Giải Thoát Trí 3 - Ghét Thương - Thương Ghét Khổ Nhau Cả Đời
Tinh Hoa Nikāya
Giải Thoát Trí 3
Ghét Thương - Thương Ghét Khổ Nhau Cả Đời!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trân quý Thánh Pháp tối thượng PAGEREF _Toc180856862 \h 1
II. Toàn diện cuộc sống – quán chiếu Vô Thường - Khổ - Vô Ngã PAGEREF _Toc180856863 \h 4
I. Trân quý Thánh Pháp tối thượng
Mỗi ngày chúng ta mở mắt dậy là được dòng Thánh thủy, Thánh trí, Thánh tuệ tắm gội trong mỗi buổi sáng gần 4-5 tiếng. Thật là khó có chỗ nào được như vậy! Chúng ta có thấy hạnh phúc không? Chúng ta có thấy rằng mình có được những cái khó có được trên toàn cầu chứ không chỉ riêng trong nước Việt Nam không? Chúng ta phải biết thưởng thức, biết nếm cái phước của mình, biết thưởng thức những công đức tích tụ trong nhiều đời nhiều kiếp của quá khứ. Mỗi ngày chúng ta ngồi trong thiền đường này giống như mình đi dạo trong Thánh viên chứ không phải là công viên, mỗi ngày mình hưởng được sắc hương của hoa bất tử.
Mỗi ngày mở mắt dậy là chúng ta nghe vang dội trên núi đồi này lời chứng ngộ của bậc tối thượng, tối tôn, mỗi ngày như vậy có biết bao chư thiên, chư Thánh, chư thần, biết bao sơn thần, địa thần, thổ thần, vân thần, vũ thần, không thần (thần hư không) và tất cả những chư vị mình không thấy được đều được tắm gội trong dòng Thánh thủy của chánh pháp ly tham.
Tất cả chim muôn, rắn rết, tất cả những loài vật hữu tình ở đây đều được lợi ích, khi con mới lên ngọn núi này là con làm pháp quy y cho tất cả chúng sanh trên ngọn núi này, mỗi lần gặp con nào con đều nói ba pháp quy y cho nên 16 năm nay không ai bị gì dù có gặp, phi nhân hữu tình, chư thiên đều được lợi ích rộng lớn vì Thánh pháp này trong tam thiên đại thiên thế giới chỉ có một bậc tối tôn, tối thượng tuyên thuyết chứng ngộ, không có bậc thứ hai.
Hiện nay trong thế giới này mỗi ngày được mấy chỗ tuyên đọc Nikāya? Đếm trên đầu ngón tay, ngay cả các nước Phật giáo nguyên thủy con từng đi qua cho nên khi đọc từng câu, từng chữ trong kinh phải thưởng thức bằng cả trái tim, tấm lòng của mình, phải cảm nhận cảm giác toàn thân, phải cảm nhận từng câu, từng chữ, từng âm vang đi vào làn da thớ thịt, đi vào xương, vào máu, vào tim, vào tủy não của mình.
Mỗi lần con nghe quý thầy, quý cô tụng Nikāya là người con rúng động toàn thân vì đó là những lời thủ chuyển, tất cả những chấp thủ trong người bị chấn động cho nên khi Đức Thế Tôn thuyết bài kinh chuyển pháp luân thì tất cả chư thiên từ cõi sắc lên cõi dục lên đến tha hóa tự tại thiên truyền tai nhau "Đức Thế Tôn đang chuyển vô thượng pháp luân".
"Và cho đến khi nào, này các Tỳ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: 'Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'
Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên:
'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba... chư Thiên Yàmà... chư Thiên Tusità... chư Hóa lạc thiên... chư Tha hóa tự tại thiên... chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận... bất cứ một ai ở đời'.
Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)
Khi đọc tụng trong kinh phải cảm nhận được đều này, không chỉ mình đang đọc chỉ có mình nghe mà còn có biết bao chư thiên, hữu tình. Khi đọc những lời này phải biết rằng cách đây hơn 2600 năm thì những lời này từ miệng của bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người tuyên thuyết, không có người thứ hai, giờ này mình được đọc.
Những bài diễn văn khai mạc lễ Phật đản của Hòa Thượng pháp chủ gửi xuống thì những vị Hòa Thượng chủ tịch mới đọc được chứ bình thường làm sao đọc được, những người đọc được những lời của bậc Chánh Đẳng Giác còn lớn hơn biết bao so với chức đó, những người đọc được chính là những bậc Thánh đệ tử, khi chúng ta đọc thì ngay lúc đó là Thánh đệ tử, đọc mà chúng ta có cảm thọ, nếm được, thưởng thức được, hỷ lạc được, cảm nhận được khổ, cảm nhận được vui, cảm nhận được tuệ giác. Khổ thì mình cảm nhận được Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế, vui vì mình hỷ lạc, hạnh phúc vì được đọc trí tuệ tối thượng này cho nên tu Nikāya sẽ có song song hai dòng cảm thọ hỷ và ưu xuất hiện rất nhiều cho nên phải siêng năng đọc Nikāya.
Mỗi ngày con ngồi đây đọc cũng như các thầy cô đọc chứ không có gì khác, đây là trùng thuyết, trùng tiên, chúng ta chỉ thuộc ngay lúc đọc thôi ngoài ra chúng ta phải thể nhập được trí huệ đó trong mọi lúc mọi nơi, sống được với nó cho nên chúng ta cứ nhắc nhở cho đến khi nào thể nhập thì không cần nhắc nữa. Thể nhập là nhìn đâu cũng thấy khổ, mỗi cảm giác, suy nghĩ sanh khởi lên mình đều thấy khổ nhưng mình lại an lạc, đây là điều đặc biệt vì thấy khổ rồi mình không nhào vô nữa mà mình đi ra, mỗi ngày người ta ăn thịt, ăn gà còn mình mỗi ngày đều nếm hương vị bất tử giải thoát. Mỗi lần nghe pháp, ngồi thiền, tụng kinh, mỗi lần pháp đàm đều phải tác ý hạnh phúc, hiếm khó có được vì được nếm hương vị bất tử trên đời, giờ đầu vào tác ý như vậy, giữa buổi cũng tác ý như vậy và cuối cùng cũng tác ý như vậy. Những bài chúng ta đang đọc ở đây là tinh hoa Nikāya.
II. Toàn diện cuộc sống – quán chiếu Vô Thường - Khổ - Vô Ngã
"Sống như kẻ bị nợ đòi,
Gạo, tiền, ân, oán, kéo lôi hàng ngày,
Tâm thì đầy nổi bất an,
Thân thì già, bệnh, chết, đang rập rình…
Chết như kẻ chẳng thân tình,
Một mình, một bóng, lộ trình mông lung
Chết như kẻ bị mồ côi,
Ra đi trơ trọi, đơn côi một mình
Nghiệp đeo như bóng với hình,
Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau,
Nay thương, mai ghét, đổi mau
Ghét thương, thương ghét, khổ nhau cả đời.
Trầm luân cũng bởi ghét, thương
Ghét thì ác nghiệp, thương thì đảo điên,
Lòng người dao động triền miên,
Suốt ngày thương ghét, làm phiền lẫn nhau"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Sống thì làm kẻ nợ, ngoài thế gian mỗi ngày mở mắt ra là cơm, áo, gạo, tiền, mở mắt ra phải đi làm kiếm tiền, mở mắt ra là bao nhiêu gánh nặng trên vai, ân oán lôi kéo hằng ngày. Trong bài này là một cái nhìn toàn diện về cuộc sống chúng sanh, cái già, cái bệnh, cái chết chóc rình rập bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ là ai, nam nữ, già trẻ, sang hèn, bất cứ thành phần nào trong xã hội thì cái tai nạn, cái hiểm họa, cái bệnh tật, già nua đều rình rập, nó ẩn nấp trong một chỗ nào đó rồi bất thình lình nó xuất hiện thì tóc đã bạc phơ, nằm trên gường bệnh, làm sao trở tay cho kịp cho nên năm sự kiện cần phải quán sát là vô cùng quan trọng, không có ngày nào được quên.
"Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
Ta phải bị già, không thoát khỏi già
Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh
Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết
Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy
Có những loài hữu tình, này các Tỳ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, suy tư như sau: 'Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già'. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn.
Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
"Chết như kẻ bị mồ côi, ra đi trơ trọi, đơn côi một mình", những hình ảnh này cần khắc sâu vào trong trí não, mãi mãi không quên, cái này mà mình nhớ được thì đời tu của mình được nhẹ nhàng, không cần phải phủi phiền não nhiều vì mình nghĩ mình sống nên mình mới hơn thua, tranh giành, đấu đá, thị phi còn nếu mình an trú trong niệm tử thì tất cả những cái kia tự động rơi rụng như nước đổ trên lá sen đều rơi xuống hết, không còn đọng lại gì cả, mình không còn ý niệm muốn thị phi, đấu đá với ai cả cho nên pháp niệm tử rất quan trọng, phải kết hợp pháp niệm tử trong niệm hơi thở, kết hợp pháp niệm tử trong khi ăn cơm, kết hợp pháp niệm tử trong mỗi bước chân, mình nhớ mình sẽ chết là tự nhiên mình sẽ đi chậm lại. Đức Phật đã nói tất cả đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết và không vượt qua khỏi sự chết.
"Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Đại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Khi những câu này được nói lên thì chư thiên còn phải chấn động, đó là bom nguyên tử của Thánh trí, câu này là đại thần chú, là tối thượng chú, khi niệm lên là không còn giận hờn, hơn thua ai nữa cả nhưng cái đau buồn là "Một mình, một bóng, lộ trình mông lung". Chúng ta phải biết sợ nghiệp, phải biết lo lắng về cái nghiệp, khi cái nghiệp hội đủ là nó hành tội mình, chồng hành tội mình, vợ hành tội mình, con hành tội mình, thậm chí là cha mẹ hành tội nhau, ông bà còn đang sống vậy mà con cháu ra khai tử để cướp đoạt tài sản, hằng ngày những tin tức này diễn ra nhan nhản ngay trước mắt những ác nghiệp và quả báo của ác nghiệp. Khi thấy những cái này thì tâm viễn ly, xả ly, thoát ly lại càng mạnh mẽ, càng quyết liệt, càng mau nhanh hơn, phải quán chiếu vì tất cả những cái này đều là chủ đề thiền quán.
Huynh đệ, tỉ muội vào chùa có hành tội nhau không? Đi tu rồi mà nói một chút, làm một chút cũng hành tội nhau, mặt ủ mày chê, không nói ra nhưng hành hạ nhau bằng cảm xúc, giận hờn, sân si, bản ngã, chưa kể thân bệnh, biết bao cảm thọ đau đớn hành hạ, thấy ngồi im ru tưởng khỏe nhưng trong đó là sự khó chịu, đau nhức, bên ngoài cười gắng gượng nhưng bên trong là ủ dột, tái tê vậy mà cũng chưa chứng nhập Khổ Thánh Trí. Con nhìn xuống biết hết nhưng con vẫn để cho tu vì đó là sức kham nhẫn, sức mạnh của người xuất gia là sự kham nhẫn, sự chịu đựng. Ở đây còn chịu không nổi thì xuống địa ngục làm sao chịu nổi? Ngồi một chút chịu không nổi thì làm sao giữa trưa hè ra còng lưng cấy mạ, ngồi nghe pháp, ngồi thiền một chút mà chịu đựng không nổi thì làm sao ra mua gánh bán bưng được?
Cho nên đó là sức kham nhẫn, nhìn sâu vào bên trong thấy ngồi nói nhưng bên trong có nhiều vấn đề xảy ra, phải nhìn thấy Khổ Thánh Trí của Phật bao trùm hết căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, bao trùm mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, bao trùm sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, phải nhìn cho được mọi sự hiện hữu đều là khổ đau. Nhiều khi ho mà cũng không dám ho, nhiều khi đói bụng mà vẫn ráng kiềm lại, biết bao thứ mình phải nhìn cho ra hết, cái thấy được và cái không thấy được phải nhìn ra, vậy mà nói khổ vẫn không thấy khổ, vẫn chỉ thấy hạnh phúc, vui sướng, đó là sự vô minh, mù lòa.
Phải nhìn ra từ trong thân, nội tâm, ngoại cảnh, từ sự tiếp xúc đối đãi với nhau, mình bị viêm xoang là cái lỗ mũi đang hành tội mình, bị đau bao tử là cái bao tử đó đang hành tội mình, thậm chí trong con người mình có biết bao con sán, con lãi, kí sinh trùng hành tội mình. Chỉ riêng câu "Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau" thì bảy ngày bảy đêm giảng giải cũng chưa hết, con mình có hành tội mình không, chồng mình có hành tội mình không, mình có hành tội cha mẹ không?
Vô minh là mình hành tội nhau, nghiệp là mình hành tội nhau, tham ái là mình hành tội nhau, mình nhân danh tham ái là mình thương lắm để hành tội người mình thương, phải ăn cái này không được ăn cái kia, phải ở đây không được đi đâu, đó là sự hành tội. Vì thương quá nên đau chút là cho vô bệnh viện xét nghiệm đủ thứ, vì thương nên phải hành nhau.
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
Chữ hành này là một phần nhỏ chữ hành trong kinh Pháp Cú. Mình vô minh, mình sống trong tham ái, chấp thủ là mình hành tội nhau vô cùng khủng khiếp, dù đi xuất gia thầy trò vẫn hành tội nhau, trong những chùa Ni khóc rất nhiều vì khổ sở với sư phụ, với sư tỉ, chạy qua chục cái chùa mà ở cũng không nổi, nhưng không phải chùa Ni mà bên Tăng cũng vậy thôi, hễ còn trong vô minh, trong nghiệp, tham ái, chấp thủ là còn hành tội nhau. Nếu giờ cho các chú mở sạp nhang ra bán nhang thì đó là hành tội nhau, sống trong vô minh, trong danh lợi không thấy pháp, tạo nghiệp thêm với nhau dù là đi tu chứ đừng nói chi còn ngoài đời.
Con thấy các sư cô nấu hủ tiếu đem ra chợ bán, nấu sương sa sương sáo bán thì thật sự thương cho họ mà nước mắt chảy, người tu có cần phải làm như vậy không? Đâu phải người ta cúng không đủ gạo ăn, tại sao xuất gia rồi đi làm như vậy? Nếu không khéo thì cái chùa trở thành công ty, thành chỗ buôn bán kinh doanh cho nên con thương các chú đệ tử mà nhắc nhở coi chừng không khéo mình trở thành công nhân rồi con bị sân si, giận dỗi luôn cho nên cái tâm mình rất xảo quyệt. Nếu mình không có chánh kiến, không nhận diện ngũ uẩn, không gặp được bậc thành tựu sáng suốt thì nó dẫn mình đi xa dù cho hình thức là tu hành, nó dẫn mình đi trong sự mông lung không có ngày giải thoát cũng không biết đích đến, không có mục tiêu, không có đạo lộ, không ai chỉ dẫn, lại thêm bản ngã lớn, thọ giới lớn nữa thì không ai nói mà nghe, thế là kết thúc cuộc đời.
"Thà rằng chẳng biết cho xong,
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu"
(Nguyễn Du)
Mới thương đó rồi ghét đó, thay đổi rất nhanh vì bản chất của thọ là vô thường, làm sao không thay đổi được nhưng mình muốn không đổi là mình đi ngược lại với sự thật, với bản chất của các pháp, giống như mình đứng bên dòng thác kêu nước đừng chảy, dòng nước phải chảy, tất cả những cảm thọ, cảm xúc phải đổi thay và khi nó đổi thay mà mình không chấp nhận thì mình khổ đau. "Nay thương, mai ghét, đổi mau. Ghét thương, thương ghét, khổ nhau cả đời", đây là đề mục quán chiếu thương và ghét, trong bài này có biết bao đề mục thiền quán "thương nhau thương cả lối đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng", "khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo", "khi thương cau sáu bổ ba, khi ghét cau sáu bổ ra làm mười", thương thì cho ăn nhiều đến khi ghét cắt xuống còn chút ít.
Đúng ra trái cau chia làm sáu phần cho đều nhưng thương thì chia làm ba thôi, cho nhiều để ăn được nhiều, còn ghét thì chia ra nhiều để ăn ít lại, cũng như trái sầu riêng, người nào thương cho ăn múi to bự, nhiều cơm, còn ghét thì cho ăn múi nhỏ, bị sượng, người ăn đồ không ngon là sân si lên, cãi nhau, nghiệp cứ thế mà chất chồng lên thêm, cứ trả vay rồi lại vay trả, đó là làm khổ nhau cả đời, nhiều khi có án mạng xảy ra, đả thương nhau, có khi chuyện chẳng có gì nhưng tâm mình chấp thủ vào, tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn rồi gây ra chuyện lớn.
Thương ghét mà làm khổ nhau cả đời, thương quá đi tu không được, thấy cháu cưng quá không nỡ rời xa đi tu. Có đứa con thì thương thật thương, còn đứa con kia lại ghét, cả hai đứa so đo với nhau, "tại sao thương người kia mà không thương con", thế là làm khổ nhau cả đời. Đừng nói gì ngoài đời, cạo đầu đi tu rồi mà vào chùa cũng còn thương ghét, hợp với người này, không hợp với người kia, không khéo lại chia nhóm ra chơi.
Tâm này vừa ác độc vừa ngu si, tu thì không lo tu, cha mẹ ở nhà đang tựa cửa trông mong, ông bà cô bác hi sinh nuôi mình trưởng thành để mình đi xuất gia, trông chờ từng ngày từng giờ để chờ mình về độ vậy mà vào chùa rồi thương ghét, đúng sai, mình làm những chuyện của người ngu chứ không phải của bậc hiền trí cho nên tu là phải giữ tâm bình đẳng, đừng sống theo cái thọ nhiều, phải biết nhiếp phục và chế ngự giữa cái thương và ghét, phải biết trải tâm từ rộng lớn, thương người ghét mình, người khó chịu với mình thì mới hóa giải được cái nghiệp oan trái với nhau.
Chúng ta chìm đắm cũng bởi cái thương ghét này. Chú kể câu chuyện chú chạy đúng làn đường nhưng có người chạy ngược chiều lấn làn còn trừng trợt, lại không đội nón bảo hiểm, không đeo khẩu trang, thì mình phải cẩn thận những cái đó, đó là những chủ nợ của mình, nếu mình không khéo chánh niệm tỉnh giác, không khéo trải tâm từ thì nợ đến là trả mệt mỏi. Nếu mình chánh niệm tỉnh giác thì chỉ có ánh nhìn trừng trợn đó thôi, còn nếu không chánh niệm tỉnh giác thì những gì xảy ra sau đó rất khủng khiếp, không thể lường được.
Vừa rồi con đi thăm một vị thầy, trên đường ra con đón xe Grab thì cô Phật tử không cho, bảo rằng để cô gọi cho, con thấy có vấn đề nên con chánh niệm tỉnh giác, trải tâm từ, cô nói ngồi chờ 5 phút thì con chờ luôn 15 phút nhưng không được, thế là cô điện cho người khác, con nói không được thì để con ra nhưng cô nhất quyết "thầy cứ ngồi đó", thế là cô điện cho người thứ hai bảo con ngồi chờ 5 phút nhưng con chờ thêm nửa tiếng nữa, cô gọi tiếp cho người thứ ba thì chú này lại nhìn mặt hết hồn, bặm trợn, trừng trợn mình "nón bảo hiểm của thầy đâu? Thầy vào kiếm nón bảo hiểm", con trả lời "chú chạy xe thì chú có nón chứ con không có nón", chú đó đáp lại "ở đây không chở ai hết, chỉ chở thầy trụ trì thôi, thầy vô kiếm nón bảo hiểm đi".
Mình biết là chủ nợ tới rồi, giá cả thì chú nói gấp hai lần giá mình mới đi, con thấy đây là chuyện lạ nên thứ nhất là nhận diện ngũ uẩn, thứ hai là quán chiếu về nghiệp, thứ ba là soi vấn đề oan gia trái chủ, sau đó con vâng dạ rồi đi vào mượn nón bảo hiểm, người tài xế chạy xe có khả năng xảy ra tai nạn giao thông vì lạng lách nên con cứ trải tâm từ bao trùm lấy người này, mong cho họ được an lạc, được bình an.
Sau khi về đến chùa tự nhiên người này hiền lành trở lại thành một người Phật tử thuần thành, nói chuyện ngọt ngào lại giống như một người khác, vì vậy mình biết rằng cái "chờ duyên hội đủ để hành tội nhau" và cái oan gia trái chủ là cực kì khủng khiếp, nếu không có chánh niệm tỉnh giác quán chiếu sẽ có rất nhiều sự nguy hiểm rình rập xung quanh mình mà mình không biết, ngay cả người thân cận, gần gũi nhất của mình chỉ trong một sự bức xúc có thể xảy ra những chuyện không ngờ cho nên sự chánh niệm tỉnh giác, nhận diện ngũ uẩn, nhận diện nghiệp quả, nghiệp báo, nhận diện oan gia trái chủ phải cực kì sáng suốt, tinh anh và sắc bén.
Con rất ít đi ra ngoài, chỉ đi đến chỗ nào mời giảng pháp thôi, mỗi lần đi rất cẩn thận và chánh niệm, từ lúc trên xe cho đến khi bước xuống xe phải lo cho tài xế thường xuyên, đến khi xuống xe vào đến nơi, giảng pháp xong đi về mà vẫn còn phải cẩn thận, về tới chân núi cũng chưa hết cẩn thận, cho đến khi vào trong thất thì tạm an ổn một chút.
Con thường sống trong tâm cẩn thận và chánh niệm tỉnh giác, đề phòng, bên nhà Nho nói tâm thái của người quân tử lúc nào cũng như bước trên băng mỏng, đi trên kiếm bén, các nước phương tây khi đến mùa đông các dòng sông thường đóng băng cứng nên mọi người đi lên đó chơi nhưng có những chỗ lớp băng mỏng nếu bước không cẩn thận sẽ bị vỡ băng té xuống nước lạnh cho nên giữ tâm như bước trên băng mỏng.
Khi mình suy nghĩ, khi nói chuyện phải cẩn thận dù cho mình ở trong chúng, một lời nói thất niệm sẽ gây ảnh hưởng lớn thậm chí cả đời tu, đạo hạnh của mình sẽ sụp đổ, chúng ta cứ nghĩ nói chuyện thì có gì đâu nhưng tất cả mọi việc đại sự trên đời đều bắt đầu từ cuộc nói chuyện, vào tù cũng do nói chuyện, chết người cũng do nói chuyện, thành vợ chồng cũng do nói chuyện mà thành kẻ thù cũng do nói chuyện cho nên khi thấy không ổn là lập tức trải tâm từ, phải biết đâu là chủ nợ lớn, chủ nợ vừa, chủ nợ nhỏ. Mình phải hiểu oan trái của mình trong nhiều kiếp, mình không có duyên nợ với nhau thì không ở chung nhưng khi ở chung sẽ có duyên có nợ với nhau và phải nhớ trả nợ chứ đừng vay nợ, còn vừa trả vừa vay thì mệt mỏi.
Nếu người đó đi ngược chiều lấn làn còn trừng trợn mà ở đây không biết tu thì lúc đó sẽ ra sao? Thấy thái độ người kia ghét rồi nói qua nói lại là ác nghiệp sanh khởi, còn nếu đã thương thì tâm hồn điên đảo không phân biệt trắng đen. Khi đã ghét thì quá phiền phức, mệt mỏi nhưng thương cũng không được yên, khi con quán chiếu thì thấy khổ thật sự, thương con nên cho ăn nhiều mà không có chén nhỏ để múc đồ ăn ra, nếu bỏ thì có tội, ăn vào thì không ngồi thiền được cho nên thương quá thành làm phiền lẫn nhau, thương vừa phải thôi.
Con có bệnh gan ăn nhiều thức ăn đó là ngứa nhưng thương con lại lấy đồ ăn nhiều, vậy cái thương này có lợi hay có hại? Người nấu bếp phải tu tập rất nhiều, phải có chánh niệm rất nhiều và phải có sự hiểu biết gọi là dưỡng sinh chi đạo, không phải ngon là nấu hoài, đó là nấu theo tâm tham, tâm dục, mình phải nấu bằng trí tuệ, nấu bằng tình thương, phải hiểu biết về thực phẩm thực dưỡng, nấu vừa miệng vừa phải có đầy đủ sức khỏe cho đại chúng tu học chứ không phải chỉ nấu ngon không, nấu ngon quá ăn nhiều bụng to ra lên ngồi thiền buồn ngủ vì thế mọi thành viên trong đạo tràng phải tu học thì mới lục hòa kính được. Những người nào không lên nghe pháp, không ngồi thiền thì thật khó để hòa nhịp thở với đại chúng, khó để đi kịp với đại chúng.
Thương theo từ bi trí tuệ sẽ khác với thương theo tâm tham ái, thương theo tâm từ bi là không có làm khổ người ta, còn thương theo tâm tham ái sẽ hành hạ nhau. Thương thì nhắn tin, gọi điện hỏi thăm liên tục "đang làm gì vậy", "ăn cơm chưa", "hôm nay khỏe không", đọc tin nhắn làm cho tâm dao động liên tục, còn ghét thì không nhắn tin hoặc nhắn tin chửi, gặp mặt thì liếc háy nhau.
"Lao đao trong chỗ ghét thương,
Thêm phần lo sợ vô thường nắng mưa,
Cảnh đời sáng nắng, chiều mưa,
Người đời sáng đó, chiều đưa ra mồ,
Thói đời sáng khóc, chiều cười,
Tối nằm thoi thóp, kiếp người tàn phai!
Chuyện đời như kẻ nói dai,
Dòng đời cứ vậy mà sao chép hoài,
Trò đời cứ vậy trình bày,
Có dài dòng mấy cũng là vậy thôi"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Cần xem lại tâm thương ghét khi mình đối đãi với mọi người, có bình đẳng không, có đồng đều không, có từ tâm không.
./.
Giải Thoát Trí 3
Ghét Thương - Thương Ghét Khổ Nhau Cả Đời!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trân quý Thánh Pháp tối thượng PAGEREF _Toc180856862 \h 1
II. Toàn diện cuộc sống – quán chiếu Vô Thường - Khổ - Vô Ngã PAGEREF _Toc180856863 \h 4
I. Trân quý Thánh Pháp tối thượng
Mỗi ngày chúng ta mở mắt dậy là được dòng Thánh thủy, Thánh trí, Thánh tuệ tắm gội trong mỗi buổi sáng gần 4-5 tiếng. Thật là khó có chỗ nào được như vậy! Chúng ta có thấy hạnh phúc không? Chúng ta có thấy rằng mình có được những cái khó có được trên toàn cầu chứ không chỉ riêng trong nước Việt Nam không? Chúng ta phải biết thưởng thức, biết nếm cái phước của mình, biết thưởng thức những công đức tích tụ trong nhiều đời nhiều kiếp của quá khứ. Mỗi ngày chúng ta ngồi trong thiền đường này giống như mình đi dạo trong Thánh viên chứ không phải là công viên, mỗi ngày mình hưởng được sắc hương của hoa bất tử.
Mỗi ngày mở mắt dậy là chúng ta nghe vang dội trên núi đồi này lời chứng ngộ của bậc tối thượng, tối tôn, mỗi ngày như vậy có biết bao chư thiên, chư Thánh, chư thần, biết bao sơn thần, địa thần, thổ thần, vân thần, vũ thần, không thần (thần hư không) và tất cả những chư vị mình không thấy được đều được tắm gội trong dòng Thánh thủy của chánh pháp ly tham.
Tất cả chim muôn, rắn rết, tất cả những loài vật hữu tình ở đây đều được lợi ích, khi con mới lên ngọn núi này là con làm pháp quy y cho tất cả chúng sanh trên ngọn núi này, mỗi lần gặp con nào con đều nói ba pháp quy y cho nên 16 năm nay không ai bị gì dù có gặp, phi nhân hữu tình, chư thiên đều được lợi ích rộng lớn vì Thánh pháp này trong tam thiên đại thiên thế giới chỉ có một bậc tối tôn, tối thượng tuyên thuyết chứng ngộ, không có bậc thứ hai.
Hiện nay trong thế giới này mỗi ngày được mấy chỗ tuyên đọc Nikāya? Đếm trên đầu ngón tay, ngay cả các nước Phật giáo nguyên thủy con từng đi qua cho nên khi đọc từng câu, từng chữ trong kinh phải thưởng thức bằng cả trái tim, tấm lòng của mình, phải cảm nhận cảm giác toàn thân, phải cảm nhận từng câu, từng chữ, từng âm vang đi vào làn da thớ thịt, đi vào xương, vào máu, vào tim, vào tủy não của mình.
Mỗi lần con nghe quý thầy, quý cô tụng Nikāya là người con rúng động toàn thân vì đó là những lời thủ chuyển, tất cả những chấp thủ trong người bị chấn động cho nên khi Đức Thế Tôn thuyết bài kinh chuyển pháp luân thì tất cả chư thiên từ cõi sắc lên cõi dục lên đến tha hóa tự tại thiên truyền tai nhau "Đức Thế Tôn đang chuyển vô thượng pháp luân".
"Và cho đến khi nào, này các Tỳ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: 'Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'
Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên:
'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba... chư Thiên Yàmà... chư Thiên Tusità... chư Hóa lạc thiên... chư Tha hóa tự tại thiên... chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận... bất cứ một ai ở đời'.
Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)
Khi đọc tụng trong kinh phải cảm nhận được đều này, không chỉ mình đang đọc chỉ có mình nghe mà còn có biết bao chư thiên, hữu tình. Khi đọc những lời này phải biết rằng cách đây hơn 2600 năm thì những lời này từ miệng của bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người tuyên thuyết, không có người thứ hai, giờ này mình được đọc.
Những bài diễn văn khai mạc lễ Phật đản của Hòa Thượng pháp chủ gửi xuống thì những vị Hòa Thượng chủ tịch mới đọc được chứ bình thường làm sao đọc được, những người đọc được những lời của bậc Chánh Đẳng Giác còn lớn hơn biết bao so với chức đó, những người đọc được chính là những bậc Thánh đệ tử, khi chúng ta đọc thì ngay lúc đó là Thánh đệ tử, đọc mà chúng ta có cảm thọ, nếm được, thưởng thức được, hỷ lạc được, cảm nhận được khổ, cảm nhận được vui, cảm nhận được tuệ giác. Khổ thì mình cảm nhận được Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế, vui vì mình hỷ lạc, hạnh phúc vì được đọc trí tuệ tối thượng này cho nên tu Nikāya sẽ có song song hai dòng cảm thọ hỷ và ưu xuất hiện rất nhiều cho nên phải siêng năng đọc Nikāya.
Mỗi ngày con ngồi đây đọc cũng như các thầy cô đọc chứ không có gì khác, đây là trùng thuyết, trùng tiên, chúng ta chỉ thuộc ngay lúc đọc thôi ngoài ra chúng ta phải thể nhập được trí huệ đó trong mọi lúc mọi nơi, sống được với nó cho nên chúng ta cứ nhắc nhở cho đến khi nào thể nhập thì không cần nhắc nữa. Thể nhập là nhìn đâu cũng thấy khổ, mỗi cảm giác, suy nghĩ sanh khởi lên mình đều thấy khổ nhưng mình lại an lạc, đây là điều đặc biệt vì thấy khổ rồi mình không nhào vô nữa mà mình đi ra, mỗi ngày người ta ăn thịt, ăn gà còn mình mỗi ngày đều nếm hương vị bất tử giải thoát. Mỗi lần nghe pháp, ngồi thiền, tụng kinh, mỗi lần pháp đàm đều phải tác ý hạnh phúc, hiếm khó có được vì được nếm hương vị bất tử trên đời, giờ đầu vào tác ý như vậy, giữa buổi cũng tác ý như vậy và cuối cùng cũng tác ý như vậy. Những bài chúng ta đang đọc ở đây là tinh hoa Nikāya.
II. Toàn diện cuộc sống – quán chiếu Vô Thường - Khổ - Vô Ngã
"Sống như kẻ bị nợ đòi,
Gạo, tiền, ân, oán, kéo lôi hàng ngày,
Tâm thì đầy nổi bất an,
Thân thì già, bệnh, chết, đang rập rình…
Chết như kẻ chẳng thân tình,
Một mình, một bóng, lộ trình mông lung
Chết như kẻ bị mồ côi,
Ra đi trơ trọi, đơn côi một mình
Nghiệp đeo như bóng với hình,
Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau,
Nay thương, mai ghét, đổi mau
Ghét thương, thương ghét, khổ nhau cả đời.
Trầm luân cũng bởi ghét, thương
Ghét thì ác nghiệp, thương thì đảo điên,
Lòng người dao động triền miên,
Suốt ngày thương ghét, làm phiền lẫn nhau"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Sống thì làm kẻ nợ, ngoài thế gian mỗi ngày mở mắt ra là cơm, áo, gạo, tiền, mở mắt ra phải đi làm kiếm tiền, mở mắt ra là bao nhiêu gánh nặng trên vai, ân oán lôi kéo hằng ngày. Trong bài này là một cái nhìn toàn diện về cuộc sống chúng sanh, cái già, cái bệnh, cái chết chóc rình rập bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ là ai, nam nữ, già trẻ, sang hèn, bất cứ thành phần nào trong xã hội thì cái tai nạn, cái hiểm họa, cái bệnh tật, già nua đều rình rập, nó ẩn nấp trong một chỗ nào đó rồi bất thình lình nó xuất hiện thì tóc đã bạc phơ, nằm trên gường bệnh, làm sao trở tay cho kịp cho nên năm sự kiện cần phải quán sát là vô cùng quan trọng, không có ngày nào được quên.
"Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
Ta phải bị già, không thoát khỏi già
Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh
Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết
Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy
Có những loài hữu tình, này các Tỳ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, suy tư như sau: 'Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già'. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn.
Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
"Chết như kẻ bị mồ côi, ra đi trơ trọi, đơn côi một mình", những hình ảnh này cần khắc sâu vào trong trí não, mãi mãi không quên, cái này mà mình nhớ được thì đời tu của mình được nhẹ nhàng, không cần phải phủi phiền não nhiều vì mình nghĩ mình sống nên mình mới hơn thua, tranh giành, đấu đá, thị phi còn nếu mình an trú trong niệm tử thì tất cả những cái kia tự động rơi rụng như nước đổ trên lá sen đều rơi xuống hết, không còn đọng lại gì cả, mình không còn ý niệm muốn thị phi, đấu đá với ai cả cho nên pháp niệm tử rất quan trọng, phải kết hợp pháp niệm tử trong niệm hơi thở, kết hợp pháp niệm tử trong khi ăn cơm, kết hợp pháp niệm tử trong mỗi bước chân, mình nhớ mình sẽ chết là tự nhiên mình sẽ đi chậm lại. Đức Phật đã nói tất cả đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết và không vượt qua khỏi sự chết.
"Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Đại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Khi những câu này được nói lên thì chư thiên còn phải chấn động, đó là bom nguyên tử của Thánh trí, câu này là đại thần chú, là tối thượng chú, khi niệm lên là không còn giận hờn, hơn thua ai nữa cả nhưng cái đau buồn là "Một mình, một bóng, lộ trình mông lung". Chúng ta phải biết sợ nghiệp, phải biết lo lắng về cái nghiệp, khi cái nghiệp hội đủ là nó hành tội mình, chồng hành tội mình, vợ hành tội mình, con hành tội mình, thậm chí là cha mẹ hành tội nhau, ông bà còn đang sống vậy mà con cháu ra khai tử để cướp đoạt tài sản, hằng ngày những tin tức này diễn ra nhan nhản ngay trước mắt những ác nghiệp và quả báo của ác nghiệp. Khi thấy những cái này thì tâm viễn ly, xả ly, thoát ly lại càng mạnh mẽ, càng quyết liệt, càng mau nhanh hơn, phải quán chiếu vì tất cả những cái này đều là chủ đề thiền quán.
Huynh đệ, tỉ muội vào chùa có hành tội nhau không? Đi tu rồi mà nói một chút, làm một chút cũng hành tội nhau, mặt ủ mày chê, không nói ra nhưng hành hạ nhau bằng cảm xúc, giận hờn, sân si, bản ngã, chưa kể thân bệnh, biết bao cảm thọ đau đớn hành hạ, thấy ngồi im ru tưởng khỏe nhưng trong đó là sự khó chịu, đau nhức, bên ngoài cười gắng gượng nhưng bên trong là ủ dột, tái tê vậy mà cũng chưa chứng nhập Khổ Thánh Trí. Con nhìn xuống biết hết nhưng con vẫn để cho tu vì đó là sức kham nhẫn, sức mạnh của người xuất gia là sự kham nhẫn, sự chịu đựng. Ở đây còn chịu không nổi thì xuống địa ngục làm sao chịu nổi? Ngồi một chút chịu không nổi thì làm sao giữa trưa hè ra còng lưng cấy mạ, ngồi nghe pháp, ngồi thiền một chút mà chịu đựng không nổi thì làm sao ra mua gánh bán bưng được?
Cho nên đó là sức kham nhẫn, nhìn sâu vào bên trong thấy ngồi nói nhưng bên trong có nhiều vấn đề xảy ra, phải nhìn thấy Khổ Thánh Trí của Phật bao trùm hết căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, bao trùm mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, bao trùm sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, phải nhìn cho được mọi sự hiện hữu đều là khổ đau. Nhiều khi ho mà cũng không dám ho, nhiều khi đói bụng mà vẫn ráng kiềm lại, biết bao thứ mình phải nhìn cho ra hết, cái thấy được và cái không thấy được phải nhìn ra, vậy mà nói khổ vẫn không thấy khổ, vẫn chỉ thấy hạnh phúc, vui sướng, đó là sự vô minh, mù lòa.
Phải nhìn ra từ trong thân, nội tâm, ngoại cảnh, từ sự tiếp xúc đối đãi với nhau, mình bị viêm xoang là cái lỗ mũi đang hành tội mình, bị đau bao tử là cái bao tử đó đang hành tội mình, thậm chí trong con người mình có biết bao con sán, con lãi, kí sinh trùng hành tội mình. Chỉ riêng câu "Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau" thì bảy ngày bảy đêm giảng giải cũng chưa hết, con mình có hành tội mình không, chồng mình có hành tội mình không, mình có hành tội cha mẹ không?
Vô minh là mình hành tội nhau, nghiệp là mình hành tội nhau, tham ái là mình hành tội nhau, mình nhân danh tham ái là mình thương lắm để hành tội người mình thương, phải ăn cái này không được ăn cái kia, phải ở đây không được đi đâu, đó là sự hành tội. Vì thương quá nên đau chút là cho vô bệnh viện xét nghiệm đủ thứ, vì thương nên phải hành nhau.
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
Chữ hành này là một phần nhỏ chữ hành trong kinh Pháp Cú. Mình vô minh, mình sống trong tham ái, chấp thủ là mình hành tội nhau vô cùng khủng khiếp, dù đi xuất gia thầy trò vẫn hành tội nhau, trong những chùa Ni khóc rất nhiều vì khổ sở với sư phụ, với sư tỉ, chạy qua chục cái chùa mà ở cũng không nổi, nhưng không phải chùa Ni mà bên Tăng cũng vậy thôi, hễ còn trong vô minh, trong nghiệp, tham ái, chấp thủ là còn hành tội nhau. Nếu giờ cho các chú mở sạp nhang ra bán nhang thì đó là hành tội nhau, sống trong vô minh, trong danh lợi không thấy pháp, tạo nghiệp thêm với nhau dù là đi tu chứ đừng nói chi còn ngoài đời.
Con thấy các sư cô nấu hủ tiếu đem ra chợ bán, nấu sương sa sương sáo bán thì thật sự thương cho họ mà nước mắt chảy, người tu có cần phải làm như vậy không? Đâu phải người ta cúng không đủ gạo ăn, tại sao xuất gia rồi đi làm như vậy? Nếu không khéo thì cái chùa trở thành công ty, thành chỗ buôn bán kinh doanh cho nên con thương các chú đệ tử mà nhắc nhở coi chừng không khéo mình trở thành công nhân rồi con bị sân si, giận dỗi luôn cho nên cái tâm mình rất xảo quyệt. Nếu mình không có chánh kiến, không nhận diện ngũ uẩn, không gặp được bậc thành tựu sáng suốt thì nó dẫn mình đi xa dù cho hình thức là tu hành, nó dẫn mình đi trong sự mông lung không có ngày giải thoát cũng không biết đích đến, không có mục tiêu, không có đạo lộ, không ai chỉ dẫn, lại thêm bản ngã lớn, thọ giới lớn nữa thì không ai nói mà nghe, thế là kết thúc cuộc đời.
"Thà rằng chẳng biết cho xong,
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu"
(Nguyễn Du)
Mới thương đó rồi ghét đó, thay đổi rất nhanh vì bản chất của thọ là vô thường, làm sao không thay đổi được nhưng mình muốn không đổi là mình đi ngược lại với sự thật, với bản chất của các pháp, giống như mình đứng bên dòng thác kêu nước đừng chảy, dòng nước phải chảy, tất cả những cảm thọ, cảm xúc phải đổi thay và khi nó đổi thay mà mình không chấp nhận thì mình khổ đau. "Nay thương, mai ghét, đổi mau. Ghét thương, thương ghét, khổ nhau cả đời", đây là đề mục quán chiếu thương và ghét, trong bài này có biết bao đề mục thiền quán "thương nhau thương cả lối đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng", "khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo", "khi thương cau sáu bổ ba, khi ghét cau sáu bổ ra làm mười", thương thì cho ăn nhiều đến khi ghét cắt xuống còn chút ít.
Đúng ra trái cau chia làm sáu phần cho đều nhưng thương thì chia làm ba thôi, cho nhiều để ăn được nhiều, còn ghét thì chia ra nhiều để ăn ít lại, cũng như trái sầu riêng, người nào thương cho ăn múi to bự, nhiều cơm, còn ghét thì cho ăn múi nhỏ, bị sượng, người ăn đồ không ngon là sân si lên, cãi nhau, nghiệp cứ thế mà chất chồng lên thêm, cứ trả vay rồi lại vay trả, đó là làm khổ nhau cả đời, nhiều khi có án mạng xảy ra, đả thương nhau, có khi chuyện chẳng có gì nhưng tâm mình chấp thủ vào, tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn rồi gây ra chuyện lớn.
Thương ghét mà làm khổ nhau cả đời, thương quá đi tu không được, thấy cháu cưng quá không nỡ rời xa đi tu. Có đứa con thì thương thật thương, còn đứa con kia lại ghét, cả hai đứa so đo với nhau, "tại sao thương người kia mà không thương con", thế là làm khổ nhau cả đời. Đừng nói gì ngoài đời, cạo đầu đi tu rồi mà vào chùa cũng còn thương ghét, hợp với người này, không hợp với người kia, không khéo lại chia nhóm ra chơi.
Tâm này vừa ác độc vừa ngu si, tu thì không lo tu, cha mẹ ở nhà đang tựa cửa trông mong, ông bà cô bác hi sinh nuôi mình trưởng thành để mình đi xuất gia, trông chờ từng ngày từng giờ để chờ mình về độ vậy mà vào chùa rồi thương ghét, đúng sai, mình làm những chuyện của người ngu chứ không phải của bậc hiền trí cho nên tu là phải giữ tâm bình đẳng, đừng sống theo cái thọ nhiều, phải biết nhiếp phục và chế ngự giữa cái thương và ghét, phải biết trải tâm từ rộng lớn, thương người ghét mình, người khó chịu với mình thì mới hóa giải được cái nghiệp oan trái với nhau.
Chúng ta chìm đắm cũng bởi cái thương ghét này. Chú kể câu chuyện chú chạy đúng làn đường nhưng có người chạy ngược chiều lấn làn còn trừng trợt, lại không đội nón bảo hiểm, không đeo khẩu trang, thì mình phải cẩn thận những cái đó, đó là những chủ nợ của mình, nếu mình không khéo chánh niệm tỉnh giác, không khéo trải tâm từ thì nợ đến là trả mệt mỏi. Nếu mình chánh niệm tỉnh giác thì chỉ có ánh nhìn trừng trợn đó thôi, còn nếu không chánh niệm tỉnh giác thì những gì xảy ra sau đó rất khủng khiếp, không thể lường được.
Vừa rồi con đi thăm một vị thầy, trên đường ra con đón xe Grab thì cô Phật tử không cho, bảo rằng để cô gọi cho, con thấy có vấn đề nên con chánh niệm tỉnh giác, trải tâm từ, cô nói ngồi chờ 5 phút thì con chờ luôn 15 phút nhưng không được, thế là cô điện cho người khác, con nói không được thì để con ra nhưng cô nhất quyết "thầy cứ ngồi đó", thế là cô điện cho người thứ hai bảo con ngồi chờ 5 phút nhưng con chờ thêm nửa tiếng nữa, cô gọi tiếp cho người thứ ba thì chú này lại nhìn mặt hết hồn, bặm trợn, trừng trợn mình "nón bảo hiểm của thầy đâu? Thầy vào kiếm nón bảo hiểm", con trả lời "chú chạy xe thì chú có nón chứ con không có nón", chú đó đáp lại "ở đây không chở ai hết, chỉ chở thầy trụ trì thôi, thầy vô kiếm nón bảo hiểm đi".
Mình biết là chủ nợ tới rồi, giá cả thì chú nói gấp hai lần giá mình mới đi, con thấy đây là chuyện lạ nên thứ nhất là nhận diện ngũ uẩn, thứ hai là quán chiếu về nghiệp, thứ ba là soi vấn đề oan gia trái chủ, sau đó con vâng dạ rồi đi vào mượn nón bảo hiểm, người tài xế chạy xe có khả năng xảy ra tai nạn giao thông vì lạng lách nên con cứ trải tâm từ bao trùm lấy người này, mong cho họ được an lạc, được bình an.
Sau khi về đến chùa tự nhiên người này hiền lành trở lại thành một người Phật tử thuần thành, nói chuyện ngọt ngào lại giống như một người khác, vì vậy mình biết rằng cái "chờ duyên hội đủ để hành tội nhau" và cái oan gia trái chủ là cực kì khủng khiếp, nếu không có chánh niệm tỉnh giác quán chiếu sẽ có rất nhiều sự nguy hiểm rình rập xung quanh mình mà mình không biết, ngay cả người thân cận, gần gũi nhất của mình chỉ trong một sự bức xúc có thể xảy ra những chuyện không ngờ cho nên sự chánh niệm tỉnh giác, nhận diện ngũ uẩn, nhận diện nghiệp quả, nghiệp báo, nhận diện oan gia trái chủ phải cực kì sáng suốt, tinh anh và sắc bén.
Con rất ít đi ra ngoài, chỉ đi đến chỗ nào mời giảng pháp thôi, mỗi lần đi rất cẩn thận và chánh niệm, từ lúc trên xe cho đến khi bước xuống xe phải lo cho tài xế thường xuyên, đến khi xuống xe vào đến nơi, giảng pháp xong đi về mà vẫn còn phải cẩn thận, về tới chân núi cũng chưa hết cẩn thận, cho đến khi vào trong thất thì tạm an ổn một chút.
Con thường sống trong tâm cẩn thận và chánh niệm tỉnh giác, đề phòng, bên nhà Nho nói tâm thái của người quân tử lúc nào cũng như bước trên băng mỏng, đi trên kiếm bén, các nước phương tây khi đến mùa đông các dòng sông thường đóng băng cứng nên mọi người đi lên đó chơi nhưng có những chỗ lớp băng mỏng nếu bước không cẩn thận sẽ bị vỡ băng té xuống nước lạnh cho nên giữ tâm như bước trên băng mỏng.
Khi mình suy nghĩ, khi nói chuyện phải cẩn thận dù cho mình ở trong chúng, một lời nói thất niệm sẽ gây ảnh hưởng lớn thậm chí cả đời tu, đạo hạnh của mình sẽ sụp đổ, chúng ta cứ nghĩ nói chuyện thì có gì đâu nhưng tất cả mọi việc đại sự trên đời đều bắt đầu từ cuộc nói chuyện, vào tù cũng do nói chuyện, chết người cũng do nói chuyện, thành vợ chồng cũng do nói chuyện mà thành kẻ thù cũng do nói chuyện cho nên khi thấy không ổn là lập tức trải tâm từ, phải biết đâu là chủ nợ lớn, chủ nợ vừa, chủ nợ nhỏ. Mình phải hiểu oan trái của mình trong nhiều kiếp, mình không có duyên nợ với nhau thì không ở chung nhưng khi ở chung sẽ có duyên có nợ với nhau và phải nhớ trả nợ chứ đừng vay nợ, còn vừa trả vừa vay thì mệt mỏi.
Nếu người đó đi ngược chiều lấn làn còn trừng trợn mà ở đây không biết tu thì lúc đó sẽ ra sao? Thấy thái độ người kia ghét rồi nói qua nói lại là ác nghiệp sanh khởi, còn nếu đã thương thì tâm hồn điên đảo không phân biệt trắng đen. Khi đã ghét thì quá phiền phức, mệt mỏi nhưng thương cũng không được yên, khi con quán chiếu thì thấy khổ thật sự, thương con nên cho ăn nhiều mà không có chén nhỏ để múc đồ ăn ra, nếu bỏ thì có tội, ăn vào thì không ngồi thiền được cho nên thương quá thành làm phiền lẫn nhau, thương vừa phải thôi.
Con có bệnh gan ăn nhiều thức ăn đó là ngứa nhưng thương con lại lấy đồ ăn nhiều, vậy cái thương này có lợi hay có hại? Người nấu bếp phải tu tập rất nhiều, phải có chánh niệm rất nhiều và phải có sự hiểu biết gọi là dưỡng sinh chi đạo, không phải ngon là nấu hoài, đó là nấu theo tâm tham, tâm dục, mình phải nấu bằng trí tuệ, nấu bằng tình thương, phải hiểu biết về thực phẩm thực dưỡng, nấu vừa miệng vừa phải có đầy đủ sức khỏe cho đại chúng tu học chứ không phải chỉ nấu ngon không, nấu ngon quá ăn nhiều bụng to ra lên ngồi thiền buồn ngủ vì thế mọi thành viên trong đạo tràng phải tu học thì mới lục hòa kính được. Những người nào không lên nghe pháp, không ngồi thiền thì thật khó để hòa nhịp thở với đại chúng, khó để đi kịp với đại chúng.
Thương theo từ bi trí tuệ sẽ khác với thương theo tâm tham ái, thương theo tâm từ bi là không có làm khổ người ta, còn thương theo tâm tham ái sẽ hành hạ nhau. Thương thì nhắn tin, gọi điện hỏi thăm liên tục "đang làm gì vậy", "ăn cơm chưa", "hôm nay khỏe không", đọc tin nhắn làm cho tâm dao động liên tục, còn ghét thì không nhắn tin hoặc nhắn tin chửi, gặp mặt thì liếc háy nhau.
"Lao đao trong chỗ ghét thương,
Thêm phần lo sợ vô thường nắng mưa,
Cảnh đời sáng nắng, chiều mưa,
Người đời sáng đó, chiều đưa ra mồ,
Thói đời sáng khóc, chiều cười,
Tối nằm thoi thóp, kiếp người tàn phai!
Chuyện đời như kẻ nói dai,
Dòng đời cứ vậy mà sao chép hoài,
Trò đời cứ vậy trình bày,
Có dài dòng mấy cũng là vậy thôi"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Cần xem lại tâm thương ghét khi mình đối đãi với mọi người, có bình đẳng không, có đồng đều không, có từ tâm không.
./.