Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 9 - Bản Chất Của Sáu Ái
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 9
Bản Chất Của Sáu Ái
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò người tu PAGEREF _Toc141969319 \h 1
II. Vô thường – khổ - vô ngã PAGEREF _Toc141969320 \h 3
III. Ba khát ái PAGEREF _Toc141969321 \h 12
I. Dặn dò người tu
Các huynh đệ ngồi tĩnh lặng trong mấy phút lúc đó có nhìn lại cảm giác của mình không? Có nhiếp phục được cảm giác của thân không để cho nó lớn qua cảm giác của tâm không? Chẳng hạn như mình ngồi mình thấy nó nóng lực. Cái nóng lực đó là cảm giác của thân thì lúc đó mình không có chánh niệm tỉnh giác, không thấy rõ có một cảm giác nóng lực khó chịu của thân mà mình bị cảm giác nóng lực khó chịu đó tác động, nó xâm chiếm và nó đưa qua cảm giác của tâm, làm cho cái tâm cũng khó chịu bứt rứt luôn.
Đó là mình không khéo tu tập. Còn nếu mà mình không khéo tu tập thì mình vẫn nhận biết cảm giác khó chịu nóng nhưng mình nhiếp phục các giảm giác đó, không để cảm giác đó nó phát tác, ra nó phát động ra, nó ảnh hưởng tới cái tâm của mình. Mình nhiếp phục cảm giác nơi thân và mình chuyên chú nơi cái pháp mình đang thực hành thì đó là người khéo biết tu tập. Còn bằng không mình chỉ thấy nóng lực và mình muốn học lẹ cho xong để xả thiền, lúc đó là mình không có nhiếp phục được cảm giác.
Mình đang ngồi tịnh, bên kia người ta niệm Phật, bên đây có khi mình niệm theo. Cái miệng nếu ó bị hướng ngoại nhiều, bị động có khi mình nhép theo. Còn miệng không nhép nhưng trong đầu mình niệm theo. Đó là mình bị cái âm thanh bên ngoài dẫn dắt, không có làm chủ được cảm giác lúc đó. Còn cái tâm không có hướng ngoại là vẫn nghe nhưng không làm theo, vẫn an trú cảm giác toàn thân ngay lúc đó. Trong thân mình có cái cảm giác như lúc nào mình biết rõ như thế đó.
Không có hướng ngoại, không chạy theo bên ngoài. Trong sự tu tập rất tế nhị và sâu sắc, vừa chớp mắt một giây thôi là đã phóng tâm, hướng ngoại. Nếu mình không có sự chánh niệm tỉnh giác mà soi rọi thì hàng ngày cái tâm phóng lia lịa, chạy theo trần cảnh ở ngoài. Đừng nói rằng ở trong lớp mà nó không chạy theo trần cảnh. Đừng nói rằng ở trong chùa, trong chánh điện không chạy theo trần cảnh. Đừng nói rằng đang ngồi thiền ở trong bồ đoàn là không chạy theo trần cảnh. Bất cứ khi nào thả lỏng các căn là lúc đó bị phóng tâm. Thả lỏng các căn không phòng hộ, không kiểm soát không, không hộ trì, không chăm sóc, không bảo vệ thì nó buông thả liền.
Có thể mắt; tai; mũi; lưỡi; thân ngồi trang nghiêm, yên lặng nhưng tâm lý ở trong nó vẫn phóng. Đối với sự tu mình chỉ nhìn ở ngoài cái hình tướng là không trúng, trật ngay, nhưng dù sao có ngoài cũng đỡ rồi từ từ nó vô đến bên trong. Chứ nói "tôi tu tâm, tướng tôi khỏi cần tu" là phải xét lại. Cái tướng tu không xong nữa làm sao tâm mà tu? Cái hình tướng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân quản lý không được thì cái vô tướng, không hình làm sao mà quản lý? Tâm nó không hình không dạng nó đi rất xa, đưa tận hang sâu.
Người nào điều phục được tâm, phòng hộ được tâm thì người đó có được an lạc. Nên sự phòng hộ, sự luôn luôn để nhìn lại cảm giác của mình là cực kỳ quan trọng. Đừng có quên, đây là công phu miên mật của người tu, đi đứng nằm ngồi, nói đếm động tịnh, tiếp duyên xúc cảnh, bất cứ lúc nào cũng nhìn lại cảm giác của mình coi nó có cái gì trong đó.
Nếu có gì bất thiện, ác pháp là mình phải tẩy sạch, bỏ nó, quán chiếu làm cho nó chấm dứt đoạn diệt, không cho nó tiếp diễn nữa thì đó là sự tinh tấn của tu tập. Chân tu là như vậy, theo lời Đức Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ. Đó là chân tu, là chân Tăng, chân Ni, cao Ni, thánh Ni là chỗ đó. Mình tu cái này nó thú vị lắm, không có thời gian rảnh nghĩ xấu ai. Mình nhìn cái tâm mình còn không có thời gian nhìn, nó qua mặt mình vù vù, nó đi buôn hàng lậu.
Có tu như vậy không hay là đợi tới thời khóa rồi lên tụng? Tụng xong hai thời xuống là tu rồi? Hàng ngày mình trúng không biết bao nhiêu mũi tên độc mà mình không có biết. Hàng ngày khi mắt thấy tai nghe, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên với các pháp là mình bị trúng tên liên miên. Mũi tên của dục ái, tham, sân, bản ngã, ganh tỵ, tật đố, hơn thua tranh chấp, ghen tuông bực tức…
Cái đó là phàm tình, không phải tâm của người tu. Nếu đi so đo mấy cái đó giống như ở nhà mình nhõng nhẽo với cha mẹ. Mình đi tìm đạo, tìm chánh pháp chứ mình không có đi tìm tình thương, tình cảm. Mà mình vô xong rồi là sư phụ, sư thúc, sư bá, sư thím, sư cháu, tùm lum hết. Để cái đó qua một bên, coi mình tìm thấy pháp chưa, mình nhìn thấy nội tâm mình bao nhiêu phần, nhiếp phục được bao nhiêu phần, chuyển hóa được bao nhiêu phần không lo, cứ lo thầy thương ai nhiều, thầy nói chuyện với ai nhiều, sư tỷ ưu ái người kia nhiều. Đừng nói bên Ni, bên Tăng cũng vậy.
Nam nữ gì cũng vậy, tham ái của mình nó trá hình đủ thứ kiểu. Nó muốn lúc nào nó cũng phải được ngồi hàng thứ nhất, ghế thứ nhất, ghế danh dự. Nó không muốn ngồi ở dưới, mà nó ngồi dưới lén lén đi buôn đồ lậu. Tâm mình nó buôn lậu, đi hàng cấm tức là trong giới luật không cho phép những cái đó. Đức Thế Tôn dạy phải từ bỏ mấy cái này, không được nuôi dưỡng chấp nhận nó, không có chất chứa nó, mà mình chất chứa như vậy là mình đang đi hàng lậu. Nhưng vậy tới chừng nào mới đi đến chỗ lậu tận?
II. Vô thường – khổ - vô ngã
Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Con mắt là thường hay vô thường?
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Thanh ái...Hương ái...Vị ái…Xúc ái... Pháp ái... là thường hay vô thường?
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử có trí, nhàm chán sắc ái, nhàm chán thanh ái, nhàm chán hương ái, nhàm chán vị ái, nhàm chán xúc ái, nhàm chán pháp ái.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".(Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương VII. Tương Ưng Ràhula, II. Phẩm Thứ Hai)
Đây là đoạn kinh được trích trong tạng kinh Nikaya, có nhiều bài kinh Đức Phật nói cho La-hầu-la vừa là đệ tử cũng vừa là con của ngài khi ngài chưa xuất gia. Lúc đó Đức Thế Tôn định nói pháp cho La-hầu-la trên con đường đi khất thực, khi đó chư thiên rất tập hợp rất là đông khi biết rằng Thế Tôn sắp sửa dạy La-hầu-la pháp nghĩa cao thâm, vi diệu lắm.
Mình nói nôm na ngoài đời La-hầu-la là con cưng, đệ tử cưng, Đức Thế Tôn mà truyền trao thì chắc là truyền cả cái tâm huyết, cả một tinh hoa Phật trí cho La-hầu-la cho nên lúc đó chư thiên kéo đến đầy ngập hư không. Ngàn ngàn vạn vạn đi theo Đức Thế Tôn khi Ngàn chuẩn bị giảng pháp cho La-hầu-la. Phật đã giảng bài kinh này. Bài kinh sắc; thọ; tưởng; hành; thức là thường hay là vô thường? Dạ bạch, là vô thường. Vô thường là lạc hay là khổ? Dạ bạch là khổ.
Một cái khổ như vậy mình cho nó là mình, là của mình thì có hợp lý hay không? Dạ không. Như vậy sau khi nhìn thấy cái bản chất vô thường, khổ, vô ngã thấy bằng trí huệ thì nhàm chán. Ở đây là dùng từ sáu ái. Sắc ái là sự yêu thích đối với sắc. Sự yêu thích đối với mùi, đối với vị, đối với sự xúc chạm, sự yêu thích đối với pháp tức là những hình ảnh bóng dáng trong nội tâm mình, trong cảm giác đó, tất cả những cái đó là vô thường.
Chính vì sự yêu thích với các sắc là vô thường cho nên khi mình được người ta cúng dường cho chiếc xe mới, lúc đó mình rất thích, thương chiếc xe, ra vô ngắm, chút là lau, chút là chùi rửa mà mình chạy 6 tháng hay 1 năm rồi mình còn thương giống như lúc đầu nữa không? Cho nên sắc ái là vô thường, sự yêu thích của mình đối với vật chất đối với các sắc đó là vô thường, nó không phải yêu thích hoài đâu.
Đối với vật chất như vậy, tình cảm gia đình cũng như vậy, tình cảm vợ chồng cũng như vậy, bạn bè nam nữ trai gái cũng như vậy. Cho nên mới có chuyện chia tay đổi người mới, hoặc là ngoại tình. Vì vậy sắc ái là vô thường, chứ có thường gì đâu. Mình tưởng đâu là nó còn hoài nó không có đổi thay nhưng sắc ái là vô thường, sự yêu thích về sắc là vô thường. Khi được ai cho món đồ quý thì phải biết "sự yêu thích món đồ này là vô thường nha. Cái món đồ đó cũng vô thường nha. Sự yêu thích món đồ đó là vô thường và món đồ đó là vô thường, cảm giác yêu thích đó cũng vô thường. Đừng đam mê, đừng thích thú, đừng ràng buộc trong đó khổ nghe".
Mình được ai thương thì có mừng không? Mà người lại hơi đẹp đẹp chút nữa thương quý mình lúc đó có mừng không, có thích không? Tác ý ngay "Vô thường nha. Bữa nay người ta nói vậy bữa mai nói khác, coi chừng đó. Đừng có mộng tưởng nghe không. Đừng có vọng tưởng nghe không".
Thế mới thấy được vấn đề sắc ái này. Khi được người ta cho đồng hồ mới đẹp thì bình thường tay áo che cả bàn tay, có đồng hồ mới xắn tay áo lên, đi tới đi lui. Nhưng cái vui sướng thích thú đó được mấy ngày? Lỡ đường xa đi ra Hà Nội, đi Nha Trang rồi xảy ra tai nạn giao thông cụt luôn cánh tay, thì cái đồng hồ nó còn đâu nữa.
Mọi người phải quán tới mức độ như vậy khi mình yêu thích một vật gì đó. Quán như vậy thì dần dần cái tâm yêu thích của mình nó mở ra. Khi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc với cái gì mà nó sanh ra tham đắm, yêu thích, thích thú, khoan khoái thì hãy quán chiếu cái yêu thích này, cái thích thú khoan khoái này là vô thường. Đây không phải là đối tượng để tham đắm. Đây không phải là đối tượng để hoan hỷ. Nó là thứ vô thường, tan nát, biến hoại, tan hoại, tan rã. Quán như vậy thì chỗ nào cũng là chỗ bình an, không có bị gạt. Còn không quán đi tới đâu gạt tới đó.
Thanh ái này cũng gây chết người, biết bao nhiêu người mua cái vé cả 100 – 200 đô để vào nghe lời ca tiếng hát đó. Nghe giọng đó quen rồi lâu lâu thiếu cái giọng đó là nhớ. Đó là thanh ái. Bữa nào bị đứt thanh quản, nói không ra tiếng thì sao? Thành ra âm thanh là vô thường, làm gì có cái thường ở trong đó được, nó pháp duyên sanh mà không thấy cái vô thường đó, cứ khoái cái âm thanh đó, nghe riết rồi cái sóng từ của điện thoại vô lỗ tai mới có 35 tuổi là bệnh tai rất nặng, tới 40 tuổi điếc.
Tối ngày cứ để điện thoại nghe hoài rồi con mắt cũng bệnh luôn. Sóng điện từ rất mạnh nên tối ngủ phải tắt hết điện thoại đó. Nó mạnh khủng khiếp lắm chứ không phải bình thường đâu. Thậm chí người nam theo nghiên cứu để trong túi quần ảnh hưởng tới mức độ vô sinh. Cho nên cái gì cũng vậy mình sử dụng một cách thông minh thì nó thành phương tiện, còn nếu mình lệ thuộc nó, mình đam mê vô đó thì nó thành bệnh, nó tác hại rất nguy hiểm.
Cái gì cũng phải có trí huệ để sử dụng nó. Mình phải quán chiếu về sự yêu thích âm thanh. Cho nên ở trong kinh tạng Nikāya này cho chúng ta thấy một cái trí huệ để soi thấu hết tất cả pháp. Bằng trí huệ vô thường, khổ không vô ngã nó xuyên thủng hết tất cả sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, trước ánh sáng của trí huệ này nó phơi bày sự thật hết thì lúc đó mình mới hết đam mê thì mình mới không khổ đau. Còn bây giờ mình cứ nghĩ nó thật, nó đẹp, nó chắc, nó bền, nó như vậy hoài thôi thì làm sao mà mình mở nó ra được? Nó cứ cột vô hoài, cột chắc cột bền, cột mãi buộc mãi.
Cho nên cái sự tu tập của mình là sự tu tập tuệ quán, thiền tuệ, quán chiếu, tư duy thẩm thấu chứ không phải là tụng lạy, niệm cho nhiều. Sau khi mình học thì phải ngồi lại mình nhìn nhận từng vấn đề trong nội tâm mình có vậy không, mỗi khi nó sanh khởi lên mình phải diệt, dùng Như lý tác ý, quán chiếu nó. Còn nếu không mình học đi tới già thì kinh nằm ở trong cuốn sách còn mình là mình, không có dính dáng gì hết đó, không có vận dụng các pháp được.
Lên lớp học rồi cũng sống theo cách phàm tình như vậy lại đi đầu thai kiếp khác. Phải vận dụng cho được những gì đã học. Khi tiếp xúc mà không có chánh niệm tỉnh giác, không có phòng hộ ở trong cái xúc này là mình chết liền. Đây là hình thức mình xuất gia nhưng mà mình vẫn chết dài dài đối với cái dục, ái, tham.
Con mắt vừa tiếp xúc một cái là tham ái nó sanh khởi, khác nhau chỗ thô tế như có hết. Mình nhìn cái đẹp là mình thích, khác nhau chỗ có nói ra hay không, có hành động hay không thôi. Nhìn thấy là thích, xúc sanh thọ, tiếp xúc rồi nó sanh ra cái cảm giác, cảm thọ rồi nó ái, ái rồi nó thủ, muốn nắm giữ cái đó của riêng mình. Nên người ta khổ là người ta muốn đây là của riêng mình. Chết là ở chỗ Thủ, nắm giữ, mà cái ái này nó trá hình lắm. Mình phải có trí huệ mà mình nhìn thấy nó.
Pháp ái là thọ; tưởng; hành; thức ở trong nội tâm của mình, những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ. Đừng tưởng rằng mình ái là chỉ ái người, vật ở ngoài, không đơn giản như vậy. Mình yêu thích cảm giác và mình yêu thích hình bóng ở trong nội tâm. Rồi mình yêu thích suy nghĩ của mình. Mình suy nghĩ như vậy nên ai nói khác đi hoặc là chê mình là buồn, là giận vì mình yêu thích suy nghĩ của mình.
Sâu sắc ở chỗ này, sâu sắc cho mình quán chiếu. Mình đừng tưởng là ái chỉ có ở ngoài không. Mình ái ở trong pháp ái đó là cảm giác, những cái hình bóng, lời nói thầm thầm, suy nghĩ trong nội tâm mình, mình yêu những hình bóng đó, nhưng hình bóng đó là ảo ảnh mà mình vẫn yêu thích. Víí dụ chủ nhật là khóa tu thọ bát. Bỗng nhiên mình đang làm đang quét bàn Phật hay là lau đồ này kia bỗng nhiên có một Phật tử bước vô tán thán khen ngợi "Con thấy ngôi chùa này cô là người hiền hậu, siêng năng có đức hạnh tu hành chân chánh con cung kính, con xin đảnh lễ cô ba lễ".
Khi người ta lạy mình cũng chắp tay đàng hoàng, người ta lạy xong rồi người ta không nói gì nhiều người ta đi về, nhưng chiều tối đó mình ngồi thiền hình ảnh đó nó hiện trở lại. Nó hiện trở lại hình bóng mà mình đang đứng đó rồi một người quỳ xuống lạy, những lời tán thán, khen ngợi nó hiện trở lại thì như vậy là sắc tưởng, thanh tưởng, xúc tưởng những cái nó hiện trở lại, rồi mình ngồi mình cũng vui vui, thấy phơi phới trong lòng, thích thích. Đó là pháp ái.
Hình ảnh sự việc nó diễn ra hồi sáng, tối này nó hiện trở lại, mà không phải tối này không, hôm sau thậm chí tuần sau lâu nữa mình nhớ lại, mình cũng cười. Đó là nói chuyện bình thường, còn những chuyện mà mình bị la bị mắng, bị chỉ trích coi, vu oan thì những hình ảnh, những lời nói nó có hiện lại không? Nó có dai dẳng giày xéo tâm can không? Nó có chà đạp lên một trái tim nhỏ bé của mình không? Nó dẫm nát hết, máu hồng nhuộm trước cửa sân chùa. Nó nhớ lại là bực bực bội, tức tối, thậm chí là buồn chán, "Tu mà bị ăn hiếp hoài. Mình tu thấy mình hiền ăn hiếp hả".
Đó là thọ; tưởng; hành thức; nó vận hành. Lúc đó mình không thấy mình tưởng đâu đó là tâm của mình mà mình không biết đó là thọ; tưởng; hành; thức. Chỉ là những cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ thôi, nó đâu có thiệt mà mình nhận cái đó là tâm của mình thì đó là chấp ngã. Mình cho rằng cái thọ; tưởng; hành ;thức này là mình, là tôi, là của tôi thì vĩnh viễn không bao giờ mình chấm dứt cái khổ.
Mình phải biết đó chỉ là cảm giác, nghĩ tưởng và những cái suy nghĩ thôi, tức là thọ; tưởng; hành, đó không phải là mình mà là pháp duyên sanh. Nếu mình không gặp người đó, người đó không có mặt ở đó thì mình đâu có những hình bóng, suy nghĩ này. Tại lúc đó mình có mặt ở đó cho nên mình thấy cái đó, mình nghe cái đó, bây giờ nó mới có những hình ảnh này hiện lên, còn nếu mình không ở đó thì đâu có gì. Cho nên xúc sanh thọ. Thọ sanh ra tưởng, hành cho nên đó là pháp duyên sanh, nó đâu có thật mà sao mình bám víu nó hoài, gỡ không ra.
Một lời nói khen ngợi là cũng chết, mà một lời nói chê trách, chỉ trích là mình cũng chết thì đừng nói chi có người đến nói là thương mình, không có mình là không sống được thì lúc đó chết nhiều hơn nữa. Có nhiều người gặp nghiệp trong quá khứ, người nào có sức mạnh rất là mãnh liệt mới chống đỡ được nếu không là không chịu nổi, lực mạnh lắm. Phải có sự bảo vệ của sư phụ, của Tăng đoàn, của sức tuệ quán thâm sâu nắm vững Năm Uẩn mới thoát ra được nếu không là nguy hiểm. Nếu không là coi chừng 5-3 năm sau chạy lại tay bồng tay bế.
Cho nên cái vô thường, đau khổ, biến hoại như vậy mà mình lại nhận đó là mình. Đây là đầu dây mối nhợ của tất cả khổ đau. Ai vào được cửa này là chánh tri kiến của bậc hướng Dự lưu và Dự lưu thánh quả. Trong nội tâm thâm sâu của mình vẫn bám chặt vô Năm Uẩn này cho nó là tôi, là của tôi. Có ai mà không nói rằng mấy chục ký này là tôi? Có ai mà không cho những cảm giác này là tôi? Có ai mà không cho những tư tưởng, suy nghĩ này là tôi? Có ai mà không cho những nhận thức này là tôi?
Ngay cả những người xuất gia nghe tới tạng kinh Nikāya có khi còn bất ngờ nữa "Thầy ơi vậy đâu còn cái gì nữa đâu thầy". Chánh pháp là chỗ này. Chính ngay đây mới phá được hết tất cả cái chấp ngã này. Còn cái mình học phớt phớt ở ngoài chỉ là một chút sắc uẩn, mà chỉ có sắc uẩn không thì làm sao đủ? Còn bốn cái thọ; tưởng; hành nữa. Đi đám ma thấy tội nghiệp, vào thấy bệnh viện thấy bệnh thì tội nghiệp quá. Mới thấy tai nạn giao thông đó, tội quá. Đó là mình chỉ thấy một phần sắc uẩn ở ngoài thôi, nó không có đủ trí huệ để phá hết Năm Uẩn cho nên mình tu mà không thể ly tham, ly dục, ly ái được.
Thành ra cái chỗ thâm sâu đó là ở trong cái cảm giác của mình, mình tưởng đâu là mình thích người đó, mình thích món đồ đó nhưng cái đó là cái nhỏ thôi. Cái quan trọng đó là người đó đem lại cho mình một cái cảm giác khoan khoái, thích thú, vui sướng. Vì vậy mình thích người đó chẳng qua là người đó đem lại cảm giác thích thú cho mình cho nên mình thích, đây là chỗ thâm sâu đó.
Nếu mình thương người đó nhưng người đó lại đem tới cảm giác bực mình, khó chịu thì lúc đó mình còn thương nữa không? Thánh trí của tạng kinh Nikāya mới chỉ ra được cái này, không có ở đâu chỉ ra được cái này hết, chỉ có trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác mới chỉ ra được. Huynh đệ ngồi suy nghĩ rằng tôi mai mốt sẽ như thế này, tôi sẽ như thế kia, đó là Ngũ Uẩn ở trong tương lai. Mai mốt tôi sẽ trở thành người như thế này, như thế kia. Rồi xưa tôi đã như vậy, bây giờ tôi như vậy thì đây là kẻ vô văn phàm phu, chấp ngã, thấy có một cái tôi thiệt chứ không biết đây là sắc tưởng.
Mình ngồi đây nghĩ mình sẽ làm gì, đi đâu thì mình biết cái đó là sắc tưởng, không phải mình. Bây giờ đảm bảo ngồi trong đây khoảng 300 vị nhưng Minh Thành hỏi trình bày Năm Uẩn là không ai giống ai hết. Ở trong cái tưởng, trong cái hành, cái suy nghĩ là không có một người nào giống một người nào trọn vẹn 100%. Tại nó là duyên sanh, nó là vô thường, nó biến đổi, nó không có thiệt.
Cho nên làm cái gì có hai suy nghĩ giống hệt với nhau, giống là giống một phần nào do cái chấp nó giống nhau chứ không có giống hoàn toàn. Ngay cả anh em sanh đôi, hay chị em sanh đôi cũng vậy. Cho nên các bậc đa văn thánh đệ tử là thấy rõ được các ái, cái khổ, cái vô thường cái biến hoại cho nên mới nhàm chán, mới xa lìa rồi mới giải thoát. Chừng nào huynh đệ tu thành tựu trí huệ là đối với thế gian này, những thứ sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp hay sắc; thọ; tưởng; hành; thức mình đều thấy nhàm chán, không có cái gì nữa là lúc đó bắt đầu chuẩn bị Nhập lưu vào dòng thánh. Mình thấy nội tâm mình còn thích đủ thứ, đối với sắc mình cũng thích, đối với cảm giác mình cũng yêu, đối với những suy nghĩ nhận thức, cái nào mình cũng khoái, cũng dính chặt thì ngày thành tựu còn xa lắm.
Chỉ khi nào thấy được bản chất của nó, rồi nhàm chán không còn ham muốn nữa, từ bỏ nó từ từ, thậm chí ngay cả tấm thân mình quán chiếu 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi, quán tứ đại mình thấy một cái thân này cũng bắt đầu ớn, nó bài tiết ra những cái khủng khiếp lắm vậy mà mình đam mê mấy cái đó. Tham ái vô rồi là đam mê những cái không sạch: Mồ hôi của mình có mùi gì, máu mủ, nước bọt, nước tiểu, phân…
Quán bất tịnh là mỗi ngày đều phải coi giải phẫu tử thi, múc ra máu, nước mũi, nước tiểu, nước bọt, nước mũi, ghèn, cứt ráy, phân. Mở hộp sọ ra lấy bộ não ra, ruột thì tràn ra cả một đùm, không khác gì mấy bộ lòng heo. Nên chỉ cần mình lột lớp da này xuống là chạy hết. Đó là sự thật nhưng mình không chấp nhận sự thật và mình bị lớp da lừa gạt, lừa dối.
Chỉ có lớp da thôi, mình kéo lớp da là ra xương sườn, tim, gan, phèo phổi, bao tử, lá lách, dạ dày, một đùm ruột tràn ra. Vậy mà đau khổ, đam mê, đắm đuối, say sưa với cái thân đó, không biết chừng nào mới tỉnh ngộ. Nếu không quán bất tịnh, nếu không quán 32 thể trược, nếu không quán chiếu chín giai đoạn một tử thi là không bao giờ mình phá nổi tham ái, chấp thủ về cái thân này. Cho nên ngày nào cũng phải quán bất tịnh, không được thiếu.
III. Ba khát ái
Này các Tỳ-kheo, ba khát ái và ba mạn này cần phải đoạn diệt. Thế nào là ba khát ái cần phải đoạn diệt?
“Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ba khát ái này cần phải đoạn diệt.
Thế nào là ba mạn cần phải đoạn diệt?
Mạn, tùy mạn, quá mạn. Ba mạn này cần phải đoạn diệt.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo đã được tận ba khát ái và ba mạn này, vị này, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa kiết sử, do chơn chánh thực hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, XI. Khát Ái)
Dục ái là mình yêu thích ở trong cái tham dục, thế giới của mình là dục giới. Mình yêu thích, không có rời khỏi cái dục được. Chúng ta có một ví dụ người bệnh cùi đi hơ lửa. Họ bị nứt nẻ, chảy nước vàng ra, họ đi tới chỗ than đỏ hơ thì thấy đã ngứa, cảm thấy thích thú. Nhưng khi họ được trị hết bệnh mà bắt họ đi hơ lửa nữa thì họ sợ. Mình giống như người bị cùi nên mình ưa thích cái dục. Cái dục là vô thường, nó là khổ não, là sầu bi nhưng mình ưa thích. Những bác sĩ ngày nào cũng làm phẫu thuật, người ta mổ ra thấy hết bên trong thân thể này nhưng họ vẫn còn sự ham thích về thân.
Những người làm bên mai táng ngày nào cũng khiêng mấy xác chết, ngày nào họ cũng thấy người chết trước mặt nhưng họ vẫn bị dính mắc trong tham dục. Vì cái này phải thành tựu một trí huệ xuất ly, là phải nhìn thấu để có đường hướng đi ra khỏi, còn vị ngọt của tham ái khi dính vô rồi mà không thấy được sự nguy hại về con đường xuất ly đi ra khỏi là không đi ra được, mà nó cũng không muốn ra.
Tại vì nó bị dính ở trong đó giống như con ruồi dính vào mật ngọt, rồi chết chìm trong đó. Thà chết thì chết chứ nó không ra, vị của nó ngọt ngon nên nó vô đó nó chết. Giống như những con thiêu thân, biết là sẽ chết nhưng vẫn cứ đâm đầu lao vào. Người tu mình cũng biết đó là giới luật, phạm giới, khổ đau, phiền não, nhưng vẫn nhào vô, khổ tính sau. Chưa thành tựu trí huệ là mình bị dính mắc cái dục ái đó, mình không muốn đi ra khỏi nó.
Vì mình không thấy được đạo lộ, mình không quán chiếu sâu sắc sự nguy hại, vô thường, bất tịnh. Những bộ xương hay đống thịt bầy nhầy, những con dòi đầy tràn ra chưa đi sâu vô tâm của mình mà mình chỉ thấy được lớp da phủ bên ngoài trắng trẻo, hồng hào, đẹp đẽ nên càng ngày cái tham dục, cái tham ái càng sâu nặng. Lúc xưa không có chuyện tập thể hình, tập tập gym, nhưng giờ ngày càng phát triển, càng có tiền bắt đầu nhu cầu càng cao. Bây giờ không chỉ ăn no mà còn phải ăn ngon, phải trình bày món ăn cho nghệ thuật, có con phụng, con công... Ngày càng cái tham vọng, tham dục, tham ái của con người càng đòi hỏi, nó không bao giờ thỏa mãn, cho nên khổ… Nó đòi hỏi hoài, còn mình thì cứ đi theo nó nên xuống vực sâu luôn.
Hữu Ái là yêu thích sự hiện hữu? Đây là động lực rất thâm sâu để luân hồi. Nhiều người nói "Tu mà đoạn tận hết thì làm sao", "Tu phải có cái gì cho mình hưởng chứ?", "Bây giờ sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều không có thật. Cuối cùng con là cái gì thầy?". Đó là hữu ái, là muốn có mình, muốn có tôi, muốn có một sự hiện hữu. Đó cũng là cái ngã. Vì Niết-bàn là dập tắt năm uẩn mà mình còn muốn còn năm uẩn là còn luân hồi, vì cái thấy biết của mình ở trong năm uẩn, mà còn năm uẩn là còn luân hồi. Phải từ bỏ, chấm dứt, không còn yêu thích thì mới giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Mình mình nói muốn giải thoát nhưng sâu thẳm trong tâm là yêu thích, không muốn bỏ thì làm sao giải thoát? Mình lên trước Phật "Con quyết chắc muốn giải thoát, con muốn cầu Niết-bàn" nhưng khi xuống thì thấy ai đẹp cũng thích, đồ nào đẹp cũng muốn, trong tư tưởng, cảm giác, nhận thức còn yêu thích, còn chấp thủ thì làm sao giải thoát? Mọi người đã thấy được chỗ thâm sâu chưa?
Cái hữu này nghĩa cạn của nó là vọng động. Khi nhập thất cái hữu lậu quậy mình, muốn làm cái này kia, muốn tiếp xúc cái này cái nọ, nhưng vào thất rồi không tiếp xúc ai là chịu không được, không cái điện thoại, không có mạng, không làm gì hết thì lúc đó hữu lậu trỗi dậy "Chắc thu xếp ra thất cho lẹ", vì nó muốn dao động, hoạt động, muốn làm này làm kia. Đây là trạng thái thô của hữu lậu.
Những người này rất khó tịnh tu, rất khó thiền định vì vào ngồi yên không được, chứng tỏ sự dao động rất mạnh. Hữu lậu rất mãnh liệt, ngồi không yên, ở một mình không được. Cái sâu hơn chút là muốn thể hiện mình, khi nói chuyện là bắt đầu mình khoe khoang, nói lòng vòng. Sâu thẳm bên trong là muốn thể hiện mình, cái bản ngã muốn thể hiện. Có những Phật tử, mình ngồi nghe là họ nói từ đầu tới cuối, mình ngồi chỉ được quyền nghe thôi vì người ta thành đạt, người ta nói cho mình nghe là mình cũng có hạng lắm rồi. Đó là hữu lậu.
Cái thâm sâu hơn chút là muốn có một cái gì đó, chính tại thời Đức Phật tại thế, có những vị Tỳ-kheo bạch Đức Phật sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều phải tận hết rồi cuối cùng mình là cái gì? Sau khi Như Lai Niết-bàn còn hay không còn, hay vừa còn vừa không còn? Những câu hỏi đó Đức Phật không trả lời vì những câu hỏi đó đều vướng trong ngũ uẩn. Mình nói còn là còn theo trạng thái của năm uẩn, mình nói không còn là không còn gì nữa, là đoạn diệt. Nhưng Niết-bàn không phải vậy, Niết-bàn là sự phá tung hết tất cả dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Nó là sự phá tan hết những vô minh, chấp thủ đối với năm uẩn.
Nó không còn yêu thích bộ xương, những đống thịt bầy nhầy những con giòi giống vầy nữa. Đó là trí huệ siêu việt, không dính mắc trong sắc uẩn, trong các cảm giác, tư tưởng, nhận thức.
Cho nên khi Đức Phật chứng đạt được những cái này, nhìn xuyên suốt hết trong vô lượng vô biên kiếp của chính mình và tất cả chúng sanh, thành tựu tam minh, tứ đế, ngũ nhãn, lục thông thì cảnh giới đó như thế nào mà giờ mình ngồi đây mình tưởng tượng trong cái tưởng của mình thì làm sao có thể tưởng ra được? Mình tưởng trong dục, tham, ái, vô minh, bản ngã thì làm sao tưởng cho đúng? Làm sao diễn tả được cảnh giới Niết-bàn? Mình lòng vòng trong tham sân si, bản ngã thì làm sao biết được Niết-bàn là gì? Bây giờ dập tắt hết tham sân si, chấm dứt chấp thủ đối với năm uẩn thì mình chứng nghiệm Niết-bàn ngay tại chỗ đó.
Còn bây giờ mình không chịu bỏ tham sân si, không muốn đập tan cái ngã, còn thương còn yêu nó lắm thì làm sao thể nhập Niết-bàn? Giống như 2 chân đạp 2 xuồng, hai tay múa trên, đó là thảm họa. Bây giờ là kiểu tu như thế đó, mình không chịu từ bỏ, không chịu nhàm chán mà còn ham thích. Thậm chí mình còn ngụy biện "tâm là vì tất cả mọi người, vì chúng sanh" nhưng kiểm tra kỹ lại coi vì ai? Răng bọc sứ là đồ giả, cao cấp thì bọc vàng nhưng cũng là đồ giả, không phải đồ thiệt.
Bọc lớp gì đi nữa cũng là răng giả. Chánh pháp là đánh vô thẳng Năm Uẩn, có bao nhiêu đó thôi. Các vị Tỳ-kheo thời Đức Thế Tôn sau khi thấy pháp, chứng pháp, đắc pháp thì bạch Đức Thế tôn, giáo pháp của Đức Thế Tôn là trong lòng bàn tay, kỳ diệu thay con thấy giáo pháp của Đức Thế Tôn trong lòng bàn tay nên mới chứng thánh đạo, thánh quả. Còn mình bây giờ học thiên địa vạn vật, trời đất, ngồi nói nghe nhức đầu mà cũng không biết gì hết, rồi tu không biết đường tu. Giáo pháp Nikāya là Năm Uẩn thôi nhưng tóm thâu hết tất cả các pháp. Nhất là cái thọ uẩn, nhìn lại cảm giác là thấy hết.
Phi hữu ái là sự yêu thích, mình không còn là mình. "Chán cái sắc thân này quá, chán hình tướng này quá. Mình muốn là mình trống trơn, không còn gì nữa". Cho nên nhiều người vào ngồi thiền là quán không hết, cái gì cũng không. Đó là vô sơ sở hữu xứ định, rồi trụ vô đó. Những người nào đạt được cái định này thì sanh ở các cõi trời rất là cao, và những người đó không có sắc hình tướng thô thiển như mình mà ở trong trạng thái tâm trống rỗng. Như vậy gọi là phi hữu ái, họ yêu thích sự không có. Nên mình thấy nhiều người tu là họ ngồi thiền hoài, không muốn tiếp ai hết. Tối ngày cứ yên lặng, họ thích ngồi như thế, họ thích trạng thái trống rỗng yên tĩnh như thế, họ không thích dục tham ái, vợ con, nhà cửa, mấy thứ đó không quan trọng. Họ chỉ quan trọng chỗ ngồi cho yên, rỗng lặng. Nhiều khi mình nghe câu:
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng.
Đạo cảm thông không thể bàn,
Lưới đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện.
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
Thật ra không có bậc trí huệ Năm Uẩn đó thì cái rỗng đó là cái thiền của người phàm phu. Một sự rỗng lặng không có trí huệ vì họ vẫn yêu thích cái trạng thái đó. Trạng thái đó là cảm thọ và họ yêu thích cái trạng thái đó. Cho nên họ sanh lên trời cõi trời như những cảnh trời: Không vô biên xứ thiên, thức vô biên xứ thiên, vô sở hữu sứ. Ở những cõi trời này thì tuổi thọ nó lâu vô cùng, một ngày là cả trăm năm hoặc mấy trăm năm trên thế gian này. Vô trong những cảnh giới đó khó mà giác ngộ, cho nên chỉ có Đức Thế Tôn mới thấy biết hết tất cả.
Ba cái khác ái này phải đoạn tận. Đương nhiên là thích về cái dục này là không phải, thích hiện hữu là không phải, thích không hiện hữu cũng không phải. Vì còn thích là còn ái, yêu thích cái không có thì cũng là yêu thích. Đây là cái ái cao cấp những cũng ở trong luân hồi. Tại vì vẫn có cái mình thích ở đó, mình thấy cái thọ đó là thiệt, bị dính mắc vào cảm giác. Cho nên những cái này là những cái cái thiền định rất thâm sâu. Mình phải biết hết để sau này mình có hướng dẫn, mình có tu tập thì mình còn biết chứ không ngồi là "Yên quá, đã quá" là đi sai đường.
./.