Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Chia Sẻ Lợi ích Tu Học (1) 11-12-2023

2026-03-03 00:55:53
Pháp Đàm Nikāya

Chia Sẻ Lợi Ích Tu Học (1)

Thích Minh Thành

Ngày 11 tháng 12 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lời mở đầu PAGEREF _Toc213779733 \h 1

II. Pháp đàm PAGEREF _Toc213779734 \h 2

1. Thầy Pháp Lực PAGEREF _Toc213779735 \h 2

2. Sư cô Tuệ Quý PAGEREF _Toc213779736 \h 5

3. Sư cô Nguyên Tú PAGEREF _Toc213779737 \h 7

4. Sư cô Liên Trang PAGEREF _Toc213779738 \h 11

III. Lời kết PAGEREF _Toc213779739 \h 13

I. Lời mở đầu

Thầy Thiện Huệ:

"Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Ðược tốt hơn, không xấu.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Được tuệ, không gì khác" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, I. Với Người Thiện)

Con chân thành đảnh lễ bậc tôn kính nhất đời, tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si, bậc thấu suốt tột cùng thân tâm và thế giới, đấng giác ngộ hoàn toàn Phật Thích-ca Mâu-ni.

Con kính bạch sư phụ, con kính thưa toàn thể các chư Tăng Ni và các bậc hiền trí. Tối nay được sự chỉ dạy trên sư phụ tất cả các giới tử cũng như các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ sẽ được lắng nghe các quý thầy, quý sư cô chia sẻ về những lợi ích trong sự tu học trong thánh pháp Nikāya. Ăn cơm có canh, tu hành có bạn cho nên sự tu học chúng ta vừa nương thầy, nương bậc minh sư tu học nhưng bên cạnh đó chúng ta còn có những bạn lành, bạn thiện, các hiền trí và nhất là những vị tu học trong dòng thánh pháp này. Tất cả những tôn giả, hiền giả, hiền trí trong đạo tràng sẽ chia sẻ cho chúng ta những lợi lạc nhất bằng sự hành trì, bằng sự hiểu và cảm nhận thánh pháp từ sự tu học của các ngài sẽ chia sẻ cho quý vị, quý vị sẽ được lợi ích lâu dài trong hiện tại và tương lai. Đại chúng hoan hỉ không ạ?

Chúng ta tu học Nikāya có rất nhiều lợi ích, mỗi quý thầy, quý sư cô trong đạo tràng đây đều cảm nhận được lợi ích riêng của mỗi cá nhân khi tu học dòng thánh pháp Nikāya này. Lần lượt trong khóa tu này các hiền trí sẽ được nghe, hiểu và học từ những lời chia sẻ của chư tôn đức Tăng Ni. Mở đầu buổi chia sẻ hôm nay con kính mời thầy Pháp Lực nói lên chia sẻ những lợi ích trong sự tu học của mình trong dòng thánh pháp Nikāya này. Kính mời thầy.

II. Pháp đàm

1. Thầy Pháp Lực

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ, con kính trên quý thầy, con kính trên Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Được sự cho phép và chỉ dạy của sư phụ thì tối nay con sẽ chia sẻ lợi ích của mình trong việc học kinh Nikāya, trong việc học kinh Nikāya có rất nhiều lợi ích nhưng thời gian không cho phép, mỗi người chỉ được 15-20 phút nên chủ đề hôm nay con chia sẻ lợi ích của con là tình thương. Trước đây thì con cũng sống thương và ghét rất rõ ràng, nếu gặp một người sống tốt, không làm gì phiền mình thì mình thương, mình quý, mình rất nhiệt tình nhưng gặp người nào đó không tốt hoặc làm cái gì cho mình khó chịu thì con vội vàng đáp trả liền, con không thương được. Khi không gặp chướng ngại thì mọi người thấy có vẻ con hiền nhưng khi gặp chướng ngại hay gặp ai đụng tới cái tôi của con, đụng tới lợi ích của con thì con sẵn sàng đáp trả.

Đến khi đi tu gặp dòng pháp này, nhận diện ngũ uẩn thì con thấy tình thương của con nhiều hơn trước đây rất nhiều. Khi nhìn nhận lại ngũ uẩn mới thấy tất cả chúng ta đều là nạn nhân, cái thọ, cái tưởng, cái hành bên trong xúi giục mà mình không biết, mình nhận thọ; tưởng; hành là mình rồi cuối cùng mình làm khổ chính bản thân mình và chính bản thân mọi người. Khi thực hành nhìn nhận ngũ uẩn được môi trường hiền thiện, được sự chỉ dạy pháp trên sư phụ, hằng ngày tu tập thường xuyên trong pháp nhưng thực hành nhìn nhận ngũ uẩn thì thấy thọ; tưởng; hành thật là ghê gớm, mình thực hành nhìn nhận nhiều như vậy mà nó vẫn qua mặt, nó vẫn điều khiển mình bình thường. Trong quá trình thực hành thì con chiến đấu với thọ; tưởng; hành thì con thấy nó thật khủng khiếp chứ nó không đơn giản, con cũng rất khổ với thọ; tưởng; hành.

Khi con chiến đấu với thọ; tưởng; hành thì con thấy thương tất cả mọi người, trong quá trình mình được thực hành mà mình còn bị nó hành hạ khổ sở như vậy, những người khác không thấy được ngũ uẩn, bị thọ; tưởng; hành điều khiển thì còn khổ sở và đau khổ đến thế nào. Trước đây tâm chỉ trích của con rất nhiều, gặp một ai làm sai thì không nói ra nhưng trong suy nghĩ rất chỉ trích tại sao làm vậy, nó hay chỉ trích. Nó âm thầm trong tâm nhưng gặp một ai nói xấu về người đó thì nó khoái lắm, nó nhảy vào nói xấu liền, nó nói rất nhiệt tình nhưng khi thực hành nhìn nhận ngũ uẩn, quay lại nhiếp phục thọ; tưởng; hành thì con thấy người khác cũng là nạn nhân của thọ; tưởng; hành thôi.

Mình may mắn gặp được chánh pháp của Đức Phật chỉ ra tâm là gì, được sự chỉ dạy trên những bậc thành tựu như bậc đạo sư, sư phụ thì con mới may mắn thấy được thọ; tưởng; hành rồi chiến đấu và không bị nó khống chế như trước đây. Còn những người khác không biết thọ; tưởng; hành thì tại sao mình lại chỉ trích người khác, trước đây mình cũng rất khổ sở với thọ; tưởng; hành, hiện tại mình cũng rất khổ sở, người khác cũng khổ sở vì thọ; tưởng; hành điều khiển như vậy. Tất cả đều là nạn nhân thì tại sao lại chỉ trích nhau, hơn thua, đúng sai để làm gì? Con nghiệm lại những cái đau khổ của những người hay gặp thì con thấy tất cả đều bị thọ; tưởng; hành bên trong điều khiển. Tại sao có cãi nhau? Vì cả hai đều cho mình đúng hết và cái suy nghĩ lầm thầm "mi đúng mà, bên kia sai mà", cuối cùng cả hai bên đều cho mình đúng rồi cãi nhau nhưng đúng sai để được cái gì nên tất cả đều là nạn nhân của thọ; tưởng; hành.

Trong quá trình nhiếp phục thì con thấy vẫn chưa được trọn vẹn nhưng đỡ hơn trước đây rất nhiều, con thấy ai làm sai hoặc làm cái gì chướng ngại cho mình thì con nhìn nhận thọ; tưởng; hành nên con thấy khi chướng ngại thì con thấy cái thọ khó chịu, ý hành lập tức chỉ trích liền tại sao người kia làm vậy. Vì có sự nhìn nhận ngũ uẩn nên con biết đang có cảm giác sân, con quay lại đánh đuổi cái tưởng và cái hành. Khi nhiếp phục cái thọ dịu xuống thì cái tâm mình sẽ sáng hơn, mình sẽ thương người khác hơn vì người khác không thấy thọ; tưởng; hành nên họ sai lầm. Tất cả chúng ta đều phải sanh tử luân hồi vì vô minh, nếu chúng ta không vô minh thì đã về Niết-bàn rồi chứ đâu còn ở đây. Do vô minh nên hơn thua với vô minh để làm gì, mình bị mù rồi người khác cũng bị mù, hai người đụng nhau cứ giành đúng sai, hơn thua "tại sao anh đụng tôi" để làm cái gì.

Khi nhìn nhận được thọ; tưởng; hành thì sự cảm thông cho sai lầm của người khác nhiều hơn, sự chỉ trích ít hơn. Con thấy câu tự lợi lợi tha rất thấm, vì mình phải thương mình trước, mình thấy cái thọ; tưởng; hành này khởi lên khó chịu thì mình phải thương mình đang bị những cảm giác hơn thua, sân si thiêu đốt thì mình quay lại nhiếp phục tham, sân, si dịu xuống, cảm thọ dịu xuống để tâm mình an đó là thương mình. Khi tâm mình bình an, dịu xuống thì trí mới sáng, trong kinh Đức Phật có dạy năm triền cái tham, sân, si, trạo hối và nghi hoặc che mời tâm cho nên khi có tham, sân, si tâm rất tối, suy nghĩ lúc đó không đúng nên hành động không đúng. Nhưng khi nhiếp phục được những cảm giác sân hay tham, hay si dịu xuống thì cái trí bắt đầu sáng ra thì mình sẽ suy nghĩ cảm thông cho người khác được nhiều hơn.

Trước đây con rất chấp nhưng bây giờ con bớt chấp hơn, mình nói người khác dù có đúng, người khác có sai nhưng khi họ không nghe thì con quay lại nhiếp phục cảm thọ, con chửi cái tâm mình "mi giỏi hơn ai, mi ngon hơn ai, mi cũng vô minh mà". Con thấy lòng con bình an hơn và có nhiều người nói, con không nhận nhưng con chỉ nghe thôi, nói là "sao thầy nhiệt tình trong việc hướng dẫn mọi người như vậy?", trước đây con không được như vậy nhưng vì học dòng pháp này, con thấy ai cũng là nạn nhân, càng giỏi càng chết. Khi mình giỏi thì mình quá tin vào cái suy nghĩ của mình, tin vào thọ; tưởng; hành thì nó dẫn dắt mình nên còn từng bị nó hành hạ đau khổ rồi, con may mắn gặp được chánh pháp, gặp được sư phụ chỉ dạy những lời dạy nguyên chất của Đức Phật nên con thấy cái may của mình, từ đó con muốn chia sẻ sự may mắn đó đến tất cả mọi người vì cái may mắn này không thể tưởng tượng nổi.

Nếu Đức Phật không chỉ ra ngũ uẩn, không được bậc đạo sư, trên sư phụ chỉ ra cái tâm thì làm sao mình biết thọ; tưởng; hành; thức này không phải của mình, mình nhận giặc làm con nên sẽ đau khổ mãi. Con may mắn nên con muốn giúp đỡ, chia sẻ với mọi người để mọi người được may mắn như mình nên con luôn nỗ lực để mọi người đều biết tới thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật để cùng nhau quay lại nhiếp phục thọ; tưởng; hành, đem tới bình an cho chính bản thân mình và những người thân xung quanh. Nếu cả hai cùng sân si sẽ sinh ra nhiều chuyện nhưng một bên sân si, một bên nhiếp phục thì cũng bình an, đó là những lợi ích về tình thương trong việc học kinh Nikāya, được nhìn nhận ngũ uẩn nên con thấy tình thương tiến bộ hơn trước đây rất nhiều. Con cũng mong mọi người hãy học tập thánh trí của Đức Phật nhìn nhận ngũ uẩn thì tình thương của mọi người sẽ rất nhiều, sự hơn thua, đúng sai, chỉ trích người khác sẽ ít lại và đem tới bình an cho bản thân mình, cho những người xung quanh mình. Đó là những cảm nhận của con, con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Quý vị thấy lợi lạc khi mình ứng dụng tu tâm tình thương chưa? Khi mình tu được tình thương, tâm từ thì mình sẽ hiểu được chính mình và mình sẽ hiểu được mọi người, mình có thể sẵn sàng lắng nghe, cảm thông và tha thứ cho mình và cho mọi người. Chúng ta hãy cố gắng thực tập tâm từ, tâm từ bảo vệ cho mình sự bình an, khi mình tu tập được tâm từ rồi mình sẽ vượt lên hết tất cả, không có gì làm chướng ngại mình được, tâm từ cũng là người bạn lành. Tiếp theo con mời sư cô Tuệ Quý.

2. Sư cô Tuệ Quý

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con thành kính đảnh lễ pháp thân bậc đạo sư, con thành kính đảnh lễ trên sư phụ, con thành kính đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Chiều hôm nay con có bốn mươi phút để ngồi thiền tĩnh lặng chiêm nghiệm về sự tu học của mình thời gian qua, trong con chiêm nghiệm về những giọt nước mắt trong gần hai năm tu học trong thánh pháp Nikāya. Con cảm nhận những giọt nước mắt khi được nghe pháp, khi thiền quán, khi tụng đọc pháp bảo, con đã khóc và con cảm nhận được đó là những giọt nước mắt hạnh phúc, những giọt nước mắt của trí tuệ, của hiểu biết chứ không phải là những giọt nước mắt của sự đau khổ. Trong những giọt nước mắt đó con cảm nhận có những giọt nước mắt của sự hiểu biết về con đường, đạo lộ tu tập để thoát khỏi dòng sanh tử khổ đau này.

Khi con tu học về thánh trí ngũ uẩn và càng chiêm nghiệm sâu về thánh trí ngũ uẩn con lại cảm thấy rất nhiều điều đã giúp cho con giải quyết những vấn đề mà trước đây con không tìm ra câu trả lời thì thánh trí ngũ uẩn đã giải mã được điều đó. Con đã có một kết luận rằng con không còn khổ nữa khi con đã hiểu rõ nguyên nhân của đau khổ, vì sao khổ và con đường chấm dứt khổ đau, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất khi con tu học trong thánh pháp Nikāya trong gần mười năm năm tu học con chưa bao giờ cảm nhận niềm hạnh phúc như vậy. Nước mắt khi con khóc vì con cảm nhận được sự lợi lạc, một con đường để giúp cho bản thân mình và giúp cho chúng sanh thoát khỏi dòng luân hồi khổ đau này. Trên con đường tu học con cảm nhận dòng nước mắt thứ hai là dòng nước mắt của sự tri ân, biết ơn những người mà mình đã mang ơn, đó là lòng biết ơn của con đối với Đức Phật khi con được chiêm nghiệm một loạt bài về kỉ niệm Đức Phật đản sanh.

Trong tuần lễ chiêm nghiệm về Phật đản sanh con được nghe sư phụ giảng dạy cho con về cuộc đời của Đức Phật, sự xuất gia, sự thành đạo, sự chuyển pháp luân và nhập Niết-bàn của Đức Phật làm con hiểu hơn về cuộc đời Đức Phật mà trong mười mấy năm tu học con không hề biết rõ. Con cảm thấy niềm hạnh phúc vì đạo Phật mà mình đang tu học mà bấy lâu nay không hiểu, khi tu học trong chánh pháp thì con được sư phụ giảng giải và cho thiền quán về Đức Phật thì con càng thấm thía hơn về cuộc đời một vị Phật. Đó cũng là hình ảnh để con nhìn thấy đó làm động lực trên con đường tu học của mình. Dòng nước mắt thứ ba là dòng nước mắt khi con được chiêm nghiệm về những vị thánh Tăng, thánh Ni được sư phụ giảng dạy. Con lại có suy nghĩ mỗi một vị thánh Tăng, thánh Ni tuy xuất thân từ những giai cấp, tầng lớp khác nhau nhưng có duyên gặp Đức Phật, được nghe sự chỉ dạy của ngài, có sự nỗ lực tu tập và cuối cùng các ngài đều chứng quả A-la-hán.

Đây cũng là tấm gương để con nhìn vào đó cố gắng tu học bởi vì con cũng đang đi trên con đường của các vị, con được lắng nghe những lời dạy của Đức Phật từ sự chỉ dạy của bậc đạo sư, của sư phụ và con cảm nhận được là con đang đi trên con đường của các vị thánh Tăng, thánh Ni. Con có niềm tin rằng một ngày nào đó con cũng sẽ được như các ngài và dòng nước mắt thứ tư là dòng nước mắt khi con được chiêm nghiệm về sự khổ đau của các chúng sanh trên cuộc đời này, trong đó có tự thân con và con có sự quyết tâm mình sẽ không để cho mình đau khổ nữa vì con đường giải thoát đã quá rõ ràng, chỉ cần nhìn vào ngũ uẩn, nhìn vào cảm thọ, phát hiện ra tham, sân, si, vô minh, bản ngã và nhận diện một cách sâu sắc thì tất cả những đau khổ sẽ dần dần giải quyết được hết.

Dòng nước mắt thứ năm đó là dòng nước mắt khi con được chiêm nghiệm về những buổi thiền quán về biết ơn, tri ân đấng sinh thành của mình. Con tuy không may mắn được sinh ra trong một gia đình có một mái ấm hạnh phúc, nhưng khi con được lắng nghe những bài thiền quán về biết ơn thì con đã hiểu về ba mẹ con, hai người đã làm hết sức mình cho những đứa con của mình chứ không phải là không có trách nhiệm và con nghĩ rằng dù ba mẹ mình như thế nào thì bổn phận làm con phải ghi nhớ công ơn đó. Ba mẹ con không còn nữa nhưng nhân đây xin hướng về ba mẹ, gửi lời tri ân đến ba mẹ đã cho con hình hài này, hình hài không bị khuyết tật, có cái trí nhận biết được cuộc sống.

Đó là những sự chiêm nghiệm của con về những giọt nước mắt hạnh phúc, trí tuệ trong tu học Nikāya hai năm qua. Ngoài sự chiêm nghiệm những giọt nước mắt hạnh phúc, trí tuệ ra con chiêm nghiệm về sự tu tập tâm hiền, trong con có suy nghĩ thế này: Mình đừng bao giờ đòi hỏi người khác hiểu mình mà mình phải tập hiểu người khác, vì khi được tu tập trong dòng pháp Nikāya, được sư phụ khai mở thánh trí về ngũ uẩn thì mình phải tập thương mình và thương người, muốn thương được người thì đừng đòi hỏi người phải làm gì cho mình, phải tập mình hiểu người. Khi mình tập hiểu người thì mình sẽ lắng nghe được những tâm tư, những nỗi lòng của mọi người để từ đó có thể giúp đỡ họ, tâm mình sẽ thấy bình an, không sân giận, không khó chịu dù đó là việc rất nhỏ. Đó là những sự tu tập của bản thân con trong thời gian qua, con kính trình lên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

3. Sư cô Nguyên Tú

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng hiền trí. Mọi người có thấy hoan hỉ không ạ? Đệ tử con pháp danh Nguyên Tú được sự chỉ dạy trên sư phụ nên hôm nay con chia sẻ những lợi ích cũng như tâm đắc tu học Nikāya trong thời gian vừa qua. Con nghĩ rằng chắc đây cũng là lần thứ mười con được chia sẻ tâm đắc tu học, trong mỗi lần chia sẻ như vậy thường có rất nhiều bài học sanh khởi trong tự thân con. Mặc dù con đã xuất gia được mười bốn năm, những người khác hỏi con xuất gia khi nào thì tâm con nghĩ là khi con bước chân vào dòng pháp này, đó chính là lúc con được xuất gia chính thức, tức là con xuất gia được hai năm và niềm hoan hỉ trong con rất nhiều.

Con sẽ tổng hợp lại vì tất cả các pháp sư phụ giảng từ trên Đức Phật đều có sự liên kết lại với nhau, không có rời rạc mà rất mạch lạc với nhau từng pháp. Con thấy mỗi ngày trong sự tu tập của con, con muốn mình phát triển nhiều hơn nữa chứ không phải giậm chân tại chỗ, trong khoảng thời gian năm tháng con nhập thất và hiện tại cho tới bây giờ con ra thất cũng được hai tháng. Trong khoảng thời gian đó con luôn luôn như lý tác ý, đây là một pháp mà con nghĩ những người tu tập được thì cái như lý tác ý này hết sức quan trọng và tuyệt vời. Nếu mình muốn thành tựu về tâm hiền thì cái pháp đầu tiên mình có phải là tác ý về tâm hiền, không phải mình tự động cho cảm thọ sanh khởi mà phải tác ý cho cảm thọ sanh khởi.

Con thấy trong tự thân mình cảm thọ bất thiện sanh khởi rất nhiều, muốn có những cảm thọ hiền thiện trong sự tu tập thì phải tác ý kêu gọi cảm thọ của mình. Ví dụ con thường hay gọi tâm con là "tâm hiền ơi… tâm hiền ơi" là tự trong lồng ngực của con tự dâng lên một cảm thọ, có nghĩa là con tập cho mình có cảm thọ sanh khởi khi tác ý tâm hiền, và khi cảm thọ sanh khởi thì con sẽ dùng cái tưởng vì tất cả sự tu tập của mình đều nằm trong ngũ uẩn. Khi cảm thọ sanh khởi thì con để nó lan trên đỉnh đầu xuống toàn bộ tự thân con để tâm hiền được sanh khởi, con có nhìn nhận trong sự tu tập của mình thì con phát hiện ra rất nhiều rác bẩn và con thấy khi mình tu tập tâm hiền thì từ cái tâm hiền sẽ đưa lên tâm từ. Khi đã tu tâm hiền rồi thì tu tâm từ rất dễ dàng và thường mình rất ít khi sân hận, một cảm giác sân hận sanh khởi rất nhẹ chứ không mạnh như mình nghĩ, khi con nghe ai đó nói gì về con thì đương nhiên với người đang tu tập thì sự sân hận của con sẽ có chứ không phải không có, khi nó khởi lên như vậy thì đầu tiên con nói chuyện với tâm "an tịnh, lắng dịu nha".

Bình thường con luôn tập cho tâm con quỳ xuống lạy người ta đi, có nghĩa là khi ai đó nói điều khó chịu với mình hoặc mình khó chịu với ai đó thì câu đầu tiên con dạy tâm con là quỳ xuống lạy người ta đi. Đương nhiên tập một thời gian thì chỉ cần khởi lên và con dạy nhẹ cái tâm thì lập tức hình bóng trong tự thân con quỳ xuống lạy người đó nhẹ nhàng chứ không phải là khó chịu, bực bội. Mình muốn thành tựu những thiện pháp thì mình phải tác ý như vậy, con có nhìn nhận trong tự thân khi khởi lên sân hận thì đầu tiên con kêu "an tịnh, lắng dịu nha", cảm thọ sẽ lắng dịu. Sau đó không phải đợi tới chiều hay sang ngày mai mà khi con trở về phòng mình thì con sẽ ngồi an tịnh lại và con sẽ khởi lại cảm thọ khó chịu lúc nãy lên, con hỏi rằng khó chịu cái gì, con thấy trong sự khó chịu đó là người ta không làm hài lòng mình nên mình khó chịu, có nghĩa mình còn thương cái thân mình nhiều lắm.

Khi con dạy tâm con như vậy thì con nói rằng "hãy tan biến và biến mất khỏi tâm này đi", nghĩa là khi nhìn vào cảm thọ sân đó dù không còn nữa nhưng thật sự nó chỉ nằm yên chứ không biến mất. Chỉ cần nhìn lại người đó lần nữa hoặc nghe âm thanh của người đó lần nữa thì sự khó chịu dâng lên hoài thành ra mình cần phải dạy dỗ tâm mình là như vậy. Khi dạy dỗ như vậy thì cảm thọ sân sẽ hết, mình đừng bao giờ nghĩ rằng những cái pháp đó thầy nói tới nói lui cũng nhiêu đó thôi, đây cũng là một từ con cực kì cấm kỵ trong sự tu tập của con. Những cái pháp đó mình phải thành tựu, tâm hiền thì mình phải thành tựu tâm hiền, tâm từ, tâm bi mình chưa thành tựu thì mình đừng nói những câu đó. Hôm trước sư phụ nói với con những người nói câu đó là sự tu tập của họ đã bị chặn đứng lại và không thể nào phát triển được.

Con cứ tiếp tục nhìn nhận lại, giống như sư phụ nói với con rằng "Nguyên Tú về tu tập lại tâm hiền nha", lúc đó con vẫn chấp nhận điều đó và tu tập lại tâm hiền hoặc là khi sư phụ chỉ cho con một lỗi nào đó thì đầu tiên con nghĩ là con về tìm cái lỗi đó nằm ở chỗ nào. Con dành thời gian có khi nửa năm trời để nhìn ra tất cả những lỗi mà thầy nói dù hôm đó thầy chỉ nói một từ thôi, thầy nói "Nguyên Tú về xem lại những lúc mình trình pháp xem thử những tâm mình lúc đó thế nào" thì trong vòng nửa năm đó con luôn quán xét, nhìn lại và bắt đầu con thấy rất nhiều khía cạnh trong sự tu tập của mình và con cực kì hoan hỉ. Con thấy sự tu tập này không thể dừng lại được và chỉ còn có thể tiếp tục tiến bước lên mà thôi cho nên con nghĩ sự tu tập này hết sức vi diệu.

Con có suy nghĩ là trong sự tu tập của con khi có nhiều vị nói với con mình chưa phải là thánh nên mình không thể chịu đựng được những lời nói đó hay mình thế nào đó chẳng hạn. Con nhớ lại trong bài kinh Mười lực Đức Phật nói:

"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)

Một người với cái tâm suy nghĩ chỉ có bậc thánh mới tu tập được, còn người phàm không thể tu tập được thì đó là những người hạ liệt, không thể có những cái cao thượng được. Một bậc thánh cũng từ một con người bình thường mà ra, những con người tu tập được cũng từ những kẻ phàm phu mà thành cho nên khi tu tập đừng bao giờ cho mình có sự tự ti mà phải làm cho mình hướng thượng và tiếp tục tu tập nữa. Con có sự nhìn nhận trong sự tu tập, đó là có rất nhiều khía cạnh, con có để ý một lần sư phụ kêu con lên giao cho con công việc, hôm đó là lần đầu tiên dù chỉ là công việc, nếu nói một lần thì tất cả mọi người sẽ hiểu nhưng ở đây sư phụ đã lặp lại công việc đó mười lần với con, khi con đứng với sư phụ thì sư phụ đã nói chuyện đó tới mười lần, sư phụ dặn tới dặn lui liên tục trong mười lần đó.

Khi con làm việc thì con phát hiện ra con cần phải gọi điện để hỏi thêm sư phụ nữa, lúc đó con suy nghĩ những bài giảng pháp của sư phụ cho dù sư phụ giảng mười lần hoặc trăm lần, có thể ngay đó mình nghe thì mình hiểu được nhưng trong sự thực hành của mình vào lúc đối diện thân tâm trong thọ; tưởng; hành của mình thì mình tiếp tục cần một vị thiện hữu tri thức dạy dỗ cho mình. Đó là lý do tại sao sư phụ luôn dạy tới dạy lui những pháp mà mình đã nghe rất nhiều lần rồi, cho tới giờ sư phụ vẫn giảng như vậy. Con thấy làm bạn với thiện là điều hết sức tuyệt vời, trong một bài kinh con thường nghe sư phụ nói là ngài A-nan nói với Đức Phật nửa phạm hạnh này là nhờ thiện bạn hữu, thiện tri thức có nghĩa là nửa sự tu tập này là nhờ bạn thiện tri thức giúp đỡ cho mình. Tuy nhiên Đức Phật nói chớ có nói như vậy, toàn bộ phạm hạnh này có nghĩa là toàn bộ sự tu tập này đều nhờ thiện bạn hữu, thiện tri thức.

Khi con thấy sư phụ khóc khi nhắc về bậc đạo sư, lúc đó con mới thật sự thấm thía được rằng bậc đạo sư là người đã làm cho mình hoàn thành toàn bộ phạm hạnh trong sự tu tập này. Nhưng ngay trong hiện tại mình chưa thành tựu mà người thầy vĩ đại đã ra đi thì đó là niềm đau xót cho mình nên sư phụ đã đau lòng như vậy. Cho nên con đã có sự suy tư, suy nghĩ rất nhiều, một người đang trên con đường tu tập thì đương nhiên phạm sai lầm, điều đó rất bình thường nên không có gì làm cho mình chùng bước, khi tu tập tâm hiền trong một năm nhưng vẫn khởi lên sân si thì cái đó không sao hết, đừng làm cho mình đau khổ, ray rứt trong lòng. Mình cứ tiếp tục tu để xem mình phạm cái lỗi nào rồi mình tiếp tục tiến lên, nghĩa là mình có xấu hổ trong tự thân mình nhưng không phải mình làm cho tự thân mình trở nên bứt rứt và không tu tập được.

Con nghĩ rằng một người đang tu tập trên con đường chánh pháp và gặp thiện hữu tri thức thì hãy tiếp tục cố gắng ở gần những vị đó, trong một bài kinh Đức Phật nói một người làm bạn với người ác thì giống như con rắn nằm trong đống phân, dù con rắn không làm bạn với phân hay đống phân không làm hại con rắn nhưng lúc đó con rắn bị mùi hôi thối của đống phân làm cho bốc mùi. Khi mình ở với một người không có sự tu tập chẳng ảnh hưởng gì hết nhưng mình sẽ bị những cái xung quanh họ làm cho con người mình thay đổi và không thể tiếp tục tiến lên trên con đường đạo được. Cho nên trong sự tu tập này con nhìn nhận được như lý tác ý, tâm hiền thiện và làm bạn với thiện là điều hết sức tuyệt vời trong dòng pháp này, đương nhiên song song trong đó còn rất nhiều pháp, nếu những vị nào đã tu tập một thời gian ngắn hay tu tập một thời gian dài thì trong tâm luôn phải nhớ mình phải thành tựu những pháp mình chưa thành tựu được, như Đức Phật nói:

"Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)

Lúc đó con có một suy nghĩ trong đầu, thật sự ngày hôm nay khi con tu tập được, con có thầy con ở đây, cha mẹ con là người đồng hành trên bước đường tu tập nhưng khoảng thời gian trước đó không được như vậy. Nghĩa là cha mẹ con là người không đồng ý cho sự tu tập này của con, con với thầy con không nói chuyện trong thời gian rất dài nhưng khi con tu tập xong thì điều đầu tiên con làm là hướng tâm về cha mẹ mình, nguyện rằng những công đức tu tập này có thể hồi hướng cho cha mẹ, mong rằng một ngày nào đó cha mẹ mình có thể nghe được chánh pháp, hiểu được chánh pháp, thấy rõ cuộc đời này là đau khổ, vô thường và có thể thành tựu chánh tri kiến.

Ngày nào con cũng làm như vậy và thật sự có sự thay đổi, chuyển biến trong tự thân cha mẹ con. Cha con có thể nói là một người tà kiến, không có tu tập nhưng khi vào dòng pháp này ba con rất hoan hỉ với pháp nhưng ba không thực hành được, khi con nói ba tu tập tâm hiền thì ba tu tập một năm trời nhưng lòng sân của ba vẫn còn rất nhiều và ba có nói với con về điều đó, con nói không sao hết, cứ từ từ, con nói để ba không bị chùng bước hoặc không thể quay lại con đường cũ. Vì con suy nghĩ thế này, con nhớ trong đám tang mẹ sư phụ, trước khi bà mất thì bà có bị bệnh nên sư phụ đã dùng nhiều phương tiện hướng dẫn pháp cho bà, khi bà mất thì sư phụ nắm tay bà và có nhiều sự an ủi, con nhìn lại có thể trong nhiều kiếp trước hoặc là kiếp nào đó con cũng từng như vậy. Khi về già gần chết con mới gặp chánh pháp, lúc đó chánh pháp mới sáng trong con cho ngày hôm nay con trở lại đây trong thân hình còn rất trẻ và học được chánh pháp, con lấy tâm tư đó và con nghĩ ba con cũng vậy, có thể đời này ba không học nhanh được nhưng chắc chắn trong đời sau ba sẽ gặp được chánh pháp giống ngày hôm nay con được gặp chánh pháp.

Đó là những lợi ích mà con đã tu tập trong khoảng thời gian vừa qua, con xin chia sẻ cho tất cả các vị hiền giả, trong khi con nói có thể làm cho các vị không hài lòng hoặc không hoan hỉ, hoặc trong khi con nói có khởi bản ngã thì con mong tất cả các bậc hiền trí tha thứ và hoan hỉ cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

4. Sư cô Liên Trang

Con chân thành đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con kính đảnh lễ trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Đệ tử con pháp danh Liên Trang, hôm nay được sự chỉ dạy của sư phụ nên con được ngồi đây xin chia sẻ với đại chúng một đôi điều về lợi ích mà con nhận được khi được tu học trong dòng pháp Nikāya này. Thứ nhất là từ khi con biết đến dòng pháp Nikāya thì thật sự cũng mới đây thôi, hồi tháng ba là con biết đến dòng pháp là đến nay chưa được một năm nhưng thật sự mỗi ngày khi con tu tập trong dòng pháp này, càng ngày con càng thấy thích, càng ngày con nhận được những lợi lạc, được an trú trong pháp thì con vô cùng hạnh phúc vì trước đây khi con chưa biết pháp, mặc dù con xuất gia đã được mười năm, con cũng đi học trường này trường nọ, kinh điển con thấy rất nhiều, con tiếp xúc rất nhiều kinh điển luật luận, được học và con cũng được giới thiệu nhiều pháp môn.

Thật sự con rất hoang mang, giống như bị lạc trong rừng rậm mà không biết đâu mới là con đường chân chánh mà Đức Phật chỉ dạy. Con rất may mắn khi con được gặp dòng pháp này thì con mới thật sự thấy được con đường, thật sự thấy được đâu là chánh pháp, có được lộ trình tu tập rõ ràng, minh bạch, tuần tự và hoàn toàn y cứ, dựa trên những lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Trước đây con mới học thì con vẫn còn một số hoài nghi nhưng dần dần con đọc nhiều kinh, con đọc vào trong tạng kinh Nikāya thì con thấy niềm tin ngày càng được củng cố bởi vì tất cả những gì trong pháp hành, những gì mà sư phụ và bậc đạo sư chỉ dạy là hoàn toàn có ở trong kinh, hoàn toàn là những lời kim khẩu của Đức Phật dạy.

Con thấy pháp ở trong lòng bàn tay tức là không có mơ hồ, không có xa vời, không phải ở ngoài sự thấy biết của mình. Chánh pháp này chỉ cần xoay lại nhìn vào trong tự thân, nhìn vào thân tâm trực diện, đối diện với ngũ uẩn đang có mặt trong tự thân mình. Khi mình nhìn rõ được ngũ uẩn thì dần dần lộ ra những cái dục, ái, tham, sân, si, bản ngã trong mình và tác ý nhiếp phục, công việc nhận diện ngũ uẩn con thấy rất thú vị, mang lại lợi ích thiết thực ngay trong hiện tại tức là có kết quả tức thì trong hiện tại. Cái mà con rất tâm đắc trong dòng pháp này nữa là con thấy phương pháp thiền quán của sư phụ rất tuyệt vời, những bài thiền quán của sư phụ là trực chỉ, chỉ thẳng vào sự thật của cuộc đời là khổ, vô thường và vô ngã, không có vòng vo, không có che đậy, không có cái gì làm cho mình mơ hồ. Tức là khi con để hết tâm vào những lời thiền quán của sư phụ thì trong những giây phút đó con cảm thấy có sự thay đổi rõ rệt trong tâm mình, thấy mình nhả ra được những tâm tham, sân si, chấp thủ cho nên phương pháp thiền quán là điều con thấy rất tâm đắc trong dòng pháp này.

Việc thực tập của con cũng còn yếu kém nhưng mỗi ngày con cũng tập nhìn mọi người, mọi vật, nhìn những đồ vật, cảnh vật xung quanh bằng cái nhìn vào bản chất, nhìn vào mọi người xung quanh con thấy đây là ngũ uẩn, tất cả mọi người có mặt ở đây dù giàu sang, nghèo hèn, dù người cao hay thấp, mập hay ốm, trắng hay đen đều là ngũ uẩn không có gì khác. Con tập nhìn cái nhìn đó là sắc pháp, là sắc, nhìn đồ ăn dù ngon hay dở, màu sắc, mùi vị như thế nào thì con tác ý đó là tứ đại và cái gì sắc là tứ đại thì bản chất nó là duyên sanh, là vô thường, là trống rỗng. Dù con hay mọi người có tập khí, tánh tình khác nhau như thế nào nhưng nhìn vào nội tâm của tất cả chúng hữu tình, chúng sanh đều là sự vận hành của thọ; tưởng; hành; thức và khi mình biết tất cả mọi người còn vô minh đều bị ngũ uẩn chi phối, đều là nô lệ của dục, ái, tham, sân, si, bản ngã thì tình thương trong con được phát triển. Con cảm thấy mình thông cảm được, mình bao dung được cho những tập khí khác nhau, những điều làm mình khó chịu hay chướng tai gai mắt thì dần dần con thấy mình có thể bao dung nhiều hơn.

Khi nhận diện ngũ uẩn nhìn vào tự thân mình, mình thấy được thân tâm này là ngũ uẩn, là sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì tập tách mình ra, làm chủ chứ không để nó dẫn dắt, chi phối nữa. Dần dần mình tập nhiếp phục những cái tham, sân, si, dục ái, những cái thô thì con nhiếp phục được, những khi con nhiếp phục được thì con thấy rất hoan hỉ vì bình thường mình bị những cái tham, sân, si này chi phối mà mình không hề hay biết vì không biết nhận diện năm uẩn, đến khi vào dòng pháp này xoay lại thấy rõ đâu là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình làm chủ được nó, mình cảm thấy giống như mình có sự tự chủ và con thấy điều đó rất tuyệt vời. Một niềm hạnh phúc trong con mỗi ngày khi mình nhìn vào tự thân và nhiếp phục, đó là một chút những lợi ích mà hôm nay con xin chia sẻ đến quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Sự tu tập của con còn rất nhiều yếu kém, nếu những gì con chia sẻ nếu có gì thiếu xót, con xin quý thầy và đại chúng bỏ qua cho con. Con cảm ơn mọi người đã lắng nghe. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

III. Lời kết

Thầy Thiện Huệ: Con kính mời sư cô Tuệ Quý đọc bài Mười Pháp mà vị xuất gia phải luôn luôn quán sát.

Sư cô Tuệ Quý:

"Này các Tỳ-kheo, có mười pháp này, vị xuất gia phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: 'Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp' (mất hết giai cấp).

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: 'Ðời sống của ta tùy thuộc vào người khác'.

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: 'Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!'.

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: 'Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?'.

Vị xuất gia cần luôn luôn quán sát: 'Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?'.

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: 'Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại".

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: 'Ta là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy'.

Vị xuất gia cần phải luôn quán sát: 'Ðêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã thành người như thế nào?'.

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: 'Ta có cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không?'.

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: 'Ta có chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?'

Này các Tỳ-kheo, mười pháp này, vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, V. Phẩm Mắng Nhiếc, (VIII). Các Pháp)

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Con thỉnh đại chúng đồng chắp tay nghe con đọc khuyến tấn đạo tràng.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là lắng dịu

Gặp nhau trong hòa ái

Tạm biệt trong an vui.

Đạo tràng Nikāya,

Thấy - tập Thấy biết đúng

Nghĩ - tập Suy nghĩ đúng

Nói - tập Nói lời đúng.

Làm - tập Hành động đúng

Mạng - tập Nuôi mạng đúng

Siêng - tập Siêng đúng việc

Quán - tập Quán đúng chỗ

Định - tập Định đúng cách.

Đạo tràng Nikāya,

Tập Thấy biết chân chánh

Tập Suy nghĩ chân chánh

Tập Nói lời chân chánh

Tập Hành động chân chánh

Tập Nuôi mạng chân chánh

Tập Siêng năng chân chánh

Tập Quán niệm chân chánh

Tập Định tâm chân chánh.

Đạo tràng Nikāya,

Tập sống đời chân chánh

Tập sống đời Thánh thiện

Giữa thế giới hôn mê.

Đạo tràng Nikāya,

Chọn lối tu chân chánh

Chọn pháp hành thiết thực,

Để dẫn dắt thân tâm.

Đạo tràng Nikāya,

Chọn Con đường Tám Chánh

Làm chỗ mình nương tựa

Để định hướng thân tâm.

Đạo tràng Nikāya,

Đang bước vào Thánh đạo

Đang xa lìa phiền não

Đang thoát khỏi khổ đau.

Đạo tràng Nikāya,

Không gian tà, xảo luận

Không mập mờ, bất chánh

Không che giấu, bất minh.

Đạo tràng Nikāya,

Không lạc vào tà đạo

Không lạc vào tà kiến

Không lạc lối tà nhân.

Đạo tràng Nikāya,

Không xa rời Thánh đạo,

Không xa rời Thánh trí,

Không xa pháp Thánh nhân.

Đạo tràng Nikāya,

Thân tâm thường chánh niệm,

Nội tâm thường tỉnh giác,

Thường quán sát thân tâm.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm từ thường tỏa rộng,

Tâm hiền thường an trú,

Giới định tuệ thực thi.

Đạo tràng Nikāya,

Không rộn ràng, dao động,

Nhẹ nhàng trong hành xử,

Không nuôi dưỡng hận sân.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm hiền hòa, trí tuệ

Nhìn đời bằng Thánh trí

Bậc Chánh Giác truyền trao.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm hiền hòa, lắng dịu

Tâm thật là hoan hỉ,

Trong pháp Đức Thế Tôn.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là hạnh phúc,

Theo con đường Thánh thiện,

Bậc Chánh Giác từng tu.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là dễ chịu,

Chịu học điều chân chánh,

Chịu học hạnh Thánh nhân.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là mát dịu,

Tâm hiền ngoan, dễ chịu,

Tâm ngọt dịu, dễ thương.

Đạo tràng Nikāya,

Tâm thật là lắng dịu,

Tâm thọ vui, dễ chịu,

Tâm lắng dịu, hiền vui.

Đạo tràng Nikāya

Tự trọng và tôn trọng,

Tu tập trong hòa ái,

Tạm biệt trong an vui.

(Nghi Thức Tu Học Nikāya)

Vui vì ta được biết

Chánh pháp của Thế Tôn.

Vui vì ta được học

Lời dạy của Thế Tôn.

Vui vì được nghe pháp,

Vì được gặp bạn lành,

Vì biết giữ giới hạnh,

Vì biết tập nhìn tâm.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.