Lông Tóc Dựng Đứng - Nước Mắt Đầy Mặt - Chấn Động Thân Tâm
Lông Tóc Dựng Đứng
Nước Mắt Đầy Mặt
Chấn Động Thân Tâm
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 07 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Về núi yên tu PAGEREF _Toc111811287 \h 1
II. Chấn động cảm thọ PAGEREF _Toc111811288 \h 6
III. Năm uẩn PAGEREF _Toc111811289 \h 9
IV. Tâm hiền PAGEREF _Toc111811290 \h 13
I. Về núi yên tu
Tấm lòng trải rộng khắp trùng khơi,
Bao đời dục ái làm ta khổ,
Hôm nay thoát ra thật thảnh thơi,
Về núi yên tu tối thượng tu,
Thế Tôn từng dạy thiền tránh ồn,
Gay nhọn an định là thanh sắc,
Sống hạnh viễn ly sạch tâm hồn.
Về núi yên tu, tối thượng thừa,
Bao nhiêu dục ái quyết phải chừa,
Thực hành ly dục tâm hỷ lạc,
Đúng lời Phật dạy hạnh từ xưa.
Về núi yên tu, tối thượng tôn,
Phiễn não quá khứ đã được chôn,
Thiện pháp lạc trú lòng hoan hỷ,
Trong vòng sanh tử bước lên cồn,
Về núi yên tu thật kỳ tài,
Một nhảy vượt ra khỏi trần ai,
Tiêu diêu tự tại siêu vật ngoại,
Hồng trần tục lụy, xin “bái bai”.
Về núi yên tu, tối thượng tuệ,
Ngày đêm tinh tấn trừ sân nhuế,
Thân tâm mát lạnh cảnh núi rừng,
Chuyên chú tăng thượng giới định tuệ,
Về núi chuyên tu, tối thượng trí,
Tận cùng chân lý vượt thế gian,
Lòng yên cảnh vắng, tâm vô lượng,
Tâm từ trải rộng khắp trần hoàng.
Về núi yên tu trí tuệ vua,
Xuất gia đâu phải là chuyện đùa,
Nếu không thành tựu đời phạm hạnh,
Nhục nhã đường tu ở trong chùa.
Về núi yên tu, thật kì tài,
Ba mươi năm rồi, chí chẳng phai,
Nhiệt tâm nóng bỏng con đường đạo,
Vô sanh lậu tận quyết đến ngày.
Về núi yên tu thật là hay,
Nhìn ra thế sự như khói bay,
Mịt mù trắng xóa bao trùm hết,
Mặt trời vừa lên biến tan ngay.
Về núi yên tu, quá tuyệt vời,
Thoát ra mọi cảnh khổ tơi bời,
Xuất gia mục đích là gì nhỉ?
Chưa thành chánh quả chớ để lơi.
Về núi yên tu quá là siêu,
Thoát ra si ái khổ trăm chiều,
Ly dục, ly tham, ly bản ngã,
Cấu nhiễm dần dà nhất định tiêu.
Về núi yên tu, tối thượng chiêu,
Ngày đêm trí tuệ hằng soi chiếu,
Phơi bày che khuất ngàn năm kín,
Diệt hết gian tà, ma quỷ yêu.
Về núi yên tu, tối thượng kế,
Cú nhảy tuyệt luân, đạt siêu thế,
Hồng trần tục lụy, bụi đời bay,
Quyết tâm, quyết chí tròn nguyện thệ.
Về núi yên tu quá phi thường,
Thoát ra muôn cảnh đầy tai ương,
An bình, tịnh lạc, chuyên nội quán,
Thấu rõ toàn cầu, chỉ vô thường.
Về núi yên tu thật tinh vi,
Tăng thượng giới định cần thực thi,
Khua môi, múa mỏ không lợi ích,
Thể nghiệm, thực chứng, tâm liễu tri.
Về núi yên tu, bất tư nghì,
Nhìn ra muôn pháp, toàn hữu vi,
Nhất tâm, quyết tiến vô vi đạo,
Một lần quyết tử chắc định kỳ.
Về núi yên tu là đại hỷ,
Quyết đoán một lần, quá thần kỳ,
Vui cha, vui mẹ, vui thầy tổ,
Vui cả muôn loài, chuyện ly kỳ.
Vui cả muôn loài chẳng dễ gì,
Về núi yên tu thật chẳng sai,
Nhọc nhằng lên xuống khổ lắm thay,
Tới lui qua lại toàn vô ích,
Tiền giả làm sao có thể xài.
Về núi yên tu thật thông minh,
Suốt đời phiêu bồng kiếp lưu linh,
Cầu đạo bôn ba, toàn thế giới,
Giờ đây tỏa ngộ chỉ tự mình.
Về núi yên tu thật cao minh,
Đi tìm cao tăng khắp hành tinh,
Tới nay tỏa ngộ trí năm uẩn,
Mới hay Thánh tăng chỉ tự mình.
Về núi yên tu thật tuyệt chiêu,
Thoát ra khỏi cảnh lửa đốt thiêu,
Lửa tham, lửa dục, lửa sân hận,
Toàn cầu hỏa hoạn cảnh tiêu điều.
Về núi yên tu một trận liều,
Thoát ra luyến ái quyết chẳng chiều,
Mạnh mẽ, oai hùng cú vượt thoát,
Vô minh, khát ái sẽ triệt tiêu.
Về núi yên tu, thật là thương,
Thương người, thương vật, thương chiến trường,
Thương lòng đố kỵ, thương ganh tị,
Thương khắp trần gian cảnh vô thường.
Về núi yên tu, chẳng rộn ràng,
Trong ngoài yên tĩnh, tâm bình an,
Đất trời tĩnh lặng, như bất động,
Trải lòng từ mẫn lệ chứa chan.
Về núi yên tu, giữa đại ngàn,
Tỉnh ra giấc mộng cõi trần gian,
Si si, dại dại trong ái luyến,
Sống sai chết mộng đầy nguy nan.
Về núi yên tu, lòng ngậm ngùi,
Xót thương tham dục, kẻ hủi cùi,
Chạy tìm hố than hừng nóng bức,
Hơ để tìm vui bao giờ nguôi.
Về núi yên tu, lòng xót thương,
Nhìn toàn thế giới cảnh chiến trường,
Tranh giành tranh đấu tranh chiến mãi,
Gây ra thảm họa đầy tai ương.
II. Chấn động cảm thọ
Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Hôm nay chúng ta có buổi pháp đàm, hỏi đáp, những vấn đề còn chưa rõ trong pháp học và pháp hành theo tinh thần kinh tạng Nikāya. Quý vị hãy mở tâm mình ra để chia sẻ, thưa hỏi những vấn đề còn gúc mắc, chưa được sáng tỏ thì chưa tăng, ni sẽ soi sáng cho chúng ta.
17:12-19:00: Phật tử trình pháp
Khi mình nghe pháp, mình hiểu được nghĩa lý, lông tóc dựng đứng, khi đó rất tốt, đó là sự cảm chấn, xúc cảm chấn động thân tâm của mình. Mình phải tác ý hỷ lạc, thích thú, hoan hỷ, vui sướng. Trong kinh chúng ta từng nghe cụm từ “lông tóc dựng đứng” rất nhiều, đó là cụm từ pháp tín thọ, nghĩa tín thọ mà chúng ta mới học ngày trước. Tin nhận được các pháp, hiểu được nghĩa lý trong lời của Đức Phật làm cho mình có sự cảm nhận, cảm động, chấn động thân tâm của mình nên đó là nói lên sự cảm nhận thấu hiểu, chấn động trong thân tâm, tức là có hiệu quả.
Thường khi mình tụng các câu kinh Hán Việt, tụng các chú thì mình có hiểu gì không? Có khi tụng được mười năm, mấy chục năm nhưng mình không hiểu nên mình sẽ không có được những cảm giác như vậy. Nên nhớ cụm từ đó, “lông tóc dựng đứng”, “pháp tín thọ, nghĩa tín thọ” và từ trong kinh Thủ chuyển: Năm sự chấp thủ trong ngũ uẩn này bị rung chuyển. Nên đặc biệt trong đạo tràng Nikāya mình có những vị cư sĩ hay người xuất gia lấy làm lạ, hoặc người ta không thích vì cứ thấy sao mà ngày nào cũng khóc, ngày nào cũng đầm đìa nước mắt như vậy? Đó là người ta không hiểu, đó là sức công phá của Thánh tuệ, đó là ánh sáng mà nó soi vào từng ngõ ngách của nội tâm, làm cho chúng ta rung chuyển, kinh chấn, rung động.
Các thầy, các cô, các Phật tử có nhiều không ạ? Nó rung lên, giật lên thì đó là sự cảm động, chấn động, từ cảm nhận, cảm động, xúc động, chấn động mà mỗi lần chấn động, nước mắt trào dâng như vậy là mỗi lần tâm mình được gội rửa. Đây là chỗ tuyệt vời. Mỗi lần mình nổi da gà lên, lông tóc dựng đứng lên, mỗi lần mình thấy rung động trong cơ thể của mình, từng lỗ chân lông, mỗi lần nước mắt của mình tuôn trào đầy mặt, thì đó là mỗi lần mình được gội, được rửa, được tẩy. Càng nhiều như vậy thì càng mau sạch.
Chúng ta nói ví dụ, mình đi xem một bộ phim hay tuồng kịch mà mình ngồi xem từ đầu đến đuôi nhưng mặt mình bình thường, thì bộ phim hay tuồng kịch đó có hay không? Hoặc khi xem một bộ phim, tuồng kịch mà mình xúc động, khóc òa ra thì tuồng kịch đó đã đem lại cảm xúc cho mình.
Cũng vậy, pháp có công năng đánh vào trong cảm thọ của chúng ta, đánh vào trong cảm xúc của chúng ta, đánh vào trong cảm giác của chúng ta, làm cho chúng ta cảm thấy một sự vỡ òa ra, trước một sự thật bị che đậy, bị che giấu, ngàn năm, vô lượng kiếp. Giờ mình được phơi bày. Vậy nên hôm nào chúng ta sẽ thiền quán bài Đức Thế Tôn là bậc phơi bày những gì bị che kín, chúng ta sẽ học giảng giải bài đó thâm sâu, bài đó phải đọc tụng, thường xuyên tác ý, đem đèn sáng vào trong bóng tối, cho những người có mắt có thể thấy sắc. Mỗi lần như vậy mình được phơi bày, phanh phui, giải phẫu ra.
Giống như ngày quý Phật tử trình bày sự thiền quán về Tứ Niệm Xứ và thân hành niệm, mình mổ xẻ cơ thể này ra để mình thấy được sự thật ở trong đó, nước mắt của mình trào dâng, chấn động. Đó là mình đã phơi bày những gì bị che kín. Đây là sẵn giải thích tại sao. Thầy Pháp Cần còn bài Tại sao con khóc không? Có một Phật tử làm thơ và giải thích vì sao con khóc, như vậy rất tốt, tức là mình nhìn thấy được những cái rất phũ phàng, nhìn thấy được những cái mà trước nay mình chưa từng thấy, mình nghe được những điều mà trước đây mình chưa từng nghe. Mình cảm xúc được những điều mà từ khi cha sanh mẹ đẻ tới giờ mà mình chưa từng có cảm giác đó.
Đây là chúng ta có nhiều không? Như vậy rất tốt, nên có nhiều Phật tử nói “Thầy ơi, con khóc rồi chồng con hỏi con không biết tu môn gì vậy mà sao khóc dữ vậy?” Khi đó người chồng nói là thấy có thay đổi, ông ấy rất trân trọng, rất nể phục nhưng có điều ông ấy lo là “Tại sao khóc hoài vậy? Vợ con tu gì mà sao khóc hoài vậy?” Khi đó mình về giải thích cho ông ấy nghe “Ông đi theo tôi đi rồi sau này ông cũng khóc giống vậy!” Nếu mình nghe pháp, mình tu mà cứ đơ ra, trơ ra như khúc cây, như cục sắt thì tới lúc nào mình thay đổi?
Ngay cả trong khóa tu này, Minh Thành thấy những vị mới lần đầu đi tham dự, ngày đầu tiên thấy còn cứng cỏi nhưng tới ngày thứ hai, thứ ba là sụp xuống, lạy cảm ơn và trào nước mắt. Đó là sự cảm nhận, thấm, ngấm và có công năng chuyển hóa, đó là ép-phê, đó là cảm nhận, cảm động, chấn động, kinh chấn trong cả thân và tâm của chúng ta. Mình sẽ bàng hoàng, sốc tột độ vì mình không ngờ rằng sự thật là như vậy, mình nhìn ra được những dục vọng, làm cho mình khổ đau, mình nhìn ra được đầm lầy của dục vọng nhấn chìm mình, mình nhìn ra được những cơn hỏa hoạn, nhiệt não của những cảm thọ tức giận, sân hận. Mình nhìn ra được bóng tối của vô minh, si ám che mờ nội tâm của mình, nhìn ra được bản ngã ác độc, thâm độc, giết người trong thầm lặng, từ vô lượng vô biên kiếp vừa qua mình không thấy, giờ mình thấy thì mình vỡ òa ra.
Đó là nguyên do của những dòng nước mắt tuôn chảy, tuôn trào. Như vậy hạnh phúc cho chúng ta không?
Thật ra, khi chúng ta tu Chánh Pháp này thì không một người nào hạnh phúc trên thế gian này có thể so sánh bằng chúng ta. Chúng ta là người hạnh phúc nhất trên hành tinh này.
Cố gắng duy trì, tác ý và nuôi dưỡng hạnh phúc đó. Đừng sợ.
31:16-32:00: Phật tử trình pháp
III. Năm uẩn
Năm uẩn là năm nhóm, năm đống, năm tổ hợp. Những điều này là giáo pháp căn bản, đây chỉ là giải thích sơ lược. Nhóm thứ nhất là sắc, nhóm thứ hai là nhóm cảm giác - thọ, nhóm thứ ba là nhóm của những hình bóng trong tâm – tưởng, nhóm thứ tư là nhóm của các suy nghĩ – hành, nhóm thứ năm là nhóm của các sự nhận thức – thức. Nên gọi là năm uẩn, có thêm chữ thủ là nói lên năm nhóm này nội tâm của chúng ta đối với năm nhóm này luôn có sự nắm giữ rất chặt, rất chắc, rất cứng, chữ thủ là nắm giữ. Khi nói năm thủ uẩn là nói về khía cạnh, tâm nắm giữ đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi nói chấp thủ năm uẩn là nặng thêm một lớp, thêm chữ chấp, tức là nắm rất chặt, rất chắc. Chữ thủ là nắm, giữ sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, nắm giữ một cách rất chặt, rất chắc, rất cứng, không chịu bỏ ra, gọi là chấp thủ.
Tâm của mình từ vô thỉ kiếp đến nay, từ trăm ngàn, vạn, vô lượng, vô biên kiếp từ xưa đến nay là nắm rất chắc vào trong hình hài này. Dù cho là hình hài con dòi nhưng sanh ra thì nó cũng cho thân dòi đó là nó. Khi nó sanh ra làm thân rắn, thì nó cũng cho thân con rắn đó là nó, sanh ra làm con ma thì nó cũng cho hình hài của con ma đó là nó. Nếu sanh ra là con kiến hay con muỗi thì nó cũng nắm giữ rất chắc vào hình hài đó, xem đó là tôi, của tôi. Hay sanh ra làm người què quặc, cùi, hủi thì nó vẫn chấp thủ, nắm cứng, nắm chặt, nắm chắc và cho đó là tôi, đây là ta. Hay một người ăn mày, đừng nói chi là một ông vua, lúc nào nó cũng vỗ ngực, xưng tên.
Hễ vào thân nào thì nó vỗ ngực, xưng tên thân đó và nó luôn luôn là nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc, nắm cứng, “trời gầm không nhả”. Đó là tâm chấp thủ, mình tu là để nhìn thấy được tâm đó. Nên nhận diện được ngũ uẩn, nhìn ra được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là bước đầu tiên, kế đó mình mới nhìn ra được những cái tham, sân, si, vô minh, bản ngã rồi dần dần, từ những cái đó rồi mình mới nhìn sâu vào mới thấy được sự chấp thủ, sự nắm giữ bên trong đó. Chính sự nắm giữ này là nguyên nhân của sự phiền não và khổ đau.
Chúng ta học và chúng ta tu, thì Đức Phật đã nói: “Này các Tỳ-kheo, Như Lai chỉ nói có hai điều. Sự thật của thế giới này là khổ và Đức Thế Tôn chỉ phương pháp diệt khổ.” Ai học trọn được hai điều này là thành tựu.
Như vậy, mình nhìn ra được tâm nắm giữ, tâm nắm chặt, tâm nắm chắc làm cho mình khổ rồi thì vì như mình nắm một cục than đỏ, nắm cứng thì sẽ bị phỏng, cháy tay. Giờ mình biết nó làm mình phỏng, cháy tay thì mình buông ra, thì mình không còn bị cục than đó tiếp tục đốt cháy phỏng tay nữa.
Đó là để mình nhìn thấy được, nhìn ra được nguyên nhân của khổ không phải là ông nọ, bà kia, không phải là đống vàng, đống tiền, những tờ đô la, nguyên nhân của khổ không phải là nhà, xe, miếng vườn, miếng đất, sổ xanh, sổ đỏ, sổ hồng mà nguyên nhân thâm sâu ở bên trong chính là tâm nắm giữ những thứ đó, cho rằng tôi, của tôi. Nhìn ra được tâm đó thì mới bắt đầu giảm khổ, bớt khổ và đi đến diệt khổ, bớt khổ.
Ví dụ như cô Lan Chi ngồi ghế đó thì cô vô nói “Ghế đó là của tôi mà tự nhiên cô nào tới rồi đòi ngồi ghế này, ghế này là ghế của tôi.” Vậy thì lúc đó mình khổ không? Mình có sân hận không? Hay là người ta đến thì nói “Nhường chị ngồi, tôi ngồi ghế ở sau.” Vậy thì cái nào khỏe hơn? Cái nói “Ghế này là của tôi!” là chấp thủ, nắm giữ vào ghế đó. “Bếp này là bếp của tôi, hôm nay bà muốn lên làm sếp tôi hay sao? Bà biết tôi ở đây bao lâu chưa?” Khi mình có ý nghĩ như vậy, mình có cảm giác làm chủ như vậy, mình có tư tưởng như vậy là mình đang chấp thủ cái bếp, cái ghế. Hoặc là mình đang nắm giữ chiếc áo, áo choàng hay đôi dép cũng làm cho mình khổ. Và đừng nói chi một cái áo choàng, đôi dép, chỉ một lời nói gió thổi bay qua thì mình có khổ không? “Nay sao nhìn mặt tồi tàn quá vậy? Xấu quá vậy, hôi quá vậy?” Vậy thì có sân lên không? Bản ngã lên không?
Vậy có thấy tâm chấp thủ, tâm ngu, tâm mê không? Đó là tâm chấp thủ, tâm mê, tâm ngu là vô minh, vì nó không thấy, không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó không biết bản chất bất tịnh, vô thường. Nó nghĩ đó là sạch, đẹp, bền, chắc, là tôi, là của tôi nên ai mà chạm tới nó một cái gì là “Biết tay tôi nha hông!” Phải nhìn ra được những gì đang rục rịch, cục kịch trong đó, vừa suy nghĩ trong đó là phải diệt trong suy nghĩ ngay. “Áo choàng này của tôi mà tự nhiên bà kia lấy, tới giờ tôi nghe pháp rồi, giờ trễ rồi!” thì bực bội lên mà không biết được cái áo đó là áo gì, đó là áo giới, áo giải thoát. Vậy tại sao mình không nghĩ là cô kia mặc áo như vậy là mặc được áo giải thoát, mình mừng cho cô kia, mình vui cho cô kia, nếu cuối cùng mình tìm không có cái áo thì mình sẵn sàng yên lặng, an tịnh, lắng dịu, trầm lặng, lặng lẽ, một mình, ngồi ở hàng sau cùng.
Mình nhường áo giới, nhường áo giải thoát cho người ta. Mình thấy mình làm được một việc công đức, làm được một việc phước lành, mình hoan hỷ hay lại là sân si? Phải nghĩ như vậy, khi tâm mình buông được cái nắm giữ ra rồi, khi tay mình buông được cục lửa than xuống rồi thì tai này được bình yên, không bị đốt phỏng nữa. Khi tâm này buông được sự nắm giữa xuống rồi thì nó sẽ sống nhẹ nhàng, bình an. Tất cả mọi chỗ, mọi nơi, mọi thời, mọi lúc, mọi người, mọi vật.
Vậy mình muốn chịu bình an hay bất an? Vậy nên cần nhìn ra được sự chấp thủ trong ngũ uẩn này là phiền não, khổ đau, nói Tiếng Việt là tâm nắm giữ vào thân xác, tiền của, vật chất, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là phiền não, khổ đau. Tâm nắm giữ vào thân này, nắm giữ vào những đồ vật này, tâm nắm giữ vào những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, tâm đó là đưa đến lo lắng, bất an, sầu khổ. Mình không muốn bất an, lo lắng, sầu khổ nên mình mở tâm ra, buông cục lửa than xuống.
Mỗi lần nó sanh khởi lên hơn thua, sân si là mình nói ra sao? “Tâm mê ơi tâm mê, mày làm ơn buông cục lửa than xuống dùm tao. Tội nghiệp tao quá đi. Tâm này mày ngu vừa vừa, phải phải thôi, mày đã ngu vô lượng, vô biên, vô số kiếp rồi mà ngày giờ này mày được mở con mắt mù của mày ra. Mày thấy ngũ uẩn rồi mà giờ này mày còn mê nữa hả? Tâm ơi là tâm. Mày tỉnh dùm tao đi.” Kêu nó như vậy, một ngày réo nó một trăm lần, kêu nó, nhớ nhắc nó.
Như mình có con nhỏ thì mình có trông chừng nó thường xuyên không? Bây giờ mình cũng coi tâm của mình cũng giống như đối với đứa con nhỏ đó. Phải trông chừng nó, nhắc nhở nó thường xuyên, phải có hàng rào, chìa khóa, phải có chốt gài lại, không thì nó sẽ dễ bị rơi xuống hồ, xuống hố, té bể đầu, gãy chân, nên phải coi kĩ tâm này, không giỡn chơi với nó, không thả lỏng nó được, tâm này không thể bỏ quên nó một giây phút nào được. Phải luôn kiểm tra, theo dõi nó, phải dò xét, dòm ngó, canh chừng, phòng hộ, bảo vệ, như vậy thì mình sẽ bớt khổ.
Quý vị hiểu được ngũ uẩn là gì chưa? Hiểu được năm thủ uẩn là gì chưa? Hiểu được sự chấp thủ vào ngũ uẩn là gì chưa? Còn muốn chấp thủ nữa không? Mình thấy pháp quá rõ ràng không? Sáng tỏ không?
Ví dụ, thật ra, chung quanh chúng ta, những sự việc xảy ra hằng ngày thì tất cả đau khổ đều do nắm giữ năm uẩn. Như các vụ việc karaoke xảy ra án mạng có phải là chấp thủ năm uẩn không? Khi nghe thì có gì sanh ra, có gì để xúc? Khi tiếp xúc rồi thì cảm thọ bực bội, khó chịu sanh thì mình chấp cảm thọ đó, mình cho khó chịu đó là tôi “Tôi đang bực, tôi đang khó chịu, tôi đang...” Như vậy thì nhào tới, nhào ra, nói qua nói lại rồi động tay động chân và cuối cùng xảy ra án mạng.
Nếu như chúng ta chịu khó đem Bốn Thánh Trí ngũ uẩn đó mà chúng ta chiêm nghiệm thì chúng ta sẽ nhìn hết được thế giới này. Bốn Thánh Trí ngũ uẩn bao trùm hết Trái Đất này, tất cả đau khổ đều nằm trong đó. Tất cả các vụ án quý vị đem Bốn Thánh Trí vào quý vị soi ra thì không có cái nào mà mình không thấy rõ. Hay chuyện mẹ bản ngã với con, con bản ngã với mẹ rồi đau khổ, hai mẹ con dù thương nhưng giận, tức là thương nhưng không tỏ ra thương được. Vì bản ngã không cho nói lên lời xin lỗi, nếu không có thầy thì không dễ gì quỳ xuống lạy, không dễ để mẹ đi lạy con. Chúng ta thấy hôm nay thật phép màu không?
Đó là chỉ có Chánh Pháp tối thượng mới đánh sập được bản ngã, người mẹ mới có thể quỳ xuống lạy con, chỉ có Chánh Pháp mới có phép màu đó. Ngoài Chánh Pháp ra thì không có điều gì làm được điều đó. Quý Phật tử có thấy phép màu không? Cố gắng tiếp tục đập bản ngã, diệt bản ngã tiếp tục, nó vẫn còn rất mạnh mẽ. Chúc mừng nhưng cũng đừng vội mừng sớm, mừng chỉ hôm nay nhưng vẫn phải tiếp tục diệt để nó đoạn tận.
Vậy nên chúng ta thấy Chánh Pháp là một phép màu, làm cho mẹ con thương nhau hơn, hiểu nhau hơn, thông cảm nhau hơn, làm cho chị em, làm cho vợ chồng gắn kết với nhau.
Từ ngày tu học Chánh Pháp đến giờ, hai vợ chồng có sống hòa hợp với nhau hơn lúc trước khi chưa tu học không? Chúng ta phải thấy được phép màu của kinh Nikāya.
51:46-68:30: Phật tử trình pháp.
IV. Tâm hiền
Các cô nên chịu khó về nghe và thực tập tâm hiền. Tất cả các bài giảng và thiền quán về tâm hiền, cô thực tập liên tục từ ba tháng đến sáu tháng, lấy đó làm đề mục, làm thời khóa. Khi trong lòng mình có cảm giác dễ chịu, hiền thiện thì mình sẽ ít có bức xúc, bực bội, ghim gút người khác. Bên trong cảm thọ của mình chưa có lắng dịu, chưa có ngọt ngào, chưa có dễ chịu nên người ngoài có chút gì làm mình hay bực, hay khó chịu. Nhưng bực bội với người ở chung với mình thì rất khổ, mình khổ mà người ở chung cũng khổ.
Vậy nên sự tu của chúng ta rất thiết thực hiện tại, mình có cảm giác dễ chịu, ngọt ngào thì người bên cạnh mình được lợi ích nhiều không? Mình có cần phải đi độ chúng sanh ở đâu không? Chúng sanh nào cần mình độ nhiều nhất? Người ở sát bên mình trong nhà là chúng sanh mà mình không độ mà cứ nghĩ là đi đâu để giúp ai.
Vậy nên đầu tiên, chúng sanh quan trọng nhất là mình, mình chưa có tu tập được, mình chưa có hiền hòa, hiền từ, hiền lành, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, mình chưa có ngọt ngào, dễ chịu, lắng dịu thì mình khổ đau. Người khổ là mình. Khi mình giận lên, dù cho mình có nói ra hay không nói ra thì người khổ là ai chịu đầu tiên? Nhiều khi mình không nói ra, chỉ muốn để trong bụng, nhưng mình để trong bụng thì có khổ không? Như vậy là tự mình làm cho mình khổ.
Vậy nên việc tu chúng ta thấy diệt khổ thấy rõ chưa? Tâm hiền là diệt khổ. Một cảm giác mà lúc nào cũng dễ chịu, an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, hiền hòa, dễ thương, ấm áp, thì như vậy là nó đã diệt biết bao cái khổ trong người mình. Nên Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả các vị tu tập tâm hiền. Hiện tại bây giờ Minh Thành cũng đang tu tập từng suy nghĩ, từng cử chỉ, mỗi hành động của mình phải niệm tâm lặng im, tâm dễ chịu, niệm an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, niệm từ ái.
Mình tu tập tâm hiền như vậy để mình nghe pháp, để thâm nhập Khổ Thánh Trí. Mình biết rằng họ cũng giống như mình, ở trong vô minh, người đó cũng giống như mình, họ đang bị bản ngã chi phối, đang bị sân hận thiêu đốt. Mình càng thương mình chừng nào thì mình càng thương người nhiều chừng đó. Thương đó mới là thương của tâm từ, thương mình thật nhiều, phải thấy được mình là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Người kia là nạn nhân thì mình không nên chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt, chút lời nói, hành động để làm gì.
Vừa tu tập tâm hiền, vừa thấy được những nạn nhân của khổ, chính mình thấy được mình là nạn nhân trong khổ thì mình sẽ thấu hiểu, cảm thông, dễ dàng tha thứ. Đó là hiền trí, cảm giác được tâm hiền là hiền, còn trí nhìn thấy được khổ đau của mình và tất cả chúng sanh là nạn nhân thì đó là trí. Hai từ đó ghép lại là hiền trí. Minh Thành nhắc hai từ hiền trí là để nhắc nhở nên tu, không phải đọc như vậy là đơn sơ. Mỗi lần chắp tay lên lạy, nhắc là kêu tu. Phải nhớ mình tu hiền trí.
Vậy nên người nữ khi quy y là chữ “hiền”, người nam quy y là chữ “trí”. Đây là hai pháp của Thánh hiền.
75:20-89:27: Phật tử trình pháp.
Chúng ta nên nghe những bài pháp, để biết cách, các vị hướng dẫn sẽ chỉ mình, chỉ những điều mấu chốt, cốt lõi, sau đó mình phải nhìn tâm mình đang ở trong trạng thái nào. Khi có trí tuệ rồi thì mình mới biết được là nên tác ý như thế nào. Lúc đầu thì mình phải nghe những lời tác ý của các vị hướng dẫn, mình học theo, sau một thường gian, mình nhận diện ngũ uẩn, mình nhìn thấy có các lậu hoặc. Dần dần mình lại thành tựu trí tuệ, mình biết cách tác ý như thế nào là phù hợp, hoặc có những cái khó thì mình sẽ hỏi quý thầy, quý cô đi trước chỉ cho mình.
Đức Phật nói “ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy” là Chánh Tư Duy, những suy nghĩ nào làm cho mình lìa tham dục, suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng, những suy nghĩ nào làm cho mình lìa sân hận, bực bội, khó chịu thì suy nghĩ đó là Chánh Tư Duy, suy nghĩ đúng. Không những mình làm cho mình lìa sân hận mà mình còn làm cho mình sanh khởi tâm từ, đó cũng là tác ý. Thật ra thiền quán của mình cũng là tác ý, nên thiền quán của mình thật sự là tác ý. Tất cả thiền quán đều là tác ý. Bất hại tư duy là những suy nghĩ không làm hại người khác, chẳng những không làm hại người khác mà còn giúp người, thương người, thấy xót xa cho người. Nên nó biến trở thành bi tâm, từ tâm, tham thì biến thành sự xả ly, viễn ly, suy nghĩ theo mê lầm, làm nó ham muốn, thích, khoái, đòi hỏi, thúc giục.
Đối với tác ý của mình làm cho không những nó không tham, giảm tham, bớt tham đến một mức thì nó muốn rời xa, viễn ly, xuất ly, ly tham.
Lúc đầu thì mình phát giác ra những cảm giác tức giận, sân hận, nhiếp phục, chế ngự mà mình còn trải tâm từ làm cho nó đoạn tận. Vậy nên các bậc Thánh không còn sân nữa, dù cho một chút nhỏ cũng không còn. Như Ngài Xá-lợi-phất đã diễn tả như con bò đực bị cưa hai sừng, không còn một chút ý muốn làm hại ai nữa, mà chỉ còn một tâm thanh tịnh, từ bi, rộng lớn, cùng khắp.
Chẳng những nó diệt hết tất cả những tâm suy nghĩ, làm hại người khác, mà còn tràn đầy một tâm bi mẫn, xót thương. Chẳng những nó diệt bản ngã ngu ngốc, dại khờ, ác độc, nó còn làm cho sự khiêm cung mà nó còn làm cho mình thể nhập vào Thánh trí vô ngã.
Vậy nên bước đầu là chúng ta phải nghe văn, nghe rồi sau đó mình suy tư, kế đó mình ứng dụng thực tập, tu tập, từ đó phát sanh ra những thấy biết, càng ngày càng sâu sắc, tinh tế, tinh vi, càng ngày càng thâm sâu, lúc đó thì tự mình biết cách tác ý như thế nào, với cách huấn luyện, dạy dỗ, tâm thức của mình giống như người đi học nghề, đầu tiên là phải có thầy, không thầy đố mày làm nên, mình tác ý một lúc lại thành tác ý sai. Mình tác ý theo vô minh, theo bản ngã của mình, theo cái tham của mình.
Nên đầu tiên phải có vị thầy, vị thầy đó phải chỉ mình đúng cách, sau khi mình học đúng cách thì mình làm, trong khi làm sẽ phát sinh ra những kinh nghiệm, giống như mình học nghề ở ngoài, thợ hồ, thợ mộc, các ngành nghề ngoài xã hội. Sau khi mình học được những định lý, chuẩn mực, khuôn phép, mực thước, cách thức, thì từ căn bản đó mình làm, có gì sai thì mình hỏi, sau đó thì mình đã nắm được những nguyên lý, nguyên tắc thì mình biết làm, sau đó mình lại sanh ra những sánh kiến khéo léo thì mình đã trở thành thợ khéo, thiện xảo.
Cũng vậy, Đức Phật nói: Các ông không có thiện xảo tâm của người khác thì hãy khéo léo thiện xảo với tâm của chính mình. Đó là sự nhận diện ngũ uẩn một cách thâm sâu, dần dần mình sẽ nhìn ra được các lậu hoặc, các cấu nhiễm, nhất là dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đó là liên khúc ngàn năm, mấy từ đó là đề mục vĩ đại của người tu trong pháp hành Nikāya: dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, là những chủ đề vĩ đại mà chúng ta phải tu mãi mãi, hoài hoài, cho đến khi diệt tận mới thôi.
Như vậy hôm nay chúng ta có một buổi vấn đáp rất ngọt ngào.
Sau buổi vấn đáp thì đến buổi đọc Nhật kí tu học, đến trả bài. Các vị mới trước khi xuống núi phải trả bài, làm bài tập nhận diện ngũ uẩn.
Nước Mắt Đầy Mặt
Chấn Động Thân Tâm
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 07 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Về núi yên tu PAGEREF _Toc111811287 \h 1
II. Chấn động cảm thọ PAGEREF _Toc111811288 \h 6
III. Năm uẩn PAGEREF _Toc111811289 \h 9
IV. Tâm hiền PAGEREF _Toc111811290 \h 13
I. Về núi yên tu
Tấm lòng trải rộng khắp trùng khơi,
Bao đời dục ái làm ta khổ,
Hôm nay thoát ra thật thảnh thơi,
Về núi yên tu tối thượng tu,
Thế Tôn từng dạy thiền tránh ồn,
Gay nhọn an định là thanh sắc,
Sống hạnh viễn ly sạch tâm hồn.
Về núi yên tu, tối thượng thừa,
Bao nhiêu dục ái quyết phải chừa,
Thực hành ly dục tâm hỷ lạc,
Đúng lời Phật dạy hạnh từ xưa.
Về núi yên tu, tối thượng tôn,
Phiễn não quá khứ đã được chôn,
Thiện pháp lạc trú lòng hoan hỷ,
Trong vòng sanh tử bước lên cồn,
Về núi yên tu thật kỳ tài,
Một nhảy vượt ra khỏi trần ai,
Tiêu diêu tự tại siêu vật ngoại,
Hồng trần tục lụy, xin “bái bai”.
Về núi yên tu, tối thượng tuệ,
Ngày đêm tinh tấn trừ sân nhuế,
Thân tâm mát lạnh cảnh núi rừng,
Chuyên chú tăng thượng giới định tuệ,
Về núi chuyên tu, tối thượng trí,
Tận cùng chân lý vượt thế gian,
Lòng yên cảnh vắng, tâm vô lượng,
Tâm từ trải rộng khắp trần hoàng.
Về núi yên tu trí tuệ vua,
Xuất gia đâu phải là chuyện đùa,
Nếu không thành tựu đời phạm hạnh,
Nhục nhã đường tu ở trong chùa.
Về núi yên tu, thật kì tài,
Ba mươi năm rồi, chí chẳng phai,
Nhiệt tâm nóng bỏng con đường đạo,
Vô sanh lậu tận quyết đến ngày.
Về núi yên tu thật là hay,
Nhìn ra thế sự như khói bay,
Mịt mù trắng xóa bao trùm hết,
Mặt trời vừa lên biến tan ngay.
Về núi yên tu, quá tuyệt vời,
Thoát ra mọi cảnh khổ tơi bời,
Xuất gia mục đích là gì nhỉ?
Chưa thành chánh quả chớ để lơi.
Về núi yên tu quá là siêu,
Thoát ra si ái khổ trăm chiều,
Ly dục, ly tham, ly bản ngã,
Cấu nhiễm dần dà nhất định tiêu.
Về núi yên tu, tối thượng chiêu,
Ngày đêm trí tuệ hằng soi chiếu,
Phơi bày che khuất ngàn năm kín,
Diệt hết gian tà, ma quỷ yêu.
Về núi yên tu, tối thượng kế,
Cú nhảy tuyệt luân, đạt siêu thế,
Hồng trần tục lụy, bụi đời bay,
Quyết tâm, quyết chí tròn nguyện thệ.
Về núi yên tu quá phi thường,
Thoát ra muôn cảnh đầy tai ương,
An bình, tịnh lạc, chuyên nội quán,
Thấu rõ toàn cầu, chỉ vô thường.
Về núi yên tu thật tinh vi,
Tăng thượng giới định cần thực thi,
Khua môi, múa mỏ không lợi ích,
Thể nghiệm, thực chứng, tâm liễu tri.
Về núi yên tu, bất tư nghì,
Nhìn ra muôn pháp, toàn hữu vi,
Nhất tâm, quyết tiến vô vi đạo,
Một lần quyết tử chắc định kỳ.
Về núi yên tu là đại hỷ,
Quyết đoán một lần, quá thần kỳ,
Vui cha, vui mẹ, vui thầy tổ,
Vui cả muôn loài, chuyện ly kỳ.
Vui cả muôn loài chẳng dễ gì,
Về núi yên tu thật chẳng sai,
Nhọc nhằng lên xuống khổ lắm thay,
Tới lui qua lại toàn vô ích,
Tiền giả làm sao có thể xài.
Về núi yên tu thật thông minh,
Suốt đời phiêu bồng kiếp lưu linh,
Cầu đạo bôn ba, toàn thế giới,
Giờ đây tỏa ngộ chỉ tự mình.
Về núi yên tu thật cao minh,
Đi tìm cao tăng khắp hành tinh,
Tới nay tỏa ngộ trí năm uẩn,
Mới hay Thánh tăng chỉ tự mình.
Về núi yên tu thật tuyệt chiêu,
Thoát ra khỏi cảnh lửa đốt thiêu,
Lửa tham, lửa dục, lửa sân hận,
Toàn cầu hỏa hoạn cảnh tiêu điều.
Về núi yên tu một trận liều,
Thoát ra luyến ái quyết chẳng chiều,
Mạnh mẽ, oai hùng cú vượt thoát,
Vô minh, khát ái sẽ triệt tiêu.
Về núi yên tu, thật là thương,
Thương người, thương vật, thương chiến trường,
Thương lòng đố kỵ, thương ganh tị,
Thương khắp trần gian cảnh vô thường.
Về núi yên tu, chẳng rộn ràng,
Trong ngoài yên tĩnh, tâm bình an,
Đất trời tĩnh lặng, như bất động,
Trải lòng từ mẫn lệ chứa chan.
Về núi yên tu, giữa đại ngàn,
Tỉnh ra giấc mộng cõi trần gian,
Si si, dại dại trong ái luyến,
Sống sai chết mộng đầy nguy nan.
Về núi yên tu, lòng ngậm ngùi,
Xót thương tham dục, kẻ hủi cùi,
Chạy tìm hố than hừng nóng bức,
Hơ để tìm vui bao giờ nguôi.
Về núi yên tu, lòng xót thương,
Nhìn toàn thế giới cảnh chiến trường,
Tranh giành tranh đấu tranh chiến mãi,
Gây ra thảm họa đầy tai ương.
II. Chấn động cảm thọ
Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Hôm nay chúng ta có buổi pháp đàm, hỏi đáp, những vấn đề còn chưa rõ trong pháp học và pháp hành theo tinh thần kinh tạng Nikāya. Quý vị hãy mở tâm mình ra để chia sẻ, thưa hỏi những vấn đề còn gúc mắc, chưa được sáng tỏ thì chưa tăng, ni sẽ soi sáng cho chúng ta.
17:12-19:00: Phật tử trình pháp
Khi mình nghe pháp, mình hiểu được nghĩa lý, lông tóc dựng đứng, khi đó rất tốt, đó là sự cảm chấn, xúc cảm chấn động thân tâm của mình. Mình phải tác ý hỷ lạc, thích thú, hoan hỷ, vui sướng. Trong kinh chúng ta từng nghe cụm từ “lông tóc dựng đứng” rất nhiều, đó là cụm từ pháp tín thọ, nghĩa tín thọ mà chúng ta mới học ngày trước. Tin nhận được các pháp, hiểu được nghĩa lý trong lời của Đức Phật làm cho mình có sự cảm nhận, cảm động, chấn động thân tâm của mình nên đó là nói lên sự cảm nhận thấu hiểu, chấn động trong thân tâm, tức là có hiệu quả.
Thường khi mình tụng các câu kinh Hán Việt, tụng các chú thì mình có hiểu gì không? Có khi tụng được mười năm, mấy chục năm nhưng mình không hiểu nên mình sẽ không có được những cảm giác như vậy. Nên nhớ cụm từ đó, “lông tóc dựng đứng”, “pháp tín thọ, nghĩa tín thọ” và từ trong kinh Thủ chuyển: Năm sự chấp thủ trong ngũ uẩn này bị rung chuyển. Nên đặc biệt trong đạo tràng Nikāya mình có những vị cư sĩ hay người xuất gia lấy làm lạ, hoặc người ta không thích vì cứ thấy sao mà ngày nào cũng khóc, ngày nào cũng đầm đìa nước mắt như vậy? Đó là người ta không hiểu, đó là sức công phá của Thánh tuệ, đó là ánh sáng mà nó soi vào từng ngõ ngách của nội tâm, làm cho chúng ta rung chuyển, kinh chấn, rung động.
Các thầy, các cô, các Phật tử có nhiều không ạ? Nó rung lên, giật lên thì đó là sự cảm động, chấn động, từ cảm nhận, cảm động, xúc động, chấn động mà mỗi lần chấn động, nước mắt trào dâng như vậy là mỗi lần tâm mình được gội rửa. Đây là chỗ tuyệt vời. Mỗi lần mình nổi da gà lên, lông tóc dựng đứng lên, mỗi lần mình thấy rung động trong cơ thể của mình, từng lỗ chân lông, mỗi lần nước mắt của mình tuôn trào đầy mặt, thì đó là mỗi lần mình được gội, được rửa, được tẩy. Càng nhiều như vậy thì càng mau sạch.
Chúng ta nói ví dụ, mình đi xem một bộ phim hay tuồng kịch mà mình ngồi xem từ đầu đến đuôi nhưng mặt mình bình thường, thì bộ phim hay tuồng kịch đó có hay không? Hoặc khi xem một bộ phim, tuồng kịch mà mình xúc động, khóc òa ra thì tuồng kịch đó đã đem lại cảm xúc cho mình.
Cũng vậy, pháp có công năng đánh vào trong cảm thọ của chúng ta, đánh vào trong cảm xúc của chúng ta, đánh vào trong cảm giác của chúng ta, làm cho chúng ta cảm thấy một sự vỡ òa ra, trước một sự thật bị che đậy, bị che giấu, ngàn năm, vô lượng kiếp. Giờ mình được phơi bày. Vậy nên hôm nào chúng ta sẽ thiền quán bài Đức Thế Tôn là bậc phơi bày những gì bị che kín, chúng ta sẽ học giảng giải bài đó thâm sâu, bài đó phải đọc tụng, thường xuyên tác ý, đem đèn sáng vào trong bóng tối, cho những người có mắt có thể thấy sắc. Mỗi lần như vậy mình được phơi bày, phanh phui, giải phẫu ra.
Giống như ngày quý Phật tử trình bày sự thiền quán về Tứ Niệm Xứ và thân hành niệm, mình mổ xẻ cơ thể này ra để mình thấy được sự thật ở trong đó, nước mắt của mình trào dâng, chấn động. Đó là mình đã phơi bày những gì bị che kín. Đây là sẵn giải thích tại sao. Thầy Pháp Cần còn bài Tại sao con khóc không? Có một Phật tử làm thơ và giải thích vì sao con khóc, như vậy rất tốt, tức là mình nhìn thấy được những cái rất phũ phàng, nhìn thấy được những cái mà trước nay mình chưa từng thấy, mình nghe được những điều mà trước đây mình chưa từng nghe. Mình cảm xúc được những điều mà từ khi cha sanh mẹ đẻ tới giờ mà mình chưa từng có cảm giác đó.
Đây là chúng ta có nhiều không? Như vậy rất tốt, nên có nhiều Phật tử nói “Thầy ơi, con khóc rồi chồng con hỏi con không biết tu môn gì vậy mà sao khóc dữ vậy?” Khi đó người chồng nói là thấy có thay đổi, ông ấy rất trân trọng, rất nể phục nhưng có điều ông ấy lo là “Tại sao khóc hoài vậy? Vợ con tu gì mà sao khóc hoài vậy?” Khi đó mình về giải thích cho ông ấy nghe “Ông đi theo tôi đi rồi sau này ông cũng khóc giống vậy!” Nếu mình nghe pháp, mình tu mà cứ đơ ra, trơ ra như khúc cây, như cục sắt thì tới lúc nào mình thay đổi?
Ngay cả trong khóa tu này, Minh Thành thấy những vị mới lần đầu đi tham dự, ngày đầu tiên thấy còn cứng cỏi nhưng tới ngày thứ hai, thứ ba là sụp xuống, lạy cảm ơn và trào nước mắt. Đó là sự cảm nhận, thấm, ngấm và có công năng chuyển hóa, đó là ép-phê, đó là cảm nhận, cảm động, chấn động, kinh chấn trong cả thân và tâm của chúng ta. Mình sẽ bàng hoàng, sốc tột độ vì mình không ngờ rằng sự thật là như vậy, mình nhìn ra được những dục vọng, làm cho mình khổ đau, mình nhìn ra được đầm lầy của dục vọng nhấn chìm mình, mình nhìn ra được những cơn hỏa hoạn, nhiệt não của những cảm thọ tức giận, sân hận. Mình nhìn ra được bóng tối của vô minh, si ám che mờ nội tâm của mình, nhìn ra được bản ngã ác độc, thâm độc, giết người trong thầm lặng, từ vô lượng vô biên kiếp vừa qua mình không thấy, giờ mình thấy thì mình vỡ òa ra.
Đó là nguyên do của những dòng nước mắt tuôn chảy, tuôn trào. Như vậy hạnh phúc cho chúng ta không?
Thật ra, khi chúng ta tu Chánh Pháp này thì không một người nào hạnh phúc trên thế gian này có thể so sánh bằng chúng ta. Chúng ta là người hạnh phúc nhất trên hành tinh này.
Cố gắng duy trì, tác ý và nuôi dưỡng hạnh phúc đó. Đừng sợ.
31:16-32:00: Phật tử trình pháp
III. Năm uẩn
Năm uẩn là năm nhóm, năm đống, năm tổ hợp. Những điều này là giáo pháp căn bản, đây chỉ là giải thích sơ lược. Nhóm thứ nhất là sắc, nhóm thứ hai là nhóm cảm giác - thọ, nhóm thứ ba là nhóm của những hình bóng trong tâm – tưởng, nhóm thứ tư là nhóm của các suy nghĩ – hành, nhóm thứ năm là nhóm của các sự nhận thức – thức. Nên gọi là năm uẩn, có thêm chữ thủ là nói lên năm nhóm này nội tâm của chúng ta đối với năm nhóm này luôn có sự nắm giữ rất chặt, rất chắc, rất cứng, chữ thủ là nắm giữ. Khi nói năm thủ uẩn là nói về khía cạnh, tâm nắm giữ đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi nói chấp thủ năm uẩn là nặng thêm một lớp, thêm chữ chấp, tức là nắm rất chặt, rất chắc. Chữ thủ là nắm, giữ sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, nắm giữ một cách rất chặt, rất chắc, rất cứng, không chịu bỏ ra, gọi là chấp thủ.
Tâm của mình từ vô thỉ kiếp đến nay, từ trăm ngàn, vạn, vô lượng, vô biên kiếp từ xưa đến nay là nắm rất chắc vào trong hình hài này. Dù cho là hình hài con dòi nhưng sanh ra thì nó cũng cho thân dòi đó là nó. Khi nó sanh ra làm thân rắn, thì nó cũng cho thân con rắn đó là nó, sanh ra làm con ma thì nó cũng cho hình hài của con ma đó là nó. Nếu sanh ra là con kiến hay con muỗi thì nó cũng nắm giữ rất chắc vào hình hài đó, xem đó là tôi, của tôi. Hay sanh ra làm người què quặc, cùi, hủi thì nó vẫn chấp thủ, nắm cứng, nắm chặt, nắm chắc và cho đó là tôi, đây là ta. Hay một người ăn mày, đừng nói chi là một ông vua, lúc nào nó cũng vỗ ngực, xưng tên.
Hễ vào thân nào thì nó vỗ ngực, xưng tên thân đó và nó luôn luôn là nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc, nắm cứng, “trời gầm không nhả”. Đó là tâm chấp thủ, mình tu là để nhìn thấy được tâm đó. Nên nhận diện được ngũ uẩn, nhìn ra được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là bước đầu tiên, kế đó mình mới nhìn ra được những cái tham, sân, si, vô minh, bản ngã rồi dần dần, từ những cái đó rồi mình mới nhìn sâu vào mới thấy được sự chấp thủ, sự nắm giữ bên trong đó. Chính sự nắm giữ này là nguyên nhân của sự phiền não và khổ đau.
Chúng ta học và chúng ta tu, thì Đức Phật đã nói: “Này các Tỳ-kheo, Như Lai chỉ nói có hai điều. Sự thật của thế giới này là khổ và Đức Thế Tôn chỉ phương pháp diệt khổ.” Ai học trọn được hai điều này là thành tựu.
Như vậy, mình nhìn ra được tâm nắm giữ, tâm nắm chặt, tâm nắm chắc làm cho mình khổ rồi thì vì như mình nắm một cục than đỏ, nắm cứng thì sẽ bị phỏng, cháy tay. Giờ mình biết nó làm mình phỏng, cháy tay thì mình buông ra, thì mình không còn bị cục than đó tiếp tục đốt cháy phỏng tay nữa.
Đó là để mình nhìn thấy được, nhìn ra được nguyên nhân của khổ không phải là ông nọ, bà kia, không phải là đống vàng, đống tiền, những tờ đô la, nguyên nhân của khổ không phải là nhà, xe, miếng vườn, miếng đất, sổ xanh, sổ đỏ, sổ hồng mà nguyên nhân thâm sâu ở bên trong chính là tâm nắm giữ những thứ đó, cho rằng tôi, của tôi. Nhìn ra được tâm đó thì mới bắt đầu giảm khổ, bớt khổ và đi đến diệt khổ, bớt khổ.
Ví dụ như cô Lan Chi ngồi ghế đó thì cô vô nói “Ghế đó là của tôi mà tự nhiên cô nào tới rồi đòi ngồi ghế này, ghế này là ghế của tôi.” Vậy thì lúc đó mình khổ không? Mình có sân hận không? Hay là người ta đến thì nói “Nhường chị ngồi, tôi ngồi ghế ở sau.” Vậy thì cái nào khỏe hơn? Cái nói “Ghế này là của tôi!” là chấp thủ, nắm giữ vào ghế đó. “Bếp này là bếp của tôi, hôm nay bà muốn lên làm sếp tôi hay sao? Bà biết tôi ở đây bao lâu chưa?” Khi mình có ý nghĩ như vậy, mình có cảm giác làm chủ như vậy, mình có tư tưởng như vậy là mình đang chấp thủ cái bếp, cái ghế. Hoặc là mình đang nắm giữ chiếc áo, áo choàng hay đôi dép cũng làm cho mình khổ. Và đừng nói chi một cái áo choàng, đôi dép, chỉ một lời nói gió thổi bay qua thì mình có khổ không? “Nay sao nhìn mặt tồi tàn quá vậy? Xấu quá vậy, hôi quá vậy?” Vậy thì có sân lên không? Bản ngã lên không?
Vậy có thấy tâm chấp thủ, tâm ngu, tâm mê không? Đó là tâm chấp thủ, tâm mê, tâm ngu là vô minh, vì nó không thấy, không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó không biết bản chất bất tịnh, vô thường. Nó nghĩ đó là sạch, đẹp, bền, chắc, là tôi, là của tôi nên ai mà chạm tới nó một cái gì là “Biết tay tôi nha hông!” Phải nhìn ra được những gì đang rục rịch, cục kịch trong đó, vừa suy nghĩ trong đó là phải diệt trong suy nghĩ ngay. “Áo choàng này của tôi mà tự nhiên bà kia lấy, tới giờ tôi nghe pháp rồi, giờ trễ rồi!” thì bực bội lên mà không biết được cái áo đó là áo gì, đó là áo giới, áo giải thoát. Vậy tại sao mình không nghĩ là cô kia mặc áo như vậy là mặc được áo giải thoát, mình mừng cho cô kia, mình vui cho cô kia, nếu cuối cùng mình tìm không có cái áo thì mình sẵn sàng yên lặng, an tịnh, lắng dịu, trầm lặng, lặng lẽ, một mình, ngồi ở hàng sau cùng.
Mình nhường áo giới, nhường áo giải thoát cho người ta. Mình thấy mình làm được một việc công đức, làm được một việc phước lành, mình hoan hỷ hay lại là sân si? Phải nghĩ như vậy, khi tâm mình buông được cái nắm giữ ra rồi, khi tay mình buông được cục lửa than xuống rồi thì tai này được bình yên, không bị đốt phỏng nữa. Khi tâm này buông được sự nắm giữa xuống rồi thì nó sẽ sống nhẹ nhàng, bình an. Tất cả mọi chỗ, mọi nơi, mọi thời, mọi lúc, mọi người, mọi vật.
Vậy mình muốn chịu bình an hay bất an? Vậy nên cần nhìn ra được sự chấp thủ trong ngũ uẩn này là phiền não, khổ đau, nói Tiếng Việt là tâm nắm giữ vào thân xác, tiền của, vật chất, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là phiền não, khổ đau. Tâm nắm giữ vào thân này, nắm giữ vào những đồ vật này, tâm nắm giữ vào những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, tâm đó là đưa đến lo lắng, bất an, sầu khổ. Mình không muốn bất an, lo lắng, sầu khổ nên mình mở tâm ra, buông cục lửa than xuống.
Mỗi lần nó sanh khởi lên hơn thua, sân si là mình nói ra sao? “Tâm mê ơi tâm mê, mày làm ơn buông cục lửa than xuống dùm tao. Tội nghiệp tao quá đi. Tâm này mày ngu vừa vừa, phải phải thôi, mày đã ngu vô lượng, vô biên, vô số kiếp rồi mà ngày giờ này mày được mở con mắt mù của mày ra. Mày thấy ngũ uẩn rồi mà giờ này mày còn mê nữa hả? Tâm ơi là tâm. Mày tỉnh dùm tao đi.” Kêu nó như vậy, một ngày réo nó một trăm lần, kêu nó, nhớ nhắc nó.
Như mình có con nhỏ thì mình có trông chừng nó thường xuyên không? Bây giờ mình cũng coi tâm của mình cũng giống như đối với đứa con nhỏ đó. Phải trông chừng nó, nhắc nhở nó thường xuyên, phải có hàng rào, chìa khóa, phải có chốt gài lại, không thì nó sẽ dễ bị rơi xuống hồ, xuống hố, té bể đầu, gãy chân, nên phải coi kĩ tâm này, không giỡn chơi với nó, không thả lỏng nó được, tâm này không thể bỏ quên nó một giây phút nào được. Phải luôn kiểm tra, theo dõi nó, phải dò xét, dòm ngó, canh chừng, phòng hộ, bảo vệ, như vậy thì mình sẽ bớt khổ.
Quý vị hiểu được ngũ uẩn là gì chưa? Hiểu được năm thủ uẩn là gì chưa? Hiểu được sự chấp thủ vào ngũ uẩn là gì chưa? Còn muốn chấp thủ nữa không? Mình thấy pháp quá rõ ràng không? Sáng tỏ không?
Ví dụ, thật ra, chung quanh chúng ta, những sự việc xảy ra hằng ngày thì tất cả đau khổ đều do nắm giữ năm uẩn. Như các vụ việc karaoke xảy ra án mạng có phải là chấp thủ năm uẩn không? Khi nghe thì có gì sanh ra, có gì để xúc? Khi tiếp xúc rồi thì cảm thọ bực bội, khó chịu sanh thì mình chấp cảm thọ đó, mình cho khó chịu đó là tôi “Tôi đang bực, tôi đang khó chịu, tôi đang...” Như vậy thì nhào tới, nhào ra, nói qua nói lại rồi động tay động chân và cuối cùng xảy ra án mạng.
Nếu như chúng ta chịu khó đem Bốn Thánh Trí ngũ uẩn đó mà chúng ta chiêm nghiệm thì chúng ta sẽ nhìn hết được thế giới này. Bốn Thánh Trí ngũ uẩn bao trùm hết Trái Đất này, tất cả đau khổ đều nằm trong đó. Tất cả các vụ án quý vị đem Bốn Thánh Trí vào quý vị soi ra thì không có cái nào mà mình không thấy rõ. Hay chuyện mẹ bản ngã với con, con bản ngã với mẹ rồi đau khổ, hai mẹ con dù thương nhưng giận, tức là thương nhưng không tỏ ra thương được. Vì bản ngã không cho nói lên lời xin lỗi, nếu không có thầy thì không dễ gì quỳ xuống lạy, không dễ để mẹ đi lạy con. Chúng ta thấy hôm nay thật phép màu không?
Đó là chỉ có Chánh Pháp tối thượng mới đánh sập được bản ngã, người mẹ mới có thể quỳ xuống lạy con, chỉ có Chánh Pháp mới có phép màu đó. Ngoài Chánh Pháp ra thì không có điều gì làm được điều đó. Quý Phật tử có thấy phép màu không? Cố gắng tiếp tục đập bản ngã, diệt bản ngã tiếp tục, nó vẫn còn rất mạnh mẽ. Chúc mừng nhưng cũng đừng vội mừng sớm, mừng chỉ hôm nay nhưng vẫn phải tiếp tục diệt để nó đoạn tận.
Vậy nên chúng ta thấy Chánh Pháp là một phép màu, làm cho mẹ con thương nhau hơn, hiểu nhau hơn, thông cảm nhau hơn, làm cho chị em, làm cho vợ chồng gắn kết với nhau.
Từ ngày tu học Chánh Pháp đến giờ, hai vợ chồng có sống hòa hợp với nhau hơn lúc trước khi chưa tu học không? Chúng ta phải thấy được phép màu của kinh Nikāya.
51:46-68:30: Phật tử trình pháp.
IV. Tâm hiền
Các cô nên chịu khó về nghe và thực tập tâm hiền. Tất cả các bài giảng và thiền quán về tâm hiền, cô thực tập liên tục từ ba tháng đến sáu tháng, lấy đó làm đề mục, làm thời khóa. Khi trong lòng mình có cảm giác dễ chịu, hiền thiện thì mình sẽ ít có bức xúc, bực bội, ghim gút người khác. Bên trong cảm thọ của mình chưa có lắng dịu, chưa có ngọt ngào, chưa có dễ chịu nên người ngoài có chút gì làm mình hay bực, hay khó chịu. Nhưng bực bội với người ở chung với mình thì rất khổ, mình khổ mà người ở chung cũng khổ.
Vậy nên sự tu của chúng ta rất thiết thực hiện tại, mình có cảm giác dễ chịu, ngọt ngào thì người bên cạnh mình được lợi ích nhiều không? Mình có cần phải đi độ chúng sanh ở đâu không? Chúng sanh nào cần mình độ nhiều nhất? Người ở sát bên mình trong nhà là chúng sanh mà mình không độ mà cứ nghĩ là đi đâu để giúp ai.
Vậy nên đầu tiên, chúng sanh quan trọng nhất là mình, mình chưa có tu tập được, mình chưa có hiền hòa, hiền từ, hiền lành, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, mình chưa có ngọt ngào, dễ chịu, lắng dịu thì mình khổ đau. Người khổ là mình. Khi mình giận lên, dù cho mình có nói ra hay không nói ra thì người khổ là ai chịu đầu tiên? Nhiều khi mình không nói ra, chỉ muốn để trong bụng, nhưng mình để trong bụng thì có khổ không? Như vậy là tự mình làm cho mình khổ.
Vậy nên việc tu chúng ta thấy diệt khổ thấy rõ chưa? Tâm hiền là diệt khổ. Một cảm giác mà lúc nào cũng dễ chịu, an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, hiền hòa, dễ thương, ấm áp, thì như vậy là nó đã diệt biết bao cái khổ trong người mình. Nên Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả các vị tu tập tâm hiền. Hiện tại bây giờ Minh Thành cũng đang tu tập từng suy nghĩ, từng cử chỉ, mỗi hành động của mình phải niệm tâm lặng im, tâm dễ chịu, niệm an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, niệm từ ái.
Mình tu tập tâm hiền như vậy để mình nghe pháp, để thâm nhập Khổ Thánh Trí. Mình biết rằng họ cũng giống như mình, ở trong vô minh, người đó cũng giống như mình, họ đang bị bản ngã chi phối, đang bị sân hận thiêu đốt. Mình càng thương mình chừng nào thì mình càng thương người nhiều chừng đó. Thương đó mới là thương của tâm từ, thương mình thật nhiều, phải thấy được mình là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Người kia là nạn nhân thì mình không nên chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt, chút lời nói, hành động để làm gì.
Vừa tu tập tâm hiền, vừa thấy được những nạn nhân của khổ, chính mình thấy được mình là nạn nhân trong khổ thì mình sẽ thấu hiểu, cảm thông, dễ dàng tha thứ. Đó là hiền trí, cảm giác được tâm hiền là hiền, còn trí nhìn thấy được khổ đau của mình và tất cả chúng sanh là nạn nhân thì đó là trí. Hai từ đó ghép lại là hiền trí. Minh Thành nhắc hai từ hiền trí là để nhắc nhở nên tu, không phải đọc như vậy là đơn sơ. Mỗi lần chắp tay lên lạy, nhắc là kêu tu. Phải nhớ mình tu hiền trí.
Vậy nên người nữ khi quy y là chữ “hiền”, người nam quy y là chữ “trí”. Đây là hai pháp của Thánh hiền.
75:20-89:27: Phật tử trình pháp.
Chúng ta nên nghe những bài pháp, để biết cách, các vị hướng dẫn sẽ chỉ mình, chỉ những điều mấu chốt, cốt lõi, sau đó mình phải nhìn tâm mình đang ở trong trạng thái nào. Khi có trí tuệ rồi thì mình mới biết được là nên tác ý như thế nào. Lúc đầu thì mình phải nghe những lời tác ý của các vị hướng dẫn, mình học theo, sau một thường gian, mình nhận diện ngũ uẩn, mình nhìn thấy có các lậu hoặc. Dần dần mình lại thành tựu trí tuệ, mình biết cách tác ý như thế nào là phù hợp, hoặc có những cái khó thì mình sẽ hỏi quý thầy, quý cô đi trước chỉ cho mình.
Đức Phật nói “ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy” là Chánh Tư Duy, những suy nghĩ nào làm cho mình lìa tham dục, suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng, những suy nghĩ nào làm cho mình lìa sân hận, bực bội, khó chịu thì suy nghĩ đó là Chánh Tư Duy, suy nghĩ đúng. Không những mình làm cho mình lìa sân hận mà mình còn làm cho mình sanh khởi tâm từ, đó cũng là tác ý. Thật ra thiền quán của mình cũng là tác ý, nên thiền quán của mình thật sự là tác ý. Tất cả thiền quán đều là tác ý. Bất hại tư duy là những suy nghĩ không làm hại người khác, chẳng những không làm hại người khác mà còn giúp người, thương người, thấy xót xa cho người. Nên nó biến trở thành bi tâm, từ tâm, tham thì biến thành sự xả ly, viễn ly, suy nghĩ theo mê lầm, làm nó ham muốn, thích, khoái, đòi hỏi, thúc giục.
Đối với tác ý của mình làm cho không những nó không tham, giảm tham, bớt tham đến một mức thì nó muốn rời xa, viễn ly, xuất ly, ly tham.
Lúc đầu thì mình phát giác ra những cảm giác tức giận, sân hận, nhiếp phục, chế ngự mà mình còn trải tâm từ làm cho nó đoạn tận. Vậy nên các bậc Thánh không còn sân nữa, dù cho một chút nhỏ cũng không còn. Như Ngài Xá-lợi-phất đã diễn tả như con bò đực bị cưa hai sừng, không còn một chút ý muốn làm hại ai nữa, mà chỉ còn một tâm thanh tịnh, từ bi, rộng lớn, cùng khắp.
Chẳng những nó diệt hết tất cả những tâm suy nghĩ, làm hại người khác, mà còn tràn đầy một tâm bi mẫn, xót thương. Chẳng những nó diệt bản ngã ngu ngốc, dại khờ, ác độc, nó còn làm cho sự khiêm cung mà nó còn làm cho mình thể nhập vào Thánh trí vô ngã.
Vậy nên bước đầu là chúng ta phải nghe văn, nghe rồi sau đó mình suy tư, kế đó mình ứng dụng thực tập, tu tập, từ đó phát sanh ra những thấy biết, càng ngày càng sâu sắc, tinh tế, tinh vi, càng ngày càng thâm sâu, lúc đó thì tự mình biết cách tác ý như thế nào, với cách huấn luyện, dạy dỗ, tâm thức của mình giống như người đi học nghề, đầu tiên là phải có thầy, không thầy đố mày làm nên, mình tác ý một lúc lại thành tác ý sai. Mình tác ý theo vô minh, theo bản ngã của mình, theo cái tham của mình.
Nên đầu tiên phải có vị thầy, vị thầy đó phải chỉ mình đúng cách, sau khi mình học đúng cách thì mình làm, trong khi làm sẽ phát sinh ra những kinh nghiệm, giống như mình học nghề ở ngoài, thợ hồ, thợ mộc, các ngành nghề ngoài xã hội. Sau khi mình học được những định lý, chuẩn mực, khuôn phép, mực thước, cách thức, thì từ căn bản đó mình làm, có gì sai thì mình hỏi, sau đó thì mình đã nắm được những nguyên lý, nguyên tắc thì mình biết làm, sau đó mình lại sanh ra những sánh kiến khéo léo thì mình đã trở thành thợ khéo, thiện xảo.
Cũng vậy, Đức Phật nói: Các ông không có thiện xảo tâm của người khác thì hãy khéo léo thiện xảo với tâm của chính mình. Đó là sự nhận diện ngũ uẩn một cách thâm sâu, dần dần mình sẽ nhìn ra được các lậu hoặc, các cấu nhiễm, nhất là dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đó là liên khúc ngàn năm, mấy từ đó là đề mục vĩ đại của người tu trong pháp hành Nikāya: dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, là những chủ đề vĩ đại mà chúng ta phải tu mãi mãi, hoài hoài, cho đến khi diệt tận mới thôi.
Như vậy hôm nay chúng ta có một buổi vấn đáp rất ngọt ngào.
Sau buổi vấn đáp thì đến buổi đọc Nhật kí tu học, đến trả bài. Các vị mới trước khi xuống núi phải trả bài, làm bài tập nhận diện ngũ uẩn.