Nghi Thức Tu Học NIKAYA - CĂN BẢN TRÍ phần I - 1
Nghi Thức Tu Học Nikāya
CĂN BẢN TRÍ - Phần I – 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của Căn Bản Trí PAGEREF _Toc105307710 \h 1
II.Bài Niệm Nguyên nhân luân hồi 1 PAGEREF _Toc105307711 \h 2
III.Niệm Nguyên nhân luân hồi 2 PAGEREF _Toc105307712 \h 5
Tầm quan trọng của Căn Bản Trí
Cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian nơi này. Luồng gió mát, tiếng chim hót, tiếng cành tre trúc xào xạo, bầu trời, không gian rộng lớn, không khí mát dịu của núi đồi trong giây phút hiện tại. Thật là bình an ngay giây phút này. An tịnh, dễ chịu! Chúng ta nhớ đến Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng trong Trúc Lâm tinh xá. Cảm nhận hơi thở, hơi thở màu nhiệm đang có mặt. Giờ phút này rất nhiều người mong muốn, khao khát được ngồi ở đây mà không được. Các vị chỉ cần nhìn thấy chúng ta ngồi đây là họ thấy bình an, hạnh phúc.
Các buổi học chúng ta thường là kết hợp pháp học và pháp hành chung một lúc. Hôm nay chúng ta chia sẻ về Căn bản trí. Căn bản ở đây không phải là căn bản cho người mới học mà là trí tuệ cội gốc, cốt lõi, lõi cây. Nếu không thành tựu những trí tuệ này thì sự tu học không thể đạt đến kết quả là diệt tận khổ đau đúng như đường lối của Đức Phật. Nikāya tức là những giáo pháp được truyền thừa chánh thống, hoặc nói đơn giản là Pháp Phật nguyên chất. Căn bản trí là những trí tuệ cốt lõi, không thể thiếu được rút ra trong hơn ba ngàn bài kinh trong tạng kinh Nikāya. Vì vậy tuyệt đối quan trọng và chúng ta cần học thuộc lòng.
Những bài kinh được trích trong Căn bản trí là những bài kinh căn bản để hình thành sự thấy đúng, Chánh kiến. Đây cũng là những bài kinh cần học thuộc lòng để làm kim chỉ nam trong pháp học và pháp hành. Nếu chúng ta không có chánh kiến thì chánh niệm sẽ hời hợt, cạn cợt, từ đó sẽ không thể thành tựu chánh định, chánh trí và chánh giải thoát. Căn bản trí này là trí tuệ đưa đến sự thành tựu chánh kiến. Với chánh kiến được thành tựu, người này có cái thấy biết chân chánh về thân tâm, cuộc sống thì mới đi đến thành tựu suy nghĩ đúng, lời nói đúng, hành động đúng, nuôi mạng đúng, siêng đúng việc, quán đúng chỗ và định đúng cách. Nếu không thành tựu được chánh kiến thì chánh niệm sẽ hời hợt, cạn cợt. Đây là chỗ rất sâu sắc của pháp.
Trước khi đi vào dòng pháp này, chúng ta cũng đã từng tu học nhiều năm, thậm chí học trường lớp bài bản, nhưng nói về chánh niệm chỉ là đơn giản biết mình đang thở, hoặc nhiều lắm đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm. Chánh niệm như vậy thì không thể phá vỡ khối vô minh uẩn to lớn, đống tăm tối si ám của nội tâm. Cho nên, cái thấy đúng của người học Phật là tuyệt đối quan trọng. Một khi không thấy đúng rồi là tất cả suy nghĩ, lời nói, tu tập, ngôn ngữ, hành động, sự hướng tâm đều không phải là chân chánh, đi lệch hướng, không đi đến lõi cây, trọng điểm của sự tu tập giác ngộ, giải thoát.
Thân hành niệm đã có sáu khía cạnh để chúng ta tu tập, chưa kể đến quán thọ, quán tâm, quán pháp. Chúng ta tu học mà không thành công là vì chúng ta thích những cái đơn giản, chứ nhiều thì khó nhớ, khó làm dù vẫn mong muốn kết quả là giải thoát. Suy nghĩ rằng học ít, làm dễ mà có kết quả phi thường, phi phàm là một tà kiến. Muốn thành tựu chánh kiến là chúng ta cần tu học Căn bản trí. Đây là những yếu tố, điều kiện cần thiết để chúng ta thành tựu thấy biết chân chánh, đúng đắn trong đạo Phật. Nếu không thành tựu chánh kiến thì quá trình tu sau này, dễ khiến rất nhiều người lầm tưởng mình đã giải thoát, đã chứng đắc. Đức Thế Tôn đã tuyên bố, người nào không có chánh kiến ở đời thì không thể có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn. Một vị thành tựu chánh kiến là đạt được Thánh quả đầu tiên, cũng là đệ nhất Sa-môn.
Bài Niệm Nguyên nhân luân hồi 1
(Kinh Trường Bộ, bài 16)
“Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông. Bốn Thánh đế ấy là gì ?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ TẬP Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ DIỆT Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ DIỆT ĐẠO Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Diệt Đạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
(Kinh Trường Bộ - bài 16)
Tại sao vừa mới vào Căn bản trí đã niệm Nguyên nhân của luân hồi? Tại sao Tứ Thánh Đế được đặt đầu tiên? Đức Phật đã nói “Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Như Lai chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ”. Sự tu tập của chúng ta từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc đó là giải quyết khổ. Nếu không thấy khổ, chúng ta làm sao tu tập? Đức Phật nói khổ không phải chỉ là không có tiền, nghèo nàn, đói khát, bệnh tật, già cỗi, chết chóc; đây chỉ là cái khổ ở bên ngoài, còn cái khổ thâm sâu, thật sự đó là sự chấp thủ vào năm uẩn. Tại sao chúng ta chấp thủ vào năm uẩn? Là bởi vì chúng ta yêu thích năm uẩn. Và chúng ta yêu thích năm uẩn là bởi vì chúng ta không hiểu biết về năm uẩn.
Ví dụ như chúng ta đang khát nước, nhìn thấy một ly cam vắt thì sẽ thích thú và có mong muốn được uống đúng không ạ? Nhưng lại không biết rằng trong ly cam vắt có thuốc độc. Khi biết đây là ly nước cam có độc, chúng ta còn muốn uống không ạ? Đó là vô minh và tham ái. Vô minh là không biết ly nước có độc. Ngược lại minh là biết đây là ly nước độc, khi đó tham ái được chấm dứt.
Dù cho người xuất gia chúng ta đây, có nhìn thấy rõ được Khổ Thánh Đế không ạ? Khi không nhìn thấy khổ, thì đó là không có sự thấy biết đúng. Chúng ta dù là đang tu, đang học pháp, đang thiền nhưng có nhìn ra được thân xác này, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là khổ không? Chính vì không thấy nên có ham muốn, mong muốn, ước muốn, đòi hỏi, chấp thủ trong đó. Chúng ta không thấy khổ mà thấy “ngồi dưới bụi tre, gió mát, sướng quá đâu có khổ”, thì đây là tà kiến, vô minh. Bậc chánh kiến là nhìn bất cứ điều gì cũng thấy bản chất khổ trong đó. Bởi đây là thế giới của năm uẩn, mà năm uẩn là khổ đau. Nhìn vào cảm thọ dù là vui cũng là khổ. “Phàm tất cả những gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ”. Bởi vậy, người tu mà còn thấy bất cứ điều gì là vui, thì đó chưa phải là chánh kiến. Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu sự thật về khổ đau mà bậc Thánh đã giác ngộ nên chúng ta mới trôi nổi, lênh đênh, thăng trầm, xoay vòng bao nhiêu đời kiếp trong lục đạo. Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu nguyên nhân của khổ đau, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ mà bậc Thánh chứng ngộ cho nên chúng ta phải trôi nổi, trôi dạt, quay cuồng, luân hồi. Thánh pháp, pháp tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người. Sự thấy biết về khổ đau một khi không gián đoạn, luôn châm dầu, tiếp củi, giữ lửa để cho sự thấy biết không mất đi, thì vị này dần dần thể nhập tri kiến của bậc Thánh. Tức là sự thấy biết về khổ được tưới tẩm, chăm sóc giống như châm dầu vào đèn, tiếp củi vào bếp, giữ ngọn lửa về khổ đau luôn cháy trong tâm, thì vị này dần dần thể nhập tri kiến của bậc Thánh, thể nhập Thánh trí. Chỉ cần chúng ta buông thiền, buông pháp rồi đi ra ngoài làm, ăn uống hoặc đi dạo thì sự thấy biết đúng đắn này bị mất đi. Cho nên đây là lý do chúng ta nghe pháp, ngồi thiền, pháp đàm nhiều. Đây là những lúc tâm mình an trú vào pháp, vào trí tuệ, vào sự thật.
Chính vì không thấy biết sắc này là khổ, cảm giác này là khổ, hình bóng này là khổ, suy nghĩ này là khổ, nhận thức này là khổ; không thông hiểu, phát giác, phát hiện nên chúng ta trôi nổi trong những dòng sông của dục, dòng xoáy của ái, cuốn phăng bởi dòng thác lũ và trôi ra biển của dục vọng trong vô lượng vô biên kiếp đã qua. Nếu chúng ta tiếp tục không thấy, nghe, chiêm nghiệm, tu tập, quán chiếu thì sẽ còn dài dài, hoài hoài, bất tận chúng ta trôi lăn trong biển sanh tử, luân hồi, khổ đau.
Căn bản trí là chúng ta học những điểm cốt lõi, để thấy được yếu nghĩa trong này. Con đường đưa đến khổ diệt phải là con đường tám đúng tức là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Cái đầu tiên mà chúng ta tận lực, dốc sức để tu học đó là chánh kiến và chánh tư duy, tiếp sau đó mới đi đến sự sâu sắc của chánh định.
“Thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.”
Khi đã giác ngộ và thông hiểu bốn sự thật về khổ thì hữu ái được diệt trừ, tức ưa thích sự hiện hữu trong năm uẩn được diệt trừ. Tại sao? Cũng như ví dụ ly nước cam, một khi chúng ta biết được ly nước có độc thì sự muốn, thích uống sẽ chấm dứt ngay lập tức. Khi chúng ta còn thích, còn muốn là chưa thấy khổ. Hãy xem xét lại tâm mình, còn yêu thích, ham muốn nhiều không. Muốn thấy khổ thì cần nghe pháp, tác ý, tư duy thường xuyên, đặt tâm đúng hướng vào khổ thì trí về khổ mới được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển, quảng đại, lớn mạnh. Dịch bệnh hiện tại, mọi người có thấy khổ không ạ? Khổ là vì không đi làm được, không có tiền, không được đi chơi còn những cái khác vẫn thấy sướng. Chúng ta có thấy khổ không khi mà con người chỉ nghĩ đến lợi nhuận mà dùng bao nhiêu thủ đoạn, lợi dụng dịch bệnh để gây tội, lừa đảo nhau.
Sự dắt dẫn ở đây là hữu ái, sự ưa thích, yêu thích trong thân xác, ngũ uẩn này. Chúng ta nỗ lực học và hành trì theo đúng chánh pháp. “Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
Ca dao xưa ông bà ta có câu
“Một lần là tởn tới già
Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân”.
Sự thấy biết của bậc Thánh cũng vậy. Một khi các vị đã nhìn thấy, nhìn ra sự thật của ngũ uẩn thì các vị xa lìa, sợ hãi. Nhìn thấy xác thân da thịt tứ đại bệnh hoạn này, thọ, tưởng, hành, chấp mê trong này là các Ngài nhàm chán. Không gặp chánh pháp, không nỗ lực tu hành thì còn đời sống khác nữa dài dài. Khi chúng ta thành tựu chánh kiến thì khổ căn, tức gốc rễ của khổ đau được đoạn trừ, không còn đời sống khác nữa.
Niệm Nguyên nhân luân hồi 2
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ không chứng đạt Thánh GIỚI mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh ĐỊNH mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh TUỆ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh GIẢI THOÁT mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Định được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.
(Kinh Trường Bộ - bài 16)
Không giác ngộ, không chứng đạt giới luật của bậc Thánh, thiền định của bậc Thánh, trí tuệ của bậc Thánh, giải thoát của bậc Thánh. Tại sao là Thánh giới? Bởi có những giới không phải của bậc Thánh ví dụ như Sao Thái Bạch không được mặc đồ trắng, kiêng cữ ngày này, ngày kia, việc này, việc khác, hoặc những quan niệm, thói quen, tập quán thông thường của thế tục. Không phải là Thánh giới thì không đưa đến giải thoát. Do vậy, những giới mà chúng ta đã thọ và hành trì không phải là bình thường, phải kính trọng mà đội trên đầu, nửa tháng tụng đọc một lần và mỗi tuần đọc oai nghi. Bậc Thánh mới giác ngộ, chứng đạt giới này chứ không đơn thuần những điều răn thông thường. Những giới này giúp chặn đứng tham dục, sân hận, khổ đau.
Thiền định của bậc Thánh cũng là để nhìn rõ thân tâm một cách chính xác, trung thực, xác thực; thấy được năm uẩn, phiền não, lậu hoặc, sự cấu nhiễm của tâm. Nếu không phải là thánh định thì không thể thấy biết chính xác thân tâm mình. Trong kinh Đức Phật ví dụ như hồ nước trong xanh, khi nhìn vào có thể thấy rõ ràng những con ốc, sò, cá lội trong nước; đây chính là thiền định của bậc Thánh, hay gọi là chánh định, thiền định chân chánh giúp tâm an tịnh để thấy biết đúng như thật về thân tâm của mình.
Vì không giác ngộ, chứng đạt được trí tuệ của bậc Thánh nên chúng ta phải trôi lăn, chìm nổi trong biển sống chết này. Trí tuệ bậc Thánh ở đây là sự thấy biết để tan rã đi cái tôi, để soi sáng, xoá tan màn đêm u tối trong nội tâm, làm thuyên giảm, nhiếp phục, đoạn tận đi những ham muốn; là thấy được ngũ uẩn, cảm thọ, sự thúc dục bên trong, cảm giác của tham, sân, si, bản ngã; thấy được, biết được, từ đó nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận. Từ đây đi đến Thánh Giải thoát, giải thoát ra khỏi tham, sân, si, vô minh, bản ngã. “Thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.” Cũng vì điều này mà thời Đức Phật còn tại thế, nhiều vị ngoại đạo không hiểu đã nói Sa-môn Gotama chủ trương diệt tận tất cả mọi sự sống. Họ cho ngũ uẩn này là tôi, mà không nhìn ra sự bại hoại, tan rã, đau khổ, tham đắm, nắm chặt, hơn thua, sân si trong cái vô thường, bất tịnh, thấp kém, hạ liệt. Họ không biết về Thánh trí tuệ, vượt ngoài những tri kiến phàm phu này gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Khi giải thoát khỏi tham ái lúc này tâm chúng ta được mở ra vô lượng vô biên. Và khi phá được vô minh thì trí tuệ được mở bung ra, không còn nhỏ hẹp trong năm uẩn, không còn bị lệ thuộc trong đống mủ máu, phân và nước tiểu này nữa, đó là tuệ giải thoát. Bởi năm uẩn này là nguồn của khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não; còn tham, sân, si, bản ngã; còn tham đắm, chấp thủ, dính mắc, nắm chặt, khao khát là còn nước mắt, máu, lo sợ, khổ sầu. Hiểu được rằng bản chất năm uẩn là đau khổ. Một khi tu tập thành tựu được bốn pháp này thì tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa; tức là không còn những đời sống luân hồi, sanh tử, đau khổ này nữa. Thành tựu tâm bất động giải thoát, không có gì có thể làm chúng ta khổ nữa; chứ không phải chúng ta tu đến chỗ không còn gì hết. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự do tự tại, không có bất kỳ sắc nào là chướng ngại cho ta. Cũng vì vậy mà Đức Thế Tôn có thể nhìn xuyên thấu tất cả núi non, sông ngòi, trái đất, vô số thái dương hệ, vô số hành tinh Ngài đều thấy biết rõ, một tiếng nói của Ngài là ba ngàn đại thiên thế giới nghe. Phàm phu chúng ta thấy sắc là sắc, là thật có, chấp thủ vào đó; chấp thủ vào cảm thọ, tìm kiếm sung sướng, ghét bỏ khổ đau; như những đứa trẻ con chơi những món đồ chơi bằng đất sét vậy. Vì vậy không hiểu được cảnh giới của bậc Đại nhân.
“Thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.” An lạc bất khả tư nghì!
Khi nghe tin tức có một đứa bé vừa sanh ra đã được thừa hưởng mấy tỷ đô, chúng ta nghĩ rằng đứa bé đó thật sung sướng; nhưng với Thánh trí tuệ thì thấy đây chỉ là một đống khổ tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, cũng là máu, nước mắt, giành giựt, hơn thua, đấu đá, để rồi cuối cùng cũng tiều tuỳ, suy lão để rồi ngã xuống đống mồ. Bởi vậy, Thánh trí tuệ nhìn vào là soi thấu tất cả những con số, hình thức, bề ngoài. Người đời nhìn vào thì mong muốn, khao khát, ước mơ, tưởng tượng; Thánh trí tuệ thì thấy được “Đây là khổ, khổ là đây”, càng nhiều tiền là càng khổ hơn nữa, đâu được yên, gia đình xào xáo, nơm nớp lo sợ. Đây là Thánh tuệ, sự thấy biết siêu việt. Sắc là lửa than, do vậy người tu chúng ta không dính mắc, tham đắm, khoan khoái với sắc đẹp hay đau khổ, chê bai với sắc xấu.
./.
CĂN BẢN TRÍ - Phần I – 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của Căn Bản Trí PAGEREF _Toc105307710 \h 1
II.Bài Niệm Nguyên nhân luân hồi 1 PAGEREF _Toc105307711 \h 2
III.Niệm Nguyên nhân luân hồi 2 PAGEREF _Toc105307712 \h 5
Tầm quan trọng của Căn Bản Trí
Cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian nơi này. Luồng gió mát, tiếng chim hót, tiếng cành tre trúc xào xạo, bầu trời, không gian rộng lớn, không khí mát dịu của núi đồi trong giây phút hiện tại. Thật là bình an ngay giây phút này. An tịnh, dễ chịu! Chúng ta nhớ đến Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng trong Trúc Lâm tinh xá. Cảm nhận hơi thở, hơi thở màu nhiệm đang có mặt. Giờ phút này rất nhiều người mong muốn, khao khát được ngồi ở đây mà không được. Các vị chỉ cần nhìn thấy chúng ta ngồi đây là họ thấy bình an, hạnh phúc.
Các buổi học chúng ta thường là kết hợp pháp học và pháp hành chung một lúc. Hôm nay chúng ta chia sẻ về Căn bản trí. Căn bản ở đây không phải là căn bản cho người mới học mà là trí tuệ cội gốc, cốt lõi, lõi cây. Nếu không thành tựu những trí tuệ này thì sự tu học không thể đạt đến kết quả là diệt tận khổ đau đúng như đường lối của Đức Phật. Nikāya tức là những giáo pháp được truyền thừa chánh thống, hoặc nói đơn giản là Pháp Phật nguyên chất. Căn bản trí là những trí tuệ cốt lõi, không thể thiếu được rút ra trong hơn ba ngàn bài kinh trong tạng kinh Nikāya. Vì vậy tuyệt đối quan trọng và chúng ta cần học thuộc lòng.
Những bài kinh được trích trong Căn bản trí là những bài kinh căn bản để hình thành sự thấy đúng, Chánh kiến. Đây cũng là những bài kinh cần học thuộc lòng để làm kim chỉ nam trong pháp học và pháp hành. Nếu chúng ta không có chánh kiến thì chánh niệm sẽ hời hợt, cạn cợt, từ đó sẽ không thể thành tựu chánh định, chánh trí và chánh giải thoát. Căn bản trí này là trí tuệ đưa đến sự thành tựu chánh kiến. Với chánh kiến được thành tựu, người này có cái thấy biết chân chánh về thân tâm, cuộc sống thì mới đi đến thành tựu suy nghĩ đúng, lời nói đúng, hành động đúng, nuôi mạng đúng, siêng đúng việc, quán đúng chỗ và định đúng cách. Nếu không thành tựu được chánh kiến thì chánh niệm sẽ hời hợt, cạn cợt. Đây là chỗ rất sâu sắc của pháp.
Trước khi đi vào dòng pháp này, chúng ta cũng đã từng tu học nhiều năm, thậm chí học trường lớp bài bản, nhưng nói về chánh niệm chỉ là đơn giản biết mình đang thở, hoặc nhiều lắm đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm. Chánh niệm như vậy thì không thể phá vỡ khối vô minh uẩn to lớn, đống tăm tối si ám của nội tâm. Cho nên, cái thấy đúng của người học Phật là tuyệt đối quan trọng. Một khi không thấy đúng rồi là tất cả suy nghĩ, lời nói, tu tập, ngôn ngữ, hành động, sự hướng tâm đều không phải là chân chánh, đi lệch hướng, không đi đến lõi cây, trọng điểm của sự tu tập giác ngộ, giải thoát.
Thân hành niệm đã có sáu khía cạnh để chúng ta tu tập, chưa kể đến quán thọ, quán tâm, quán pháp. Chúng ta tu học mà không thành công là vì chúng ta thích những cái đơn giản, chứ nhiều thì khó nhớ, khó làm dù vẫn mong muốn kết quả là giải thoát. Suy nghĩ rằng học ít, làm dễ mà có kết quả phi thường, phi phàm là một tà kiến. Muốn thành tựu chánh kiến là chúng ta cần tu học Căn bản trí. Đây là những yếu tố, điều kiện cần thiết để chúng ta thành tựu thấy biết chân chánh, đúng đắn trong đạo Phật. Nếu không thành tựu chánh kiến thì quá trình tu sau này, dễ khiến rất nhiều người lầm tưởng mình đã giải thoát, đã chứng đắc. Đức Thế Tôn đã tuyên bố, người nào không có chánh kiến ở đời thì không thể có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn. Một vị thành tựu chánh kiến là đạt được Thánh quả đầu tiên, cũng là đệ nhất Sa-môn.
Bài Niệm Nguyên nhân luân hồi 1
(Kinh Trường Bộ, bài 16)
“Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông. Bốn Thánh đế ấy là gì ?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ TẬP Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ DIỆT Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ DIỆT ĐẠO Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ông.
Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Diệt Đạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
(Kinh Trường Bộ - bài 16)
Tại sao vừa mới vào Căn bản trí đã niệm Nguyên nhân của luân hồi? Tại sao Tứ Thánh Đế được đặt đầu tiên? Đức Phật đã nói “Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Như Lai chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ”. Sự tu tập của chúng ta từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc đó là giải quyết khổ. Nếu không thấy khổ, chúng ta làm sao tu tập? Đức Phật nói khổ không phải chỉ là không có tiền, nghèo nàn, đói khát, bệnh tật, già cỗi, chết chóc; đây chỉ là cái khổ ở bên ngoài, còn cái khổ thâm sâu, thật sự đó là sự chấp thủ vào năm uẩn. Tại sao chúng ta chấp thủ vào năm uẩn? Là bởi vì chúng ta yêu thích năm uẩn. Và chúng ta yêu thích năm uẩn là bởi vì chúng ta không hiểu biết về năm uẩn.
Ví dụ như chúng ta đang khát nước, nhìn thấy một ly cam vắt thì sẽ thích thú và có mong muốn được uống đúng không ạ? Nhưng lại không biết rằng trong ly cam vắt có thuốc độc. Khi biết đây là ly nước cam có độc, chúng ta còn muốn uống không ạ? Đó là vô minh và tham ái. Vô minh là không biết ly nước có độc. Ngược lại minh là biết đây là ly nước độc, khi đó tham ái được chấm dứt.
Dù cho người xuất gia chúng ta đây, có nhìn thấy rõ được Khổ Thánh Đế không ạ? Khi không nhìn thấy khổ, thì đó là không có sự thấy biết đúng. Chúng ta dù là đang tu, đang học pháp, đang thiền nhưng có nhìn ra được thân xác này, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là khổ không? Chính vì không thấy nên có ham muốn, mong muốn, ước muốn, đòi hỏi, chấp thủ trong đó. Chúng ta không thấy khổ mà thấy “ngồi dưới bụi tre, gió mát, sướng quá đâu có khổ”, thì đây là tà kiến, vô minh. Bậc chánh kiến là nhìn bất cứ điều gì cũng thấy bản chất khổ trong đó. Bởi đây là thế giới của năm uẩn, mà năm uẩn là khổ đau. Nhìn vào cảm thọ dù là vui cũng là khổ. “Phàm tất cả những gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ”. Bởi vậy, người tu mà còn thấy bất cứ điều gì là vui, thì đó chưa phải là chánh kiến. Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu sự thật về khổ đau mà bậc Thánh đã giác ngộ nên chúng ta mới trôi nổi, lênh đênh, thăng trầm, xoay vòng bao nhiêu đời kiếp trong lục đạo. Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu nguyên nhân của khổ đau, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ mà bậc Thánh chứng ngộ cho nên chúng ta phải trôi nổi, trôi dạt, quay cuồng, luân hồi. Thánh pháp, pháp tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người. Sự thấy biết về khổ đau một khi không gián đoạn, luôn châm dầu, tiếp củi, giữ lửa để cho sự thấy biết không mất đi, thì vị này dần dần thể nhập tri kiến của bậc Thánh. Tức là sự thấy biết về khổ được tưới tẩm, chăm sóc giống như châm dầu vào đèn, tiếp củi vào bếp, giữ ngọn lửa về khổ đau luôn cháy trong tâm, thì vị này dần dần thể nhập tri kiến của bậc Thánh, thể nhập Thánh trí. Chỉ cần chúng ta buông thiền, buông pháp rồi đi ra ngoài làm, ăn uống hoặc đi dạo thì sự thấy biết đúng đắn này bị mất đi. Cho nên đây là lý do chúng ta nghe pháp, ngồi thiền, pháp đàm nhiều. Đây là những lúc tâm mình an trú vào pháp, vào trí tuệ, vào sự thật.
Chính vì không thấy biết sắc này là khổ, cảm giác này là khổ, hình bóng này là khổ, suy nghĩ này là khổ, nhận thức này là khổ; không thông hiểu, phát giác, phát hiện nên chúng ta trôi nổi trong những dòng sông của dục, dòng xoáy của ái, cuốn phăng bởi dòng thác lũ và trôi ra biển của dục vọng trong vô lượng vô biên kiếp đã qua. Nếu chúng ta tiếp tục không thấy, nghe, chiêm nghiệm, tu tập, quán chiếu thì sẽ còn dài dài, hoài hoài, bất tận chúng ta trôi lăn trong biển sanh tử, luân hồi, khổ đau.
Căn bản trí là chúng ta học những điểm cốt lõi, để thấy được yếu nghĩa trong này. Con đường đưa đến khổ diệt phải là con đường tám đúng tức là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Cái đầu tiên mà chúng ta tận lực, dốc sức để tu học đó là chánh kiến và chánh tư duy, tiếp sau đó mới đi đến sự sâu sắc của chánh định.
“Thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.”
Khi đã giác ngộ và thông hiểu bốn sự thật về khổ thì hữu ái được diệt trừ, tức ưa thích sự hiện hữu trong năm uẩn được diệt trừ. Tại sao? Cũng như ví dụ ly nước cam, một khi chúng ta biết được ly nước có độc thì sự muốn, thích uống sẽ chấm dứt ngay lập tức. Khi chúng ta còn thích, còn muốn là chưa thấy khổ. Hãy xem xét lại tâm mình, còn yêu thích, ham muốn nhiều không. Muốn thấy khổ thì cần nghe pháp, tác ý, tư duy thường xuyên, đặt tâm đúng hướng vào khổ thì trí về khổ mới được tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển, quảng đại, lớn mạnh. Dịch bệnh hiện tại, mọi người có thấy khổ không ạ? Khổ là vì không đi làm được, không có tiền, không được đi chơi còn những cái khác vẫn thấy sướng. Chúng ta có thấy khổ không khi mà con người chỉ nghĩ đến lợi nhuận mà dùng bao nhiêu thủ đoạn, lợi dụng dịch bệnh để gây tội, lừa đảo nhau.
Sự dắt dẫn ở đây là hữu ái, sự ưa thích, yêu thích trong thân xác, ngũ uẩn này. Chúng ta nỗ lực học và hành trì theo đúng chánh pháp. “Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
Ca dao xưa ông bà ta có câu
“Một lần là tởn tới già
Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân”.
Sự thấy biết của bậc Thánh cũng vậy. Một khi các vị đã nhìn thấy, nhìn ra sự thật của ngũ uẩn thì các vị xa lìa, sợ hãi. Nhìn thấy xác thân da thịt tứ đại bệnh hoạn này, thọ, tưởng, hành, chấp mê trong này là các Ngài nhàm chán. Không gặp chánh pháp, không nỗ lực tu hành thì còn đời sống khác nữa dài dài. Khi chúng ta thành tựu chánh kiến thì khổ căn, tức gốc rễ của khổ đau được đoạn trừ, không còn đời sống khác nữa.
Niệm Nguyên nhân luân hồi 2
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ không chứng đạt Thánh GIỚI mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh ĐỊNH mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh TUỆ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh GIẢI THOÁT mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Định được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.
(Kinh Trường Bộ - bài 16)
Không giác ngộ, không chứng đạt giới luật của bậc Thánh, thiền định của bậc Thánh, trí tuệ của bậc Thánh, giải thoát của bậc Thánh. Tại sao là Thánh giới? Bởi có những giới không phải của bậc Thánh ví dụ như Sao Thái Bạch không được mặc đồ trắng, kiêng cữ ngày này, ngày kia, việc này, việc khác, hoặc những quan niệm, thói quen, tập quán thông thường của thế tục. Không phải là Thánh giới thì không đưa đến giải thoát. Do vậy, những giới mà chúng ta đã thọ và hành trì không phải là bình thường, phải kính trọng mà đội trên đầu, nửa tháng tụng đọc một lần và mỗi tuần đọc oai nghi. Bậc Thánh mới giác ngộ, chứng đạt giới này chứ không đơn thuần những điều răn thông thường. Những giới này giúp chặn đứng tham dục, sân hận, khổ đau.
Thiền định của bậc Thánh cũng là để nhìn rõ thân tâm một cách chính xác, trung thực, xác thực; thấy được năm uẩn, phiền não, lậu hoặc, sự cấu nhiễm của tâm. Nếu không phải là thánh định thì không thể thấy biết chính xác thân tâm mình. Trong kinh Đức Phật ví dụ như hồ nước trong xanh, khi nhìn vào có thể thấy rõ ràng những con ốc, sò, cá lội trong nước; đây chính là thiền định của bậc Thánh, hay gọi là chánh định, thiền định chân chánh giúp tâm an tịnh để thấy biết đúng như thật về thân tâm của mình.
Vì không giác ngộ, chứng đạt được trí tuệ của bậc Thánh nên chúng ta phải trôi lăn, chìm nổi trong biển sống chết này. Trí tuệ bậc Thánh ở đây là sự thấy biết để tan rã đi cái tôi, để soi sáng, xoá tan màn đêm u tối trong nội tâm, làm thuyên giảm, nhiếp phục, đoạn tận đi những ham muốn; là thấy được ngũ uẩn, cảm thọ, sự thúc dục bên trong, cảm giác của tham, sân, si, bản ngã; thấy được, biết được, từ đó nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận. Từ đây đi đến Thánh Giải thoát, giải thoát ra khỏi tham, sân, si, vô minh, bản ngã. “Thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.” Cũng vì điều này mà thời Đức Phật còn tại thế, nhiều vị ngoại đạo không hiểu đã nói Sa-môn Gotama chủ trương diệt tận tất cả mọi sự sống. Họ cho ngũ uẩn này là tôi, mà không nhìn ra sự bại hoại, tan rã, đau khổ, tham đắm, nắm chặt, hơn thua, sân si trong cái vô thường, bất tịnh, thấp kém, hạ liệt. Họ không biết về Thánh trí tuệ, vượt ngoài những tri kiến phàm phu này gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Khi giải thoát khỏi tham ái lúc này tâm chúng ta được mở ra vô lượng vô biên. Và khi phá được vô minh thì trí tuệ được mở bung ra, không còn nhỏ hẹp trong năm uẩn, không còn bị lệ thuộc trong đống mủ máu, phân và nước tiểu này nữa, đó là tuệ giải thoát. Bởi năm uẩn này là nguồn của khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não; còn tham, sân, si, bản ngã; còn tham đắm, chấp thủ, dính mắc, nắm chặt, khao khát là còn nước mắt, máu, lo sợ, khổ sầu. Hiểu được rằng bản chất năm uẩn là đau khổ. Một khi tu tập thành tựu được bốn pháp này thì tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa; tức là không còn những đời sống luân hồi, sanh tử, đau khổ này nữa. Thành tựu tâm bất động giải thoát, không có gì có thể làm chúng ta khổ nữa; chứ không phải chúng ta tu đến chỗ không còn gì hết. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự do tự tại, không có bất kỳ sắc nào là chướng ngại cho ta. Cũng vì vậy mà Đức Thế Tôn có thể nhìn xuyên thấu tất cả núi non, sông ngòi, trái đất, vô số thái dương hệ, vô số hành tinh Ngài đều thấy biết rõ, một tiếng nói của Ngài là ba ngàn đại thiên thế giới nghe. Phàm phu chúng ta thấy sắc là sắc, là thật có, chấp thủ vào đó; chấp thủ vào cảm thọ, tìm kiếm sung sướng, ghét bỏ khổ đau; như những đứa trẻ con chơi những món đồ chơi bằng đất sét vậy. Vì vậy không hiểu được cảnh giới của bậc Đại nhân.
“Thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.” An lạc bất khả tư nghì!
Khi nghe tin tức có một đứa bé vừa sanh ra đã được thừa hưởng mấy tỷ đô, chúng ta nghĩ rằng đứa bé đó thật sung sướng; nhưng với Thánh trí tuệ thì thấy đây chỉ là một đống khổ tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, cũng là máu, nước mắt, giành giựt, hơn thua, đấu đá, để rồi cuối cùng cũng tiều tuỳ, suy lão để rồi ngã xuống đống mồ. Bởi vậy, Thánh trí tuệ nhìn vào là soi thấu tất cả những con số, hình thức, bề ngoài. Người đời nhìn vào thì mong muốn, khao khát, ước mơ, tưởng tượng; Thánh trí tuệ thì thấy được “Đây là khổ, khổ là đây”, càng nhiều tiền là càng khổ hơn nữa, đâu được yên, gia đình xào xáo, nơm nớp lo sợ. Đây là Thánh tuệ, sự thấy biết siêu việt. Sắc là lửa than, do vậy người tu chúng ta không dính mắc, tham đắm, khoan khoái với sắc đẹp hay đau khổ, chê bai với sắc xấu.
./.