Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng 6 Xứ - Biển & Người Câu Cá

2026-03-03 00:55:52
Nikāya Giảng Giải

Tương Ưng Sáu Xứ

Biển & Người Câu Cá

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Biển cả trong Chánh Pháp PAGEREF _Toc182844835 \h 1

II. Đoạn trừ tham ái – chấm dứt luân hồi PAGEREF _Toc182844836 \h 7

I. Biển cả trong Chánh Pháp

Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về Tương Ưng Sáu Xứ, phẩm biển, bài kinh Biển.

"-- 'Biển, biển', này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỳ-kheo, không phải là biển trong giới luật các bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu), này các Tỳ-kheo, là một khối nước lớn, là một dòng nước lớn.

Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỳ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

Ý, này các Tỳ-kheo, là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các pháp. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các pháp ấy, này các Tỳ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển ý, với những làn sóng, nước xoáy, các loại cá mập, các loại La-sát, đến bờ bên kia, và đứng trên đất liền.

Bậc Ðạo Sư nói như sau:

Ai vượt qua biển này,

Với cá mập, La-sát.

Với sóng biển hãi hùng,

Biển rất khó vượt qua,

Bậc tối thắng trí tuệ,

Ðã thành tựu Phạm hạnh,

Ðược gọi: "Ðến bờ kia",

Ðã đạt thế giới biên" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, I. Biển)

Kẻ phàm phu gọi cái là biển chỉ là một khối nước lớn, một dòng nước lớn thôi chứ không phải là biển trong giới luật của bậc Thánh. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là biển của người, tốc độ của nó làm bằng những hình sắc, âm thanh, mùi vị, những cảm giác, suy nghĩ bên trong. Nếu ai có thể vượt qua, có thể điều phục được những thứ đó, ai giáo dục, làm chủ, dạy dỗ được những thứ đó thì đó là người tu hành vượt qua khỏi biển mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, "Đã đạt thế giới biên" tức là đi đến tận cùng, vượt qua khỏi thế gian này. Đây là cái nghe vô thượng, không còn cái nghe nào bằng cái nghe này nữa, chúng ta hãy chiêm nghiện một cách sâu sắc những điều này.

Chúng ta phải chiêm nghiệm thật kĩ cái nghe vô thượng này, con mắt này được ví với biển cả vì nó không bao giờ đầy, không bao giờ thỏa mãn, tốc độ của nó làm bằng cái sắc, ai có thể điều phục được tốc độ ấy thì người đó vượt qua được biển mắt. Trong cái biển này có những làn sóng dữ, có những dòng nước xoáy, có cá mập, có những loài La-sát, trong biển dục tham này tốc độ của nó làm bằng các sắc.

Con mắt này là biển và đối tượng của nó là các sắc, tốc độ của biển này làm bằng các sắc, chỉ cần nhìn thấy sắc thôi là lập tức bị những làn sóng cuốn trôi, bị dòng nước xoáy nhận chìm, bị những dục, tham, ái, bị những tâm sân si cuốn trôi, ăn nuốt, giết hại. Chúng ta phải chiêm nghiệm thật kĩ tốc độ của nó làm bằng các sắc, khi nó nhìn thấy các sắc là rất nhanh, thọ do nhãn xúc sanh có tốc độ cực kì nhanh, nhìn một cái là tham, thấy một cái muốn, gặp một cái là ưa thích, say đắm liền vì tốc độ nó làm bằng các sắc.

Do duyên có con mắt và các sắc, sanh khởi ra sự rõ biết, ba pháp này hội tụ tạo ra nhãn xúc. Sự tiếp xúc của con mắt sanh ra cảm giác, độ mau lẹ của các pháp ấy được Đức Phật nói rằng tốc độ làm bằng các sắc, khi tiếp xúc sẽ sanh thọ; tưởng; hành ngay lập tức, căn – trần – thức – xúc – thọ – ái, tham hay sân hay là si. Và ai điều phục được tốc độ đó thì người đó mới điều phục được những thứ đó, chúng ta nhìn thấy căn nhà thân thương của mình, coi chừng cái đó nhận chìm mình, áo đẹp, nhà đẹp, gương mặt này, hình hài này mình thấy hài lòng, thỏa mãn là mình đang bị chìm trong biển mắt, biển thân, đang bị chìm đắm trong đó, đang bị những dòng nước xoáy nhận chìm mình trong đó. Người tu cũng vậy, yêu thích bộ đồ, bộ y hậu của mình, tịnh thất của mình, ngôi chùa của mình, vóc dáng, thân tướng của mình là mình bị chìm trong biển mắt của thân, mình không vượt qua được tốc độ. Hằng ngày chúng ta bị chìm đắm, bị nhận chìm, bị những làn sóng vỗ, bị những làn nước xoáy cuốn trôi mỗi khi mình nhìn, mình ngửi, mình nếm.

Lỗ mũi này, cái lưỡi này là biển, tốc độ của nó làm bằng hương và mùi vị cho nên buổi sáng chúng ta tu đến 8h, có khi đến 8h30 thì chúng ta phải vượt qua được tốc độ của nó, còn không thì sáng mở mắt ra là đi kiếm ăn liền, nghĩ ăn món này món kia cho nên thay vì sáng ra ăn món này món kia thì sáng chúng ta được ăn món bất tử, mình phải quán chiếu pháp vị bất tử, đó là tối thượng chi hương, vô thượng hương, chúng ta ăn món mà vô lượng kiếp vừa qua chưa từng thưởng thức, chưa từng nếm, đó là những món ăn bất tử.

Các loài cá mập La-sát nghĩa là ăn món không ngon rồi bực bội, khó chịu lên, mình nghe một cái là bực bội lên, sân hận lên, nói chung trong đây là tham sân, những cái dục tham, những cái sân hận, những cái sắc đẹp, âm thanh đó là biển cả mà chúng ta phải vượt qua, tốc độ của nó vô cùng ghê gớm. Nghe một cái là dục, tham, ái, nghe cái là bản ngã, sân hận, nhìn một cái thôi là yêu thích, khoan khoái.

Có khi nào nhìn vô gương chỉ thấy đầu lâu thôi không? Phải tập nhìn như vậy, đưa gương mặt mình nhìn vào gương chỉ thấy cái đầu lâu, đứng trước gương chỉ thấy bộ xương, chỉ có nhìn như vậy mới phá được thân kiến, mới vượt qua được biển cả của thân, nếu không ngồi thiền nhìn vào gương thấy dáng mình ngồi đẹp quá, còn nhìn ra đống thịt bầy nhầy, đống tim, gan, phèo, phổi bầy nhầy, nhầy nhụa, nhơ nhớp, có tu tập như vậy thường xuyên, liên tục thì mình mới vượt qua được cái biển của thân, cái biển của mắt này.

Mình chánh quán thọ thực, quán thức ăn bất tịnh, gớm ghiếc thức ăn thì mình mới vượt qua được biển cả của mũi, của lưỡi vì tốc độ của nó làm bằng hương và vị. Chúng ta tu mà không nghe cái này thì nghe cái gì? Ngày nào chúng ta cũng phải nghe, cũng phải ôn, cũng phải nhắc, cũng phải chiêm nghiệm, trong mỗi một bài kinh Đức Phật đưa ra một góc độ trí tuệ để chúng ta nhìn thấy, ngài đưa ra vô số hình ảnh, vô số ví dụ, vô số những pháp quán, vô lượng trí tuệ, ngài thương các con của ngài vô cùng nên hôm nay ngài chỉ cho cách vượt biển.

Thân là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các xúc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sự tiếp xúc ấy thì người ấy được gọi là người tu hành vợt qua khỏi biển thân. Nhiều khi nhức mỏi, buồn ngủ mà điều phục được nó, do duyên có thân có sự đụng chạm, có sự rõ biết, chỗ thân tiếp xúc sanh ra những cảm giác hoặc là tham ái hoặc là sân thì đó là tốc độ của thân là sự tiếp xúc và những cảm giác.

Quy kết lại chỗ tu phải nhìn lại thọ; tưởng; hành, niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, nãy giờ chúng ta nói không có gì nằm ngoài Tứ Niệm Xứ, không rời sự nhận diện ngũ uẩn. Ngoài ra còn ý nữa, cái này sâu xa, vi diệu, tinh tế, tinh vi, nhỏ nhiệm, có người thứ hai nào trên tam thiên đại thiên thế giới có thể nói ra lời này được, tốc độ của ý làm bằng thọ; tưởng; hành, làm bằng cảm giác, bằng suy nghĩ, bằng những hình bóng trong tâm, tốc độ của nó cực kì nhanh, thần tốc, tốc độ của nó còn hơn chư thiên sử dụng thần thông cho nên Đức Phật nói hãy tu tập thiền định, tu tập thiền tịnh sẽ hiểu biết như thật về thân xác này, hiểu biết như thật về các cảm giác, hiểu biết như thật về những hình bóng trong tâm, hiểu biết như thật về những suy nghĩ, hiểu biết như thật về nhận thức, về những sự rõ biết.

"-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Tâm của các bậc Thánh trầm tĩnh, chánh niệm và tỉnh giác, trong một trạng thái an tịnh lắng dịu nên các thọ; tưởng; hành không qua mặt các ngài được, còn mình bị nó qua mặt vù vù. Đừng nói chi ở ngoài mà ngay trong lúc ngồi thiền, đừng nói chi lúc sinh hoạt bình thường, đối đáp mà ngay cả khi trình pháp cũng bị nó qua mặt cho nên đây là cái trí tế nhị, thâm sâu, tinh vi, trí tuệ sắc sảo, sắc bén chính là trí tuệ ngũ uẩn. Một cảm giác khi nó sanh khởi lên là mình không kịp làm gì cả, không kịp làm chủ là nó đã phát ra miệng, cảm giác nung nấu lên rồi ý hành phát ra, khẩu hành phát ra và thân hành làm luôn, đi chung với nó là những hình bóng thúc giục bên trong, nó thúc giục trong lời nói, thúc giục trong hành động.

Tốc độ của nó siêu tốc như vậy mà chúng ta không có mức độ trầm tĩnh, chánh niệm và tỉnh giác thì chúng ta bắt nó không kịp, 10 lần thì chúng ta bắt kịp nó chừng 2-3 lần, giỏi lắm là 4-5 lần. Mình không chánh niệm tỉnh giác nên khi các pháp vận hành là mình mê luôn, không còn thấy nó là thọ; tưởng; hành nữa mà chỉ thấy đó là mình, là tôi, dính chặt trong đó, sau này khi nhớ lại thì hối hận, lúc đó chúng ta bị những làn sóng nước xoáy nhận chìm chúng ta, bị cá mập, cá sấu, thủy quái, yêu tinh ăn nuốt mình. Người nào điều phục được tốc độ làm bằng thọ; tưởng; hành đó thì người đó mới vượt qua biển ý, pháp hành tràn ngập trong những bài kinh này mà lúc trước mình đọc lại không biết.

Như vậy là trong người mình có 6 cái biển mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, chỉ cần vượt qua 6 cái biển này cũng đủ mệt rồi còn đi tìm cái biển nào bên ngoài nữa? Khi ngửi, khi nghe, khi thấy, khi nhận thức, tiếp xúc các pháp thọ; tưởng; hành trong tâm thì mình phải có sự bình tĩnh, đó gọi là chánh kiến, mình thấy ra các pháp là quán pháp trên các pháp thì mình mới có thể điều phục, chế ngự những cái tốc độ đó. Hãy điều phục, chế ngự tốc độ của sáu trần, đừng hơn thua những chuyện nhỏ nhặt, nhà to nhà nhỏ, chùa to chùa nhỏ… những cái đó không quan trọng, hơn nhau ở chỗ có vượt ra khỏi những cái biển này không, hơn thua, tranh giành để vượt ra khỏi những cái biển này mới gọi là hay.

Trong huynh đệ mình thấy có sư huynh kia trầm tĩnh, Phật tử nói lời khó nghe mà sư huynh vẫn nhẹ nhàng, gương mặt không đổi sắc, đáng nể phục nên phải tu để theo kịp sư huynh. Tranh với nhau để tu, so sánh với nhau để tiến lên, để vượt qua, để qua được bờ bên kia. Mình thấy Ni sư đức độ, hiền từ, khiêm cung, còn mình mới cạo đầu đã cống cao ngã mạn, ta đây, so sánh như vậy để tu làm sao hiền từ giống Ni sư, khiêm cung giống như vậy, đó là chỗ khéo tác ý của mình.

"--'Biển, biển', này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỳ-kheo, không phải là biển trong giới luật của bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu) là một khối nước lớn, một dòng nước lớn.

Này các Tỳ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, đây không gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, II. Biển (2))

Có những sắc đẹp, có những món đồ, có những cảnh vừa lòng, thích ý, hấp dẫn liên hệ đến ham muốn của mình thì đó là biển trong giới luật của bậc Thánh. Vừa nãy là nói biển bên trong, còn bây giờ là biển bên ngoài các sắc, có những con người, có những món đồ, chiếc xe, cảnh đẹp làm cho mình khoan khoái, đáng yêu liên hệ đến sự ham muốn của mình, thu hút mình, cái đó là biển trong giới luật của bậc Thánh. Tại sao về núi tu lại thấy an lạc hơn ở nhà, hơn ở phố? Mình tránh duyên xúc, mình thấy những cái đẹp đẽ, đáng yêu, thích thú thì thọ; tưởng; hành sanh khởi vì xúc là sanh thọ; tưởng; hành, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp cho nên mình thấy núi đồi, cây cối, trời mây tâm mình nhẹ lại dễ tu hơn, đó cũng là lý do chư Tỳ-kheo thời Đức Phật ở trong rừng, ở nơi xa vắng, ở dưới gốc cây, bên bờ suối, trong bìa rừng, trong thất trống hoặc trong bãi tha ma, trong hang động là nhằm tránh những cái biển này.

Lúc đầu Đức Phật nói con mắt là biển, là bên trong, nó là căn, còn bây giờ Đức Phật nói sắc đẹp là biển chính là trần, nó là đối tượng của con mắt. Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong các sắc do mắt nhận thức vừa lòng, thích ý, liên hệ đến sự ham muốn, thu hút, hấp dẫn. Phần lớn nhân thiên và ngay cả những bậc tu hành, không chừa ra thế giới của ma hay vua trời đều chìm đắm trong sắc, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, tức là nhiều sợi nhỏ quấn lại với nhau, xoắn chặt trong đó, rối rắm trong đó.

II. Đoạn trừ tham ái – chấm dứt luân hồi

Bây giờ mình tu mà mình nói rằng mình không bị dính sắc thì có đúng lời Đức Phật dạy không? Ngay cả vua trời, chư thiên, ma giới hay các bậc tu hành phần lớn đều chìm đắm trong sắc đẹp, trong những cái đáng yêu, đáng thích, những cái hấp dẫn liên hệ đến sự ham muốn của mình, chìm đắm trong đó rồi rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành một sợi dây bện bằng cỏ xoắn chặt trong đó, bị rối rắm, bị buộc chặt trong đó, bị điên đảo, bị sầu, bi, ưu, não trong đó, biết bao sân hận, thù hằn trong đó.

Ở đây chúng ta mới hiểu tại sao bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật được gọi là ruộng phước vô thượng ở trên đời giữa chư thiên và loài người, do các ngài đi ra khỏi những thứ đó, các ngài nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra cho nên các ngài mới là ruộng phước vô thượng giữa chư thiên và loài người. Những thứ đó làm cho tất cả chúng sanh si mê, điên đảo, đắm chìm, rối ren, đau khổ, giành giật, đấu đá, đâm chém, giết hại lẫn nhau, trong khi các ngài ly tham, từ bỏ, yểm ly, cái đó là sự tôn quý của tam bảo, là công năng của pháp bảo, là cái pháp mà đấng Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ. Ngay cả vua trời chứ đừng nói gì vua loài người cũng chìm đắm trong sắc, ngay cả ma giới, chư thiên, các bậc tu hành cũng chìm đắm trong sắc, đây là biển cả của sắc pháp nhận chìm tất cả chúng sanh trong dục giới, trong sắc giới, trừ cảnh vô sắc giới vì vô sắc giới là bị thọ; tưởng; hành; thức nhận chìm.

"Này các Tỳ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc do thân nhận thức..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, II. Biển (2))

Có những tiếng do tai nhận thức đáng yêu, đáng thích, vừa lòng, hấp dẫn liên hệ đến dục thì đây là biển trong giới luật của bậc Thánh, những âm thanh, những mùi hương do mũi nhận thức, những vị do lưỡi nhận thức, những sự xúc chạm, động chạm do thân nhận thức thì phần lớn chư thiên và loài người bị rối ren, bị bao trùm như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi, rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rơi xuống đường ác, rơi xuống chỗ sa đọa, vòng luân hồi quay tròn như bánh xe không thể thoát ra được.

Hết chạy theo cô này đến chạy theo cô kia, hết chạy theo ông này đến chạy theo ông kia, hết chạy theo xe này đến chạy theo xe kia, chạy hết từ nhà này đến nhà nọ, những cái đó chính là vòng luân hồi, tức là quay vòng trong những cái sắc đẹp đó, tài sản đó, những cái khả lạc, khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn rồi điên đảo trong đó, quay cuồng trong đó không biết đường ra. Đây là dục tham trong ngũ trần sắc; thanh; hương; vị; xúc, những cái này là đề tài thiền quán suốt đời của chúng ta.

"Này các Tỳ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, đây không gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, II. Biển (2))

Những hình bóng trong tâm, những cảm giác, nghĩ tưởng rất đáng yêu, rất thích thú, khoan khoái liên hệ đến ham muốn hấp dẫn, thu hút thì đây là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở một mình nhưng không khéo chánh niệm tỉnh giác quán chiếu thì vẫn bị chết chìm trong những cái này chứ đừng nói gì ở chỗ đông, ở một mình nhưng những hình bóng hiện ra mình thích thú, khoan khoái, mình yêu thích những cảm giác, suy nghĩ rồi mình chấp nhận nó thì đó là pháp ái.

Ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra không ai có thể chỉ ra cho mình những cái biển này, mình chỉ biết cái biển bên ngoài của phàm phu là một dòng nước lớn, một vũng nước lớn chứ không thấy được biển trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không thấy biển trong sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, mình không thấy được biển trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Cảm giác của chúng ta cũng là một biển, những hình bóng trong tâm cũng là một biển, những suy nghĩ đó là một cái biển, những nhận thức là một cái biển cho nên nhận diện ngũ uẩn quá là tuyệt diệu, tối thượng, đó mới gọi là thượng nhân pháp.

Cái pháp nhận diện ngũ uẩn nhìn ra được những cái tham, sân, si, lậu hoặc rồi nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch nó là thượng nhân pháp, là pháp của bậc Thánh, thượng nhân ở đây chỉ cho Đức Phật và các bậc A-la-hán, pháp này không phải của người bình thường vì chúng sanh bình thường không thể thấy nổi những pháp này. Chúng ta có thấy mình đang hạnh phúc khi học được thượng nhân pháp không? Đó là nghe vô thượng, học tập vô thượng, thấy vô thượng, phụng sự vô thượng, lợi đắc vô thượng, tùy niệm vô thượng, không có người thứ hai chỉ cho mình pháp này trong tam thiên đại thiên thế giới, chỉ cho mình vượt qua biển cả của khổ đau đến bến bờ bên kia.

"-- Ai đoạn trừ được tham, sân và vô minh, người ấy vượt qua biển khó vượt này, với các loài cá mập, các loài La-sát, với các làn sóng hãi hùng khó vượt này" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, III. Người Câu Cá)

Tham, sân và vô minh tức là tham, sân, si. Tham, sân, si đối với ngũ uẩn, đối với sáu căn, sáu trần mình đã nói ở trên. Đối với tham, sân thì dễ nhưng si mới khó, si là cái mà mình nhìn thấy bình thường không đẹp cũng không xấu, nghe thấy bình thường không thích thú cũng không bực bội, cái ngửi, cái nếm, cái ăn cũng bình thường, không thấy các pháp vận hành, không chánh quán thọ thực, không nhàm chán thức ăn, cái tham, sân có mãnh liệt nhưng mình để tâm vào phá trừ nó thì vẫn làm được, cái sân là thô bạo nên mình nhìn thấy, đi vào tham thì bắt đầu vi tế, nhiều khi trong bụng mình tham mà mình không nói ra nên người ta không biết, người ta để ý mới nhìn thấy nhưng còn cái si là cực kì vi tế cho nên nếu không tác ý, không thiền quán sẽ không thể phá nổi cái si này nhưng ba cái này dính chặt vào nhau, có hệ quả với nhau nên có cái này sẽ có cái kia. Đi từ cái thô chúng ta mới thấy được cái tế, cái sân là thô nhất, kế đến là tham, sâu thẳm bên trong là si, cái si là khi nào mình không thấy vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn là lúc đó mình si, lúc nào mình thấy có cái tôi thật sự là lúc đó mình si dù cho chỉ trong suy nghĩ, mình không đuổi suy nghĩ là mình, là của mình, mình chấp nhận suy nghĩ đó thì đó là si.

"Vượt trói buộc, thoát chết,

Không còn có sanh y,

Ðoạn tận mọi khổ đau,

Không còn phải tái sanh.

Sanh tử được đoạn diệt,

Bậc không thể so sánh,

Ta nói, vị như vậy,

Ðã hóa mù Thần chết" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, III. Người Câu Cá)

Vượt trói buộc thoát chết, không còn chỗ y cứ để thọ sanh nữa, chấm dứt mọi khổ đau, không còn phải sanh trở lại. Vị đã diệt hết sanh tử thì không có ai trên đời có thể so sánh được, Đức Phật hỏi các vị Tỳ-kheo có thấy một làn khói đen bay qua bay lại quanh thân xác một vị Tỳ-kheo mới viên tịch không, các vị Tỳ-kheo thưa có thấy thì Đức Phật nói rằng đó là ác ma đang đi tìm thức của vị Tỳ-kheo vừa qua đời đó, nhưng vị Tỳ-kheo đó nhập Niết-bàn là bậc Thánh Tăng A-la-hán nên ác ma cứ bay lòng vòng tìm mãi mà không tìm thấy thức của Tỳ-kheo đó cho nên câu kinh ở trên Đức Phật nói đã hóa mù thần chết.

"-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?

-- Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: 'Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?'. Và này các Tỳ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), III. Godhika)

Một vị đã sạch hết tham, sân, si, đã ly tham, từ bỏ ngũ uẩn thì không có con mắt nào có thể nhìn thấy được, đã vượt ra khỏi ngũ uẩn, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đã phá bỏ bọt nước hư ảo, đã chứng được tâm bất động giải thoát, không còn chịu sự chi phối của thần chết.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá trong hồ nước sâu, quăng xuống một lưỡi câu có mắc mồi. Một con cá, với mắt nhìn vào mồi, nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá ấy vì nuốt lưỡi câu, đi đến bất hạnh, đi đến ách nạn, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có sáu lưỡi câu này ở trong đời, đưa đến bất hạnh cho các loài hữu tình, đưa đến tai hại cho các loài chúng sanh. Thế nào là sáu?

Này các Tỳ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỉ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Có những tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức... Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân nhận thức...

Này các Tỳ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỉ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, III. Người Câu Cá)

Nếu vị nào hoan hỉ sắc ấy, thích thú, vui sướng, khen ngợi, ham muốn, lưu luyến, đắm mình trong đó thì người đó đã nuốt lưỡi câu của ác ma, đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Chúng ta đã bị dính mồi lần nào chưa? Một ngày chúng ta cắn mồi bao nhiêu lần? Mình bị dính lưỡi câu rồi đau đớn, chảy máu, sắc đẹp chính là lưỡi câu, âm thanh dễ thương, ngọt ngào đó là lưỡi câu, "con quý thầy lắm", "con kính thầy lắm", "con thương thầy lắm" chính là lưỡi câu, các sư cô cũng phải để ý, các Phật đi chùa nói với các chú tập sự xuất gia "con quý chú lắm", "con kính chú lắm" là lưỡi câu, là miếng mồi, cắn vào rồi là người ta muốn làm gì là làm.

Đức Phật rất thương chúng ta, ngài dùng biết bao hình ảnh minh họa, ví dụ để mình quán chiếu, các lưỡi câu này đầy rẫy xung quanh chúng ta, sơ hở một chút thôi là cắn trúng, sắc đẹp, tiếng hay, mùi dễ chịu, món ăn ngon, sự xúc chạm và cái sâu xa nhất là những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm là những miếng mồi đưa đến bất hạnh, đi đến ách nạn, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.

"Này các Tỳ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo không hoan hỉ các sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Này các Tỳ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức... Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân nhận thức...

Này các Tỳ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo không hoan hỉ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là vị không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, III. Người Câu Cá)

Khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi biết, khi xúc đều biết các pháp đó là vô thường, là khổ đau, là bất an, là tai họa, là thứ ác độc, giết người, là miếng mồi, là lưỡi câu, là sự tai họa, ách nạn để từ đó có sự thu nhiếp, giữ gìn, có sự nhàm chán, ly tham, viễn ly, có ý niệm từ bỏ, thoát ra, xuất ly thì Đức Phật nói người đó "đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm", người đó đi đến chỗ hạnh phúc, đi đến chỗ an toàn, đi đến chỗ tự do tự tại. Hôm nay chúng ta học ba bài kinh Biển 1, 2 và bài kinh Người câu cá.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.