mặt xuống, còn lúc bình thường, đều đều thì lúc nào cũng tôi, của tôi…Cho đến khi nào chúng ta nhìn thấy thân tâm này là từ năm hợp thể, năm nhóm hợp lại tạo thành thì lúc đó mới là cái nhìn của trí tuệ.
---
Nhóm thứ nhất là sắc uẩn, gồm thân người, vật chất tứ đại: đất, nước, gió, lửa.
Đầu tiên, sắc thân tứ đại Minh Thành đang ngồi đây chia sẻ pháp, có để một ly nước bên cạnh, để khi chia sẻ pháp bị khô cổ thì mượn nước trong ly đổ vào thân này một chút, đó là Minh Thành mượn thủy đại. Nước bên trong thân là nội thủy đại, nước bên ngoài là ngoại thủy đại; chỉ cần nội thủy đại bên trong bị trục trặc, nước bên ngoài không có thì mình chết. Như vậy, cái nào là mình?
Kế đến là địa đại – đất. Sau khi tan học, chút nữa mình về ăn cơm thì tất cả những món ăn đa phần đều từ đất. Nói cho dễ hiểu, địa đại bao gồm đất ở bên trong và đất ở bên ngoài. Đất bên trong là tim, gan, máu, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, tủy, não, tóc, lông, móng, răng, da, gân. Còn đất bên ngoài là đất mình đang được ngồi tại đây. Chỉ một trận động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ, địa đại rúng động thì năm chục ngàn người bị chôn vùi hết tất cả, bị chết ngay chính trong căn nhà mình đã tích lũy suốt cả cuộc đời. Như vậy, cái nào là mình?
Phong đại cũng gồm gió bên trong và gió bên ngoài: gió bên trong chính là hơi thở đang khì khịt, tim đập, mạch nhảy, máu huyết tuần hoàn; gió bên ngoài là những cơn gió ở ngoài cơ thể, chỉ cần trúng một cơn gió độc thổi vào người thì mình cũng có thể ra đi. Như vậy, cái nào là mình?
Cuối cùng là hỏa đại, gồm lửa bên trong và lửa bên ngoài. Lửa bên trong chính là nhiệt độ, hơi ấm cơ thể, nếu cơ thể không được ấm, nhiệt độ thấp, toàn thân lạnh cóng thì mình không thể sống được. Bên ngoài nếu không có lửa thì cũngkhông nấu nướng được gì; ở xứ lạnh âm mấy chục độ, không có lửa thì mình cũng chết. Như thầy Khế Định, trụ trì một Thiền viện ở miền Trung, đã từng tu học ở Canada. Thầy có kể lại, lúc ở Canada, một lần, thầy đi ra ngoài quét tuyết mùa đông và thầy lỡ đóng cửa, khi đó nút cửa bị hỏng, không mở được. Do vậy, thầy bị mắc kẹt ở ngoài, không vào nhà được, thày cũng quên không đem điện thoại theo. Thế là thầy bị ngất xỉu, nằm co ro ở bên ngoài khu tu viện ngoại ô hẻo lánh, gần rừng cây. May mắn có người đi ngang phát hiện ra và giúp đỡ, nếu không thầy đã chết cóng ngay tại chỗ âm mấy chục độ. Chỉ cần không có hơi ấm là có thể mất mạng, vậy thì cái nào mới thật sự là mình?
Như vậy, nhóm thứ nhất là sắc uẩn, bao gồm đất, nước, gió, lửa; ngoài ra không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi nhưng chúng ta lại cho đó là mình. Đó chính là vô minh thứ nhất, vô minh về sắc uẩn.
---
Bốn lớp vô minh còn lại là vô minh về thọ, tưởng, hành, thức. Do không có nhiều thời gian nên Minh Thành chỉ chia sẻ tóm tắt.
Cảm giác nào ta cũng cho là mình, ví dụ: “hôm nay tôi vui”, “hôm nay tôi đang bực bội, đừng có lại gần, tôi đang khó chịu”, “hôm nay tôi thấy cũng bình thường”… Nhưng đối người có trí tuệ, biết nhận diện được ngũ uẩn, khi có cảm thọ khó chịu, bực bội thì họ sẽ thấy có một khổ thọ đang xâm chiếm thân tâm nên mới có một cảm giác khó chịu. Hoặc khi thấy có một cảm giác dễ chịu nhưng người này cảm giác đó không phải là tôi. Cảm giác ấy được hình thành do duyên tiếp xúc mà có ra sự dễ chịu hay khó chịu, vui hoặc khổ. Khi mình gặp đám ma thì mình có cảm giác buồn, mà mình gặp đám cưới thì thấy vui. Như vậy thì nỗi buồn niềm vui ấy là do tiếp xúc ở bên ngoài. Nhưng khi mình tiếp xúc và sanh khởi những cảm giác ấy thì cảm giác nào mình cũng nói là của mình hết. Như vậy, mình không biết được thọ uẩn mình đang nắm giữ mà cứ cho đó là tôi, là của tôi, cho nên nó trở thành Thọ Thủ Uẩn – lớp vô minh thứ hai.
Tưởng Thủ Uẩn là những hình bóng trong tâm. Hình bóng này, hình bóng kia trong tâm sanh khởi lên ta đều cho đó là mình: “tôi tưởng”, “tôi nghĩ”, “tôi suy tư” rồi mình nắm giữ, cho rằng cái tưởng ấy là của mình. Đó là lớp vô minh thứ ba.
Tương tự, suy nghĩ nào sanh khởi mình cũng cho đó là mình, đây là lớp vô minh thứ tư – Hành Thủ Uẩn.
Cũng vậy, nhận thức trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết đều là do duyên sanh. Ví dụ như ban đêm, nơi mình ở bị cúp điện hay đi ngoài đường bị cát dính vô mắt thì mình không thấy đường nữa. Hay điện thoại mình bị mất sóng, nói hơn hai mươi phút mà hỏi lại thì không nghe thấy gì hết, … Như vậy, cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của mình là do nhân duyên hội tụ sanh ra, không có thật, thiếu một nhân duyên thôi là nằm liệt tại chỗ, mù, đuôi, điếc, câm, ngọng… nhưng ta lại cho rằng đó là tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi, tôi nếm, tôi xúc chạm, tôi biết và chấp chặt vào đó. Đây là lớp vô minh thứ năm – Thức Thủ Uẩn.
Như vậy, ngũ uẩn này chỉ là những pháp duyên sanh, vô thường, dễ tan hoại. Chỉ trong tích tắc liền có thể trở thành một người khuyết tật. Ngay lập tức có thể trở thành một nắm tro tàn. Chỉ trong tích tắc có thể trở thành một đống bầy nhầy ở dưới bánh xe tải… Đó chính là những sự thật mà mình không có chấp nhận. Chỉ khi nào mình chấp nhận cái bản chất của tứ đại chính là như vậy thì các lớp vô minh này mới từ từ được phá dần.
---
Trong bài kinh “Bậc Dự Lưu”, Đức Phật nói thấy được sắc, thấy được thọ, thấy được tưởng, thấy được hành, thấy được thức được gọi là Chánh kiến, chứng quả Dự Lưu. “Này Ràdha, khi nào bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này. Vị này, này Ràdha, được gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến cứu cánh bồ-đề” (trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Bậc Dự Lưu). Như vậy, nói chung lại, người không thấy được ngũ uẩn, được gọi là tà kiến, là vô minh, là si mê.
Nói rõ hơn, vô minh ở đây là không thấy, không biết ngũ uẩn. Tà kiến là sự hiểu sai, cho rằng ngũ uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cứ tưởng đâu có một người ban phước, giáng họa cho mình, có ai đó làm cho mình khổ nhưng không biết rằng chính tham, sân, si, bản ngã trong tâm làm cho mình khổ. Sự thật bấy lâu nay mình hiểu sai, mình không biết ấy là tà kiến. Si mê là không thấy rõ được tâm mình đang như thế nào. Cứ để tâm đi lang thang, vô gia cư, vất vơ vất vưởng cho nên không có một căn nhà để an trú, vì ta chưa thực tập cảm giác toàn thân, chưa định tâm trên thân được. Tâm thức này là một tâm vất vưởng, một tâm lang thang, không có chỗ trú, cho tới khi nào mình thực tập được cảm giác toàn thân, định tâm ở trên thân thì bấy giờ tâm mình mới có được một chỗ trú ẩn an toàn, an ổn.
Nhận diện ngũ uẩn và tham, sân, si
Phần Thánh quả thì Minh Thành xin thưa rằng, sau khi nghiên cứu và tu học trên ba mươi năm, đi tầm cầu giáo pháp toàn thế giới thì bây giờ, Minh Thành chỉ chia sẻ tạng kinh Nikāya. Những tư tưởng khác, tông phái khác, Minh Thành xin phép không bàn tới mà chỉ nói về tạng kinh Nikāya. Vì vậy Minh Thành sẽ không bàn tới Lục Tổ Huệ Năng. Căn cứ trên ngũ uẩn, chúng ta sẽ nói về Thánh quả:
Thánh quả thứ nhất: người thấy đầy đủ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thấy được tham, sân, si một cách thâm sâu; thấy được những rác bẩn, cấu uế, cấu nhiễm ở trong thân tâm.
Thánh quả thứ hai: người dọn rác trong tâm tương đối.
Thánh quả thứ ba: người dọn sạch rác trong tâm.
Thánh quả thứ tư: người đã dọn rác trong tâm một cách trọn vẹn, không còn một chút rác bẩn nào dù là vi tế, nhỏ nhiệm.
Vì chưa nhận diện được ngũ uẩn nên chúng ta không thấy được nội tâm mình còn dơ đến mức độ nào. Do tthời gian ngắn nên Minh Thành không chia sẻ sâu về phương pháp nhận diện ngũ uẩn, mà chỉ có thể đưa ra một vài ví dụ để chúng ta có thể nhận diện được ngũ uẩn.
Tấm thân này – cục thịt mấy chục kí lô đang ngồi đây được gọi là sắc. Tất cả những thứ xung quanh đây là sắc.
Mời đại chúng nhắm mắt lại và nhớ về người cha quý kính, người mẹ thân thương của mình. Lúc này, hình bóng của cha mẹ hiện ra trong tâm các vị, đó là tưởng. Một cảm giác ấm áp, ngọt ngào, thân thương đi kèm, đó là thọ. Những suy nghĩ liên hệ đến cha mẹ: “không biết giờ này cha mẹ đang làm những gì”, “cha mẹ đang như thế nào”, đó là hành. Khi trong tâm có hình bóng cha mẹ, có cảm giác thân thương và có những suy nghĩ liên hệ đến cha me và chúng ta rõ biết được cái điều đó, như vậy gọi là thức.
Ví dụ khác, chúng ta đang ngồi đây nhưng ở phía bên kia đang Chẩn tế, khi nghe âm thanh đọc kinh thì ở trong tâm ta đồng thời sẽ xuất hiện những hình bóng lờ mờ của các sư thầy đang làm sám chủ, hình bóng đó là tưởng. Ai đi theo hướng kinh sư thì tự nhiên lúc này sẽ thích thích, khoan khái, đó là thọ. Nếu bên đó đang tụng các bài kinh mà mình thuộc thì trong tâm bắt đầu sẽ lẩm nhẩm theo, đó là hành. Sự rõ biết trong tâm mình đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác, đó là thức.
Trên đây là những ví dụ đơn giản, giới thiệu cho chúng ta nhận diện về ngũ uẩn. Nếu không biết được tâm đang hoạt động như vậy thì sự tu tập sẽ không chính xác, không có hiệu quả. Nếu không nhận ra được ngũ uẩn thì chúng ta chỉ đang tu trên những suy tưởng, suy luận. Vì không thấy được tâm thì làm sao chế ngự tâm, quản lí tâm, kiểm soát tâm; làm sao huấn luyện, giáo dục, cải tạo, tẩy sạch, diệt tận những tâm bất thiện. Giống như mình đi đánh giặc nhưng không biết, không thấy được tham, sân, si ở đâu thì làm sao mình diệt được tham, sân, si?
---
Tham, sân, si trú ẩn trong cảm thọ. Cảm thọ khó chịu có sân; cảm thọ dễ chịu có tham; cảm thọ không dễ chịu, không khó chịu có si. Hang ổ, sào quyệt của tham, sân, si nằm ở trong ba cảm thọ, cảm giác. Khi được ăn bữa cơm ngon thì cảm thọ thấy vui, như vậy có tham trong đó. Lúc nghe tiếng người ta mắng chửi, chỉ trích thì cảm thọ lúc đó khó chịu, như vậy có sân trong đó. Còn cảm giác bình thường, đều đều là có si trong đó.
Nhưng vì không thấy được ngũ uẩn nên ta luôn thấy rằng “tôi, ta, tao, mi đang buồn, đang vui, đang bình thường” thì đó là ngu si. Ngược lại, khi thấy được sắc là đây, thọ, tưởng, hành, thức đang vận hành là đây, không có gì là tôi, là của tôi trong đây hết thì lúc đó mới phá được một phần vô minh, si mê. Mà trong ngày, mình nhớ như vậy được bao lâu? Dường như là không có, cho nên suốt ngày mình sống trong vô minh, si mê, tà kiến.
Xuất gia không phải tụng kinh hai thời là xong, đó là những bước mẫu giáo sơ cấp, lớp 1, lớp 2, là những bước thực tập ban đầu cho người xuất gia. Hãy nhớ rằng, người xuất gia cần phải đạt được Chánh kiến, đạt được tri kiến của bậc Thánh, có được cái thấy biết của Đức Phật, gọi là tri kiến Phật, đó chính là thấy được ngũ uẩn, không có tôi, không có của tôi và tự ngã của tôi. Sau khi thấy được ngũ uẩn rồi sẽ thấy được ra cảm thọ. Sau khi thấy được ra cảm thọ, ta sẽ phát giác, phát hiện ra những hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si, bản ngã và dục, ái. Sau khi thấy được sào huyệt, hang ổ và căn cứ địa của dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, lậu hoặc rồi mình mới dùng tất cả những phương pháp nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận bằng Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, lúc đó, từ Thánh quả thứ nhất cho tới Thánh quả thứ tư mới được thành tựu.
Như vậy, bước đầu đòi hỏi chúng ta phải nhận diện được ngũ uẩn. Nhận diện ngũ uẩn chính là thấy được những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ, nhận thức trong tâm. Khi quay trở về nhận diện là chúng ta có thể thấy được hết. Nhờ vậy, trong tâm đang có tham thì mình biết là đang có tham. Trong tâm đang có sân thì h biết là đang có sân. Đó gọi là thiết thực hiện tại, đến đây mà thấy. Hơn nữa, hễ có tham là sẽ có đau khổ, chấp thủ. Mà hễ có sân, có tức giận là có đổ bể, đỗ vỡ, có đổ nát, có đốt cháy, có hủy hoại, có tan nát, có hoại diệt. Hễ có bản ngã là có hơn thua, có đấu khẩu, có đấu tranh, có chiến tranh là bao nhiêu máu đổ. Chúng ta có nhìn thấy không, thế giới đang chiến tranh và sẽ có thể có những chiến tranh lớn sắp sửa nổ ra đó. Chỉ cần một viên đạn, một quả bom thôi là tan tành một quốc gia, một thành phố với hàng trăm, hàng triệu, hàng trăm triệu con người. Mà tất cả những thứ đó là từ đâu? Chính là từ trong bản ngã sân hận và tham dục của con người. Từ tham, sân, si mà ra, chứ không phải từ những điều gì khác.
Khi các vị Tỳ-kheo hỏi Đức Thế Tôn điều gì là cứu cánh, là rốt ráo của một người tu. Đức Phật tuyên bố rằng: đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si là cứu cánh của Phạm hạnh. Giờ đây, chúng ta tu mà không lo nhiếp phục tham, sân, si mà cứ lo làm điều này điều kia trên hình tướng, hình sắc ở bên ngoài, rồi cuối cùng mình sầu bi, khổ, ưu, não. Phật tử hay vào chùa và nói rằng “thầy ơi con khổ quá”, nhưng nhiều khi thầy còn khổ hơn con nữa. Phật tử khổ quá, vào chùa tìm thầy để nương nhờ cứu độ cho con hết khổ mà thầy bận xoay cái này, thầy mắc điện thoại cho người kia, bận đi kiếm tiền rồi xong luôn. Từ chỗ chúng ta không làm đúng mục đích của một người tu, chính vì vậy, khiến Phật tử mất đi lòng tin, mất đi sự tôn trọng, cung kính, rồi dần dần đạo Phật bị thay đổi là do mình không nghe lời Đức Phật. Như vậy là chúng ta không có hiếu thảo, không nghe lời vị cha lành vĩ đại, bậc Đại từ phụ của mình. Và vì không làm đúng theo lời dạy của Đức Như Lai nên mình đau khổ.
---
Tóm lại, tham, sân, si là vấn đề trọng đại nhất của người xuất gia, là kẻ thù độc nhất ở bên trong chúng ta, chứ không có gì khác ở bên ngoài. Nếu tâm mình hoàn toàn ly dục, nhìn thấy thân này là bất tịnh, thối tha, bẩn thỉu, là cầu tiêu di động, là nhà máy sản xuất phân và nước tiểu thì không thể có người nào đẹp tới quyến rũ mình được. Tại trong người mình còn khao khát, còn thèm muốn, còn dục ái, còn khát ái cho nên người ta chưa chạy đến là mình đã chạy đi tìm. Chính vì vậy, mình cứ tìm hoài, kiếm hoài, thèm hoài, khát hoài. Chúng ta luôn khát ái, khao khát, thèm khát, đói khát, ham muốn. Đức Thế Tôn dùng từ khát ái để chỉ cho ngũ uẩn này, chỉ một từ này nhưng có thể thiền quán một trăm năm.
Cho nên, tâm của phàm phu là một cái tâm đói khát, nghèo đói, tâm bần cùng, tâm thiếu thốn, tâm khao khát, thèm muốn và khát ái cho nên khổ hoài. Khổ còn được gọi là bất toại nguyện, là không vừa lòng. Mình thấy ngoài đời một người có một vợ còn chưa vừa lòng, ba vợ ngủ ở chuồng bò cũng chưa vừa lòng. Chúng ta có thấy không cái tâm đói khát, thèm khát, không có thỏa mãn rồi đau khổ hoài. Bất an hoài, tìm kiếm hoài, chạy hoài mà không có ngày dừng. Còn tâm của bậc Thánh là một cái tâm no đủ ở trong Thánh pháp, trong trí tuệ đại từ đại bi, vì vậy, các Ngài không còn tham muốn gì nữa.
Vì vậy, sự tu học của chúng ta là sự quay trở lại nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức; quay trở lại an trú vào trong cảm thọ; quán sát những tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh và nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận nó. Đây mới là cứu cánh phạm hạnh, là mục đích tối thượng của người xuất gia, là chính sự, là bổn phận sự, là việc quan trọng nhất mà chư Thiên và loài người kính ngưỡng, là ruộng phước vô thượng của nhân thiên. Nếu không nhìn được ngũ uẩn, không thấy được cảm thọ, không quán chiếu, không nhiếp phục, không chế ngự được tham, sân, si thì chúng ta sẽ để cho những ác pháp đó xâm chiếm, hoành hành, áp đảo.
Trong kinh Raṭṭḥapāla, Trung Bộ Kinh có câu:
Thân này là vô thường, đi đến hoại diệt.
Thân này là vô hộ, vô chủ.
Thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả.
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái.
Hãy thử nhìn tất cả chúng sanh trong khắp thế gian này, trong khắp hành tinh này và nhìn tự thân xem có đúng như vậy không? Tất cả đều thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái. Dù mang hình thức là một người tu nhưng không quay trở lại tâm mình để nhận diện, nhiếp phục, chế ngự thì mình khổ dài dài, khổ hoài hoài, rồi sầu bi, ưu não, bất an, thiếu thốn, chạy tìm kiếm hoài, không có ngày dừng lại. Cho nên, trong sự tu tập này, tinh thần Nikāya dạy chúng ta rất rõ ràng.
Tu tập cảm thọ
Câu hỏi về A lại da thức thì trong kinh Nikāya không nhắc đến, điều gì trong kinh Nikāya không nói thì Minh Thành không đề cập ở đây. Tinh thần học Nikāya là không phải lấy hết 5 bộ mà chỉ lấy 4 bộ đầu là: Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi Bộ và Tương Ưng Bộ. Vì Tiểu Bộ Kinh sau này mới được bổ sung trong lần kết tập thứ 2 và lần thứ 3. Ngài Ấn Thuận đạo sư, với cả cuộc đời 100 năm nghiên cứu Phật Pháp ở Đài Loan đã tuyên bố: “Tương Ưng Bộ Kinh là vô biên thậm thâm pháp nghĩa”. Minh Thành đã qua thăm Ngài bên Đài Loan và đi các nước khác như Myanmar, Srilanka, Thái Lan; Minh Thành cũng thăm ngài Ajahn Brahm – đệ tử ngài Ajahn Chah, Hòa thượng Tinh Vân, Ni sư Chứng Nghiêm, Phật Quan Sơn… Sau khi đã đi gần hết các nước, đến gặp và tu học cùng hầu hết các vị Tăng Ni nổi danh trên thế giới và cuối cùng, Minh Thành quyết định quay về tạng Nikāya để tìm được chân đứng trong Pháp và Luật của Phật Pháp nguyên chất.
Trong Nikāya có nói: “Tất cả các pháp hội tụ nơi cảm thọ”, đây là một câu rất quan trọng trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” – Tăng Chi Bộ Kinh tập IV. Đức Phật chỉ nói về sáu thức, chứ không có nói A lại da thức, thế nên, muốn biết tâm mình có gì thì chỉ cần nhìn vào cảm thọ, cảm giác của mình là có thể thấy rõ. Ví dụ, mình đang học Kinh Sư mà nghe được tiếng Kinh Sư ở bên ngoài truyền đến là trong tâm bắt đầu có sự đã đã, thích thích. Nếu như không bận gì gấp thì mình cũng sẽ ghé qua nhìn xem buổi lễ như thế nào. Đó là sự thúc giục, hấp dẫn, có lực hút, tại vì tâm mình ưa thích với điều đó. Đây cũng là dục, tham, ái nhưng là thiện pháp.
Trong Tứ Như Ý Túc, gồm: Dục như ý túc, Tấn như ý túc, Thẩm như ý túc và Tư duy như ý túc. Trong mọi việc, đầu tiên thì mình phải muốn, kế đó mình phải nỗ lực, sau đó phải thẩm sát và tư duy, xét nét, tìm cách nào hiểu quả nhất để làm cho viên mãn. Pháp thiện hay bất thiện đều có bốn bước như thế: muốn, nỗ lực, thẩm sát và tư duy – đây là chìa khóa vàng để thành công cho thế gian và cho xuất thế pháp.
Nếu biết nhìn vào cảm thọ, ta có thể lập tức thấy được những tham ái, sân giận, si mê. Người có tâm ngã mạn thì trong suy nghĩ, cảm giác luôn luôn có sự chống đối, thích suy nghĩ về sự hơn thua, so đó với người khác, tự cho mình là phải, là hay, là đúng, là cao chứ không chịu mình thua, mình dở, mình thấp. Khi nhìn vào những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm là mình thấy được hết những điều đó.
Cho nên, phần quan trọng nhất trong năm uẩn là thọ, đây là kho chất chứa của tất cả các pháp. Có những người bị người khác nói nặng, nói nhẹ nhưng họ vẫn bình thản là vì thọ của người này đã tu tập nhiều đời, có một sự an tịnh, lắng dịu. Có những người chưa nói gì hết là họ sân hận lên, đùng đùng lên, chỉ cần nhìn ánh mắt của nhau thôi là xảy ra án mạng. Thọ của người này đầy những pháp bất thiện, cho nên ngay khi còn ở thân người đã phải làm tù nhân trong bốn bức tường, khi người ấy chết đi, đời sau có thể bị sanh vào cõi súc sanh ở dưới địa ngục, ngạ quỷ. Vì thọ ấy là thọ của ác thú, của súc sanh nên người ấy phải vào ở trong tù ngục. Rồi sau khi nhắm mắt, người ấy rơi vào khổ thú, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh.
Vì lẽ đó, sự tu tập cảm thọ là hết sức quan trọng. Phải tu tập làm sao cho cảm thọ của mình được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền lành, hiền thiện, hiền hòa, hiền hậu, hiền thương, hiền lương, hiền từ, hiền đức, hiền trí để mình theo bậc Hiền Thánh. Cần phải huấn luyện, dạy dỗ để tâm tăng trưởng, phát triển những cảm thọ hiền thiện, hiền từ, hiền hòa, hiền lương, hiền đức, hiền lành, hiền hậu, hiền nhân, hiền trí. Minh Thành sắp sửa ra bộ sách về tâm đại hiền trí, có tên Hiền Trí Đại Tuệ. Bộ sách này khá dài, khoảng vài trăm trang, gồm tất cả những lời dạy của Đức Phật về phương pháp tu tập để trở thành bậc Hiền Trí trong Kinh tạng Nikāya.
Như vậy, cảm thọ rất quan trọng trong sự tu học này. Còn những phần nằm ngoài tạng kinh Nikāya thì Minh Thành không đề cập. Chúng ta nên biết rằng, việc phân định cái này đúng hay cái kia đúng, sai, như thế này, như thế kia thì chỉ thêm thị phi, không mang đến lợi lạc, đến uối cùng mình chẳng được gì. Điều quan trọng là trước tiên chúng ta phải làm một con người hiếu thảo, làm một con người đạo đức, đây mới chính là thiện pháp, chúng ta nên lan tỏa pháp lành này.
Thế nên, trước hết, huynh đệ nên tự hỏi rằng mình có hiếu thảo chưa? Có đầy đủ tâm đại hiếu xuất thế gian chưa? Mình có hoàn thành được đầy đủ những đức hạnh căn bản của một chân nhân – người thật sự là người, đó là biết ơn, nhớ ơn hay chưa?
Trong bài kinh “Đất”, Tăng Chi Bộ tập 1, Đức Phật có nói thế nào là địa vị của bậc chân nhân và bậc không phải chân nhân? Đặc tính của bậc chân nhân là người biết ơn và nhớ ơn. Còn bậc phi chân nhân là người không biết ơn, nhớ ơn. Như vậy, tất cả những điều gì có ý nghĩa tán dương, khuyến khích, ca ngợi cách sống có tình, có nghĩa, có hiếu, có thảo, có nhân, có đức… đều là thiện pháp để cho mình tu học và lan tỏa. Chúng ta cần phải nhớ những thiện pháp đó để giúp cho mình và cho người.
Thế nào là Pháp thiết thực hiện tại – đến để mà thấy?
Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Như thế nào là “thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy”? Ngay khi nổi sân giận, ta biết mình đang nổi sân giận; sau đó ta nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch sự sân giận đó là mình hết khổ. Tương tự, khi trong cảm giác có tham, có sự thúc giục, có thèm muốn và khao khát; ta thấy được sự tham muốn đó; sau đó ra sức nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch và trừ diệt nó; không cho tâm đi theo chiều hướng tham muốn bất thiện thì ngay lúc đó ta có được an lạc, có hiệu quả tức thời, thiết thực hiện tại ngay khi đó.
Hoặc khi thấy trong suy nghĩ mình có sự hơn thua, ganh tỵ, muốn đấu khẩu, muốn tranh luận hay dở; chúng ta biết đó là súng ống, là đạn dược, là đau khổ, là sầu bi, chỉ đưa đến đổ vỡ, đổ nát. Nhờ biết như vậy, chúng ta lập tức dừng lại, không cho những cảm giác, nghĩ, tưởng bất thiện sanh khởi nữa. Khi đó, chúng ta la rầy, nhắc nhở tâm mình phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, hiền thiện, hiền hòa; kết hợp trải tâm từ để sanh khởi tình thương.
Thương cho chính mình vì mình là nạn nhân của tham, sân, si. Chính những dục, tham, ái này đã làm cho mình đau khổ, thèm khát, thiếu thốn trong vô lượng vô biên kiếp. Chính cảm giác tham dục này làm cho mình si mê, mê muội, hôn ám vào những thứ bất tịnh, bẩn thỉu, nhơ nhớp, tanh hôi. Chính những tâm bực bội, sân tức này đã đốt cháy hết tất cả tình thân, hiếu đạo, nghĩa tình, thầy trò, huynh đệ. Vì vậy, phải tu tập một tâm từ, một tình thương rộng lớn, thương cho mình là nạn nhân của cơn giận này; thương cho người đang giận mình, bởi họ cũng là nạn nhân của những cơn giận; thương cho cả ông bà, cha mẹ, anh chị em mình cũng đều là nạn nhân của tham, sân, si.
Sau đó ta mở rộng tình thương ra khắp hữu tình chúng sanh trong cả thế giới, trời đất, vũ trụ này. Tất cả đều là những ngũ uẩn đáng thương, đều bị tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã làm cho họ khổ đau. Họ đang gặp tai họa, họ đang bị bủa vây, họ đang bị vây hãm ở trong một trận tuyến đầy cam ro, đầy ác độc của tham, sân, si, của dục, ái, của bản ngã. Họ đang bị nhấn chìm trong biển dục, đang trôi nổi trong dòng sông ái. Họ đang bị đốt cháy trong những ngọn lửa sân hận. Họ đang bị thiêu hủy ở trong những ngọn lửa của hận thù. Chính vì vậy, chúng ta hãy thương họ, thương chính mình, thương tất cả hữu tình chúng sanh. Tâm thương trùm khắp rộng lớn, cùng khắp mười phương, đây là cách thực tập từ vô lượng tâm, trải tâm từ rộng lớn, bao la, trùm khắp, vĩ đại, ôm trọn cả Trái Đất này, cả bầu hư không này…
Khi trải được tâm như vậy thì sự tu tập của chúng ta sẽ tiến bộ, sẽ thay đổi, làm mới mình, sẽ có những bước tiến bộ mà mình không ngờ được. Sự tu tập đúng Chánh Pháp đem lại kết quả, lợi ích rộng lớn, thiết thực, hiện tại ngay lập tức, không có đợi tuần sau, tháng sau, năm sau hay đời sau, mà ngay lúc mình thực hành thì sẽ có hiệu quả lập tức. Chính ngay lúc thực tập trải tâm từ thì chúng ta sẽ có tình thương, khi đó, tâm từ sẽ lớn mạnh, sẽ phát triển, được vững trú và an lạc mà không cần đợi bao lâu nữa. Như khi ăn cơm thì mình no liền chứ không đợi tuần sau mới no; hoặc khát nước thì uống nước sẽ hết khát liền chứ không đợi chiều mới hết khát. Cho nên, tại sao tu tập mà lại đợi đến lúc chết mới có kết quả? Lưu ý, lúc chết chúng ta có kết quả sau cùng, còn trong quá trình tu học, những kết quả sẽ có ngay lúc mình thực hành đối với sự tu hành đúng đắn. Ngược lại, nếu tu không đúng như pháp thì chỉ hứa hẹn những điều viển vông xa vời, còn thực tế thì không thấy được pháp.
Nhắn gửi người xuất gia
Tuy chỉ gặp nhau trong một buổi, nhưng với tâm lòng chân thành, con trò Thích Minh Thành, là đệ tử xin cúng dường Pháp Bảo đến quý Chư Tăng. Mong tất cả Quý Thầy sẽ không quên rằng mình còn có một người cha, một người mẹ đang ở quê nhà luôn nhớ thương và dõi theo mình từng ngày, từng giờ. Đừng quên ông bà, cô bác, những người thân đang chờ sự thành công của mình, đang đặt hết tất cả sự hy vọng, tình thương và niềm tin vào mình. Vì vậy, hãy tu học như thế nào để tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng Thánh Trí Tuệ. Hãy tu tập như thế nào để thành tựu được những đức hạnh cao thượng của các bậc Hiền Thánh. Đừng cô phụ cuộc đời xuất gia khi mình may mắn có thân hình đầy đủ, có tri thức nhận biết và nay lại gặp được Chánh Pháp tối thượng. Nếu ngay bây giờ mình không nắm bắt được cơ hội quý báu này, đến khi tấm y này rơi xuống thì mình sẽ không biết sẽ đi về đâu. Vì vậy, quý thầy hãy đem hết tất cả tấm lòng và trái tim của mình để tìm cầu Chánh Pháp, đừng tu học một cách qua loa, đừng tu học một cách hình thức máy móc cho có. Hãy đem hết tất cả tấm lòng chí thành, cung kính, tha thiết, khát ngưỡng, quy kính đối với Tam Bảo rồi mình sẽ gặt hái được những kết quả không thể ngờ được với một tấm lòng chân thành cung kính Pháp. Người xuất gia phải tham dự vào Bốn đôi tám chúng Hiền Thánh là ruộng phước vô thượng của Chư Thiên và loài Người, tức là hướng Dự Lưu và Nhập Lưu; hướng Nhất Lai và Nhất Lai; hướng Bất Lai và Bất Lai; hướng A-la-hán và A-la-hán quả. Đó là tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật.
Và chìa khóa đầu tiên muốn đi vào trong tám chúng đó là phải nhận diện được ngũ uẩn. Chỉ khi nhận diện ngũ uẩn một cách rõ ràng, kỹ càng, sáng tỏn thì chúng ta mới có được chìa khóa mở cửa để đi vào trong căn nhà nội tâm. Khi đó, mình sẽ thấy được rác bẩn trong tâm ta từ vô lượng kiếp. Sau khi thấy được rác bẩn từ vô lượng kiếp thì phải dùng công phu tu tập để quét dọn vệ sinh, lau chùi tẩy rửa. Cuối cùng, mình sẽ có được một nội tâm thật thanh tịnh, trong sạch và thuần khiết. Lúc này, ta mới có thể đón chào cha mẹ, cô bác, ông bà, chúng sanh, đàn na tín thí, ân nhân vào căn nhà trong sạch, thanh tịnh của mình. Noi gương các bậc Hiền Thánh là những vị đã báo được bốn ân nặng nhất của cuộc đời mình, không bao giờ quên.
Mỗi ngày ăn cơm, mình phải nhớ đây là mồ hôi, đây là máu, đây là nước mắt của người cúng dường. Khi chạy trên chiếc xe thì mình phải nhớ đây là nước mắt, mồ hôi của những người tín thí. Khi sử dụng những gì trong bốn vật dụng nhu yếu đời sống, mình đừng bao giờ quên ơn đức của những người đã lo lắng hỗ trở cho mình. Thực tập như vậy giúp chúng ta tăng trưởng, phát triển, làm lớn mạnh tâm biết ơn, cảm ơn đối với mọi người. Đó là đặc tính của bậc chân nhân – người thật sự là người. Sống biết ơn và nhớ ơn như vậy thì đời sau mình còn được làm người để tiếp tục tu tập. Ở đây, Đức Phật chưa nói đến trả ơn, Ngài chỉ nói đến biết ơn và nhớ ơn, có hai đặc tính này đã được xem là một bậc chân nhân. Vì vậy, chúng ta càng phải biết ơn và nhớ đến những người có ơn thì đời sau mình có thể còn làm được một con người; nếu không có những đặc tính này thì khả năng mình rơi vào ba đường ác rất là dễ, rất là lớn.
Trên đây là những pháp hành hết sức thiết thực, căn bản và dễ làm mà chúng ta có thể làm được, đóó là những lời mà Minh Thành muốn gửi đến tất cả huynh đệ. Vì sắp đến giờ tan học nên Minh Thành thấy cảm thọ của các vị đang bị thúc giục, dù cho nói nữa cũng không có lợi ích, hơn nữa, chia sẻ những điều trên tương đối cũng là đủ. Mong rằng tất cả chúng ta hãy nhìn kỹ cảm thọ của mình để quán sát, nhiếp phục, chế ngự.
Xin gửi cúng dường đến cho các huynh đệ mỗi người một quyển Pháp hành Nikāya – được biên tập hoàn tất sau năm năm Minh Thành tu học thuần nhuất, chuyên nhất trong Nikāya. Mong rằng các huynh đệ về đọc cho thật kĩ, sẽ thấy được con đường, phương pháp và đạo lộ tu học.
./.