Vô Minh 5 - Chế Ngự - Con Đường Đưa Đến Héo Mòn Phiền Não
Kinh Nikāya Giảng Giải - Vô Minh 5 - Chế Ngự
Con Đường Đưa Đến Héo Mòn Phiền Não
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chế ngự thân khẩu ý PAGEREF _Toc179397830 \h 1
II. Sự khiêm cung của bậc chân tu PAGEREF _Toc179397831 \h 9
III. Chế ngự thân khẩu ý 2 PAGEREF _Toc179397832 \h 13
IV. Dặn dò tu tập PAGEREF _Toc179397833 \h 15
I. Chế ngự thân khẩu ý
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về chủ đề vô minh mà Đức Thế Tôn đã khai thị, diễn thuyết cho chúng ta qua bài kinh Vappa. Trong bài kinh này nội dung nói do vô minh khởi động cho nên các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não sanh khởi ra, do vô minh khởi động cho nên những mê lầm tàn phá thân tâm mình, làm hại chính mình và những người xung quanh, nó đốt cháy chính mình và thiêu rụi chúng sanh, khiến cho hữu tình phải đau khổ, bị thiêu đốt và tàn hại trong hiện tại và tương lai.
"Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu khu vườn Nigrodha. Rồi thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đi đến Tôn giả Mahàmoggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggalàna rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đang ngồi một bên:
- Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Ngài Mục-kiền-liên hỏi có người nào với thân được chế, lời chế ngự, ý chế ngự mà rời xa được vô minh và minh được sanh khởi không? Một người đã chế ngự được thân, miệng, ý, xa rời vô minh, minh đã sanh khởi thì người ấy có vì lý do nào đó mà các lậu hoặc, các sự mê lầm, phiền não khởi lên và sau này khiến cho họ cảm thọ những cảm giác khổ đau trong tương lai không?
"- Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do một nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Ngài Thích Tử Vappa nói rằng ngài có thấy trường hợp đó, hiện tại những nghiệp ác mà người này đã tạo trong quá khứ chưa trổ ra quả nhưng về sau này thì quả ác nghiệp của người này mới trổ ra. Câu chuyện giữa ngài Mục-kiền-liên và Thích Tử Vappa chỉ nói đến đây thôi, bị dang dở giữa chừng.
"Và câu chuyện này giữa Tôn giả Mahàmoggallàna và Thích tử Vappa, đệ tử của Niganthà bị bỏ dở.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh đứng dậy đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
- Này Mahàmoggallàna, câu chuyện gì được nói đến, khi các Ông ngồi tụ họp ở đây? Và câu chuyện giữa các Ông chưa được nói xong?" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Thế Tôn hỏi ngài Mục-kiên-liên từ nãy giờ các thầy đang bàn luận về chuyện gì. Ngài Mục-kiền-liên lặp lại câu chuyện cho Thế Tôn nghe.
"- Ở đây, bạch Thế Tôn, con nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha: 'Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?' Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha nói với con như sau: 'Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai!'. Bạch Thế Tôn, ở đây là câu chuyện giữa Thích Tử Vappa, đệ tử của Nigantha và chúng con, câu chuyện bị bỏ dở khi Thế Tôn đến!
Rồi Thế Tôn nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha:
- Này Vappa, nếu Ông có thể chấp nhận điều Ông có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp Ông không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Ta, nếu Ông hỏi ta thêm về vấn đề ấy: 'Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?', thời có thể có cuộc nói chuyện giữa chúng ta". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Thế Tôn nói với vị Thích Tử cùng dòng họ Thích-ca với ngài nhưng lại là đệ tử của ngoại đạo rằng cái nào ông thấy đồng ý thì cứ nói đồng ý, cái nào ông thấy không đồng ý thì nói không đồng ý, cái nào ông không hiểu thì cứ hỏi, nếu ông chịu như vậy thì ngài sẽ nói chuyện với ông Thích Tử ấy.
"- Bạch Thế Tôn, con có thể chấp nhận điều con có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp con không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Thế Tôn, con sẽ hỏi Thế Tôn thêm về vấn đề ấy: 'Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?', mong rằng ở đây có cuộc nói chuyện giữa chúng ta". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Ông Vappa này trả lời này nếu điều nào ông thấy có thể chấp nhận thì ông sẽ chấp nhận, nếu điều nào ông không chấp nhận thì ông sẽ bác bỏ, chỗ nào ông chưa hiểu thì ông sẽ hỏi Thế Tôn. Đây là điều đáng để chúng ta học hỏi khi pháp đàm, điều này chấp nhận thì mình đồng ý, điều nào mình không đồng ý thì nói không đồng ý, điều nào mình chưa hiểu thì hỏi các thầy, các cô để được giải thích.
Tức là không để tranh cãi xảy ra, đây là cách nói chuyện của Đức Phật mà chúng ta phải học hỏi, bình thường nghe cái gì không đồng ý là mình cãi ngay và có tâm sân khi nói chuyện, tâm bản ngã khi đàm luận dù là chánh pháp. Đây là nghệ thuật nói chuyện của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, dù cho điều đó không chấp nhận nhưng mình vẫn không cãi lại mà chỉ nói nhẹ nhàng "điều này tôi không chấp nhận", còn điều nào mình chấp nhận thì mình nói "điều này đúng, tôi chấp nhận", còn điều nào không hiểu thì hãy hỏi quý thầy, hỏi những vị có thấy biết sâu sắc trong chánh pháp, phải ứng dụng tinh thần này trong khi nói chuyện, trong khi đàm luận, trong khi pháp đàm và trong khi trình pháp.
"- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
"Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên" nghĩa là cái thân mình hành động theo mê lầm, phiền não, tham, sân, si, hành động theo cái tâm tức giận, hành động theo cái tâm tham lam, trộm cắp, hành động với một cử chỉ ta đây, vênh váo, hống hách, kiêu ngạo, khi hành động như vậy thì tàn hại và nhiệt não khởi lên. Những hành động đó tàn phá thân thể của mình, ví dụ đánh người ta thì người ta cũng đánh lại mình, đó là sự tàn hại. Hành động theo sự sân hận, tức giận thì nó tàn hại thân thể mình, thậm chí là thân xác người khác, nó thiêu đốt mình, thiêu đốt người khác.
"Với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa" nghĩa là người này ngăn chặn, dừng lại được thì các sự tàn hại, nhiệt não không có trong người ấy nữa. Chế ngự là có thể ngăn chặn bánh xe đang lăn, xe đang đổ dốc, là có thể đạp thắng lại được, dừng lại được chiếc xe đang lao xuống cho nên chỗ quan trọng chính là việc chế ngự được, Tiếng Việt là ngăn lại được, dừng lại được, cản lại được, thắng lại được.
"Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt", nghĩa là trong hiện tại người ấy không làm thêm những hành động xấu ác, tội lỗi mới nữa. "Do cảm xúc thường xuyên" là người này thường xuyên tu tập tâm hiền và tâm từ, tâm luôn ngăn cản, chế ngự những cái tham, sân, si tàn hại, nhiệt não đó. Người này cảm xúc thường xuyên cảm thọ đó, không tạo thêm nghiệp mới nữa, nghiệp cũ bị những cảm thọ hiền thiện, hiền trí, từ tâm gội rửa, xóa nhòa, phai mờ từ từ, đó gọi là cảm xúc thường xuyên được chấm dứt. Chấm dứt những hành động xấu ác trong quá khứ, những thói quen của lậu hoặc tàn hại và nhiệt não, thói quen của những sự bực dọc, hung hăng, hung dữ, ngạo mạn, ngã mạn, những cái này bị cảm xúc của tâm hiền, tâm từ, tâm mát dịu, lắng dịu, an tịnh làm cho chấm dứt, làm cho xóa nhòa, xóa sạch, làm cho tẩy rửa, thanh tẩy, thanh lọc các cảm xúc của tham, sân, si, của vô minh, bản ngã, của tranh đấu, bản ngã.
"Con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu", chính sự huân tu, tác ý, chính sự tưới tẩm những cảm thọ hiền thiện thường xuyên là con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não, là con đường đưa đến sự héo mòn, làm cho khô kiệt, bào mòn, tàn tạ các tập khí, thói quen, tập tánh, tánh tình, cảm xúc, cảm thọ. Những cái này sẽ bị sự tác ý, thiền quán, bị sự huân tu, quán chiếu của chúng ta làm cho phai nhòa, mờ nhạt, tẩy sạch, làm cho tan rã. Con đường đó là con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não một cách thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Mỗi lần nghe pháp là mỗi lần phiền não bị héo mòn, tâm hơn thua, ganh tỵ bị bào mòn, mỗi lần tác ý, lạy sám hối diệt ngã thì tâm ngã mạn bị hạ thấp xuống.
Ngay khi mình tác ý, ngay khi lạy diệt ngã, ngay khi thiền quán, nghe pháp là con đường làm cho các phiền não tàn hại, những phiền não cấu nhiễm bị tàn tạ, bị rã rời, bị héo hon, khô cằn, cạn kiệt. Ít nhất những pháp xấu ác giảm xuống ngay khi mình tác ý, đó là sự thiệt thực, hiện tại, còn ngày xưa mình hoàn toàn không thấy thọ; tưởng; hành, không thấy dục hoạt động ra sao, không thấy sân hoạt động thế nào, mình hoàn toàn không thấy biết vô minh xâm chiếm tâm ra sao, mình hoàn toàn không thấy bản ngã vươn cao thế nào vì mình ở trong bóng đêm. Còn giờ mình biết cái nào là dục, mình biết khi nào nó sanh khởi, bản ngã sanh khởi lên mình biết, mình thấy và mình có tâm ý muốn nhiếp phục nó, khi không nhiếp phục được thì thấy xấu hổ, nhục nhã, đó là sự thiết thực, hiện tại.
"Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên", tự nhiên đang nhẹ nhàng, bình an mà có người đến nói mình "ông lừa gạt người ta chứ tu cái gì", hoặc là bị người khác đánh vô cứ, đó là nhân duyên. Nhân duyên này có thể là lời nói hoặc là hành động, hoặc là một cái gì từ bên ngoài tác động, lúc đó mình sẽ khởi lên các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não. Đối với người biết tu thì mình biết mình chưa là chân tu, có lúc mình không có tu, hình dáng là người tu nhưng trong tâm chưa hoàn toàn là người chân tu, "người ta nói như vậy là đúng rồi nên nhìn lại thấy xấu hổ", "người ta nói lừa gạt là đúng rồi, mình bị sắc lừa gạt, mình bị những cảm giác lừa gạt, mình bị tưởng lừa gạt, mình bị những ý hành lừa gạt, mình bị nhận thức lừa gạt. Mình bị lừa gạt và mình cũng lừa gạt người khác".
Mình bị ngũ uẩn lừa gạt, mình tu còn dở, khi nghe pháp là những lúc mình có minh nhưng khi trở ra mình bị vô minh chi phối. Khi nhìn sâu vào để nhận diện ngũ uẩn, khi có sự trầm tĩnh thì lúc đó mới thấy được sự thật sâu sắc, còn phản ứng vội, mình trả đũa là mình không tu được. Câu nói ban đầu rất nặng, bình thường sẽ sân si lên, sân hận, bản ngã lên nhưng chiêm nghiệm kĩ lại thì thấy đúng như vậy, mình bị lừa dối và mình lừa dối kẻ khác. Tại sao không quay trở lại nhìn ngũ uẩn chính mình, quán chiếu nội tâm mà cứ nhìn ra ngoài nghĩ rằng người đó xúc phạm mình, khinh thường mình? Nếu cứ hướng ngoại như vậy là không bao giờ tu được, hướng ngoại là không ngăn chặn tâm được, không dừng tâm được, không chế ngự tâm được, mà không chế ngự được thì các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não sẽ khởi lên, ác nghiệp sẽ tăng trưởng, vô minh sẽ thêm lớn.
Hôm nay chúng ta chú trọng vào chữ "chế ngự", đó là sự ngăn chặn, ngăn cản được, muốn ngăn được thì sự nhận diện ngũ uẩn của chúng ta phải rất nhanh lẹ và sắc bén, sự nội quán, nội soi, hướng nội của chúng ta phải thuần thục, nhuần nhuyễn. Khi có bất cứ cái gì xảy ra cũng đừng nhìn vào người đó, đừng nhìn vào câu chuyện, sự vật đó mà hãy rọi vào tâm thì lúc đó mới tu được.
"Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn!" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Với một người biết chế ngự, biết ngăn chặn, biết dừng lại, kiềm lại hành động nơi thân bằng trí tuệ thấy biết thì người đó có phải chịu đau khổ trong tương lai không? Lúc đầu ngài Vappa nói có nhưng giờ ngài lại nói không.
"- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên lời khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được lời khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Đoạn kinh này giống ban đầu nhưng đổi lại là lời nói khởi động thì các lậu hoặc tàn hại khởi lên và người này cũng chế ngự được, người này không tạo thêm ác nghiệp mới. Nếu mình bị người khác đánh hoặc tát mà mình có thể dừng bánh xe đang lăn, ngăn chiếc xe đang lao xuống vực là chế ngự được thân, còn giờ là chế ngự lời nói, chỉ trong một cuộc gọi điện thoại thôi mình cũng có thể bị các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não thiêu đốt, thậm chí chỉ là tin nhắn thôi cũng làm mình bị đốt cháy rực lửa trong các con chữ đó.
Mình để cho các mê lầm tàn hại, tàn phá, làm cho tàn tạ thân tâm, làm cho mình thân tàn ma dại, từ vô lượng vô biên kiếp đến giờ thì, những cảm giác tham, sân, si, vô minh, bản ngã đó làm cho mình thân tàn ma dại, chỉ cần nghe một câu nói thôi là lùng bùng hết lỗ tai, đỏ mặt tía tai, toàn thân nóng bức, đó là mình bị những cảm xúc, cảm giác tàn hại thân mình, làm cho mình trở thành thân tàn ma dại.
Nếu không biết tu thì càng lớn tuổi gương mặt càng tiều tụy, héo mòn, xuất hiện vô số nếp nhăn trên mặt, hai má hóp lại, miệng chu ra, mặt lúc nào cũng nhăn nhó vì trong đó chất chứa những cảm xúc, cảm giác tàn phá thân tâm. Đừng nói gì già, những người trẻ đang gặp phiền não thì gương mặt cũng chẳng tươi tỉnh được mấy, khi giận dữ nổi lên nó là một cơn điên ngắn, khi quá tham cũng trở thành người ngu si, tham quá không còn biết gì nữa nên cứ đâm đầu vào tiệm vàng, vào ngân hàng đi cướp tiền vàng rồi vào tù, sự tham muốn nổi lên là không còn biết gì nữa, chỉ biết làm sao cho thỏa lòng tham ngay lúc đó thôi. Như vậy các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não che mờ mắt mình, một bóng đêm dày đặc bao trùm lấy mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, một sự si ám bao trùm khắp sáu căn của mình.
Vô minh là bóng đêm, tâm sân hận là đống lửa thiêu đốt, lúc giận lên là mắt đỏ, mặt đỏ, tai đỏ, toàn thân của mình sôi sục lên, đống lửa đó tàn phá thân tâm, mỗi lần giận là đống lửa được đốt lên làm chúng ta mau già, bệnh nhiều, bệnh nhẹ thành bệnh nặng, bệnh nặng thành mất mạng, tức quá bị tai biến chết luôn. Cho nên mình tu là tu với lời nói, phải chánh niệm và tỉnh giác khi nói chuyện hoặc là khi nghe người ta nói, với một cái tâm có phòng hộ, chế ngự thân tâm, có bảo vệ sẽ rất khác với một thân tâm thả lỏng các căn.
Từng cử chỉ, hành động nếu có sự tu tập, có sự phòng hộ, có sự bảo vệ, dò xét, theo dõi chính mình, canh chừng chính mình, đó là ý nghĩa của hai chữ chế ngự. Mình không thể thả rông cái tâm hoang vu, rừng rú này được, mình không thể để cho tâm của con khỉ này nhảy chuyền hết cành này đến cành kia được, phải huấn luyện trong từng lời nói. Nếu mình không ngăn chặn, không chế ngự, không dừng lại được, không kiềm chế trong lời nói thì các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não khởi lên trong con người mình.
Đọc kinh thì khó hiểu nhưng nhìn lại trong cuộc sống thì hằng ngày mình cự cãi bao nhiêu lần, mẹ con cự cãi nhau, còn không nói không cãi thì trong bụng cũng thấy bực mình, anh em ruột nói chuyện qua lại là gây gỗ, đó là các lậu hoặc nhiệt não tàn phá thân tâm nhưng mình không hay biết gì cả, mình rất ngây thơ rồi sống trong mộng mơ, suốt cuộc đời là lờ mờ cho đến chết, phía trước là mù mịt không biết đi về đâu nhưng mình lại không thấy sự nguy hiểm và tác hại của các lậu hoặc, mình không thấy, không sợ.
Người trí, người nhìn thấy sự nguy hại của nó nói cho mình nghe thì mình khó chịu, mình sân hận, bản ngã lên, đó là sự ngu muội của mình, chừng nào hết vô minh thì lúc đó sẽ có minh, là nhập Thánh. Vì mình còn vô minh nên mới ngồi ở đây, nếu hết vô minh mình đã lên Tịnh Cư Thiên ở, thành bậc Bất Lai hoặc vào thế giới vô dư, tâm bất động giải thoát.
II. Sự khiêm cung của bậc chân tu
Vào chùa cũng giành giật, sân hận với nhau, ở nhà đầy phiền não mà vào chùa cũng sân si, vào rừng bị muỗi chích thì sân với mấy con muỗi, đó là các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não chứa đầy trong nội tâm. Được nhắc nhở, chỉ dẫn cho tu thì bực bội, khó chịu, "nói gì nói hoài", "biết rồi nói mãi", với một bản ngã như vậy thì không thể học đạo được. Với một người thật sự là chân tu thì tâm người đó phải cúi thấp xuống, hạ thấp bản ngã vô cùng để thầy dạy dỗ. Trong những tiền kiếp của Thế Tôn có một kiếp ngài gặp Đức Thế Tôn Nhiên Đăng, ngài biết rằng hôm nay bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Nhiên Đăng sẽ đi qua con đường đó nên ngài dọn sạch sẽ đường xá nhưng còn lại một vũng sình sau mưa.
Ngài không biết làm sao thì ngài nằm rạp xuống xõa mái tóc dài của mình ra trên vũng bùn để bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác bước lên đi qua để chân không dính bùn. Đối với bậc thầy phải có thái độ học đạo như vậy mới được, ở trước bậc đạo sư, trước mặt những bậc chánh tri kiến, những bậc chân nhân thì bản ngã của mình phải nằm rạp xuống, phải ngã đổ xuống thì mới có khả năng tiếp nhận được vô thượng pháp luân, còn mình đem một cái thân to cao thì chỉ học được đạo làm người chứ không học được đạo làm Thánh.
Minh Thành không dám hướng dẫn những người có bản ngã cao lớn, dù ở kề cạnh nhưng vẫn không thể hướng dẫn được vì cứ hễ chỉ dạy, hướng dẫn là họ lại sân hận lên. Với một cái tâm như vậy thì làm sao học được đạo Thánh hiền? Thầy nói một câu, mình nói lại ba câu thì học cái gì? Nếu nhân đạo không học thì làm sao học thiên đạo? Nếu thiên đạo không học thì làm sao học được Thánh đạo?
Cho nên Minh Thành rất sợ những người có bản ngã lớn vì mình còn sợ chính bản ngã trong người mình, mỗi lần nó sanh khởi lên là thấy nhục nhã, xấu hổ, mỗi lần bản ngã cúi sâu xuống thật là đẹp. Mỗi lần Minh Thành chắp tay xá mọi người thật sâu xuống dưới hoặc là quỳ lạy đại chúng thì hình ảnh ấy thật là đẹp và Minh Thành nghĩ trong bụng "phải như vậy mới được". Khi đã huấn luyện bản ngã của mình hạ xuống một cách khiêm cung, thuần thục thì tâm sẽ nhẹ nhàng, lắng dịu, ngọt ngào, dù bị chửi, nói nặng vẫn thấy bình thường, vẫn an tịnh, lắng dịu và lúc đó mới thấy được hai chữ "ngọt ngào".
Ngày xưa khi Minh Thành mới được bậc thành hướng dẫn nói rằng ngọt ngào thì Minh Thành không thấy ngọt ngào gì cả nhưng bây giờ bắt đầu nếm được mật ngọt của sự khiêm cung, bây giờ mới thưởng thức được hương vị của bản ngã nằm rạp xuống, gục ngã, mọp đầu dưới đất. Thế gian này gục ngã trước cái tôi, thế giới này sụp đổ ở nơi bản ngã, vì bản ngã mà thế giới đi đến chỗ tan vỡ, vì bản ngã mà cha con không nhìn nhau, anh em tương tàn, vợ chồng sát hại nhau, vì bản ngã mà thầy trò thành kẻ thù, vì bản ngã mà xảy ra chiến tranh, vì bản ngã mà hủy diệt thế giới, địa cầu này cho nên bản ngã là kẻ ác độc nhất hành tinh.
Mỗi lần lạy sám hối diệt ngã đều nguyện "xin nguyện cho con xả bỏ bản ngã ác độc này" vì cái độc nhất trên thế giới này chính là bản ngã chứ không có người nào cả. Mỗi lần nói đến bản ngã là toàn thân Minh Thành rung lên, ớn lạnh như nhìn thấy con rắn độc đang phùng mang phun nọc độc ra, nó là rắn hổ mang chúa, nó là thủ phạm thật sự của cuộc đời này chứ không có người nào cả, tất cả chúng sanh đau khổ đầy nước mắt, đầy chiến tranh, đầy hận thù, đầy chết chóc, cướp giật cũng từ vô minh này vì từ vô minh mới sanh ra bản ngã. Vô minh không thấy không biết ngũ uẩn, cho ngũ uẩn là tôi nên chính cái tôi đó bắt đầu mới bành trướng, hại người rồi hại luôn cả mình cho nên phải biết sợ hãi với bản ngã, mỗi ngày phải dập đầu sám hối diệt ngã làm cho trở nên hiền thiện, khiêm cung, ngọt ngào thì mới tiếp nhận được Thánh pháp tối thượng, Thánh trí vô ngã.
Đạo Phật là vô ngã mà đem đại ngã đến để học thì học được cái gì? Tất cả những gì mình học đều nhằm tăng trưởng cái tôi, cái ta của mình thôi, có biết bao người đi chùa mấy chục năm thậm chí ở trong chùa gần hết cuộc đời mà cái ta, cái tôi ngày càng lớn thêm. Đó là đi sai đường, trật hướng, đi lạc và chính những cái này tàn hại và nhiệt não thân tâm của chúng sanh, vì thế phải lạy thật thấm thía từng câu từng chữ trong bài sám hối diệt ngã, lạy cho ngấm vào tim, vào xương tủy của mình, "nguyện cho con xả bỏ bản ngã ngu si này". Người có bản ngã càng lớn là càng ngu si thôi, "nguyện cho con xả bỏ bản ngã dại khờ này", "nguyện cho con xả bỏ bản ngã hư danh, ác độc này". Bản ngã chỉ là một sự ảo tưởng trong tâm của mình thôi, mình cứ dày công tô đắp một ảo tưởng về tự ngã, bị giao thông thổi vào thì sừng sộ lên hỏi "các ông có biết tôi là ai không?", đáng lẽ bị phạt nhẹ thôi nhưng nói câu đó ra càng bị phạt nặng hơn nữa.
Mình có là ai đi nữa thì cũng chỉ là mắt; tai; mũi; lưỡi mà thôi, mình là ai thì cũng chỉ là một con người thôi, mình có là ai mà phạm luật thì cũng bị phạt thôi. Mình cúi mắt bước đi trong tiếng xì xào của mọi người nhưng tâm mình lại thấy ngọt ngào, lắng dịu, tràn ngập tình thương bao trùm hết những người đó, mình không sân hận, không khó chịu và trong tâm tràn ngập lòng bi mẫn, một cảm thọ xót thương trùm khắp vùng trời đất và bản ngã của mình hiền ngoan, không còn hung hăng, dữ dằn, manh động nữa, người ta có nói nặng nói nhẹ, nói xiên xỏ thì tâm mình vẫn an trú trong cái nùi giẻ rách này, từ từ sẽ an tịnh, lắng dịu, lần lần sẽ đi đến tâm bất động giải thoát, tất cả mọi sự hơn thua, tham, sân, si trong cuộc đời này không còn can dự vào nó nữa.
Mình ly dị với thế giới, không chơi với tham, sân, si, nữa, không còn muốn hơn thua với bất kì ai nữa, dù người ta có đối xử với mình ra sao thì mình cũng không muốn hơn thua, chỉ có tâm từ bi mẫn, an trú trong tâm hiền thiện như thế thì các lậu hoặc tàn hại sẽ bị chế ngự, từ từ nó sẽ tiêu mòn, đó là con đường đưa đến sự héo mòn, sự mục rã các phiền não, con đường này là thiết thực, hiện tại, là không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Khi nào mình bảo mà bản ngã liền cúi đầu, mình tác ý là nó hiền lại thì đó là có hiệu quả tức thì cho nên mình phải dạy dỗ bản ngã ngu si, cứng đầu, khó nói này. Phải lạy từng câu từng chữ trong bài sám hối diệt ngã, đọc lên câu nào là lạy xuống câu đó để nó thấm vào trí não không bao giờ quên.
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
Dục, ái, sân, si đầy người mà không biết xấu hổ lại còn vênh váo, vỗ ngực xưng tên, mang một tấm thân tàn ma dai, bất tịnh, tanh hôi như vậy mà kiêu căng, ngạo mạn, bên trong chất chứa những cảm thọ tức giận, hơn thua, tranh đấu. Phải vừa đọc vừa lạy xuống để những dòng Thánh pháp, Thánh trí tuệ đó ở luôn trong người không mất đi, như vậy gọi là thâm nhập, là thể nhập, là chứng nhập, là Nhập Lưu chứ không phải lạy ào ào cho xong như trả bài.
Phật không có kêu mình lạy để trả bài mà mình phải đọc để nhắc nhở tâm mình, đọc để dạy dỗ cảm thọ của mình, đọc để huấn luyện bản ngã cứng chắc để nó trở thành hiền từ, ngoan ngoan, dễ nghe, dễ sống, dễ nói. Làm được như vậy thật là dễ thương, mát mẻ, nếu không thì bên ngoài nhìn dễ thương nhưng khi đụng chuyện mới biết mặt nhau, "tôi không đụng ai thì cũng đừng ai đụng tôi, đụng tôi là biết tay tôi". Phải tu tập cho bên trong nội tâm là một cảm thọ lúc nào cũng cúi đầu, lúc nào cũng sẵn sàng chắp tay lạy trước bất kì ai, thậm chí lạy những người là đệ tử, là những người thấp hèn hơn mình hoặc là con mình cũng sẵn sàng chắp tay quỳ lạy và nói lời xin lỗi "mẹ xin lỗi con, cái này mẹ sân si".
Cô Phật tử có pháp danh là Nhuận Hải nghĩa là biển cả thấm nhuần, trong lòng cô phải là một biển cả của cảm thọ hiền thiện, từ ái, khiêm cung và biển cả này dào dạt, bao la, nhuần thắm, gội rửa khắp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, khắp sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ. Biển cả hiền thiện đó thấm đượm thân tâm thì mới lan tỏa qua những đứa con của mình được, còn nếu mình chưa thấm đậm, trong lòng cảm thọ vẫn còn sôi nổi cho nên con mình chưa nhận được luồn gió mát, sự mát mẻ của biển cả ngọt ngào, hiền thiện đó cho nên cần phải tu tập tâm hiền và tâm từ thật nhiều, đồng thời tu tập diệt ngã cho thuần thục thì chắc chắn sẽ có kết quả tốt, đó là con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não, đưa đến sự héo mòn tâm hung hăng, hung dữ, hung tàn, đưa đến sự héo mòn tâm sân hận, nóng bức, hơn thua.
Không cần người khác nói cho mình biết mình tu được đến đâu mà tự mình thấy biết được thành quả, kết quả của sự tu học trong thọ; tưởng; hành; thức của mình. Quý vị cần cố gắng tiếp nhận Thánh pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, tưới tẩm những cảm thọ hiền thiện trí tuệ, bẻ gãy được bản ngã như sừng trâu này, đó là phúc lành trong dòng luân hồi sanh tử này vì không phải dễ được nghe Thánh pháp.
III. Chế ngự thân khẩu ý 2
"- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên ý khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được ý khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có với người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn!" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Bây giờ đến ý cũng vậy, nếu mình có thể đạp thắng được, chặn lại được trong tâm ý của mình, trong suy nghĩ của mình, trong suy nghĩ đó là tàn hại nhiệt não sanh khởi, mình nghĩ muốn làm cho hả dạ, muốn làm cho thỏa mãn những tham muốn hoặc là muốn làm cho hả dạ những sự tức giận, hoặc muốn phô trương, thể hiện cái tôi. "Tôi ngồi đây mà vào không chào tôi gì cả, nghĩ tôi là không khí hay sao", sanh khởi ý nghĩ này lên thì phải tác ý lập tức.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Trong tâm ý mình có hai chiều, một chiều đi theo hướng tàn hại và nhiệt não, chiều còn lại đi theo hướng hiền thiện, trí tuệ, lắng dịu và bình yên. Nếu mình chế ngự được thì đi theo hướng bình yên, còn nếu không chế ngự, ngăn chặn thì tụt xuống vực thẳm, lọt xuống hố sâu. Hằn ngày mình đều bị lọt xuống hố, mỗi một ý niệm không tha thứ, chống đối là mình đã lọt xuống hố sâu muôn trượng không có ngày ra. Mình nghe lời bản ngã, nghe lời vô minh, nghe lời cái ta, cái tôi, thị phi, phải quấy, hơn thua, vinh nhục, được mất, nghe lời những suy nghĩ đó rồi ngó dẫn mình đi trong ma đạo, ác đạo, mê đạo, lục đạo.
Người ngăn được ý khởi động theo chiều tàn hại nhiệt não thiêu cháy, người này không tạo thêm những ác nghiệp mới, người này chặn được trong suy nghĩ, trong lời nói, trong hành động, người này không làm hại mình hại người, không làm những hành động của tham, sân, si, vô minh, bản ngã. "Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt", cảm xúc thường xuyên là thói quen trong cảm giác được huân tập đã bị chặn lại, không còn tiếp tục nữa, ví dụ thói quen hút thuốc được chế ngự, ngăn chặn lại thì cảm thọ yêu thích, khoan khoái, nghiền thuốc bị chặn lại, một mặt là chặn đứng cảm xúc thường xuyên của tiêu cực, của ác bất thiện pháp, mặt khác đưa những cảm xúc của trí tuệ, từ bi, hiền thiện vào.
Tu là chặn những cảm xúc xấu ác rồi đưa những cảm xúc tốt, thiện pháp, trí tuệ, tình thương, hỷ xả vào, ví dụ mình thích nghĩ hơn thua, cái gì cũng nghĩ hơn thua, bất cứ chuyện gì mình cũng nghĩ mình hơn người ta, bây giờ mình thấy được suy nghĩ này là thứ tàn hại nhiệt não, là mê lầm, là lậu hoặc, bây giờ mình đã biết nhận diện ngũ uẩn nên biết rằng ý hành này là thứ làm mình bất an, nóng bức cho nên không suy nghĩ theo chiều này nữa, nghĩ theo chiều thương mình, tội nghiệp mình vì suốt ngày cứ thích hơn thua, suốt ngày cứ cao thấp. Thật là đáng thương, thật là tội nghiệp, làm chuyện vô ích, suy nghĩ những điều lãng phí, hoang phí thời gian vào những chuyện vô ích, hư huyễn, không đáng nên phải diệt tận luôn suy nghĩ này.
Chỉ có như vậy mới ngăn chặn được suy nghĩ đó, dừng lại suy nghĩ đó rồi đưa những suy nghĩ hiền thiện, trí tuệ, diệt ngã vào thay thế thì gọi là chế ngự được nhân duyên làm cho ý khởi động. Các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não bị mình chế ngự, nó không còn trong người mình nữa, đối với suy nghĩ tham dục cũng như vậy, chặn nó lại để đưa hình ảnh bộ xương, những con giòi, bao tử, phân và nước tiểu… Đưa ba mươi hai thể trược vào để ngăn sự tham dục lại, như vậy gọi là chế ngự được, các phiền não từ từ sẽ héo mòn, tàn tạ, hoại diệt.
Hôm nay chúng ta thấy được sự chế ngự thân hoạt động theo chiều vô minh, chế ngự lời nói khởi động theo chiều vô minh, lậu hoặc, chế ngự suy nghĩ theo chiều vô minh, lậu hoặc nó tàn phá thân tâm chúng ta, như vậy sẽ không tạo ra nghiệp mới, tác ý, quán chiếu sẽ xóa sạch những dư tàn của những cảm thọ nghiệp cũ, không tiếp tục những cảm thọ thường xuyên nó nữa mà ngăn nó lại, đó là con đường thiết thực, hiện tại để làm cho héo mòn các phiền não.
IV. Dặn dò tu tập
Những lúc bình thường mình phải có sự tác ý, sự chế ngự, ngăn chặn thì đến khi hữu sự thì mình mới có khả năng dừng lại được, còn đợi đến khi sanh khởi mới bắt đầu đạp thắng thì không thể dừng nổi được. Người ta luyện binh, thao lược, tập trận hằng nhiều năm mới được ra chiến trường chứ không phải mới vào đã cho ra chiến trường cho nên khi bình thường phải tác ý, quán chiếu, suy tư thường xuyên, ví dụ mình nặng về sân, về nóng giận thì phải thường xuyên nhắc nhở sự nguy hiểm và tác hại của cái giận, la rầy nó liên tục, song song với đó là trải tâm từ, còn đợi đến khi sân lên thì làm sao trải được tâm từ nữa, vì vậy những khi bình thường phải thực tập trải tình thương cho đến khi mình thấy tình thương ngấm từng tế bào, từng lỗ chân lông, từ đảnh tóc cho đến gót chân, ngồi ở đâu trải tâm từ là khắp không gian nơi đó đều được thấm đượm trong tâm từ.
Như vậy trong con người mình đầy ắp cảm thọ của từ tâm, của tình thương, đến khi có cơn giận thì đưa cảm thọ tình thương bao trùm lấy cơn giận cho nên một chút cơn giận từ bên ngoài cũng không thể làm mình sân giận lên được, cảm giác thương yêu, từ tâm, bi mẫn đã đầy ắp trong thân tâm, bao trùm luôn cả người khác. Mình là tỷ phú thì khi bị bệnh, tiền trị bệnh đâu có làm khó mình, còn mình là người nghèo mạt đến khi bị bệnh nan y thì tiền đâu mà trị, cũng vậy bình thường mình chất chứa trong tâm cả một khối tâm từ, tâm thương cho nên khi cái giận tác động lên thì mình khởi động tình thương lên.
Tình thương ơi!
Tình thương ơi!
Từ tâm ơi!
Từ tâm ơi!
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Đọc vài câu lên như vậy là tình thương tràn ngập hết thân tâm thì cái giận lúc đó chẳng là gì cả, cảm thọ khó chịu, tức giận đó sẽ lập tức tan biến và xóa sạch, giống như chỉ có đốm lửa nhỏ của tàn thuốc thôi mà trong này là cả một vòi nước vĩ đại mát lạnh hoặc quăng tàn thuốc vào một hồ nước rộng mấy chục cây số vuông thì tàn thuốc đó chẳng là gì cả. Ngược lại đợi lửa bốc cháy mới đi tìm nước thì làm sao dập kịp? Cho nên phải tu tập trước khi thọ; tưởng; hành sanh khởi, trước khi tham, sân, si sanh khởi, đối với bản ngã cũng vậy, bình thường mình tập cho nó hiền ngoan, cúi đầu, đến khi có ai nói chạm tự ái thì mình đưa cái ngọt ngào, hiền thiện bao phủ cảm thọ ta đây.
Giữa mặt đất bằng nổi lên ụ đất nhỏ trong khi mưa lớn đang dội xuống xối xả thì lập tức ụ đất đó tan rã, rã nát. Tâm mình tham thì mình biết có tham, tâm mình sân thì mình biết có sân, tâm khởi bản ngã lên thì mình biết đang có bản ngã, còn khi không thấy là những lúc mình không nhận diện ngũ uẩn, mình bị vô minh che phủ hoặc là mình thấy chậm cho nên cần thực tập thường xuyên để khi nó sanh khởi là mình thấy liền hoặc là thấy khi nó mới bắt đầu manh nha, mình chặn đứng nó trước. Còn khi mình bỏ qua không nhận diện ngũ uẩn, không soi rọi bên trong mà cứ nhìn bên ngoài với một cái ta và một cái của ta thì lúc đó tâm mình an trú trong vô minh. Khi vô minh khởi động thì nó phát ra ngôn ngữ, hành vi, suy nghĩ đều là sai lầm, tạo nghiệp, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não khởi lên.
Cái suy nghĩ cho rằng tôi và của tôi thì cái thô là ý hành và mình thấy được, mình đọc được suy nghĩ đó, còn cái vi tế là một thầm ý, không nói ra trong cảm thọ. Cái thô là nói ra tiếng "cái này của tôi" nhưng cái vi tế không nói ra tiếng mà là một sự ngầm ý trong cảm thọ, sâu trong cảm thọ của mình là một cảm thọ tự ngã được được huân tập trong vô lượng kiếp. Đó là lý do mình phải dùng thiền quán để quán ba mươi hai thể trược, quán tứ đại, quán chín giai đoạn của một tử thi và quán cốt tưởng một cách thâm sâu để thành tựu nhằm phá những cái thọ; tưởng; hành về tự ngã trong cảm thọ, điều này đòi hỏi mình phải có công phu như lý tác ý từ thiền quán, từ từ sẽ loại bỏ những cái thô ngoài ý hành, từ từ đi sâu vào bên trong cảm thọ ngao ngán, nhàm chán đối với thân xác này, cảm thọ sẽ ngấm sâu vào thân tâm đến nỗi không cần suy nghĩ cũng thấy chán.
Tại sao mình thấy hoa sen lại thích thú, muốn chụp hình thậm chí là ngửi còn thấy đống phân là né tránh? Vì đống phân là hôi thối, dơ bẩn, gớm ghê cho nên thấy là ớn chứ đừng nói gì đến gần vì điều này đã ăn sâu vào trong cảm thọ, đối với các bậc Thánh cũng vậy, các ngài khi đã chứng ngộ sự thật về ngũ uẩn tứ đại thì nhìn nó như nhìn đống phân, còn phàm phu nhìn thân thể ngũ uẩn tứ đại này như nhìn đóa hoa sen, thích tiếp xúc, thích ngửi, còn các bậc Thánh chứng ngộ thì nhìn thấy nó như nhìn đống phân. Đức Phật nhìn những cô gái đẹp chỉ là những đống bất tịnh, thâm sâu ở trong cảm thọ của ngài không còn tham muốn phải mang vác thân thể đầy phân và nước tiểu, mủ máu, đàm giải nữa, tận cùng thâm sâu trong cảm thọ của các bậc Thánh là một sự gớm ghê, nhàm chán, từ bỏ, không có bất kì một thầm ý mong muốn gì nữa, cũng như mình không có bất kì thầm ý muốn lại gần bóc hay ngửi đống phân.
Sự thật là trong thân này là một đống phân và nước tiểu vì không có phân thì làm gì phải có toilet để chứa nó? Nhưng vì vô minh nên không thấy được đống phân, chỉ thấy đẹp rồi đam mê, đau khổ trong đó, mình học vô minh để có minh trí phá bóng tối, phá cái nhìn sai lầm về thân tâm, cho đến khi nào bóng tối hoàn toàn tan hết thì nhìn thấy trong thân này là đống phân, trong thầm ý không hề mong muốn gì nữa. Thân này là nhà máy sản xuất phân, là công ty xuất nhập nguồn nước tiểu, vậy thì có gì để lên mặt với kiêu căng? Thân này đụng đến là sân hận, đụng đến là ngạo mạn, thậm chí chưa cần đụng đến mà chỉ mới nhìn một cái thôi đã thấy sợ cho nên cần quán chiếu và nhắc nhở liên tục để thấy được rằng thân này là bất tịnh, hôi dơ.
./.
Con Đường Đưa Đến Héo Mòn Phiền Não
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chế ngự thân khẩu ý PAGEREF _Toc179397830 \h 1
II. Sự khiêm cung của bậc chân tu PAGEREF _Toc179397831 \h 9
III. Chế ngự thân khẩu ý 2 PAGEREF _Toc179397832 \h 13
IV. Dặn dò tu tập PAGEREF _Toc179397833 \h 15
I. Chế ngự thân khẩu ý
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về chủ đề vô minh mà Đức Thế Tôn đã khai thị, diễn thuyết cho chúng ta qua bài kinh Vappa. Trong bài kinh này nội dung nói do vô minh khởi động cho nên các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não sanh khởi ra, do vô minh khởi động cho nên những mê lầm tàn phá thân tâm mình, làm hại chính mình và những người xung quanh, nó đốt cháy chính mình và thiêu rụi chúng sanh, khiến cho hữu tình phải đau khổ, bị thiêu đốt và tàn hại trong hiện tại và tương lai.
"Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu khu vườn Nigrodha. Rồi thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đi đến Tôn giả Mahàmoggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggalàna rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đang ngồi một bên:
- Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Ngài Mục-kiền-liên hỏi có người nào với thân được chế, lời chế ngự, ý chế ngự mà rời xa được vô minh và minh được sanh khởi không? Một người đã chế ngự được thân, miệng, ý, xa rời vô minh, minh đã sanh khởi thì người ấy có vì lý do nào đó mà các lậu hoặc, các sự mê lầm, phiền não khởi lên và sau này khiến cho họ cảm thọ những cảm giác khổ đau trong tương lai không?
"- Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do một nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Ngài Thích Tử Vappa nói rằng ngài có thấy trường hợp đó, hiện tại những nghiệp ác mà người này đã tạo trong quá khứ chưa trổ ra quả nhưng về sau này thì quả ác nghiệp của người này mới trổ ra. Câu chuyện giữa ngài Mục-kiền-liên và Thích Tử Vappa chỉ nói đến đây thôi, bị dang dở giữa chừng.
"Và câu chuyện này giữa Tôn giả Mahàmoggallàna và Thích tử Vappa, đệ tử của Niganthà bị bỏ dở.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh đứng dậy đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
- Này Mahàmoggallàna, câu chuyện gì được nói đến, khi các Ông ngồi tụ họp ở đây? Và câu chuyện giữa các Ông chưa được nói xong?" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Thế Tôn hỏi ngài Mục-kiên-liên từ nãy giờ các thầy đang bàn luận về chuyện gì. Ngài Mục-kiền-liên lặp lại câu chuyện cho Thế Tôn nghe.
"- Ở đây, bạch Thế Tôn, con nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha: 'Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?' Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha nói với con như sau: 'Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai!'. Bạch Thế Tôn, ở đây là câu chuyện giữa Thích Tử Vappa, đệ tử của Nigantha và chúng con, câu chuyện bị bỏ dở khi Thế Tôn đến!
Rồi Thế Tôn nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha:
- Này Vappa, nếu Ông có thể chấp nhận điều Ông có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp Ông không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Ta, nếu Ông hỏi ta thêm về vấn đề ấy: 'Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?', thời có thể có cuộc nói chuyện giữa chúng ta". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Thế Tôn nói với vị Thích Tử cùng dòng họ Thích-ca với ngài nhưng lại là đệ tử của ngoại đạo rằng cái nào ông thấy đồng ý thì cứ nói đồng ý, cái nào ông thấy không đồng ý thì nói không đồng ý, cái nào ông không hiểu thì cứ hỏi, nếu ông chịu như vậy thì ngài sẽ nói chuyện với ông Thích Tử ấy.
"- Bạch Thế Tôn, con có thể chấp nhận điều con có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp con không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Thế Tôn, con sẽ hỏi Thế Tôn thêm về vấn đề ấy: 'Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?', mong rằng ở đây có cuộc nói chuyện giữa chúng ta". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Ông Vappa này trả lời này nếu điều nào ông thấy có thể chấp nhận thì ông sẽ chấp nhận, nếu điều nào ông không chấp nhận thì ông sẽ bác bỏ, chỗ nào ông chưa hiểu thì ông sẽ hỏi Thế Tôn. Đây là điều đáng để chúng ta học hỏi khi pháp đàm, điều này chấp nhận thì mình đồng ý, điều nào mình không đồng ý thì nói không đồng ý, điều nào mình chưa hiểu thì hỏi các thầy, các cô để được giải thích.
Tức là không để tranh cãi xảy ra, đây là cách nói chuyện của Đức Phật mà chúng ta phải học hỏi, bình thường nghe cái gì không đồng ý là mình cãi ngay và có tâm sân khi nói chuyện, tâm bản ngã khi đàm luận dù là chánh pháp. Đây là nghệ thuật nói chuyện của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, dù cho điều đó không chấp nhận nhưng mình vẫn không cãi lại mà chỉ nói nhẹ nhàng "điều này tôi không chấp nhận", còn điều nào mình chấp nhận thì mình nói "điều này đúng, tôi chấp nhận", còn điều nào không hiểu thì hãy hỏi quý thầy, hỏi những vị có thấy biết sâu sắc trong chánh pháp, phải ứng dụng tinh thần này trong khi nói chuyện, trong khi đàm luận, trong khi pháp đàm và trong khi trình pháp.
"- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
"Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên" nghĩa là cái thân mình hành động theo mê lầm, phiền não, tham, sân, si, hành động theo cái tâm tức giận, hành động theo cái tâm tham lam, trộm cắp, hành động với một cử chỉ ta đây, vênh váo, hống hách, kiêu ngạo, khi hành động như vậy thì tàn hại và nhiệt não khởi lên. Những hành động đó tàn phá thân thể của mình, ví dụ đánh người ta thì người ta cũng đánh lại mình, đó là sự tàn hại. Hành động theo sự sân hận, tức giận thì nó tàn hại thân thể mình, thậm chí là thân xác người khác, nó thiêu đốt mình, thiêu đốt người khác.
"Với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa" nghĩa là người này ngăn chặn, dừng lại được thì các sự tàn hại, nhiệt não không có trong người ấy nữa. Chế ngự là có thể ngăn chặn bánh xe đang lăn, xe đang đổ dốc, là có thể đạp thắng lại được, dừng lại được chiếc xe đang lao xuống cho nên chỗ quan trọng chính là việc chế ngự được, Tiếng Việt là ngăn lại được, dừng lại được, cản lại được, thắng lại được.
"Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt", nghĩa là trong hiện tại người ấy không làm thêm những hành động xấu ác, tội lỗi mới nữa. "Do cảm xúc thường xuyên" là người này thường xuyên tu tập tâm hiền và tâm từ, tâm luôn ngăn cản, chế ngự những cái tham, sân, si tàn hại, nhiệt não đó. Người này cảm xúc thường xuyên cảm thọ đó, không tạo thêm nghiệp mới nữa, nghiệp cũ bị những cảm thọ hiền thiện, hiền trí, từ tâm gội rửa, xóa nhòa, phai mờ từ từ, đó gọi là cảm xúc thường xuyên được chấm dứt. Chấm dứt những hành động xấu ác trong quá khứ, những thói quen của lậu hoặc tàn hại và nhiệt não, thói quen của những sự bực dọc, hung hăng, hung dữ, ngạo mạn, ngã mạn, những cái này bị cảm xúc của tâm hiền, tâm từ, tâm mát dịu, lắng dịu, an tịnh làm cho chấm dứt, làm cho xóa nhòa, xóa sạch, làm cho tẩy rửa, thanh tẩy, thanh lọc các cảm xúc của tham, sân, si, của vô minh, bản ngã, của tranh đấu, bản ngã.
"Con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu", chính sự huân tu, tác ý, chính sự tưới tẩm những cảm thọ hiền thiện thường xuyên là con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não, là con đường đưa đến sự héo mòn, làm cho khô kiệt, bào mòn, tàn tạ các tập khí, thói quen, tập tánh, tánh tình, cảm xúc, cảm thọ. Những cái này sẽ bị sự tác ý, thiền quán, bị sự huân tu, quán chiếu của chúng ta làm cho phai nhòa, mờ nhạt, tẩy sạch, làm cho tan rã. Con đường đó là con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não một cách thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Mỗi lần nghe pháp là mỗi lần phiền não bị héo mòn, tâm hơn thua, ganh tỵ bị bào mòn, mỗi lần tác ý, lạy sám hối diệt ngã thì tâm ngã mạn bị hạ thấp xuống.
Ngay khi mình tác ý, ngay khi lạy diệt ngã, ngay khi thiền quán, nghe pháp là con đường làm cho các phiền não tàn hại, những phiền não cấu nhiễm bị tàn tạ, bị rã rời, bị héo hon, khô cằn, cạn kiệt. Ít nhất những pháp xấu ác giảm xuống ngay khi mình tác ý, đó là sự thiệt thực, hiện tại, còn ngày xưa mình hoàn toàn không thấy thọ; tưởng; hành, không thấy dục hoạt động ra sao, không thấy sân hoạt động thế nào, mình hoàn toàn không thấy biết vô minh xâm chiếm tâm ra sao, mình hoàn toàn không thấy bản ngã vươn cao thế nào vì mình ở trong bóng đêm. Còn giờ mình biết cái nào là dục, mình biết khi nào nó sanh khởi, bản ngã sanh khởi lên mình biết, mình thấy và mình có tâm ý muốn nhiếp phục nó, khi không nhiếp phục được thì thấy xấu hổ, nhục nhã, đó là sự thiết thực, hiện tại.
"Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên", tự nhiên đang nhẹ nhàng, bình an mà có người đến nói mình "ông lừa gạt người ta chứ tu cái gì", hoặc là bị người khác đánh vô cứ, đó là nhân duyên. Nhân duyên này có thể là lời nói hoặc là hành động, hoặc là một cái gì từ bên ngoài tác động, lúc đó mình sẽ khởi lên các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não. Đối với người biết tu thì mình biết mình chưa là chân tu, có lúc mình không có tu, hình dáng là người tu nhưng trong tâm chưa hoàn toàn là người chân tu, "người ta nói như vậy là đúng rồi nên nhìn lại thấy xấu hổ", "người ta nói lừa gạt là đúng rồi, mình bị sắc lừa gạt, mình bị những cảm giác lừa gạt, mình bị tưởng lừa gạt, mình bị những ý hành lừa gạt, mình bị nhận thức lừa gạt. Mình bị lừa gạt và mình cũng lừa gạt người khác".
Mình bị ngũ uẩn lừa gạt, mình tu còn dở, khi nghe pháp là những lúc mình có minh nhưng khi trở ra mình bị vô minh chi phối. Khi nhìn sâu vào để nhận diện ngũ uẩn, khi có sự trầm tĩnh thì lúc đó mới thấy được sự thật sâu sắc, còn phản ứng vội, mình trả đũa là mình không tu được. Câu nói ban đầu rất nặng, bình thường sẽ sân si lên, sân hận, bản ngã lên nhưng chiêm nghiệm kĩ lại thì thấy đúng như vậy, mình bị lừa dối và mình lừa dối kẻ khác. Tại sao không quay trở lại nhìn ngũ uẩn chính mình, quán chiếu nội tâm mà cứ nhìn ra ngoài nghĩ rằng người đó xúc phạm mình, khinh thường mình? Nếu cứ hướng ngoại như vậy là không bao giờ tu được, hướng ngoại là không ngăn chặn tâm được, không dừng tâm được, không chế ngự tâm được, mà không chế ngự được thì các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não sẽ khởi lên, ác nghiệp sẽ tăng trưởng, vô minh sẽ thêm lớn.
Hôm nay chúng ta chú trọng vào chữ "chế ngự", đó là sự ngăn chặn, ngăn cản được, muốn ngăn được thì sự nhận diện ngũ uẩn của chúng ta phải rất nhanh lẹ và sắc bén, sự nội quán, nội soi, hướng nội của chúng ta phải thuần thục, nhuần nhuyễn. Khi có bất cứ cái gì xảy ra cũng đừng nhìn vào người đó, đừng nhìn vào câu chuyện, sự vật đó mà hãy rọi vào tâm thì lúc đó mới tu được.
"Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn!" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Với một người biết chế ngự, biết ngăn chặn, biết dừng lại, kiềm lại hành động nơi thân bằng trí tuệ thấy biết thì người đó có phải chịu đau khổ trong tương lai không? Lúc đầu ngài Vappa nói có nhưng giờ ngài lại nói không.
"- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên lời khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được lời khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Đoạn kinh này giống ban đầu nhưng đổi lại là lời nói khởi động thì các lậu hoặc tàn hại khởi lên và người này cũng chế ngự được, người này không tạo thêm ác nghiệp mới. Nếu mình bị người khác đánh hoặc tát mà mình có thể dừng bánh xe đang lăn, ngăn chiếc xe đang lao xuống vực là chế ngự được thân, còn giờ là chế ngự lời nói, chỉ trong một cuộc gọi điện thoại thôi mình cũng có thể bị các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não thiêu đốt, thậm chí chỉ là tin nhắn thôi cũng làm mình bị đốt cháy rực lửa trong các con chữ đó.
Mình để cho các mê lầm tàn hại, tàn phá, làm cho tàn tạ thân tâm, làm cho mình thân tàn ma dại, từ vô lượng vô biên kiếp đến giờ thì, những cảm giác tham, sân, si, vô minh, bản ngã đó làm cho mình thân tàn ma dại, chỉ cần nghe một câu nói thôi là lùng bùng hết lỗ tai, đỏ mặt tía tai, toàn thân nóng bức, đó là mình bị những cảm xúc, cảm giác tàn hại thân mình, làm cho mình trở thành thân tàn ma dại.
Nếu không biết tu thì càng lớn tuổi gương mặt càng tiều tụy, héo mòn, xuất hiện vô số nếp nhăn trên mặt, hai má hóp lại, miệng chu ra, mặt lúc nào cũng nhăn nhó vì trong đó chất chứa những cảm xúc, cảm giác tàn phá thân tâm. Đừng nói gì già, những người trẻ đang gặp phiền não thì gương mặt cũng chẳng tươi tỉnh được mấy, khi giận dữ nổi lên nó là một cơn điên ngắn, khi quá tham cũng trở thành người ngu si, tham quá không còn biết gì nữa nên cứ đâm đầu vào tiệm vàng, vào ngân hàng đi cướp tiền vàng rồi vào tù, sự tham muốn nổi lên là không còn biết gì nữa, chỉ biết làm sao cho thỏa lòng tham ngay lúc đó thôi. Như vậy các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não che mờ mắt mình, một bóng đêm dày đặc bao trùm lấy mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, một sự si ám bao trùm khắp sáu căn của mình.
Vô minh là bóng đêm, tâm sân hận là đống lửa thiêu đốt, lúc giận lên là mắt đỏ, mặt đỏ, tai đỏ, toàn thân của mình sôi sục lên, đống lửa đó tàn phá thân tâm, mỗi lần giận là đống lửa được đốt lên làm chúng ta mau già, bệnh nhiều, bệnh nhẹ thành bệnh nặng, bệnh nặng thành mất mạng, tức quá bị tai biến chết luôn. Cho nên mình tu là tu với lời nói, phải chánh niệm và tỉnh giác khi nói chuyện hoặc là khi nghe người ta nói, với một cái tâm có phòng hộ, chế ngự thân tâm, có bảo vệ sẽ rất khác với một thân tâm thả lỏng các căn.
Từng cử chỉ, hành động nếu có sự tu tập, có sự phòng hộ, có sự bảo vệ, dò xét, theo dõi chính mình, canh chừng chính mình, đó là ý nghĩa của hai chữ chế ngự. Mình không thể thả rông cái tâm hoang vu, rừng rú này được, mình không thể để cho tâm của con khỉ này nhảy chuyền hết cành này đến cành kia được, phải huấn luyện trong từng lời nói. Nếu mình không ngăn chặn, không chế ngự, không dừng lại được, không kiềm chế trong lời nói thì các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não khởi lên trong con người mình.
Đọc kinh thì khó hiểu nhưng nhìn lại trong cuộc sống thì hằng ngày mình cự cãi bao nhiêu lần, mẹ con cự cãi nhau, còn không nói không cãi thì trong bụng cũng thấy bực mình, anh em ruột nói chuyện qua lại là gây gỗ, đó là các lậu hoặc nhiệt não tàn phá thân tâm nhưng mình không hay biết gì cả, mình rất ngây thơ rồi sống trong mộng mơ, suốt cuộc đời là lờ mờ cho đến chết, phía trước là mù mịt không biết đi về đâu nhưng mình lại không thấy sự nguy hiểm và tác hại của các lậu hoặc, mình không thấy, không sợ.
Người trí, người nhìn thấy sự nguy hại của nó nói cho mình nghe thì mình khó chịu, mình sân hận, bản ngã lên, đó là sự ngu muội của mình, chừng nào hết vô minh thì lúc đó sẽ có minh, là nhập Thánh. Vì mình còn vô minh nên mới ngồi ở đây, nếu hết vô minh mình đã lên Tịnh Cư Thiên ở, thành bậc Bất Lai hoặc vào thế giới vô dư, tâm bất động giải thoát.
II. Sự khiêm cung của bậc chân tu
Vào chùa cũng giành giật, sân hận với nhau, ở nhà đầy phiền não mà vào chùa cũng sân si, vào rừng bị muỗi chích thì sân với mấy con muỗi, đó là các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não chứa đầy trong nội tâm. Được nhắc nhở, chỉ dẫn cho tu thì bực bội, khó chịu, "nói gì nói hoài", "biết rồi nói mãi", với một bản ngã như vậy thì không thể học đạo được. Với một người thật sự là chân tu thì tâm người đó phải cúi thấp xuống, hạ thấp bản ngã vô cùng để thầy dạy dỗ. Trong những tiền kiếp của Thế Tôn có một kiếp ngài gặp Đức Thế Tôn Nhiên Đăng, ngài biết rằng hôm nay bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Nhiên Đăng sẽ đi qua con đường đó nên ngài dọn sạch sẽ đường xá nhưng còn lại một vũng sình sau mưa.
Ngài không biết làm sao thì ngài nằm rạp xuống xõa mái tóc dài của mình ra trên vũng bùn để bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác bước lên đi qua để chân không dính bùn. Đối với bậc thầy phải có thái độ học đạo như vậy mới được, ở trước bậc đạo sư, trước mặt những bậc chánh tri kiến, những bậc chân nhân thì bản ngã của mình phải nằm rạp xuống, phải ngã đổ xuống thì mới có khả năng tiếp nhận được vô thượng pháp luân, còn mình đem một cái thân to cao thì chỉ học được đạo làm người chứ không học được đạo làm Thánh.
Minh Thành không dám hướng dẫn những người có bản ngã cao lớn, dù ở kề cạnh nhưng vẫn không thể hướng dẫn được vì cứ hễ chỉ dạy, hướng dẫn là họ lại sân hận lên. Với một cái tâm như vậy thì làm sao học được đạo Thánh hiền? Thầy nói một câu, mình nói lại ba câu thì học cái gì? Nếu nhân đạo không học thì làm sao học thiên đạo? Nếu thiên đạo không học thì làm sao học được Thánh đạo?
Cho nên Minh Thành rất sợ những người có bản ngã lớn vì mình còn sợ chính bản ngã trong người mình, mỗi lần nó sanh khởi lên là thấy nhục nhã, xấu hổ, mỗi lần bản ngã cúi sâu xuống thật là đẹp. Mỗi lần Minh Thành chắp tay xá mọi người thật sâu xuống dưới hoặc là quỳ lạy đại chúng thì hình ảnh ấy thật là đẹp và Minh Thành nghĩ trong bụng "phải như vậy mới được". Khi đã huấn luyện bản ngã của mình hạ xuống một cách khiêm cung, thuần thục thì tâm sẽ nhẹ nhàng, lắng dịu, ngọt ngào, dù bị chửi, nói nặng vẫn thấy bình thường, vẫn an tịnh, lắng dịu và lúc đó mới thấy được hai chữ "ngọt ngào".
Ngày xưa khi Minh Thành mới được bậc thành hướng dẫn nói rằng ngọt ngào thì Minh Thành không thấy ngọt ngào gì cả nhưng bây giờ bắt đầu nếm được mật ngọt của sự khiêm cung, bây giờ mới thưởng thức được hương vị của bản ngã nằm rạp xuống, gục ngã, mọp đầu dưới đất. Thế gian này gục ngã trước cái tôi, thế giới này sụp đổ ở nơi bản ngã, vì bản ngã mà thế giới đi đến chỗ tan vỡ, vì bản ngã mà cha con không nhìn nhau, anh em tương tàn, vợ chồng sát hại nhau, vì bản ngã mà thầy trò thành kẻ thù, vì bản ngã mà xảy ra chiến tranh, vì bản ngã mà hủy diệt thế giới, địa cầu này cho nên bản ngã là kẻ ác độc nhất hành tinh.
Mỗi lần lạy sám hối diệt ngã đều nguyện "xin nguyện cho con xả bỏ bản ngã ác độc này" vì cái độc nhất trên thế giới này chính là bản ngã chứ không có người nào cả. Mỗi lần nói đến bản ngã là toàn thân Minh Thành rung lên, ớn lạnh như nhìn thấy con rắn độc đang phùng mang phun nọc độc ra, nó là rắn hổ mang chúa, nó là thủ phạm thật sự của cuộc đời này chứ không có người nào cả, tất cả chúng sanh đau khổ đầy nước mắt, đầy chiến tranh, đầy hận thù, đầy chết chóc, cướp giật cũng từ vô minh này vì từ vô minh mới sanh ra bản ngã. Vô minh không thấy không biết ngũ uẩn, cho ngũ uẩn là tôi nên chính cái tôi đó bắt đầu mới bành trướng, hại người rồi hại luôn cả mình cho nên phải biết sợ hãi với bản ngã, mỗi ngày phải dập đầu sám hối diệt ngã làm cho trở nên hiền thiện, khiêm cung, ngọt ngào thì mới tiếp nhận được Thánh pháp tối thượng, Thánh trí vô ngã.
Đạo Phật là vô ngã mà đem đại ngã đến để học thì học được cái gì? Tất cả những gì mình học đều nhằm tăng trưởng cái tôi, cái ta của mình thôi, có biết bao người đi chùa mấy chục năm thậm chí ở trong chùa gần hết cuộc đời mà cái ta, cái tôi ngày càng lớn thêm. Đó là đi sai đường, trật hướng, đi lạc và chính những cái này tàn hại và nhiệt não thân tâm của chúng sanh, vì thế phải lạy thật thấm thía từng câu từng chữ trong bài sám hối diệt ngã, lạy cho ngấm vào tim, vào xương tủy của mình, "nguyện cho con xả bỏ bản ngã ngu si này". Người có bản ngã càng lớn là càng ngu si thôi, "nguyện cho con xả bỏ bản ngã dại khờ này", "nguyện cho con xả bỏ bản ngã hư danh, ác độc này". Bản ngã chỉ là một sự ảo tưởng trong tâm của mình thôi, mình cứ dày công tô đắp một ảo tưởng về tự ngã, bị giao thông thổi vào thì sừng sộ lên hỏi "các ông có biết tôi là ai không?", đáng lẽ bị phạt nhẹ thôi nhưng nói câu đó ra càng bị phạt nặng hơn nữa.
Mình có là ai đi nữa thì cũng chỉ là mắt; tai; mũi; lưỡi mà thôi, mình là ai thì cũng chỉ là một con người thôi, mình có là ai mà phạm luật thì cũng bị phạt thôi. Mình cúi mắt bước đi trong tiếng xì xào của mọi người nhưng tâm mình lại thấy ngọt ngào, lắng dịu, tràn ngập tình thương bao trùm hết những người đó, mình không sân hận, không khó chịu và trong tâm tràn ngập lòng bi mẫn, một cảm thọ xót thương trùm khắp vùng trời đất và bản ngã của mình hiền ngoan, không còn hung hăng, dữ dằn, manh động nữa, người ta có nói nặng nói nhẹ, nói xiên xỏ thì tâm mình vẫn an trú trong cái nùi giẻ rách này, từ từ sẽ an tịnh, lắng dịu, lần lần sẽ đi đến tâm bất động giải thoát, tất cả mọi sự hơn thua, tham, sân, si trong cuộc đời này không còn can dự vào nó nữa.
Mình ly dị với thế giới, không chơi với tham, sân, si, nữa, không còn muốn hơn thua với bất kì ai nữa, dù người ta có đối xử với mình ra sao thì mình cũng không muốn hơn thua, chỉ có tâm từ bi mẫn, an trú trong tâm hiền thiện như thế thì các lậu hoặc tàn hại sẽ bị chế ngự, từ từ nó sẽ tiêu mòn, đó là con đường đưa đến sự héo mòn, sự mục rã các phiền não, con đường này là thiết thực, hiện tại, là không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Khi nào mình bảo mà bản ngã liền cúi đầu, mình tác ý là nó hiền lại thì đó là có hiệu quả tức thì cho nên mình phải dạy dỗ bản ngã ngu si, cứng đầu, khó nói này. Phải lạy từng câu từng chữ trong bài sám hối diệt ngã, đọc lên câu nào là lạy xuống câu đó để nó thấm vào trí não không bao giờ quên.
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
Dục, ái, sân, si đầy người mà không biết xấu hổ lại còn vênh váo, vỗ ngực xưng tên, mang một tấm thân tàn ma dai, bất tịnh, tanh hôi như vậy mà kiêu căng, ngạo mạn, bên trong chất chứa những cảm thọ tức giận, hơn thua, tranh đấu. Phải vừa đọc vừa lạy xuống để những dòng Thánh pháp, Thánh trí tuệ đó ở luôn trong người không mất đi, như vậy gọi là thâm nhập, là thể nhập, là chứng nhập, là Nhập Lưu chứ không phải lạy ào ào cho xong như trả bài.
Phật không có kêu mình lạy để trả bài mà mình phải đọc để nhắc nhở tâm mình, đọc để dạy dỗ cảm thọ của mình, đọc để huấn luyện bản ngã cứng chắc để nó trở thành hiền từ, ngoan ngoan, dễ nghe, dễ sống, dễ nói. Làm được như vậy thật là dễ thương, mát mẻ, nếu không thì bên ngoài nhìn dễ thương nhưng khi đụng chuyện mới biết mặt nhau, "tôi không đụng ai thì cũng đừng ai đụng tôi, đụng tôi là biết tay tôi". Phải tu tập cho bên trong nội tâm là một cảm thọ lúc nào cũng cúi đầu, lúc nào cũng sẵn sàng chắp tay lạy trước bất kì ai, thậm chí lạy những người là đệ tử, là những người thấp hèn hơn mình hoặc là con mình cũng sẵn sàng chắp tay quỳ lạy và nói lời xin lỗi "mẹ xin lỗi con, cái này mẹ sân si".
Cô Phật tử có pháp danh là Nhuận Hải nghĩa là biển cả thấm nhuần, trong lòng cô phải là một biển cả của cảm thọ hiền thiện, từ ái, khiêm cung và biển cả này dào dạt, bao la, nhuần thắm, gội rửa khắp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, khắp sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ. Biển cả hiền thiện đó thấm đượm thân tâm thì mới lan tỏa qua những đứa con của mình được, còn nếu mình chưa thấm đậm, trong lòng cảm thọ vẫn còn sôi nổi cho nên con mình chưa nhận được luồn gió mát, sự mát mẻ của biển cả ngọt ngào, hiền thiện đó cho nên cần phải tu tập tâm hiền và tâm từ thật nhiều, đồng thời tu tập diệt ngã cho thuần thục thì chắc chắn sẽ có kết quả tốt, đó là con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não, đưa đến sự héo mòn tâm hung hăng, hung dữ, hung tàn, đưa đến sự héo mòn tâm sân hận, nóng bức, hơn thua.
Không cần người khác nói cho mình biết mình tu được đến đâu mà tự mình thấy biết được thành quả, kết quả của sự tu học trong thọ; tưởng; hành; thức của mình. Quý vị cần cố gắng tiếp nhận Thánh pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, tưới tẩm những cảm thọ hiền thiện trí tuệ, bẻ gãy được bản ngã như sừng trâu này, đó là phúc lành trong dòng luân hồi sanh tử này vì không phải dễ được nghe Thánh pháp.
III. Chế ngự thân khẩu ý 2
"- Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên ý khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được ý khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có với người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn!" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, (V). Vappa)
Bây giờ đến ý cũng vậy, nếu mình có thể đạp thắng được, chặn lại được trong tâm ý của mình, trong suy nghĩ của mình, trong suy nghĩ đó là tàn hại nhiệt não sanh khởi, mình nghĩ muốn làm cho hả dạ, muốn làm cho thỏa mãn những tham muốn hoặc là muốn làm cho hả dạ những sự tức giận, hoặc muốn phô trương, thể hiện cái tôi. "Tôi ngồi đây mà vào không chào tôi gì cả, nghĩ tôi là không khí hay sao", sanh khởi ý nghĩ này lên thì phải tác ý lập tức.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Trong tâm ý mình có hai chiều, một chiều đi theo hướng tàn hại và nhiệt não, chiều còn lại đi theo hướng hiền thiện, trí tuệ, lắng dịu và bình yên. Nếu mình chế ngự được thì đi theo hướng bình yên, còn nếu không chế ngự, ngăn chặn thì tụt xuống vực thẳm, lọt xuống hố sâu. Hằn ngày mình đều bị lọt xuống hố, mỗi một ý niệm không tha thứ, chống đối là mình đã lọt xuống hố sâu muôn trượng không có ngày ra. Mình nghe lời bản ngã, nghe lời vô minh, nghe lời cái ta, cái tôi, thị phi, phải quấy, hơn thua, vinh nhục, được mất, nghe lời những suy nghĩ đó rồi ngó dẫn mình đi trong ma đạo, ác đạo, mê đạo, lục đạo.
Người ngăn được ý khởi động theo chiều tàn hại nhiệt não thiêu cháy, người này không tạo thêm những ác nghiệp mới, người này chặn được trong suy nghĩ, trong lời nói, trong hành động, người này không làm hại mình hại người, không làm những hành động của tham, sân, si, vô minh, bản ngã. "Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt", cảm xúc thường xuyên là thói quen trong cảm giác được huân tập đã bị chặn lại, không còn tiếp tục nữa, ví dụ thói quen hút thuốc được chế ngự, ngăn chặn lại thì cảm thọ yêu thích, khoan khoái, nghiền thuốc bị chặn lại, một mặt là chặn đứng cảm xúc thường xuyên của tiêu cực, của ác bất thiện pháp, mặt khác đưa những cảm xúc của trí tuệ, từ bi, hiền thiện vào.
Tu là chặn những cảm xúc xấu ác rồi đưa những cảm xúc tốt, thiện pháp, trí tuệ, tình thương, hỷ xả vào, ví dụ mình thích nghĩ hơn thua, cái gì cũng nghĩ hơn thua, bất cứ chuyện gì mình cũng nghĩ mình hơn người ta, bây giờ mình thấy được suy nghĩ này là thứ tàn hại nhiệt não, là mê lầm, là lậu hoặc, bây giờ mình đã biết nhận diện ngũ uẩn nên biết rằng ý hành này là thứ làm mình bất an, nóng bức cho nên không suy nghĩ theo chiều này nữa, nghĩ theo chiều thương mình, tội nghiệp mình vì suốt ngày cứ thích hơn thua, suốt ngày cứ cao thấp. Thật là đáng thương, thật là tội nghiệp, làm chuyện vô ích, suy nghĩ những điều lãng phí, hoang phí thời gian vào những chuyện vô ích, hư huyễn, không đáng nên phải diệt tận luôn suy nghĩ này.
Chỉ có như vậy mới ngăn chặn được suy nghĩ đó, dừng lại suy nghĩ đó rồi đưa những suy nghĩ hiền thiện, trí tuệ, diệt ngã vào thay thế thì gọi là chế ngự được nhân duyên làm cho ý khởi động. Các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não bị mình chế ngự, nó không còn trong người mình nữa, đối với suy nghĩ tham dục cũng như vậy, chặn nó lại để đưa hình ảnh bộ xương, những con giòi, bao tử, phân và nước tiểu… Đưa ba mươi hai thể trược vào để ngăn sự tham dục lại, như vậy gọi là chế ngự được, các phiền não từ từ sẽ héo mòn, tàn tạ, hoại diệt.
Hôm nay chúng ta thấy được sự chế ngự thân hoạt động theo chiều vô minh, chế ngự lời nói khởi động theo chiều vô minh, lậu hoặc, chế ngự suy nghĩ theo chiều vô minh, lậu hoặc nó tàn phá thân tâm chúng ta, như vậy sẽ không tạo ra nghiệp mới, tác ý, quán chiếu sẽ xóa sạch những dư tàn của những cảm thọ nghiệp cũ, không tiếp tục những cảm thọ thường xuyên nó nữa mà ngăn nó lại, đó là con đường thiết thực, hiện tại để làm cho héo mòn các phiền não.
IV. Dặn dò tu tập
Những lúc bình thường mình phải có sự tác ý, sự chế ngự, ngăn chặn thì đến khi hữu sự thì mình mới có khả năng dừng lại được, còn đợi đến khi sanh khởi mới bắt đầu đạp thắng thì không thể dừng nổi được. Người ta luyện binh, thao lược, tập trận hằng nhiều năm mới được ra chiến trường chứ không phải mới vào đã cho ra chiến trường cho nên khi bình thường phải tác ý, quán chiếu, suy tư thường xuyên, ví dụ mình nặng về sân, về nóng giận thì phải thường xuyên nhắc nhở sự nguy hiểm và tác hại của cái giận, la rầy nó liên tục, song song với đó là trải tâm từ, còn đợi đến khi sân lên thì làm sao trải được tâm từ nữa, vì vậy những khi bình thường phải thực tập trải tình thương cho đến khi mình thấy tình thương ngấm từng tế bào, từng lỗ chân lông, từ đảnh tóc cho đến gót chân, ngồi ở đâu trải tâm từ là khắp không gian nơi đó đều được thấm đượm trong tâm từ.
Như vậy trong con người mình đầy ắp cảm thọ của từ tâm, của tình thương, đến khi có cơn giận thì đưa cảm thọ tình thương bao trùm lấy cơn giận cho nên một chút cơn giận từ bên ngoài cũng không thể làm mình sân giận lên được, cảm giác thương yêu, từ tâm, bi mẫn đã đầy ắp trong thân tâm, bao trùm luôn cả người khác. Mình là tỷ phú thì khi bị bệnh, tiền trị bệnh đâu có làm khó mình, còn mình là người nghèo mạt đến khi bị bệnh nan y thì tiền đâu mà trị, cũng vậy bình thường mình chất chứa trong tâm cả một khối tâm từ, tâm thương cho nên khi cái giận tác động lên thì mình khởi động tình thương lên.
Tình thương ơi!
Tình thương ơi!
Từ tâm ơi!
Từ tâm ơi!
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Đọc vài câu lên như vậy là tình thương tràn ngập hết thân tâm thì cái giận lúc đó chẳng là gì cả, cảm thọ khó chịu, tức giận đó sẽ lập tức tan biến và xóa sạch, giống như chỉ có đốm lửa nhỏ của tàn thuốc thôi mà trong này là cả một vòi nước vĩ đại mát lạnh hoặc quăng tàn thuốc vào một hồ nước rộng mấy chục cây số vuông thì tàn thuốc đó chẳng là gì cả. Ngược lại đợi lửa bốc cháy mới đi tìm nước thì làm sao dập kịp? Cho nên phải tu tập trước khi thọ; tưởng; hành sanh khởi, trước khi tham, sân, si sanh khởi, đối với bản ngã cũng vậy, bình thường mình tập cho nó hiền ngoan, cúi đầu, đến khi có ai nói chạm tự ái thì mình đưa cái ngọt ngào, hiền thiện bao phủ cảm thọ ta đây.
Giữa mặt đất bằng nổi lên ụ đất nhỏ trong khi mưa lớn đang dội xuống xối xả thì lập tức ụ đất đó tan rã, rã nát. Tâm mình tham thì mình biết có tham, tâm mình sân thì mình biết có sân, tâm khởi bản ngã lên thì mình biết đang có bản ngã, còn khi không thấy là những lúc mình không nhận diện ngũ uẩn, mình bị vô minh che phủ hoặc là mình thấy chậm cho nên cần thực tập thường xuyên để khi nó sanh khởi là mình thấy liền hoặc là thấy khi nó mới bắt đầu manh nha, mình chặn đứng nó trước. Còn khi mình bỏ qua không nhận diện ngũ uẩn, không soi rọi bên trong mà cứ nhìn bên ngoài với một cái ta và một cái của ta thì lúc đó tâm mình an trú trong vô minh. Khi vô minh khởi động thì nó phát ra ngôn ngữ, hành vi, suy nghĩ đều là sai lầm, tạo nghiệp, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não khởi lên.
Cái suy nghĩ cho rằng tôi và của tôi thì cái thô là ý hành và mình thấy được, mình đọc được suy nghĩ đó, còn cái vi tế là một thầm ý, không nói ra trong cảm thọ. Cái thô là nói ra tiếng "cái này của tôi" nhưng cái vi tế không nói ra tiếng mà là một sự ngầm ý trong cảm thọ, sâu trong cảm thọ của mình là một cảm thọ tự ngã được được huân tập trong vô lượng kiếp. Đó là lý do mình phải dùng thiền quán để quán ba mươi hai thể trược, quán tứ đại, quán chín giai đoạn của một tử thi và quán cốt tưởng một cách thâm sâu để thành tựu nhằm phá những cái thọ; tưởng; hành về tự ngã trong cảm thọ, điều này đòi hỏi mình phải có công phu như lý tác ý từ thiền quán, từ từ sẽ loại bỏ những cái thô ngoài ý hành, từ từ đi sâu vào bên trong cảm thọ ngao ngán, nhàm chán đối với thân xác này, cảm thọ sẽ ngấm sâu vào thân tâm đến nỗi không cần suy nghĩ cũng thấy chán.
Tại sao mình thấy hoa sen lại thích thú, muốn chụp hình thậm chí là ngửi còn thấy đống phân là né tránh? Vì đống phân là hôi thối, dơ bẩn, gớm ghê cho nên thấy là ớn chứ đừng nói gì đến gần vì điều này đã ăn sâu vào trong cảm thọ, đối với các bậc Thánh cũng vậy, các ngài khi đã chứng ngộ sự thật về ngũ uẩn tứ đại thì nhìn nó như nhìn đống phân, còn phàm phu nhìn thân thể ngũ uẩn tứ đại này như nhìn đóa hoa sen, thích tiếp xúc, thích ngửi, còn các bậc Thánh chứng ngộ thì nhìn thấy nó như nhìn đống phân. Đức Phật nhìn những cô gái đẹp chỉ là những đống bất tịnh, thâm sâu ở trong cảm thọ của ngài không còn tham muốn phải mang vác thân thể đầy phân và nước tiểu, mủ máu, đàm giải nữa, tận cùng thâm sâu trong cảm thọ của các bậc Thánh là một sự gớm ghê, nhàm chán, từ bỏ, không có bất kì một thầm ý mong muốn gì nữa, cũng như mình không có bất kì thầm ý muốn lại gần bóc hay ngửi đống phân.
Sự thật là trong thân này là một đống phân và nước tiểu vì không có phân thì làm gì phải có toilet để chứa nó? Nhưng vì vô minh nên không thấy được đống phân, chỉ thấy đẹp rồi đam mê, đau khổ trong đó, mình học vô minh để có minh trí phá bóng tối, phá cái nhìn sai lầm về thân tâm, cho đến khi nào bóng tối hoàn toàn tan hết thì nhìn thấy trong thân này là đống phân, trong thầm ý không hề mong muốn gì nữa. Thân này là nhà máy sản xuất phân, là công ty xuất nhập nguồn nước tiểu, vậy thì có gì để lên mặt với kiêu căng? Thân này đụng đến là sân hận, đụng đến là ngạo mạn, thậm chí chưa cần đụng đến mà chỉ mới nhìn một cái thôi đã thấy sợ cho nên cần quán chiếu và nhắc nhở liên tục để thấy được rằng thân này là bất tịnh, hôi dơ.
./.