Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Quả Báo Của Nghiệp Ác 2 - Đại Tiệc Chánh Pháp

2026-03-03 00:55:53
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

NGHIỆP - QUẢ BÁO CỦA NGHIỆP ÁC 2

ĐẠI TIỆC CHÁNH PHÁP 10-6-2022

–Thích Minh Thành–

Chúng ta liên tục nghe Đức Phật khai mở trí tuệ về nghiệp trong bài kinh Pháp Môn Quanh Co của Tăng Chi Bộ, tập IV. Do đâu mà bị đọa làm loài trườn bò, tại sao bị rơi vào những loài chúng sanh như trăn, rắn, rết, lươn, trùng? Sanh thú là chỗ thú hướng của tái sanh, nghiệp dẫn vào con đường đọa lạc, vào những cái thân trườn bò.

"Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết về pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

Thế nào là pháp môn quanh co, này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp môn Chánh pháp?

Này các Tỳ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người sát sanh, bạo ngược, bàn tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình, sinh vật. Vị ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp của vị ấy quanh co, ngữ nghiệp của vị ấy quanh co, ý nghiệp của vị ấy quanh co, sanh thú quanh co, sanh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỳ-kheo, có sanh thành quanh co. Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các địa ngục nhất hướng đau khổ hay các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò? Loại rắn, bò cạp, rết, con ăn rắn, con mèo, con chuột, con cú, và bất cứ loài súc vật nào, khi thấy người, trườn bò mà đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo là các sinh vật, sự sanh khởi của sinh vật. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh, (VI). Pháp Môn Quanh Co)

Vì tâm niệm quanh co, ngôn ngữ quanh co, không ngay thẳng, ngụy biện giấu lỗi lầm, tâm trườn uốn như con lươn, tâm gian xảo, trá ngụy, không chánh trực cho nên đời tiếp theo của người đó là một đời sống quanh co, sanh thành quanh co. Với người có đời sống tiếp theo là quanh co thì sanh ra vào địa ngục chỉ có duy nhất sự khổ đau mà thôi, thuần nhất là đau khổ hay là trở thành các loại bàng sanh trườn bò như rắn, rết, trăn,… "Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy" câu này giải mã nguyên nhân và nhân quả, kết quả của những loài rắn, rết, trùng, lươn, trăn. Nguyên là những chúng sanh đó có thân, miệng, ý quanh co cho nên họ sanh ra trong cái thân quanh co, trườn bò và họ phải chịu đựng những cảm giác đau khổ của một đời sống quanh co, trườn bò như vậy, họ bị rơi vào chỗ nhất hướng khổ đau của địa ngục, hai là sanh vào loài thú vật như trăn, rết, rắn, lươn, thằn lằn…

Mình cần phải chiêm nghiệm thật sâu sắc, khi có chuyện gì xảy ra là bắt đầu quanh co, uốn lượn, luồn lách không chịu nhận sai, đó là cái nhân của rắn, rết, trùng. Khi có lỗi phải nhận lỗi, dù người ta chưa nói nhưng mình thấy có lỗi là phải nhận lỗi huống chi được người ta chỉ dạy bằng tình thương. Tâm mình phải ngay thẳng, lời nói phải chánh trực vì trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ngược lại tâm không ngay thẳng, lời nói không ngay thẳng thì sanh vào những loài như vậy. Khi chưa học bài kinh này thì mình không biết tại sao có con lươn, con rắn, con rết, còn giờ Đức Phật đã giải mã, vén bức màn tại sao có ra những loài vật như vậy, nhân gì, nghiệp gì phải chịu quả báo như vậy, phải chịu những cảm xúc thấp hèn như vậy, tấm thân phải trườn bò dưới đất, bản ngã khủng khiếp nên cái đầu phải nằm dài dưới đất chứ không ngẩng lên nổi, sống với cái tâm kiêu mạn, tâm quanh co. Mình phải nhìn thấy được điều này trong con người mình và trong con người của hữu tình chúng sanh. Không ai bắt buộc mình phải làm lươn, không ai bắt mình phải làm rắn, làm trùng, làm con trăn mà chính cái nghiệp của mình bắt mình phải thừa kế, thừa tự, tiếp nối của những nghiệp đó, thừa hưởng cái quả của những lời nói ác, hành động ác, ý nghĩ ác để có ra tấm thân trườn bò quanh co, phải cúi đầu xuống suốt cuộc đời chứ không ngẩng đầu lên được.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người lấy của không cho... có tà hạnh trong các dục... nói láo... nói hai lưỡi... nói lời thô ác... nói lời phù phiếm... có tham ái... có sân tâm... có tà kiến, có kiến điên đảo rằng: "Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự; không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ; không có cha; không có các loài hóa sanh; ở đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Người ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp quanh co, ngữ nghiệp quanh co, ý nghiệp quanh co, sanh thú quanh co, sinh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỳ-kheo, có sanh thành quanh co, Ta nói rằng... Như vậy này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.

Này các Tỳ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm là nghiệp gì, thiện hay ác, họ thừa tự nghiệp ấy" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh, (VI). Pháp Môn Quanh Co)

Lời nói là quanh co, hành động quanh co, tâm ý quanh co cho nên chỗ được sanh ra là quanh co, trong hình hài quanh co của loài bò sát có xương sống nằm ngang. Mỗi người chúng ta là gốc rễ để sanh ra nghiệp và chính cái hình hài mình đang mang là chính từ nơi nghiệp mà có ra cho nên ở bài kinh khác Đức Phật gọi nghiệp là bào thai, là cái mà sanh ra hình hài của chúng sanh, là chỗ tượng hình cho muôn loài, tức là nghiệp.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người sau khi đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Vị ấy không quanh co với ý, thân nghiệp của vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỳ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các Gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra, và được sinh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh, (VI). Pháp Môn Quanh Co)

Thân, miệng, ý, đều ngay thẳng, chánh trực, khiêm cung, khiêm hạ, có sự hổ thẹn với những lỗi lầm mình đã làm, có sự lo lắng đối với ác và bất thiện pháp cho nên chỗ vị ấy sanh ra ngay thẳng. Con người chúng ta đứng thẳng, còn loài quanh co trườn bò phải nằm dài ra, xương sống của chúng ta đứng thẳng, đó gọi là sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Đức Phật gọi các loài thú vật là bàng sanh vì xương sống của chúng luôn nằm ngang. Có nhiều loài chúng sanh khác nhau, chúng sanh sanh ra trong nước, ăn cỏ, ở trong xác thối, bất tịnh, hôm nay Đức Phật giải thích nhân quả của các loài bò sát. Còn người dứt hẳn sát sanh, từ bỏ sát sanh, từ bỏ kiếm, từ bỏ gậy, dao, cảm thấy sợ hãi với tội lỗi sát sanh, biết sám hối, trải tâm từ, đi phóng sanh, lỡ đạp phải con gián hay kiến cũng cảm thấy lo lắng, cảm thấy sợ hãi, cảm thấy đó là ác nghiệp thì đó là tàm quý, người này thấy hối hận vì đi mà không để ý nên đạp chết con kiến, đạp chết con gián, con ốc nên thấy hối hận, sợ hãi, tàm quý và xót thương, tội nghiệp vì mình đã giết chết nó, còn người vô tàm vô quý không thấy lo lắng, không thấy xấu hổ, sợ hãi thì đạp chết cũng bình thường, thậm chí đạp xong còn đá ngang con vật qua một bên, trong tâm không chút nào sợ hãi, hối hận gì cả thì đó là sự khác nhau giữa người ác nghiệp và người thiện nghiệp. Những gì Đức Phật nói rất tỏ tường, minh bạch, không có cái gì mờ tối, viễn vong, xa vời, những cái nhân ác lúc nào cũng tồn tại trong con người mình, chính chỗ này mà khả năng đọa vào ba đường ác là hoàn toàn có thể xảy ra. Tất cả những mầm móng, những ý nghĩ quanh co, những hành động quanh co còn tồn tại trong người chúng ta, còn tồn kho trong này thì mầm móng rơi vào những loài đó có khả năng xảy ra vì thế khi học lời Phật dạy thì trí tuệ của mình càng ngày càng tỏa sáng, càng sâu sắc.

Sự nhận diện ngũ uẩn của chúng ta là nhìn ra những cái tâm quanh co này, sự nhận diện ngũ uẩn của chúng ta là phát giác, phát hiện ra những lời nói quanh co này, sự thiền tập của chúng ta, sự nội soi, nội quán vào bên trong là để nhận diện ra sự quanh co trong ý nghĩ, trong lời nói, trong tâm tư, trong những hành động này. Nói dối là một sự quanh co, nói dối với chồng con, nói dối với bạn bè, thậm chí nói dối với thầy. Tại sao nói dối, tại sao quanh co? Vì để bào chữa cho cái tôi, cái tôi lúc nào cũng phải đúng, phải hay, phải giữ hình ảnh đẹp chứ nhất quyết không nhận sai, đó là thân nghiệp quanh co, ý nghiệp quanh co, ngữ nghiệp quanh co, còn những cái này thì còn những động cơ, mầm móng, hạt giống để đi vào những loài chúng sanh bò sát. Đức Phật là người phơi bày ra những gì bị che kín, các nhà khoa học chỉ nghiên cứu, giải thích phần đuôi tức là có bao nhiêu loại rắn, sanh trưởng ra sao ra chứ họ không biết tại sao có ra những loài này, như vậy mới gọi là bậc Thế Gian Giải, thông giải các pháp của thế gian, tất cả những loài chúng sanh, những hình thái của mọi đời sống chúng sanh trong thế giới này thì Đức Phật nhìn vào đều thấy suốt căn nguyên, nhân quả. Học kinh rồi chúng ta sẽ biết tại sao trong mười đức hiệu của ngài có đức hiệu gọi là Thế Gian Giải, nghĩa là thông giải hết tất cả các hình tướng, hiện tượng, hình thái của mọi sự hiện hữu của muôn loài, ngài thấu suốt căn nguyên, nguồn cội tại sao nó lại có mặt, từ đâu đưa đến hệ quả đó đều được ngài thấy, ngài biết.

Bài trước Đức Phật giải thích cho chúng ta biết tại sao có con giòi, tại sao có những con bò, con trâu, con dê, hôm nay ngài giải thích tại sao có con trăn, rắn, con trùng, con lươn, con rết. Với người có tâm ngay thẳng, lời nói ngay thẳng, hành động ngay thẳng thì người đó sanh ra có thân hình ngay thẳng và xương sống của loài người mình là đứng thẳng, qua đây chúng ta thấy nhân quả rất logic, minh bạch, khoa học, rất rõ ràng, cụ thể, không có gì là mê tín, xa vời hay viễn vong. Đối với người có thân, miệng, ý ngay thẳng thì người đó có hai chỗ sanh ra, một là sanh ra ở cảnh trời một bề đều là vui, thuần nhất là vui nhưng đây là cái vui tương đối chứ không phải cái vui của Niết-bàn, tức là những cái nghe, cái nếm, ngửi, xúc chạm của những người này đều ở trong những điều vui sướng. Người có ba nghiệp ngay thẳng, có tâm từ không sát hại chúng sanh, từ bỏ dao, gậy, kiếm, sống với tâm tàm quý, biết xấu hổ, sợ hãi với ác nghiệp sát sanh mà mình đã tạo dù là lỡ làm, biết nghĩ đến hạnh phúc cho hữu tình chúng sanh thì người này sau khi nhắm mắt ra đi thì một là sanh lên cõi trời, ở trong các niềm vui và hai là sanh ra trong gia đình vua chúa hoặc trong những gia đình có địa vị cao quý hoặc là sanh ra trong những gia đình doanh nhân giàu có. Như vậy hình dáng mà mình có là do ý nghĩ, lời nói, hành động của đời trước, khi mình có hình dáng như thế nào đó thì mình sẽ có cảm xúc, cảm thọ tương xứng như thế ấy.

Hình dáng của chư thiên thì có cảm thọ, cảm xúc hạnh phúc, vui sướng của chư thiên, hình dáng của vua chúa thì có cảm thọ, cảm xúc quyền uy tối thượng của vua chúa hay là hình dáng của một doanh nhân thành đạt, đại gia thì có hạnh phúc, vui sướng của người đó, ngược lại hình tướng của con rết thì có cảm xúc đau khổ, thống khổ trong đó. Tất cả những cái đó là sự thừa kế, thừa tự nghiệp của chúng sanh chứ không ai ban cho cái nghiệp, không ai bắt mình phải làm rắn, làm rết cũng không ai cho mình được lên trời, hoàn toàn không có đấng siêu nhiên, quyền năng nào thưởng phạt mà chính do chúng sanh thừa kế hành động trước kia của thân, miệng, ý, họ gánh lấy kết quả ấy. Trí tuệ về nghiệp phá hết mọi sự mê tín, thần quyền, nó làm cho con người có sự tự chủ vì đầu tiên Đức Phật đã nói "chúng sanh là chủ của nghiệp", câu này rất quan trọng nên chúng ta cần học thuộc lòng, chính mình là chủ của đời sống hiện tại và những đời sống tiếp theo. Như vậy Đức Phật cho mình một cái quyền rất lớn đó là quyền tự chủ, chính mình làm chủ để tạo ra hình dáng trong hiện tại và những đời kiếp tương lai. Không có thần quyền trong này, không có ban phước giáng họa, thưởng phạt của một ai trong này mà do chính ý nghĩ, lời nói, hành động đem lại kết quả cho chính mình. Đối với nghiệp là bình đẳng, là phổ quát, phổ biến, đối với nghiệp là không có đặc cách, đặc quyền của riêng ai, ở trước nhân quả nghiệp báo không ai có ưu tiên gì cả mà tất cả đều bình đẳng như nhau.

Cho dù làm vua nhưng với tâm ác độc, sát sanh, tà dâm, nói dối, say sưa thì cũng phải gánh lấy cái nghiệp, nặng thì rơi xuống địa ngục, nhẹ hơn thì xuống súc sanh hoặc ngạ quỷ, nếu biết làm thiện thì sanh ra làm người, đời sau có thể đi ăn xin, đời trước là vua nhưng đời sau làm kẻ ăn mày, thậm chí không cần đợi đời sau, nếu ở trên một địa vị cao sang làm chủ thiên hạ nhưng thất nhân thất đức, tàn bạo vô đạo thì có thể ngay trong đời đó bị đảo chánh, phế chức, lang thang lưu vong hoặc vào tù hay làm kẻ ăn mày. Cái nghiệp khủng khiếp đến như vậy, nó ở cả ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai, trong bài kinh này Đức Phật đang giải thích nghiệp quá khứ và Đức Phật cũng cho mình thấy kết quả của hiện tại trong đời sống này là thừa kế, thừa hưởng, thừa tự nghiệp ở đời trước vì vậy khi đã biết được nghiệp quả thì cần phải cẩn thận trong lời nói, ý nghĩ, hành động. Nếu vừa nhận diện ngũ uẩn vừa có trí tuệ về nghiệp thì mình sẽ biết được chỗ thọ sanh của mình ở đời sau, mình biết mình sẽ đi đâu chứ không cần phải đi xem thầy hay tìm ai đó nói cho mình biết đời sau mình sanh ra ở đâu. Khi học cần vận dụng vào trong đời sống, đem Thánh trí của Đức Phật nhìn vào những sinh hoạt thường ngày chứ không cần nhìn ở đâu xa vì có khi học như vậy nhưng khi trở ra mình nhìn con muỗi là con muỗi, con kiến là con kiến mà mình không thấy đó là sự biểu hiện của ác nghiệp. Những con đó cũng là ngũ uẩn giống mình, nó cũng có sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng để có bữa ăn nó phải đánh đổi bằng mạng sống, những con trườn bò gặp con người là phải chạy trốn vào những góc khuất, góc tối, do đời trước cống cao ngã mạn, kiêu ngạo, kiêu căng nên bây giờ thấy bóng người phải chạy trốn. Nhìn những con tắc kè mà thấy thấm thía, chết vì tiếng kêu, nghe tiếng nó là săn lùng bắt cho được để ngâm rượu cho nên khi thấy bóng người là nó trốn tránh, không dám gặp, đó là do cái nghiệp của đời trước khi được làm người thì kiêu căng, hách dịch, ta đây, ngã mạn, vênh váo, khinh người nên giờ phải sống trong xó kẹt, trong bóng tối.

Những người có bản tánh khiêm cung, khiêm hạ thường cao lớn, những người thấp bé thường có bản ngã lớn. Nhỏ con, thấp lùn nhưng lại rất kiêu ngạo, ngã mạn, cũng vì ngã mạn nên thân thấp bé, tuy được làm người nhưng phải chịu mặc cảm, có nhiều người không chịu được mặc cảm đó nên đi kéo xương chân cho dài ra, phải chịu cảm thọ đau đớn, họ không biết kéo cái tâm mới là điều quan trọng, còn kéo xương chân là cái không quan trọng nhưng lại phải chịu khổ sở, đau đớn. Phải kéo cái tâm xuống cho thật khiêm hạ thì đời sau mình có thân tướng cao lớn, trang nghiêm cho nên học Phật sẽ giải quyết vấn đề từ gốc rễ, căn nguyên, nguồn cội, vì thế thân tướng của mình là biểu hiện của nghiệp. Sự biểu hiện của nghiệp hay ở chỗ nhìn vào gương mặt là một gương mặt phúc đức, hiền lành, giọng nói hiền từ, hình dáng hiền từ nhưng có những người nhìn vào thấy dữ tợn, có những người nhìn vào thấy thân hình tiều tụy, gầy guộc, khô khan giống như cây thiếu nước nên héo mòn, hoặc có những người nhìn vào thấy gương mặt phụng phịu, chằm dằm, chù ụ. Tất cả những cái này đều nằm trong cảm thọ, từ cái thọ mới nung lên cái tưởng, cái hành rồi mới biểu hiện ra khẩu hành, thân hành, hình tướng, sắc tướng vì thế tu cảm thọ là tối thượng. Tu cảm thọ để có cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, cái này mới thật sự là lõi của pháp, quên đi đều này là mất gốc tu, lúc nào cũng phải tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, đây là bí kiếp chánh pháp chứ không phải chuyện đơn giản nói cho vui.

Đối với thầy Pháp An nếu có sự bực bội khi nói chuyện là con đi chỗ khác chứ con không ở gần. Ngay cả cha của con hay huynh đệ, học trò nếu nói chuyện mà có cảm thọ nung nấu phừng phựt lên hoặc khi con hướng dẫn mà không nghe lời là con tránh xa. Trong cơ thể chứa những cảm thọ bức xúc, sân hận, khó chịu, bực bội vậy mà không chịu tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu thì không bớt khổ. Đây là chỗ quan trọng con nhắc đại chúng và cũng tự nhắc mình, dù xảy ra bất cứ chuyện gì cũng phải tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái vì nó sẽ quyết định sanh thú của mình trong tương lai, tức là nó quyết định đời sau mình sẽ sanh ra ở đâu. Người mẹ có hai người con, một người con ở nước ngoài và một người con nghiệp ngập, một hôm bà được người con ở nước ngoài gửi về 500 đô la Mỹ nên bà để tiền trong hộc tủ kế giường. Trước đây bà đã bị tai biến nhưng nhẹ, bác sĩ điều trị khỏi nhưng vẫn còn di chứng, lần này người con nghiệp ngập về nhà lục lọi lấy 500 đô la Mỹ đó nên người mẹ tức giận, gào thét la lớn. Trong lúc tức giận như vậy bà bị tai biến nặng, nằm một chỗ 18 năm, chỉ vì 500 đô mà bà nằm một chỗ 18 năm. Nguồn cơn sâu sắc trong này là xúc sanh thọ, nếu lúc đó biết tu tập cảm thọ, biết quán chiếu vô thường, ly tham hoặc làm cho cảm thọ lắng dịu xuống được sẽ tránh được hậu quả bị tai biến nằm 18 năm. Qua câu chuyện này cho chúng ta thấy việc tu tập cảm thọ rất quan trọng, đó là lý do tại sao phải tu tập cảm thọ, giá trị, lợi ích và hiệu quả của sự tu tập này sẽ bảo vệ, che chở mình, làm cho mình bình an, thoát khỏi tai họa, hiểm nguy, chết chóc. Mình chỉ thấy tu khổ quá, bắt buộc nhìn lại cảm thọ liên tục mà mình không thấy được lợi ích vô tận vô biên không những trong đời này mà trong vô lượng vô biên kiếp cho đến khi nào nhập vào dòng Thánh. Ai cũng nghĩ tu khó khăn quá, cứ bắt nhận diện, dòm ngó mãi mà không biết chính cái nhìn ngó, rầy la quở trách tâm, khóc lóc vì tội lỗi sẽ đưa mình đi đến hiền thiện, bình an, hạnh phúc, nó bảo an, bảo hiểm tối thượng cho mình, tất cả mọi sự bảo hiểm trên đời này không có cái bảo hiểm nào bằng sự bảo hiểm của chánh pháp.

Nhiều lúc con ở trong thất hoặc đi trên núi một mình mà con cười vì con cảm thấy sung sướng, hạnh phúc, hỷ lạc tràn ngập, trào dâng từ đảnh tóc cho đến gót chân. Mình may mắn quá, mình phước lành quá, mình hy hữu hiếm có trong cuộc đời này, mình là một trong những người có phước báo tối thượng mà mình không biết hưởng thì quá uổng phí, cứ thấy gian khổ, khó khăn mà không thấy được kết quả vô thượng, vô tận trong dòng luân hồi vô thỉ này, mình có được Thánh trí tuệ không thể tưởng tượng nổi, chỉ cho mình tu tập cảm thọ, chỉ cho mình nhận diện cảm thọ, cảm xúc, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận và làm cho mình được bình an. Bà mẹ trong câu chuyện trên biết tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào thì bà đâu có bị tai biến 18 năm. Thầy Pháp An từ giờ phải thuộc những câu này để khi ra đi cảm thấy được nhẹ nhàng, mình phải biết khéo léo tác ý trong sự tu vì nếu không biết tác ý thì cái tu của mình sẽ không có hương vị, không có hỷ lạc, không có hạnh phúc, ngọt ngào, khi biết tác ý thì đó là thần diệu tối thượng trong Thánh pháp này. Mình thoát ra được biết bao hiểm họa của thế gian này, mình tránh xa được biết bao tai họa của đời sống này và có những giây phút mình bước ra khỏi thế giới này trú trong Thánh pháp. Những ngày tháng quý vị ở trên núi là những tháng ngày quý vị bước ra khỏi cuộc đời bụi bặm, mình viễn ly, rời xa ít nhất là một tháng, người ta thoát nửa ngày không được mà mình thoát được một tháng thì thật đáng chúc mừng, sau khi sắp xếp công việc thì lại vào xuất trần thêm một tháng nữa. Những ngày tháng trên núi là những ngày tháng xuất trần, thoát ly trần tục, xuất thế, là những ngày tháng mình nếm được hương vị béo bổ, ngọt ngào, thơm tho, đầy dinh dưỡng của dòng sữa Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo của Đức Phật truyền trao cho chúng ta.

Thật là ngọt ngào làm sao! Thật là bổ dưỡng làm sao! Không có chất dinh dưỡng nào trên thế gian này có thể so sánh được nguồn dinh dưỡng của pháp nhũ bậc Thánh, sữa pháp của Đức Như Lai, của bậc đạo sư tối thượng. Chúng ta thật sự rất có phước lành cho nên hãy mở tiệc tâm linh, nhưng bữa tiệc này không cần bánh, không cần nước vì đây là bữa tiệc của vi diệu pháp, của tối thượng pháp, của Thánh trí huệ, hạnh phúc dạt dào. Quý vị hãy tận hưởng giây phút này, hãy nuôi lớn thân tâm mình, làm cho cảm thọ này lan tỏa cùng khắp châu thân, một cảm thọ ngọt ngào, một cảm thọ dạt dào, một cảm thọ sung mãn, một cảm thọ hỷ lạc, hạnh phúc trào dâng.

"Vui thay, chúng ta sống,

Không rộn giữa rộn ràng;

Giữa những người rộn ràng,

Ta sống, không rộn ràng"

(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc, kệ 199)

"Vui thay chúng ta sống,

Không gì, gọi của ta.

Ta sẽ hưởng hỷ lạc,

Như chư thiên Quang Âm"

(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc, kệ 200)

"Khả ái thay núi rừng,

Chỗ người phàm không ưa,

Vị ly tham ưa thích,

Vì không tìm dục lạc"

(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán, kệ 99)

Vui thay chúng ta sống biết tôn trọng chánh pháp, biết tôn trọng bậc đạo sư, kính trọng thiền định, kính trọng học pháp, kính trọng thiện pháp, kính trọng sự đoàn kết, sự từ bi, sự khiêm hạ, nhúng nhường. Chúng ta là những người hạnh phúc nhất hành tinh này vì trên hành tinh này không có bao nhiêu người thật sự được nếm trải dòng Thánh pháp nguyên chất này, chúng ta phải biết tác ý nuôi dưỡng, giữ gìn như giữ tròn con mắt của mình, giống như giữ trái tim của mình, chúng ta phải nuôi dưỡng pháp này trong từng hơi thở, trong mỗi sự hô hấp, trong từng bước chân, từng suy nghĩ, từng cảm giác. Phải biết nuôi dưỡng, giữ gìn, trân trọng, trân quý chánh pháp này, may mắn thay cho chúng ta, phúc lạc thay cho chúng ta, thật là hy hữu hiếm có khó gặp trong vô lượng kiếp của dòng sanh tử luân hồi này. Chúng ta đã gieo trồng thiện căn phước đức nhân duyên trong vô lượng kiếp, ngày hôm nay sau 2600 năm chúng ta còn ngồi đây để nghe được lời dạy nguyên chất của Đức Thế Tôn, hiểu được và thực hành được thì quá hạnh phúc. Còn hạnh phúc nào bằng hạnh phúc này nữa? Còn phước đức nào bằng nữa? Còn công đức nào có thể sánh bằng nữa? Đó gọi là chánh pháp khó nghe vì không phải muốn là được, chúng ta may mắn gặp được bậc đạo sư tối thượng, chúng ta may mắn gặp được bậc hiền trí, hiền đức truyền thụ cho chúng ta Thánh trí tuệ ngũ uẩn này cho nên đừng để vuột mất cơ hội ngàn vàng này.

"Nhất thất túc, thành thiên cổ hận;

Tái hồi đầu, thị bách niên thân".

Tạm dịch: Lỡ bước một phen ngàn đời ân hận;

Quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi.

Đừng để mình sảy chân ra khỏi dòng pháp này, phải giữ dòng pháp này như giữ tròn con mắt, như bảo hộ trái tim của mình, phải tu tập cái pháp này như từng hơi thở, phải nuôi lớn Thánh pháp này, phải tăng trưởng Thánh pháp, thiện pháp trong mỗi bước chân, mỗi suy nghĩ, lời nói, phải đặt tâm đúng hướng vào trong pháp này. Hãy chiêm nghiệm đi, thưởng thức giờ phút thần thánh này đi, thưởng thức không gian màu nhiệm, vi diệu này đi, cảm nhận một cách trọn vẹn bằng trái tim và tấm lòng của mình để cảm thọ này lan tỏa, thấm đẫm vào trong từng tế bào, từng lỗ chân lông, từng lan da, thớ thịt của quý vị.

./.