Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Quán Chiếu Tứ Đại 2- Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 2

2026-03-03 00:55:52
Kinh Nikāya Giảng Giải

Quán Chiếu Tứ Đại 2

Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu tứ đại PAGEREF _Toc161993612 \h 1

Thủy giới PAGEREF _Toc161993613 \h 1

Hỏa giới PAGEREF _Toc161993614 \h 7

Phong giới PAGEREF _Toc161993615 \h 8

I. Quán chiếu tứ đại

Thủy giới

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Đại kinh ví dụ dấu chân voi. Trong bài kinh này tôn giả Xá-lợi-phất trình bày cho chúng ta thấy được sự tham dục, chấp trước, tham đắm, say mê trong năm thủ uẩn này là nguyên nhân của khổ đau. Đầu tiên tôn giả trình bày cho chúng ta thấy về sắc thủ uẩn, sự nắm chặt vào tổ hợp của sắc pháp, sự chấp trước, say mê trong tổ hợp hình tướng, hình hài, hình sắc sẽ làm chúng ta đau khổ rất nhiều, đau khổ không biết bao nhiêu mà nói, không những trong đời này mà còn trong kiếp khác và trong nhiều kiếp vì sự không thấy, không biết, không tận tường, không minh bạch rõ ràng, danh từ chuyên môn là vô minh, tức là không sáng tỏ về sắc uẩn, về tổ hợp của hình sắc nên chúng ta nắm chặt trong hình hài, hình dáng, hình thù này, chúng ta đi hết cái khổ này đến cái khổ kia.

Ngài phân tích, khai thị, trình bày, mở ra cho chúng ta thấy được bản chất thật sự của sắc chất này là gì, đó là ý nghĩa đầu tiên chúng ta đang tìm hiểu, hôm trước chúng ta chỉ mới thấy rõ được nội địa giới và ngoại địa giới và hôm nay chúng ta thấy thêm yếu tố thứ hai để kết thành hình thể trong ngoài của sự vật, hiện tượng là thủy giới. Giới là giới vực, phạm trù, lãnh vực, những gì thuộc về nước thì gọi là thủy giới

"Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Như vậy trong thân này những gì thuộc về chất lỏng thì gọi là thủy giới, khi nói đến đâu là quán tưởng hình ảnh ra đến đó, khi nói đến đâu là vận dụng thọ; tưởng; hành, tùy văn nhập quán lập tức. Tâm tham muốn, nắm bắt, say mê trong những thứ đó gọi là cái chấp thủ và máu mủ, mỡ, mồ hôi.. là cái bị chấp thủ. Cái bị chấp thủ là những thứ thuộc về nước ở bên trong thân, cái chấp thủ là những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng cho rằng cái đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và tôi say đắm, yêu thích, khao khát thì ý nghĩ, cảm thọ, tư tưởng đó là cái chấp thủ.

"Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Cần phải quán sát đúng sự thật dù cho những thứ chất lỏng trong thân này hay những thứ nước bên ngoài "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi quán sát đúng như thật về bản chất của nó bằng trí tuệ chân chánh thì vị này sanh khởi lên sự chán lìa đối với thủy giới, máu mủ, đàm giải, mồ hôi, những chất dịch tanh hôi thì làm sao thích cho được, chỉ là những thứ tanh hôi, bất tịnh nhưng tại sao lại có chữ "bị chấp thủ" trong kinh, là do tâm vô minh, không thấy không biết bản chất của nước.

Từ vô minh mới sanh ra tham ái, vì không rành rõ, thấu đáo tận tường nên lầm tưởng nó là thơm tho, sạch đẹp rồi say mê, tham dục, đam mê cho nên những ý nghĩ, cảm giác, tư tưởng trong tâm bị trói cột vào nước bên trong thân. Không phải chỉ tu đơn giản là có thể phá được chấp thủ này, phải nghe rồi tư duy, quán chiếu nhưng không phải một ngày một bữa là xong mà phải làm liên tục trong từng giây từng phút và làm trong nhiều ngày, nhiều tháng cho đến nhiều năm, quán cho đến lúc mạng chung thì mình mới có thể tháo gỡ được suy nghĩ "đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi".

Đến khi nào tháo gỡ được suy nghĩ đó, cảm giác đó, tư tưởng đó thì lúc đó mình thể nhập sự thấy biết của bậc Thánh, gọi là thể nhập Thánh tri kiến, ngày nào mình còn cho những thứ mủ, máu, mồ hôi, đàm giải, mỡ… này là tôi, là của tôi thì mình còn đau khổ với những thứ đó, mình còn đam mê, chất chứa, chấp thủ trong đó thì đó là nguyên nhân của khổ, cho đến khi nào nhiếp phục tham dục với thủy giới này, từ bỏ tham muốn đối với những thứ này thì lúc đó là lúc chấm dứt khổ đau, gọi là Khổ Diệt. Từ cái thấy sai sẽ có nghĩ sai, nói sai, làm sai, cuộc sống sai, biết bao sự nỗ lực đều sai, tư duy quán sát sai, tập trung tâm ý cũng sai nên trở thành bát tà đạo, tám cái sai.

"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư Hiền, một thời xảy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người, dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để thấm ướt đốt ngón chân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Một do tuần dài khoảng 18 cây số, nước biển có khi dâng lên cuốn trôi tất cả, có khi lại cạn kiệt không còn nước nữa, rồi các mặt trời xuất hiện, nếu cả bảy mặt trời cùng xuất hiện thì nước ở các đại dương sẽ nhanh chóng khô kiệt. Tất cả tứ đại hải dương còn khô cằn, đáy biển lộ ra, nước chỉ còn đến mắt cá chân thì huống hồ gì một chút nước trong thân thể nhỏ bé do khát ái, vô minh hình thành này làm sao có thể thường còn, bất biến được.

"Tôi" là một sự trống rỗng, là một mớ nước, một mớ đất, gió, lửa kết hợp ra, bất cứ lúc nào nước này cũng có thể trả về thủy đại ở bên ngoài, chỉ cần tắt hơi, tai biến, hoặc tiếp xúc với người nhiễm bệnh là tất cả nước bên trong sẽ trở về nước bên ngoài, lúc đó máu này của ai, nước mắt này của ai, hồ hôi này của ai? Nước trở về nước, đất trở về đất, về với cát bụi, bản chất của thủy đại là như vậy, bản tánh của thủy đại là như vậy, đặc tính của thủy đại là như vậy, dù cho là nước bên trong nội thủy giới hay nước bên ngoài là ngoại thủy giới thì tất cả chúng nó có bản tính là vô thường, đổi thay, hủy hoại, chấm dứt, là đoạn diệt, biến dịch, rỉ chảy. Tìm cái ta ở đâu trong này? Máu là ta ư? Mủ là ta ư? Những chất dịch là ta ư? Đàm giải là ta hay mồ hôi của ta? Cái nào của ta và cái nào là tự ngã của ta?

"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: 'Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc'. Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Không thể tự động có ra cảm thọ mà phải có sự tiếp xúc mới có cảm giác cho nên vị ấy thấy sự tiếp xúc này là vô thường, là đổi thay, sự tiếp xúc này là tạm bợ, là chóng vánh, là thoáng qua. Vị ấy thấy những cảm giác này là vô thường, là mau nhanh. Vị ấy thấy những hình bóng trong tâm là ảo tưởng, vọng tưởng. Vị ấy thấy mọi sự suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm là dịch chuyển, là vô thường. Vị thấy thấy rõ sự nhận thức này là pháp duyên sanh, phải có con mắt, có đối tượng bên ngoài, khởi lên sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt rồi sanh ra cảm thọ thì những sự tiếp xúc đó là vô thường, những cảm thọ đó là vô thường, những hình bóng đó là vô thường, trong đó có sự nhận thức cũng là vô thường, chúng nó chỉ là sự giao thoa, gặp gỡ chứ tự thể nó không có.

Ai thấy được lý duyên khởi này thì người đó thấy pháp, ai thấy được pháp thì người ấy thấy lý duyên khởi, tức là đối với người tu khi nhìn lại các pháp đang vận hành là đất, nước, gió, lửa, căn, trần, thức, xúc, thọ thì người này không thấy có một cái tôi, không thấy một cái tự ngã trong đó mà người này chỉ thấy đây là những pháp đang vận hành, đang duyên sanh, đang lắp ráp để sanh khởi ra tham muốn, sân si, bản ngã, sanh khởi ra hơn thua, cao thấp, đúng sai, đó là Khổ-Tập Thánh Đế.

Nếu mình đi theo sự vận hành đó, cho rằng có một cái tôi, một cái tự ngã của tôi trong đó thì nó trở thành nguyên nhân của khổ, còn thấy nó là sự vận hành của pháp, là một đống những thứ vô thường thì không đau khổ, một đệ tử chân chánh của Đức Phật phải thấy đây là sự vận hành của pháp duyên khởi, sự vận hành của duyên sanh, sự vận hành của duyên hệ, chúng nó nhóm họp với nhau rồi sanh ra cảm thọ mà cảm thọ đó là vô thường, sự tiếp xúc là vô thường, căn trần là vô thường, thức là vô thường.

Mình gỡ bỏ ý niệm tôi và của tôi trong suy tư, cảm giác, nghĩ ngợi của mình thì tâm sẽ hoan hỉ, thích thú vì ai thấy pháp là người đó thấy được Như Lai, ai thấy lý duyên khởi là người đó thấy được sự thật của vạn vật, còn thấy một tự ngã, một cái tôi, ta rồi so đo, hơn thua, cao thấp thì đó là thấy trong vô minh, tham ái, chấp thủ, tự ngã, như thế là vĩnh viễn và mãi mãi khổ, toàn bộ đống khổ uẩn này sẽ tập hợp và sanh khởi do cái thấy sai lầm của tà kiến, của sự chấp thủ.

Phải nắm vững pháp hành này thì khi thực tập thiền quán, lúc tiếp duyên xúc cảnh, lúc đối nhân xử thế mới thấy được pháp đang vận hành như thế nào, không có một cái tôi trong đó mới đúng là sự thật, còn thấy có một cái tôi là thấy sai, từ cái thấy sai này dẫn đến biết bao hậu quả khôn lường, khủng khiếp là nước mắt và máu, đâm chém, giết hại lẫn nhau vì thế phải nắm thật vững pháp hành này mới thấy được giá trị của pháp.

"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: "Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm". Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành. (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Vì thân này được kết hợp từ tứ đại, từ vô minh, tham ái, chấp thủ cho nên phải chịu sự xúc chạm như vậy. Một người thấy pháp, hiểu được giá trị của pháp thì dù cho bỏ thân mạng này, dù cho hình hài này có tan nát thì vị này cũng không quên pháp, không quên hướng về pháp mà sống trong pháp, trú trong pháp.

"Chư Hiền, Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: 'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú'". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Cái tâm chưa hoàn toàn buông xả mà bị dao động mạnh thì phải như lý tác ý "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Vị này phải nỗ lực an trú cho đến khi nào thành tựu được tâm buông xả thủy giới, tức là không nắm giữ, chấp thủ về thủy giới trong thân hay thủy giới ngoài thân, trong suy tư, cảm thọ hoàn toàn buông xả, không có tôi, không có cái của tôi trong đây.

Phải thấy được lý duyên khởi, phải thấy được pháp, phải thấy đây chỉ là căn, trần, thức, xúc, thọ chứ không có tự ngã trong này, nó chỉ là một đống gió, lửa, đất, nước mà thôi. Nếu làm được như vậy thì ngài Xá-lợi-phất tán thán, ca ngợi đã làm nhiều lắm rồi, các ngài Tỳ-kheo thời Đức Phật tu như vậy đó, đó là công việc của người tu, là bổn phận và trách nhiệm của người tu, nghĩa là tâm thành tựu trí tuệ duyên khởi vô ngã đối với tứ đại ngũ uẩn, như vậy là thành công.

Hỏa giới

"Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.

Chư Hiền, một thời xẩy ra khi hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn, thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ. Lửa cháy cho đến cuối hàng cây cối, cho đến cuối hàng đường lớn, cho đến cuối hàng chân núi, cho đến cuối hàng thủy biên, hay cho đến cuối hàng khu đất khả ái, rồi lửa bị tắt vì không nhiên liệu. Chư Hiền, một thời xảy ra khi loài người đi kiếm lửa phải dùng lông gà và dây gân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại hỏa giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Nhờ có nội hỏa giới mới có thể tiêu hóa được thức ăn, mới giữ ấm cơ thể, làm cho thân thể tuần hoàn. Khi nãy là đại thủy tai còn giờ là đại hỏa tai, cả đất nước thậm chí cả hành tinh này sẽ bị thiêu cháy khi đại hỏa tai xảy ra.

Phong giới

"Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.

Chư Hiền, một thời xẩy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong tìm được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ; tánh đoạn diệt có thể nêu rõ; tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Mình phải quán chiếu bất cứ lúc nào thân này cũng có thể tắt thở, bất cứ lúc nào cũng có thể lạnh ngắt, cứng đơ cho nên không có cái tôi trong đó. Khi đại phong tai nổi lên là bão tố, thổi bay hết tất cả làng mạc, thị trấn, quốc độ, đại tam tai là nước dâng lên, lửa thiêu rụi mọi thứ và gió thổi bay tất cả vậy mà nó còn đi đến tan biến, chấm dứt và hoại diệt thì huống hồ gì thân nhỏ bé, ngắn ngủi, tạm bợ, vô thường, mong manh này.

Phải thấy rõ được tính chất tạm bợ, tính chất mong manh, tính chất ngắn ngủi, nhỏ bé, tính chất đột ngột, đột biến, tính chất đồ gốm của thân này, dễ tan rã, dễ bể nát, dễ chấm dứt và rất dễ ngã xuống, nhất là trong thời đại dịch bệnh này hai mươi mấy ngàn người đã ra đi, đó chỉ là con số thống kê được, con số thật sự có thể gấp ba, bốn lần như vậy, cả thế giới đã trên năm triệu người chết nhưng sự thật còn gấp nhiều lần hơn thế nữa, đó là tính vô thường của địa đại, phong đại, hỏa đại, thủy đại.

Trong vòng vài tiếng thôi mà mất cả cha lẫn mẹ, trong một ngày mất năm bảy người cùng một gia đình, chúng ta quán chiếu như vậy, tư duy như vậy, thẩm thấu như vậy để chúng ta sanh ra sự chán lìa, không ham muốn, không tham đắm, say mê, chấp thủ trong đó, chỉ thấy ngao ngán, nhàm chán, hướng đến từ bỏ, ly tham, không thích thú thân xác già nua, bệnh hoạn, chết chóc, đời sống đầy bất an, lo lắng, chán ngán đời sống lúc nào cũng phải đề phòng người này hại, người kia hại. Thật là mệt mỏi!

Hết tham lại tới sân, hết sân lại tới bản ngã, hết bản ngã lại tới hơn thua, tật đố, nếu không an trú trong pháp thì sống trong chùa chỉ vài người nhưng cũng mệt mỏi, hết để ý lại moi móc, nhìn ngó, bới lông tìm vết, nói xấu. Nếu biết an trú vào tâm hiền, tâm thiện, tâm từ, tâm thấu hiểu, cảm thông, độ lượng, tâm nhìn thấy đau khổ vĩ đại trong cuộc đời này thì chúng ta mới có thể xả bỏ lòng dục, lòng tham, lòng ái, mới lắng dịu bớt tâm sân hận, tranh đấu, bức xúc, chúng ta phải thấy nỗi khổ lớn lao này bao trùm cả thân tâm, đời sống này thì chúng ta mới giảm bớt vô minh, nhiếp phục tham ái, tham vọng, mới có thể hạ thấp và cúi đầu xuống lạy sám hối diệt ngã, sống đời sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm nhã, khiêm tốn.

Khi nào mình thật sự thấy hình hài này, thể xác này, thân tướng này là khổ đau, vô thường, tan nát, biến dịch, là đống tro, là cơn gió, là đốm lửa, nó lắp ráp, tụ họp một chút thôi rồi ngọn lửa cũng tắt, hơi thở dừng lại, hai tay buông xuống, cuối cùng là một tử thi lạnh ngắt xanh rờn, là một cái hòm ngoài nghĩa trang, cuối cùng là một nắm tro tàn, có gì đâu nhưng lại chất chứa biết tham dục, tham ái, sân si, vô minh, bản ngã, những sự tranh đấu, tật đố, ganh tỵ từng lời nói, ánh mắt, hành động.

Chỉ có người không thấy khổ mới đi theo con đường tà, con đường hiểm nguy, gai góc, con đường đầy tai họa, bất an và đau khổ, đó là con đường của sân hận, vênh váo, cao ngạo, ganh tỵ, đố kỵ, đó là lý do học kinh Nikāya lúc nào cũng nói phải nhìn thấy được Khổ Thánh Đế vì nếu không thấy khổ thì làm sao tu được, chỉ thấy vui, sung sướng, thích thú thì không thể nào tu được, nếu thấy vui, thấy thích sẽ tham, dục, ái, thấy vui, thấy thích sẽ có ra sân hận, so đo, hơn thua, thấy hoan hỉ trong này thì mình sẽ làm hang ổ, làm sào huyệt trong thân xác này, chấp thủ trong này rồi đến khi nào mới thoát ra, đến khi nào mới viễn ly, xuất ly, đoạn ly, cho nên cốt tủy của tạng kinh Nikāya là phải thấy bản chất khổ, vô thường, tan hoại, hoại diệt, nhất là trong thời đại này còn không thấy khổ thì đến khi nào mới thấy được.

Dịch bệnh là thảm họa của toàn cầu, nước mắt ràng rụa khắp mọi nơi, từ hàng xóm cho đến trong gia đình mình, sự tiếc nuối, chia lìa, bất an, sợ hãi bủa vây khắp thế giới mà mình không thấy khổ thì đến khi nào thấy khổ, vì vậy tu theo tinh thần nguyên chất của Đức Phật là phải thấy Khổ Thánh Đế, thấy được bản chất của khổ, thấm cái khổ rồi mới có động lực thoát khỏi khổ, phải thường xuyên nhìn vào thân này để thấy nó là ổ vi trùng, là sự bất tịnh, lo lắng, sợ hãi, nhìn trong tâm chỉ thấy sự thiêu đốt, sân hận, tức giận, hở chút là tao, tôi để không ưa thích, không hoan hỉ, không tạo dựng các hành, chỉ muốn yểm ly, chán ngán, xa lìa, hướng đến từ bỏ để thoát ra khỏi tứ đại ngũ uẩn này, đó là Thánh trí tuệ mà Đức Phật truyền trao cho mình. Thế Tôn đã nói tất cả dấu chân của các loài vật đều quy tụ trong dấu chân voi vì đó là dấu chân rất to lớn, cũng vậy, tất cả thiện pháp đều quy tụ vào Tứ Thánh Đế, phải thấy khổ, người nào thấy khổ xác quyết thì người đó Nhập Lưu vào Thánh quả thứ nhất.

Cái khổ bủa vây xung quanh ta nhưng vì ta quá vô minh mới không nhìn thấy nó, cứ tham dục, tham ái, say mê nên làm sao biết khổ, không có chánh tri kiến nên mình không thể nhìn thấy được, mình sống với tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, trong vô thường lại thấy thường còn, trong cái khổ lại thấy là vui, trong cái dơ bẩn lại thấy sạch sẽ, trong cái vô ngã lại nghĩ có tôi, có tự ngã.

Không những chỉ có bài kinh này mà toàn bộ tạng kinh Nikāya cho chúng ta nhìn thấy được thật sự thân này do cái gì kết hợp tạo thành, nhiễm dịch bệnh được đưa vào bệnh viện rồi trở nặng nên các y bác sĩ cho nói điện thoại lần cuối với gia đình, nói xong hay tay buông thõng xuống, hơi thở dừng lại, phong đại tắt đi, hỏa đại không còn nên cơ thể lạnh ngắt, cơ thể trương sình nứt nẻ, máu mủ chảy ra, những chất dịch chảy ra là thủy đại, từ trong cơ thể sanh ra giòi bò lúc nhúc đầy thân, tấm thân mà chúng ta yêu thương, nâng niu, chiều chuộng rồi bây giờ trở thành thây ma.

Mình có thấy mình sai lầm, mình vô minh không? Mình đau khổ với tấm thân này không biết bao nhiêu cho đủ, người ta nhìn không thiện cảm là mình bực bội, tức giận, nghe tiếng nói chói tai là cái thọ phừng lên, dã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì, cả cuộc đời chúng ta là đuổi hình bắt bóng, là xây lâu đài trên bãi cát vì những mộng tưởng, ảo tưởng, lầm tưởng trong tứ đại này là tôi, đó là một sự sai lầm đau khổ nhất, cái thấy sai lầm này đưa đến sự nắm giữ, khoan khoái, yêu thích và đau khổ chứ không có ai làm cho mình khổ, chính cái thấy sai đưa đến hệ lụy không phải chỉ trong một đời này mà là trong trăm kiếp, ngàn kiếp và vô lượng kiếp.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi) 

Chúng ta phải nắm được cương lĩnh, cốt lõi của sự hành trì vì nếu không chúng ta chỉ hướng ra ngoài trên hình thức, như vậy sẽ uổng cho đời tu, trí tuệ không tăng trưởng, sanh khởi được, chánh tri kiến không thành tựu. Đối với phong giới, trong mỗi hơi thở vào ra chúng ta phải nhìn thấy rồi tác ý "hơi thở này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi" để loại bỏ ý nghĩ đất, nước, gió, lửa này là tôi. Trí tuệ của Đức Phật là phơi bày ra toàn bộ sự thật, ngài mở từng bộ phận của chiếc xe ra để chúng ta thấy rõ bản chất của nó, Đức Phật là nhà kĩ sư tối thượng trong tam giới, ngài nói rõ 32 thể trược, nói rõ từng loại cảm thọ, tưởng, hành, thức, ngài nói cho chúng ta biết tại sao nó sanh ra, làm sao để chấm dứt, nó vận hành thế nào, vị ngọt ra sao, sự nguy hiểm và tác hại như thế nào và con đường thoát ra khỏi nó chứ không phải chỉ đơn giản nói rằng "nó không phải là tôi" là xong, đó là chỉ nói trên miệng, Đức Phật phải nói từng phần như vậy vì ngài muốn cho chúng ta thấy trong đây không có cái gì là cái lõi cả mà chỉ là trống rỗng, cái thấy vô minh và tham ái của mình là nguyên khối tưởng rồi mình cho nó là tôi, mình không biết nó có rất nhiều thứ kết hợp lại thành. Mỗi một hơi thở vào ra mình phải thấy đó không phải là mình mà chỉ là gió thôi.

"Đem vào là nhờ gió,

Tống ra cũng gió đưa.

Sự hô hấp tuần hoàn,

Tất cả đều do gió.

Một phen gió nghiệp dừng,

Thân này như khúc gỗ".

(Gió Nghiệp - Thiền viện Chân Không, tháng 8. 1982)

Mỗi khi uống nước, mỗi khi cơ thể rỉ chảy ra cái gì thì phải biết đó là thủy đại, còn khi thấy có hơi nóng bừng bốc trong tâm thì biết hỏa đại đang vận hành nên phải tác ý để giảm nhiệt, mình không thấy có cái tôi đang giận mà phải thấy rằng hỏa đại đang bốc lên, gỡ bỏ quan niệm "tôi là", "của tôi" ra khỏi thân tâm, gỡ ra từng chút một rồi mình sẽ thấy kết quả rất tuyệt diệu, cho đến khi chùa có sập mình vẫn thấy bình thường vì đã biết bản chất của sắc uẩn là tan nát nên không buồn khổ, khi tu thuần thục thì nếu thân này có bị đập, bị đánh, bị đâm, bị chém mình vẫn có thể nhiếp phục được các cảm thọ.

Nếu không làm được thì làm sao có các bậc A-la-hán, làm sao lại có Đức Phật, chẳng lẽ Phật và các bậc Thánh Tăng nói dối hay sao? Cho nên phải tịnh tín bất động mới thành tựu được pháp, còn nghĩ rằng khó quá không làm được thì suy nghĩ đó sẽ giết mình chết, hủy bỏ tiền đồ, tương lai tu tập của mình, chỉ với một ý nghĩ làm không được sẽ đóng bít cánh cửa giác ngộ vĩnh viễn và mãi mãi cho nên phải tin vào pháp, tin vào Đức Thế Tôn, tin vào sự chứng ngộ của Thế Tôn, tin vào những lời kinh Nikāya.

Minh Thành đang ngồi nói chuyện là gió, tấm thân đang ngồi là đất, trong cơ thế có hơi ấm là lửa, nước trong cơ thể có, ly nước bên ngoài cũng có, uống nước là đang đưa nước từ bên ngoài vào bên trong cơ thể. Chúng ta phải tập nhìn mọi thứ bằng pháp, bằng trí, nhìn bằng sự thật, còn lúc học thì biết vậy nhưng khi trở ra lại sống với tập khí, thói quen, sống với cái nhìn của phàm phu thì đến bao giờ mới thể nhập vào pháp?

Mỗi bước chân là gió đang vận hành chứ không có người nào đang đi, mình cảm nhận tim đang đập, máu huyết lưu thông tuần hoàn, thấy vóc dáng này là địa đại, phải tập nhìn như vậy từ từ chứ không phải mới vào đã muốn chứng ngộ, phải tách suy nghĩ "tôi" và "của tôi" ra khỏi ý hành, tác ý "đây là thứ vô thường, tan vỡ, tan hoại, đây là thứ đồ gốm dễ bể. Không có ai trong này", thường tác ý, quán chiếu, tư duy như vậy mới tháo gỡ từ từ những tà kiến, những cái thấy sai lầm về tứ đại này, cho đến khi nào mình hoàn toàn thấy đúng thật sự là tứ đại, không có mình trong đó thì mình Nhập Lưu, thể nhập vào dòng Thánh trí huệ, chính thức là Thánh đệ tử của Đức Phật, bước vào hàng bốn đôi tám chúng, đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Phải thường tác động tâm ý, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tâm mình đi theo đạo lộ của bậc Thánh, Thánh pháp, Thánh tuệ, đừng để suy nghĩ theo phàm phu, thường tình, bắt nó đi vào trí tuệ thì sự tu chúng ta sẽ sâu sắc, sự tu mới khai thông được trí tuệ bậc Thánh trong con người mình, có như vậy chúng ta mới tiếp được mồi lửa từ đuốc Thánh của Đức Phật mồi qua ngọn đèn đã tắt từ vô lượng kiếp của mình, ánh sáng này sẽ được cháy tỏ rồi mình mới thấy được thân tâm ngũ uẩn của mình, còn học xong mà xếp sách lại trả cho thầy, cho Phật là vĩnh viễn ngọn đèn đó không bao giờ được thắp lên, ánh lửa bên kia chỉ là ánh lửa bên kia, không thể thắp sáng được ngọn đèn bên này.

Đức Phật đã nói hãy tự mình thắp đuốc cho chính mình, thắp lên ngọn đuốc chánh pháp, những gì mình học là Thánh trí huệ, đó là ngọn đuốc Thánh, còn bên mình là vô minh, mình có đèn, có dầu, có tim, có bấc nhưng không có lửa, phải nhờ lửa bên ngọn đuốc Thánh mồi sang thì ngọn đèn của mình sáng ra, tức là thấy được năm uẩn là thấy tham, sân, si, lậu hoặc vận hành trong tâm, thấy được Khổ Thánh Đế.

Phải thấy bằng con mắt tâm, thấy bằng trí tuệ chứ không phải chỉ nghe ngoài tai, sau khi nghe phải soi rọi vào bên trong để nhìn thấy được tất cả mọi hoạt động đi, đứng, vận hành đều nhờ gió, do sức gió di chuyển chứ không có cái tôi nào ở đây. Mỗi buổi tối vào mùng nằm ngủ phải thấy rằng mình đang chui vào hòm, mình thử quán chiếu nếu mình tắt thở nằm đó thì như thế nào, phải như vậy mình mới xả bỏ, buông bỏ ý nghĩ sai lầm chấp thủ vào tấm thây này rồi cho đó là tôi, là của tôi.

Phải tu từng suy nghĩ, từng ý nghĩ, tu trong từng cảm thọ, từng hình bóng trong tâm, thọ; tưởng; hành phải được nhìn thấy, phải được Thánh trí huệ soi sáng, phải được Thánh trí huệ dẫn dắt, hướng dẫn, đi đúng Thánh đạo thì mới có Thánh quả, còn không đi đúng Thánh đạo thì làm gì có Thánh quả. Đạo là con đường, Thánh quả là chỗ hướng đến, nếu không đi đúng đường thì không thể đến đúng chỗ.

Đây chính là phần quán tứ đại trong Thân Hành Niệm, Thân Hành Niệm có sáu khía cạnh, còn gọi là hương vị của bất tử. Đức Phật dạy quán tứ đại, quán oai nghi, quán hành động, quán ba mươi hai thể trược, quán hơi thở và quán chín giai đoạn của một tử thi, đây chính là hương vị của bất tử, nếu người nào thực tập cái này thì Đức Phật gọi là nhập vào bất tử giới. Đây là phần tu tập niệm thân trên thân và cũng là phần tu tập phá sự chấp thủ vào sắc thủ uẩn, chúng ta đang học về sắc thủ uẩn, ngài Xá-lợi-phất trình bày sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành, cho nên chúng ta phải thường niệm về tứ đại chứ không phải nói tứ đại giai không rồi bỏ qua.

Cho đến khi nào mà bị đánh, chửi, mắng, hủy nhục mà tâm không dao động, hoàn toàn tương ưng với xả, tức là buông xả được chấp ngã thì mới là người tu làm nhiều, mới thành công, hoàn toàn phá vỡ thân kiến, chấp thủ về bản ngã đối với tứ đại, nếu tu chưa được như vậy mà còn dao động, còn sân hận phải thường tác ý "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Phải tác động tâm ý, la rầy, quở trách tâm mình, bắt nó phải tăng thượng giới, định, tuệ, tăng thượng trên con đường Thánh trí tuệ, trên đạo lộ phá vỡ vô minh, tham ái, chấp thủ để giữ được trí sáng, giữ được tâm tu. Cho đến khi nào đạt được tâm bất động dù có gì xảy ra, thậm chí mất mạng thì ngài Xá-lợ-phất mới khen ngợi.

"Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỳ-kheo ấy được hoan hỉ. Chư Hiền, đến mức độ này, Tỳ-kheo đã làm thật nhiều". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Tâm vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ vì đã thấy được pháp, thấy được Thánh đạo, thấy được duyên khởi vô ngã. Tùy thuộc đối tượng mà tâm vị này nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, không bị cảnh giới bên ngoài tác động vì họ đã chứng nhập vô ngã trí, như vậy chỉ có khổ luyện mới thành công, khổ luyện mới thành đạo chứ không phải tu đơn sơ một ngày có hai thời khóa tụng niệm là xong, nhiều khi đi học là bỏ luôn thời khóa, chúng ta phải thấy sự tu ngày xưa thời Đức Phật như thế nào để chúng ta nỗ lực thêm nữa trong sự hành trì của mình, nếu không sự tu của chúng ta rất uổng phí.

"Chư Hiền, như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp.

Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, nhưng ngoại sắc không vào trong tầm mắt, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, có sự quy tục xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp có hiện khởi". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Con mắt chúng ta vẫn bình thường nhưng khi không ở trong tầm nhìn là mình không thấy nên thức không sanh khởi, sự rõ biết về sắc không sanh khởi. Đối với những thứ khác cũng vậy, nếu tiếng ngoài tầm nghe của tai là mình không nghe được gì, những người bị tâm thần họ không nhận thức được vì dây thần kinh đã bị bệnh, không nhận thức được.

"Bất cứ sắc pháp gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều được quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: 'Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: 'Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi'. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt'. Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy".  (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

./.