Thiền Quán - Địa Ngục Và Quả Báo Của Ác Nghiệp
Kinh Nikāya Thiền Quán
ĐỊA NGỤC VÀ QUẢ BÁO CỦA ÁC NGHIỆP
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Thiên Sứ” PAGEREF _Toc80089428 \h 1
II.Bài kinh “Đống Xương” PAGEREF _Toc80089429 \h 9
Bài kinh “Thiên Sứ”
Chúng ta sẽ chiêm nghiệm những lời dạy của Đức Phật về những hình phạt trong địa ngục và quả báo của ác nghiệp trong bài kinh “Thiên Sứ”, Trung Bộ Kinh, Tập III.
"Thế Tôn nói như sau:
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có hai nhà có cửa; ở đây, một người có mắt đứng chính giữa có thể thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy các chúng hữu tình chết đi sanh lại, hạ liệt, cao sang, đẹp trai, xấu hình, thiện thú, ác thú, tùy theo hạnh nghiệp của họ, và Ta nghĩ: 'Các bậc hữu tình này do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời này. Hay các vị hữu tình này, do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh ra giữa loài Người. Còn các hữu tình, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với tà kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi ngạ quỹ (pettivisaya). Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp tà kiến, các hữu tình ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào các loại bàng sanh. Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành... Sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục'.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục, sau khi bắt giữ người ấy với nhiều cánh tay, dẫn người ấy đến trước vua Yama và thưa:
'-- Tâu Ðại vương, người này không có từ tâm, không xứng là Sa-môn, không xứng là Bà-la-môn, không kính trọng các vị lớn tuổi trong gia đình. Ðại vương hãy trừng phạt nó!'
Này các Tỳ-kheo, vua Yama, chất vấn người ấy, cật vấn, thẩm vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất: 'Này người kia, Ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất đã hiện ra giữa loài Người không?'
Người ấy nói: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người có đứa con nít nhỏ, yếu ớt, nằm ngửa, nằm rơi vào giữa phân và nước tiểu của nó hay không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị sanh chi phối, ta không thoát khỏi sanh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật'.
Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn và thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ nhất, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ hai: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ hai hiện ra không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: "Này Người kia, Ngươi có thấy người đàn bà hay người đàn ông tám mươi tuổi, hay chín mươi tuổi, hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã qua mất, răng rụng, tóc sói, da nhăn, run rẩy, với tay chân bạc màu?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị già chi phối, ta không thoát khỏi già; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này Người kia, Người có thấy người đàn bà hay người đàn ông bị bệnh hoạn, khổ não, bị bệnh trầm trọng nằm rơi vào trong nước tiểu và phân của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với nó: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị bệnh chi phối, ta không thoát khỏi bệnh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, các vua chúa sau khi bắt được tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy... họ lấy gươm chặt đầu?'. Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Thật sự những ai làm các ác nghiệp, họ phải chịu những hình phạt sai khác, ngay trong hiện tại như vậy, huống nữa là về đời sau! Ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu, ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'.
Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ tư, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ năm: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ năm hiện ra không? 'Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, người đàn bà hay người đàn ông chết đã được một ngày, hai ngày hay ba ngày, sưng phồng lên, xanh xám lại, rữa nát ra?' Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị chết chi phối, ta không thoát khỏi chết; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này Người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính là Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo việc làm ấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc (Pancavidhabandhanam), họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực, Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ… chưa tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỳ-kheo, Ðại địa ngục ấy có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau, xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, chảy đỏ rực, đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
Này các Tỳ-kheo, từ tường phía Ðông của Ðại địa ngục ấy, những ngọn lửa bừng cháy lên được thổi tạt đến tường phía Tây. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Tây được thổi tạt đến tường phía Ðông. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Bắc được thổi tạt đến tường phía Nam. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Nam được thổi tạt đến tường phía Bắc. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Dưới, được thổi tạt lên phía Trên. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Trên, được thổi tạt xuống phía Dưới. Người ấy ở đây cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông của Ðại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Tây được mở ra... cửa phía Bắc được mở ra... cửa phía Nam được mở ra. Người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dầu cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi các ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông được mở ra, người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ... sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Người ấy đi ra khỏi cửa Ðịa ngục ấy.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục là Ðại Phấn nị Ðịa ngục (Guthaniraya). Người ấy rơi vào Ðịa ngục này. Này các Tỳ-kheo, tại Phấn nị Ðịa ngục ấy, các chúng sanh với miệng như mũi kim cắt đứt da ngoài; sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong; sau khi cắt dứt da trong, chúng cắt đứt thịt; sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân; sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương; sau khi cắt đứt xương, chúng cắt đứt xương tủy. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Phấn nị ấy là Ðại địa ngục Nhiệt khôi (Than hừng - Kukkulaniraya). Người ấy rơi vào ở đấy. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Nhiệt khôi là Ðại Châm thọ lâm (Sambalivanam) cao một do tuần, với những gai nhọn dài mười sáu ngón tay, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Họ bắt người ấy leo lên, leo xuống. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Châm thọ lâm là Ðại Kiếm diệp lâm (Rừng lá gươm - Asipattavanta). Người ấy vào trong ấy. Ở đấy, các lá cây, do gió lay động, cắt đứt tay của người ấy, cắt đứt chân, cắt đứt tay chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt tai mũi. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Kiếm diệp lâm là Ðại Khôi hà (Sông vôi - Kharodakanadi). Người ấy rơi vào trong ấy. Tại đấy, người ấy bị trôi thuận theo dòng nước, người ấy bị trôi ngược lại dòng nước, người ấy trôi thuận theo, ngược lại dòng nước. Tại đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi đói bụng'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi khát nước'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy ra, và đổ vào miệng người ấy nước đồng nấu sôi, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi ngươi ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo ruột lớn, ruột nhỏ, nước đồng sôi ấy chảy ra ngoài từ phía dưới. Người ấy ở đấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lại quăng người ấy vào Ðại địa ngục.
Một thời xưa lắm, này các Tỳ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: 'Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và ta có thể hầu hạ Thế Tôn, và Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng'.
Này các Tỳ-kheo, điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; nhưng điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi Thiện thệ nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm như sau:
Dầu Thiên sứ báo động,
Thanh niên vẫn phóng dật,
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.
Ở đây bậc Chân nhân,
Ðược Thiên sứ báo động,
Không bao giờ phóng dật,
Trong diệu pháp bậc Thánh.
Thấy sợ trong chấp thủ,
Trong hiện hữu sanh tử.
Ðược giải thoát chấp thủ,
Sanh tử được đoạn trừ,
Ðược yên ổn an lạc,
Ngay hiện tại tịch tịnh,
Mọi oán hận sợ hãi,
Các vị ấy vượt qua,
Mọi đau đớn sầu khổ,
Họ đều được siêu thoát". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bài kinh “Đống Xương”
Chúng ta tiếp tục nghe những quả báo của ác nghiệp, đây là Thánh ngôn được chính Đức Phật tự thân thấy biết và trình bày lại cho chúng ta nghe. Tiếp theo là bài kinh “Đống Xương” trong Tương Ưng Bộ, tập II.
"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.
Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
-- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
-- Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!'
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Ðống Xương)
Từ một kẻ đồ tể giết trâu bò phải trở thành một bộ xương, bị những con quạ, kên kên, diều hâu bay theo rỉa thường xuyên nên rất đau đớn. Đức Thế Tôn nói xưa kia ngài đã thấy việc này nhưng ngài không nói vì có nói cũng không ai tin, và những người không tin đó sẽ gặp bất hạnh, đau khổ lâu dài. Người đồ tể này "bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy". Đó là kẻ giết trâu bò còn người thứ hai là một đống thịt đi giữa hư không bị những con kên kên cắn xé, kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim)
Kẻ đồ tể thứ hai là kẻ giết dê.
Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Người Giết Dê Bị Lột Da)
Sau đây là quả báo của kẻ giết heo.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Người Giết Heo Với Ðao Kiếm)
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Người Săn Thú Với Cây Lao)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Người Tra Tấn Với Mũi Tên)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người điều phục các loài thú". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim)
"Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm). ...,...
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thông dâm ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, I. Kẻ Thông Dâm Bị Chìm Trong Hố)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người gian phụ ở Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, III. Gian Phụ bị Lột Da)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một Bà-la-môn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: 'Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về!'" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, II. Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kẻ Trộm Cướp Ðứt Ðầu)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỳ-kheo đi giữa hư không.
Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Tỳ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỳ-kheo)
" ... tôi thấy một Tỳ-kheo-ni đi giữa hư không.
Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy đỏ.
... là một ác Tỳ-kheo-ni..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỳ-kheo Ni)
Xin mời đại chúng đứng lên lễ ba lễ sám hối những ác nghiệp trong quá khứ mà chúng ta đã tạo: Chúng con xin sám hối tất cả những ác nghiệp trong quá khứ từ vô lượng kiếp đến nay. Con xưa đã tạo bao ác nghiệp đều do vô thỉ tham, sân, si từ thân, miệng, ý mà gây ra, tất cả nay con xin sám hối.
./.
ĐỊA NGỤC VÀ QUẢ BÁO CỦA ÁC NGHIỆP
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Thiên Sứ” PAGEREF _Toc80089428 \h 1
II.Bài kinh “Đống Xương” PAGEREF _Toc80089429 \h 9
Bài kinh “Thiên Sứ”
Chúng ta sẽ chiêm nghiệm những lời dạy của Đức Phật về những hình phạt trong địa ngục và quả báo của ác nghiệp trong bài kinh “Thiên Sứ”, Trung Bộ Kinh, Tập III.
"Thế Tôn nói như sau:
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có hai nhà có cửa; ở đây, một người có mắt đứng chính giữa có thể thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy các chúng hữu tình chết đi sanh lại, hạ liệt, cao sang, đẹp trai, xấu hình, thiện thú, ác thú, tùy theo hạnh nghiệp của họ, và Ta nghĩ: 'Các bậc hữu tình này do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời này. Hay các vị hữu tình này, do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh ra giữa loài Người. Còn các hữu tình, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với tà kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi ngạ quỹ (pettivisaya). Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp tà kiến, các hữu tình ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào các loại bàng sanh. Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành... Sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục'.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục, sau khi bắt giữ người ấy với nhiều cánh tay, dẫn người ấy đến trước vua Yama và thưa:
'-- Tâu Ðại vương, người này không có từ tâm, không xứng là Sa-môn, không xứng là Bà-la-môn, không kính trọng các vị lớn tuổi trong gia đình. Ðại vương hãy trừng phạt nó!'
Này các Tỳ-kheo, vua Yama, chất vấn người ấy, cật vấn, thẩm vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất: 'Này người kia, Ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất đã hiện ra giữa loài Người không?'
Người ấy nói: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người có đứa con nít nhỏ, yếu ớt, nằm ngửa, nằm rơi vào giữa phân và nước tiểu của nó hay không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị sanh chi phối, ta không thoát khỏi sanh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật'.
Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn và thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ nhất, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ hai: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ hai hiện ra không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: "Này Người kia, Ngươi có thấy người đàn bà hay người đàn ông tám mươi tuổi, hay chín mươi tuổi, hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã qua mất, răng rụng, tóc sói, da nhăn, run rẩy, với tay chân bạc màu?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị già chi phối, ta không thoát khỏi già; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này Người kia, Người có thấy người đàn bà hay người đàn ông bị bệnh hoạn, khổ não, bị bệnh trầm trọng nằm rơi vào trong nước tiểu và phân của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với nó: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị bệnh chi phối, ta không thoát khỏi bệnh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, các vua chúa sau khi bắt được tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy... họ lấy gươm chặt đầu?'. Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Thật sự những ai làm các ác nghiệp, họ phải chịu những hình phạt sai khác, ngay trong hiện tại như vậy, huống nữa là về đời sau! Ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu, ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'.
Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ tư, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ năm: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ năm hiện ra không? 'Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, người đàn bà hay người đàn ông chết đã được một ngày, hai ngày hay ba ngày, sưng phồng lên, xanh xám lại, rữa nát ra?' Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị chết chi phối, ta không thoát khỏi chết; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này Người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính là Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo việc làm ấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc (Pancavidhabandhanam), họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực, Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ… chưa tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỳ-kheo, Ðại địa ngục ấy có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau, xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, chảy đỏ rực, đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
Này các Tỳ-kheo, từ tường phía Ðông của Ðại địa ngục ấy, những ngọn lửa bừng cháy lên được thổi tạt đến tường phía Tây. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Tây được thổi tạt đến tường phía Ðông. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Bắc được thổi tạt đến tường phía Nam. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Nam được thổi tạt đến tường phía Bắc. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Dưới, được thổi tạt lên phía Trên. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Trên, được thổi tạt xuống phía Dưới. Người ấy ở đây cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông của Ðại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Tây được mở ra... cửa phía Bắc được mở ra... cửa phía Nam được mở ra. Người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dầu cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi các ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông được mở ra, người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ... sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Người ấy đi ra khỏi cửa Ðịa ngục ấy.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục là Ðại Phấn nị Ðịa ngục (Guthaniraya). Người ấy rơi vào Ðịa ngục này. Này các Tỳ-kheo, tại Phấn nị Ðịa ngục ấy, các chúng sanh với miệng như mũi kim cắt đứt da ngoài; sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong; sau khi cắt dứt da trong, chúng cắt đứt thịt; sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân; sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương; sau khi cắt đứt xương, chúng cắt đứt xương tủy. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Phấn nị ấy là Ðại địa ngục Nhiệt khôi (Than hừng - Kukkulaniraya). Người ấy rơi vào ở đấy. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Nhiệt khôi là Ðại Châm thọ lâm (Sambalivanam) cao một do tuần, với những gai nhọn dài mười sáu ngón tay, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Họ bắt người ấy leo lên, leo xuống. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Châm thọ lâm là Ðại Kiếm diệp lâm (Rừng lá gươm - Asipattavanta). Người ấy vào trong ấy. Ở đấy, các lá cây, do gió lay động, cắt đứt tay của người ấy, cắt đứt chân, cắt đứt tay chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt tai mũi. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Kiếm diệp lâm là Ðại Khôi hà (Sông vôi - Kharodakanadi). Người ấy rơi vào trong ấy. Tại đấy, người ấy bị trôi thuận theo dòng nước, người ấy bị trôi ngược lại dòng nước, người ấy trôi thuận theo, ngược lại dòng nước. Tại đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi đói bụng'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi khát nước'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy ra, và đổ vào miệng người ấy nước đồng nấu sôi, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi ngươi ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo ruột lớn, ruột nhỏ, nước đồng sôi ấy chảy ra ngoài từ phía dưới. Người ấy ở đấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lại quăng người ấy vào Ðại địa ngục.
Một thời xưa lắm, này các Tỳ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: 'Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và ta có thể hầu hạ Thế Tôn, và Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng'.
Này các Tỳ-kheo, điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; nhưng điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi Thiện thệ nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm như sau:
Dầu Thiên sứ báo động,
Thanh niên vẫn phóng dật,
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.
Ở đây bậc Chân nhân,
Ðược Thiên sứ báo động,
Không bao giờ phóng dật,
Trong diệu pháp bậc Thánh.
Thấy sợ trong chấp thủ,
Trong hiện hữu sanh tử.
Ðược giải thoát chấp thủ,
Sanh tử được đoạn trừ,
Ðược yên ổn an lạc,
Ngay hiện tại tịch tịnh,
Mọi oán hận sợ hãi,
Các vị ấy vượt qua,
Mọi đau đớn sầu khổ,
Họ đều được siêu thoát". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bài kinh “Đống Xương”
Chúng ta tiếp tục nghe những quả báo của ác nghiệp, đây là Thánh ngôn được chính Đức Phật tự thân thấy biết và trình bày lại cho chúng ta nghe. Tiếp theo là bài kinh “Đống Xương” trong Tương Ưng Bộ, tập II.
"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.
Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
-- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
-- Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!'
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Ðống Xương)
Từ một kẻ đồ tể giết trâu bò phải trở thành một bộ xương, bị những con quạ, kên kên, diều hâu bay theo rỉa thường xuyên nên rất đau đớn. Đức Thế Tôn nói xưa kia ngài đã thấy việc này nhưng ngài không nói vì có nói cũng không ai tin, và những người không tin đó sẽ gặp bất hạnh, đau khổ lâu dài. Người đồ tể này "bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy". Đó là kẻ giết trâu bò còn người thứ hai là một đống thịt đi giữa hư không bị những con kên kên cắn xé, kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim)
Kẻ đồ tể thứ hai là kẻ giết dê.
Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Người Giết Dê Bị Lột Da)
Sau đây là quả báo của kẻ giết heo.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Người Giết Heo Với Ðao Kiếm)
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Người Săn Thú Với Cây Lao)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Người Tra Tấn Với Mũi Tên)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người điều phục các loài thú". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim)
"Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm). ...,...
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thông dâm ở tại Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, I. Kẻ Thông Dâm Bị Chìm Trong Hố)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người gian phụ ở Ràjagaha này". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, III. Gian Phụ bị Lột Da)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một Bà-la-môn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: 'Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về!'" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, II. Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kẻ Trộm Cướp Ðứt Ðầu)
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỳ-kheo đi giữa hư không.
Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Tỳ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỳ-kheo)
" ... tôi thấy một Tỳ-kheo-ni đi giữa hư không.
Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy đỏ.
... là một ác Tỳ-kheo-ni..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỳ-kheo Ni)
Xin mời đại chúng đứng lên lễ ba lễ sám hối những ác nghiệp trong quá khứ mà chúng ta đã tạo: Chúng con xin sám hối tất cả những ác nghiệp trong quá khứ từ vô lượng kiếp đến nay. Con xưa đã tạo bao ác nghiệp đều do vô thỉ tham, sân, si từ thân, miệng, ý mà gây ra, tất cả nay con xin sám hối.
./.