PHẬT ĐẢN ĐEM VI DIỆU CHO CUỘC ĐỜI
Nikāya Giảng Giải
PHẬT ĐẢN ĐEM VI DIỆU CHO CUỘC ĐỜI
Vi Diệu 2 – Kinh Tăng Chi Bộ II
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quay Về Nương Tựa Đức Phật PAGEREF _Toc156980831 \h 1
II.Sự Xuất Hiện Của Đức Phật Là Vi Diệu PAGEREF _Toc156980832 \h 1
III.Ba đạo lộ tu tập – Nhân đạo, Thiên đạo, Thánh đạo PAGEREF _Toc156980833 \h 2
IV.Có Bốn Pháp Vi Diệu PAGEREF _Toc156980834 \h 5
1.Quần chúng ưa thích chấp giữ PAGEREF _Toc156980835 \h 5
2.Quần chúng ưa thích kiêu mạn PAGEREF _Toc156980836 \h 5
3.Quần chúng ưa thích không an tịnh PAGEREF _Toc156980837 \h 6
V.Ý Nghĩa Của Ngày Phật Đản PAGEREF _Toc156980838 \h 8
VI.Chia Sẻ và Hỏi Đáp PAGEREF _Toc156980839 \h 13
Quay Về Nương Tựa Đức Phật
Nhân ngày Phật Đản sanh chúng ta nói lên niềm tôn kính Đức Phật và luôn nhớ niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Câu niệm danh hiệu Phật này mang rất nhiều ý nghĩa, có thể hiểu là: Con đem hết tấm lòng, đem hết tất cả trái tim quay về nương tựa nơi Phật, thân tâm của Ngài hoàn toàn thanh tịnh, thấu suốt được bản chất của thế giới, là bậc Giác ngộ tận cùng đối sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi chúng ta niệm Phật mà hiểu được ý nghĩa của danh hiểu ấy thì mình có sự tác ý: Con đem hết tất cả tấm lòng chân thành cung kính nương tựa bậc Đại Giác Ngộ, bậc đã thấu suốt hoàn toàn thân tâm và thế giới, bậc đã đoạn tận hết tất cả tham, sân, si và đạt được tâm bất động giải thoát.
Sự Xuất Hiện Của Đức Phật Là Vi Diệu
Ở trong chùa trung tâm Chánh điện phải thờ Đức Bổn Sư Phật Thích Ca Mâu Ni và tất cả các gia đình Phật tử muốn thờ Phật phải thờ Phật Thích Ca Mâu Ni. Bởi lẽ, không có Ngài thì trên thế giới này không có đạo Phật, nếu không có Ngài thì không có giáo pháp trên hành tinh này, không những hành tinh này mà mười hành tinh, một trăm hành tinh, một ngàn hành tinh, cho đến ba ngàn đại thiên thế giới.
Nếu không có sự xuất hiện của Đức Phật thì mười ngàn thế giới sẽ chìm trong bóng đêm, trong hắc ám, ở trong màn vô minh, trong tăm tối, trong u mê, trong hôn mê, trong si ám. Trong Tương Ương Bộ Kinh nói rằng sự xuất hiện của Thế Tôn như sự xuất hiện của mặt trời, đem lại ánh sáng, đem lại quang minh nhãn mục cho nhân Thiên, đem lại con mắt lớn. Trong bài kinh Như Lai - Tăng Chi Bộ Kinh, Thế Tôn nói rằng: “Sự xuất hiện của Ngài là đem lại sự hạnh phúc cho đa số, đem lại an lạc cho đa số vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người, sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là khó gặp ở đời”.
Sự xuất hiện của Đức Phật là sự xuất hiện của một con người vi diệu, thần diệu, thù diệu, thượng diệu và sự mệnh chung của Ngài là sự thương tiếc cho vô lượng nhân Thiên. Sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện độc nhất vô nhị có một không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân, sự xuất hiện của Đức Phật cũng là sự xuất hiện của mắt lớn, sự xuất hiện của đại quang, sự xuất hiện của đại minh, sự xuất hiện của sáu vô thượng.
Sự xuất hiện của Ngài là bốn Vô Ngại Giải, sự thông đạt của nhiều giới, sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát. Sự xuất hiện của Đức Phật là sự chứng ngộ của Dự Lưu và sự chứng ngộ của quả Nhất Lai, sự chứng ngộ của quả Bất Lai, sự chứng ngộ của bậc A-la-hán. Sự chứng ngộ của Ngài là mang lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số. Bởi vì nếu không có sự xuất hiện của Ngài trong đời chúng ta sẽ không biết đạo lộ của nhân Thiên, Đức Phật chỉ cho mình thấy muốn làm người thì phải tu cái gì? Muốn lên trời thì phải làm cái gì?
Ba đạo lộ tu tập – Nhân đạo, Thiên đạo, Thánh đạo
Muốn làm người thì chúng ta phải giữ gìn năm giới tức là từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu và những chất say sưa nghiện ngập đó là Nhân đạo. Muốn lên trời được gọi là Thiên đạo thì mình phải thực hành Thập thiện. Nhưng sanh vào cõi người hay trời thì cũng nằm trong lục đạo luân hồi sanh tử, cũng chìm đắm, cũng quay cuồng, cũng sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Dù cho người giàu cỡ nào, địa vị cỡ nào, học thức cỡ nào, đẹp đẽ cỡ nào rồi cuối cùng cũng tai nạn, cũng bệnh hoạn, cũng già nua, cũng chết chóc, cũng kết thúc bằng nước mắt.
Hoặc có sanh lên cõi chư Thiên, lên tới Phạm Thiên giới sống lâu tuổi như trái đất, nhưng khi đã hết phước, dù cho đạt được Tứ Thiền, Bát Định thì vẫn rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên những chúng sanh này có một cái nhìn thâm sâu có sự quán sát tận cùng về lục đạo và sáu cảnh giới, các vị này không mong cầu ở trong nhân Thiên phước báu nữa mà muốn mong cầu chấm dứt sanh tử, khổ đau thì Đức Phật mở ra Thánh Đạo. Như vậy, có Nhân Đạo, Thiên Đạo và Thánh Đạo. Thánh đạo này chính là Phật Đạo, trong Tạng Kinh Nikāya gọi là Thánh Đạo.
Giáo pháp của Đức Phật đã hướng dẫn cho mình đóng bốn cánh cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và Atula; mở ra cánh cửa Nhân Thiên. Để được sanh vào Nhân đạo thì ta phải thực hành năm giới, làm các việc công đức, tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, nắm được những điều căn bản rất quan trọng trong sự tu học. Nếu giữ được năm giới tương đối khá, đồng thời có phước đức thì chúng ta được sanh trở lại người khá giả. Nếu giữ được năm giới rất ít thì chúng ta sanh trở lại làm người khiếm khuyết, khuyết tật, tàn tật, bệnh hoạn, đui, điếc, câm, ngọng. Nếu phạm giới nhiều, phạm những giới nặng thì chúng ta có thể rơi thẳng xuống địa ngục, hoặc ngạ quỷ, súc sinh, mà chúng ta giữ được cộng với sự tu tập phước báu, phước đức, tâm hiền thiện chúng ta sanh vào Nhân đạo, Nhân giới, Nhân loại, sanh lại cõi đời này.
Thứ hai, Đức Phật mở ra con đường đưa đến cõi trời là Thiên Đạo. Cõi này thuần vui trong sự phúc lạc do tu tập Thập Thiện và Tứ Vô Lượng Tâm – từ bi hỷ xả.
Thứ ba, Đức Phật mở ra con đường đưa đến các bậc Thánh đó là Thánh Đạo. Đạo lộ này tu tập 37 Phẩm Trợ Đạo, căn bản tất cả trong 37 Phẩm Trợ Đạo đó lấy sự nhận diện Ngũ Uẩn làm nền tảng, làm gốc rễ, làm căn bản, làm cội gốc. Khi nhận diện được Ngũ Uẩn thân tâm của mình rồi mới bắt đầu công trình tẩy rửa những cấu nhiễm trong tâm. Khi nhận diện Ngũ Uẩn mình mới thấy rác ở bên trong của căn nhà Ngũ Uẩn rồi sau đó mới làm vệ sinh sạch sẽ. Từ mức độ vệ sinh, sự tinh cần, tinh tấn quét dọn lau chùi, tẩy rửa, mình có được Thánh vị, Thánh đạo, Thánh trí, Thánh quả sai biệt gồm có Bốn đôi Tám vị tức là từ Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, và Sơ Đạo, Nhị Đạo, Tam Đạo, Tứ Đạo. Đạo và Quả. Đạo tức là đang đi, Quả tức là đã đến đó gọi là Thánh Đạo.
Thánh Đạo là bước đầu tiên nhận diện được Ngũ Uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì sẽ không thấy cái ngã, không có cái tôi. Với một cái tâm muốn mình nhìn thấm thía khổ đau trong cuộc đời này, các vị này sẽ hướng tâm đi ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi tâm hướng mạnh mẽ như vậy là bắt đầu đi vào Thánh vị thấp nhất gọi là hướng Dự lưu tức là hướng đến Sơ quả.
Ngược lại, dù tu nhiều bao nhiêu, dù say sưa miệt mài làm tất cả các thiện pháp, công đức nhưng mình không hướng đi ra khỏi sanh tử; không chán lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không yểm ly, không ly tham, không từ bỏ, không đoạn diệt, không muốn xuất ly khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì mình vẫn ở trong phàm vị, địa vị của phàm phu, đó là Nhân thiên đạo chứ không phải Thánh đạo.
Chúng ta phải nắm vững ba đạo lộ Đức Thế Tôn xuất hiện đem lại an lạc cho đa số, đem lại hạnh phúc cho đa số. Vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và loài người. Thế Tôn tuyên thuyết, hiển thị, thiết lập, hiển bày, minh thị, phân tích chỉ rõ cho chúng ta ba đạo lộ, Đức Phật nói luôn nhân quả của các cõi ở trong sáu đường, sáu thế giới từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, người, trời cho đến Thánh vị, mỗi Thánh vị như vậy là có nhân có quả, tuần tự.
Thế Tôn có dạy: “Này các Tỷ-Kheo ở trong giáo pháp của ta không có việc bất thình lình chứng ngộ”. Cho nên một số người không hiểu nghĩ rằng mình cứ ngồi im bữa nào bất thình lình may mắn hoát nhiên đại ngộ. Không bao giờ hoát nhiên đại ngộ. Tu từ từ, học từ từ đoạn lậu hoặc, dần dần. Đó là ý nghĩa nói rằng: “Một người xuất hiện ở đời này, sự xuất hiện của vị ấy đem lại hạnh phúc cho đa số, đem lại an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và loài người”, người ấy là ai chính là Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, chính một người này. Rất nhiều tỷ kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện. Cho nên mới nói rằng: “Sự xuất hiện của một người khó gặp được ở đời, hi hữu hiếm có khó gặp”, chưa từng có, một người ấy là ai? Chính là Đức Như Lai đó là ý của câu thứ hai, vô cùng hi hữu, hiếm có khó gặp ở trên đời, không phải chỉ có Đức Phật mà các bậc Thánh đệ tử của Đức Phật cũng rất khó gặp và người có thể giảng thuyết đúng theo Chánh Pháp của Đức Phật, người có thể hiểu đúng theo Chánh Pháp của Đức Phật và người có thể hành theo đúng Chánh Pháp của Đức Phật thì Đức Phật gọi đó là năm châu báu khó tìm, khó gặp ở đời và cuối cùng là người biết ơn, nhớ ơn.
Điều thứ ba mà Đức Phật muốn nói là: Sự xuất hiện của một người là vi diệu, nhiệm màu, thần diệu, kỳ diệu thù thắng, tối thượng, không thể dùng từ để mà diễn tả được, vi diệu cùng cực. Điều vi diệu này nói rất nhiều ở các bài kinh trong Tạng kinh Nikāya. Ở đây lấy một bài điển hình trong bài (Vi Diệu 2 – Tăng Chi Bộ T2):
Có Bốn Pháp Vi Diệu
Quần chúng ưa thích chấp giữ
“Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.
Chúng sanh rất là ưa thích nắm giữ, rất thích thú trong việc nắm giữ, họ vui sướng trong sự nắm giữ, nhưng Đức Thế Tôn ra đời nói về pháp không nắm giữ, tức là nói ngược lại với tâm thức của chúng sanh.
Quần chúng ưa thích kiêu mạn
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện”.
Nhưng điều đặc biệt là khi Ngài thuyết pháp này họ lại khéo nghe, lắng tai chánh trí, an trú tâm, họ chịu nghe, họ lóng tai, họ lại nghe một cách khéo léo và an trú tâm ở nơi Chánh trí tuệ của Đức Phật, thì điều này hết sức là kỳ diệu, hết sức nhiệm màu, hết sức vi diệu.
Đây là điều vi diệu chưa từng có thứ hai khi mà Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời quần chúng họ rất ưa thích kiêu mạn, ngã mạn, ngạo mạn, ta đây nhưng Đức Thế Tôn thuyết pháp không kiêu mạn, thuyết pháp khiêm hạ, thuyết pháp phá ngã, thuyết pháp diệt tận chấp ngã, mà các vị này khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm, chịu nghe pháp khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, chịu nghe pháp phá ngã, diệt ngã, vô ngã. Đây là điều vi diệu chưa từng có thứ hai khi mà Đức Thế Tôn bậc A-la-hán xuất hiện ở trên đời.
Quần chúng ưa thích không an tịnh
Điều thứ ba là quần chúng không có ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh, tức là số đông chúng sanh ưa thích sự náo nhiệt, thích thú sự náo nhiệt và hoan hỉ vui sướng trong sự náo nhiệt. Chỗ nào đông là thích, đi ngoài đường thấy có tai nạn giao thông cũng phải đứng túm tụm lại để xem mặc dù không giúp được gì có khi bị thêm tai nạn thứ hai. Quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh nhưng khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng thì họ lại khéo nghe, lắng tai nghe, chánh trí an trú tâm đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
Pháp thứ ba này là pháp an tịnh mà Đức Phật truyền trao từ buổi học đầu tiên cho đến bây giờ. Minh Thành rất chú trọng pháp an tịnh, pháp này thấy vậy nhưng mình mới bắt đầu tu cho đến khi thành tựu Thánh quả tối cao cũng không đi ra khỏi ba chữ Pháp An Tịnh.
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện
Trong tạng kinh Nikāya nói: Như Lai là bậc an tịnh thuyết pháp để đưa chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh. Phải hết sức để ý pháp an tịnh này vì phần đông chúng sanh ưa thích náo nhiệt, ưa thích ồn ào, ưa thích đông đúc. Chúng ta để ý trong tự thân của mình cũng vậy thấy chỗ nào đông vui là ồn ào, là lăng xăng, là náo nhiệt mà những chỗ như vậy làm cho tâm mình không an tịnh, không lắng dịu, không định tĩnh, không định tĩnh thì nó động loạn, động loạn thì trí mình sẽ không sáng, trí mình không sáng thì lúc đó lời nói, hành động của mình có thể dẫn đến tác động ở trong tham, sân, si, ở trong sự vận hành của dục, ái, tham sân si, vô minh, bản ngã. Cho nên Pháp an tịnh này hết sức quan trọng, nó phải được tu tập từ những bước đầu, tập tễnh mới vào tu, chính vì vậy mà Minh Thành thích lên trên núi ở là vậy. Trong chúng hội đạo tràng Nikāya thực tập, thực hành nói theo ngôn ngữ bình dân là món ruột, nói theo kinh sách là gia phong, nề nếp, theo ngoài đời là đặc sản, trong đạo tràng không có điều này là không tu được. Chúng ta luôn nhớ niệm an tịnh, lắng dịu đây là bài tập đầu tiên của buổi tu học cho đến sau này vẫn phải thực hành, vẫn nhắc lại, vẫn phải ôn tập, vẫn thực tập, vẫn phải tu tập, vẫn phải luyện tập sự an tịnh, lắng dịu. Đức Thế Tôn nói pháp an tịnh cho những người ưa thích ồn ào, thích thú ồn ào, hoan hỉ trong náo nhiệt, ồn ào, nhưng đặc biệt họ lại khéo nghe, lắng nghe, lắng tai chánh trí, an tịnh trú tâm.
Quần chúng đi đến vô minh
Pháp thứ tư: Này các Tỷ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la- hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.
Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.
Phần lớn tất cả chúng sanh là đi đến vô minh trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy. Chủ đề này rất lớn, Đức Thế Tôn nói rằng nếu Ngài không xuất hiện giống như không có mặt trời, không có mặt trăng, không có ánh sáng, không có ai thấy được khổ, không ai thấy được nguyên nhân của khổ, không ai có thể diệt tận được khổ đau và biết được thật sự con đường, đạo lộ đưa đến sự diệt tận khổ một cách triệt để hoàn toàn, đầy đủ viên mãn đồng đều tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ để mà chấm dứt hoàn toàn khổ đau này, đại khổ uẩn này được diệt tận. Nếu Như Lai không xuất hiện ở thế giới này, thì thế giới này sẽ đi đến vô minh trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy. Cho nên sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là sự xuất hiện của mắt lớn, của đại quang, đại minh. Khai nhân thiên nhãn mục là mở mắt cho tất cả các bậc Thánh Hiền và cho tất cả những chúng sanh mù lòa, sống trong bóng đêm, trong bóng tối, trong si ám, trong vô minh, trong màn đêm quờ quạng, tăm tối, si mê, hôn ám, cả một màn đêm bao phủ vô lượng vô biên kiếp. Cho nên sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện của một người không có hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng là bậc tối thượng giữa loài hai chân.
Ý Nghĩa Của Ngày Phật Đản
Hiện nay nhiều người không hiểu, nghe về Đức Phật thấy bình thường, chữ Phật trong kinh Nikāya không đơn giản mà rất là thâm sâu tối tôn tối thượng. Nhưng bây giờ người ta dùng chữ Phật với ý nghĩa khích lệ, hướng thiện, hướng thượng. Chữ Phật đúng nghĩa trong kinh Nikāya không phải dễ hiểu, rất thâm sâu rộng lớn, rất cao tột, tối thượng cho nên Ngài đem ánh sáng cho cuộc đời này. Vì có Ngài xuất hiện trên cuộc đời nên mình mới biết được sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới. Có Ngài xuất hiện cho nên chúng sanh mới biết được Tứ đại, Năm uẩn, Thập nhị xứ, Thập bát giới, Uẩn xứ giới, vì có Ngài xuất hiện trên cuộc đời này cho nên mới có những pháp thù diệu tối thượng, có sự chứng ngộ của minh và giải thoát. Minh là phá vô minh chứng đạt được minh, giải thoát là khi diệt tận hết tham ái thì lúc đó tâm giải thoát, tuệ giải thoát, diệt tận hết tham ái thì tâm giải thoát, phá sạch hết vô minh, thì tuệ giải thoát đạt được tâm bất động. Tất cả các kết quả thù diệu, thù thắng, lợi ích to lớn, thành tựu cứu cánh như vậy là do sự xuất hiện của Đức Như Lai. Cho nên tại sao ngày Phật Đản lại quan trọng đến như vậy? Tại sao sự đản sanh của Đức Thế Tôn, của Bồ tát, của Đức Như Lai lại quan trọng như vậy? Tại vì sự xuất hiện của Ngài là tất cả đều được thiết lập, thành tựu các quả vị tu chứng Thánh Hiền ở trên hành tinh này. Chính vì vậy sự xuất hiện của Ngài là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ của quả Dự Lưu, sự chứng ngộ của quả Nhất Lai, sự chứng ngộ của quả Bất Lai, sự chứng ngộ của A-la-hán. Sự xuất hiện của Ngài là đem đến bốn Đạo lộ, bốn Thánh quả, là sự xuất hiện của Thánh Pháp, của Thánh đạo, của Thánh trí, của Thánh quả. Như chúng ta cũng đã đề cập về Nhân đạo, Thiên đạo, Thánh đạo. Nếu Ngài không xuất hiện ở cuộc đời này thì những điều này sẽ không có. Nhưng chúng ta không hiểu, nhiều khi quý Phật tử, ngay cả những vị xuất gia mà không nghiên cứu kỹ, học kỹ. Trong Chánh điện không thờ Phật Thích Ca Mâu Ni nên chúng ta phải xem xét cho thật kỹ. Không có Ngài không có đạo Phật, mình thờ mà không có thờ Ngài tức là mình mất gốc, phải để ý thật kỹ vấn đề này và tất cả các Phật tử phải hiểu được điều này, mình đã học Phật bao nhiêu năm mình phải hiểu sâu sắc. Ngài phải để ở vị trí tối tôn tối thượng, tối cao, trung tâm nhất trên bàn Phật, cách thờ như vậy để nói lên sự hiểu biết của mình về Phật Pháp và khi mình niệm Phật thì mình phải nhớ danh hiệu của Đức Bổn Sư, chữ Bổn Sư ở đầu khi chúng ta niệm là phải ưu tiên nhất, nhắc nhở vì mỗi một câu niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là mình đã nhớ ân đức của Phật chứ không phải đợi tới ngày Phật Đản mình mới nhớ. Minh Thành cũng đã giải thích ý nghĩa câu niệm Phật là con đem tất cả tấm lòng con quay về con nương tựa nơi bậc Đại giác ngộ, bậc tôn kính nhất đời, tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si, bậc Giác Ngộ tột cùng thân tâm và Thế giới Phật Thích Ca Mâu Ni. Niệm Phật bằng cả trái tim, bằng cả tấm lòng, bằng cả sự biết ơn chân thành tha thiết cung kính cùng cực, tột độ, đem cả sinh mạng quay về nương tựa bậc Đại giác ngộ, niệm như vậy mới sinh ra cảm thọ, niệm như vậy mới sinh ra cảm xúc, sinh ra cảm giác, mỗi lần niệm như vậy mới tăng trưởng niềm tin, tăng trưởng sự cung kính, tăng trưởng sự biết ơn, tăng trưởng sự tịnh tín bất động đối với Tam Bảo, nhất là đối với Phật. Cho nên trong tạng kinh Nikāya nói rằng: “Này các vị người nào chỉ cần tin tưởng Như Lai trọn vẹn người đó Nhập lưu Thánh quả thứ nhất”. Chỉ cần tin tưởng Như Lai một cách trọn vẹn thì người đó đã dự lưu Thánh quả. Thế nào là tin tưởng trọn vẹn? Học pháp về cuộc đời Đức Phật, ân đức của Phật, tâm từ bi của Phật, lòng tin tưởng của mình đối với Phật trong tinh thần của tạng kinh Nikaya. Chỉ cần mình tin Đức Phật một cách trọn vẹn là đã Nhập lưu. Muốn tin Đức Phật trọn vẹn thì phải hiểu, muốn hiểu thì phải nghe, phải học, phải tu chứ không phải trên chữ nghĩa. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong trường Phật học giảng Năng nhân; năng là năng lực, nhân là từ bi không phải là đơn giản chữ nghĩa sơ đẳng Phật Học Giáo Hoa Thư. Cho nên nếu không có Đức Phật xuất hiện thì không có bốn Thánh Quả, không có Tứ Niệm Xứ, không có Tứ Chánh Cần, không có Tứ Như Ý Túc, không có Năm Căn, Năm Lực, không có Bảy Bồ Đề Phần, không có Bát Chánh Đạo, càng không có Tứ Thánh Đế. Chính vì vậy tại sao chúng ta phải lạy Ngài? Tại sao chúng ta phải quỳ mọp đem cái chỗ cao nhất của đỉnh đầu chạm vào chỗ chân thấp nhất của Ngài? Mình phải hiểu tại sao mình đem hương hoa để cúng Ngài. Mình phải hiểu được ý nghĩa của việc mình cung kính Đức Phật một cách đầy đủ trọn vẹn.
Sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện của bốn sự vi diệu, đầu tiên sự xuất hiện của Ngài là phá sự chấp thủ cho chúng sanh. Tại sao vậy? Sự chấp thủ là nguyên nhân của tất cả khổ đau. Chấp thủ cái gì? Nói từ thô đến tế. Thô là mình chấp thủ vào những tiền bạc, tài sản, bao nhiêu đó là đầu rơi máu đổ. Bao nhiêu đó là vợ chồng thưa kiện ra tòa, bao nhiêu đó là cha con không còn phụ tử tình thâm con cái trở thành nghịch tử, một chút đó thôi mà chấp thủ, nắm giữ; nhà cửa, xe cộ, sổ đỏ, sổ hồng, sổ tiết kiệm, một tấc đất đâm nhau, chém nhau, giết nhau, anh em ruột thịt mất tình mất nghĩa, giết năm bảy mạng người…đó là sự chấp thủ, nắm giữ tài sản là phiền não và khổ đau, là tai họa, tan nát, hận thù, là chém giết. Vì sự nắm giữ này là nguyên nhân của đau khổ mà chúng sanh mãi không muốn khổ nhưng cứ muốn nắm giữ. Đức Thế Tôn ra đời nói lên sự thật và nói rằng đừng có nắm giữ nữa, càng nắm giữ, nắm chặt chừng nào thì khổ chừng ấy, mọi thứ đều là vô thường, đã là vô thường sẽ là khổ, khổ là vô ngã, vô ngã thì cần phải như thật với Chánh trí tuệ quán sát rõ cái này, cái này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tranh giành rồi đi đến bề ngang một thước bề dài hai thước. Thời buổi dịch bệnh mang đi thiêu được một hũ tro cốt mà không biết đó có phải của mình hay là của một ai đó. Không có lò thiêu để mà thiêu nữa như vậy chấp giữ làm gì. Đức Phật mới nói một chút sắc uẩn bên ngoài khi đi sâu vào bên trong thì luôn chấp thân này là của mình, tự ngã của mình: “Đừng có ai đụng tới tôi, đụng tới là có chuyện”. Ai kính mình thì mình thương, mình kính, ai quý mình là mình yêu lắm, ai mà khinh cái thân này là mình sân hận, thù hằn đó là sự chấp thủ vào trong cái thân xác này là phiền não và khổ đau, là tai họa là bất an, là lửa đốt, là hận thù. Sự nắm giữ trong các cảm giác, trong suy nghĩ, hình bóng trong tâm các tưởng, nắm giữ trong nhận thức, đấu tranh tư tưởng hệ với nhau, hai chục năm, ba chục năm, bốn chục năm, năm chục năm tư tưởng cũng không thay đổi. Tư tưởng hệ, chấp với nhau, giữ với nhau, giận với nhau, rồi chia phe chia phái với nhau, lập bè lập nhóm, băng đảng, chỉ làm đau khổ cho mình, đau khổ cho người. Đức Thế Tôn nói: “Các con ơi! Tội nghiệp quá các con ơi, buông xuống đi cho nó nhẹ”
Xe ơi tội xe quá
Xả bớt hàng đi xe
Tâm ơi tội tâm quá
Xả bớt phiền đi tâm
Chúng sanh nghe Như Lai thuyết pháp buông xả, buông bỏ, thì chúng sanh đặc biệt họ khéo nghe, lắng tai nghe chánh trí, an trú tâm, chỗ này là chỗ vi diệu chưa từng có khi mà bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở trên cuộc đời này, chúng sanh là ưa thích nắm giữ, thích thú nắm giữ, vui sướng hoan hỉ trong sự nắm giữ nhưng mà Thế Tôn đã khuyên: “Buông đi con” nếu mình lắng nghe, nghe lời thì mình sẽ thành Thánh nhân, thành Hiền nhân, thành Thánh Tăng, thành những bậc Hiền trí, hiền thiện, hiền đức chỗ đó là chỗ vi diệu. Chúng sanh thì ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỉ kiêu mạn, khoan khoái thích thú thể hiện cái tôi, biểu hiện cái ta, ta đây. Thế Tôn nói chúng sanh hạ cái ngã xuống, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hòa, khiêm nhã và hạ thấp xuống, giảm cái ngã, chặt bớt cái ngã, phá cái ngã, diệt cái ngã. Đó là sự tối thượng của Đức Phật.
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
Chúng sanh ưa lăng xăng, dao động từ thân cho đến tâm là sự trạo cử, lau trau, lóc tróc, tất bật, vội vội, vàng vàng lúc nào cũng như có người đuổi phía sau, lúc nào cũng thấy bận rộn. Khi Đức Thế Tôn xuất hiện Ngài nói pháp an tịnh, còn chúng sanh thì thích náo động, thích dao động, thích động loạn. Thế Tôn xuất hiện dạy cho chúng sanh pháp an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, các vị này khéo nghe, lắng tai nghe, chánh trí an trú tâm thực hành theo và các vị này thành tựu được tâm an tịnh, lắng dịu bất động giải thoát. Đó là sự kỳ diệu, sự vi diệu khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở trên cuộc đời này
Này các Tỷ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.
Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.
Tất cả chúng sanh đi đến vô minh, trở thành mù quáng trong vô minh, bị vô minh trói buộc, che đậy, Như Lai thuyết Pháp để nhiếp phục vô minh cho họ, họ phá được vô minh, họ vén được bức màn vô minh, họ xóa được vô minh, họ diệt được vô minh, họ đánh vô minh để họ thành tựu được minh, thành tựu được trí, thành tựu được tuệ, thành tựu được đại quang, đại minh, thành tựu được ánh sáng Thánh trí để diệt tận bóng đêm vô minh tham ái, chấp thủ này. Qua đây chúng ta thấy được sự vi diệu chưa từng có sự xuất hiện trên cuộc đời này.
Chính Thế Tôn xuất hiện trên cuộc đời này, Phật đản sanh là đưa phương pháp diệt khổ cho chúng sanh chúng ta phải nhớ những điều này:
Là sự chấp thủ, nắm giữ
Kiêu mạn
Dao động
Vô minh
Bốn điều này làm cho chúng sanh khổ đau. Đức Phật ra đời khuyên mọi người là buông bỏ, vô ngã. Phật nói pháp cho an tịnh, Phật nói pháp cho phá vô minh thành tựu trí tuệ. Đây là bốn điều vi diệu chưa từng có chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện mới có thể tuyên thuyết, chỉ bày, hiển thị, phân tích, phô diễn, giảng giải rộng rãi để làm cho chúng sanh phá mê khai ngộ siêu phàm nhập Thánh. Đó là giá trị ý nghĩa, tầm vóc, lợi ích quan trọng của sự xuất hiện của Như Lai trên cuộc đời này.
Chúng ta thấy sự xuất hiện của Đức Phật tuyệt vời, vi diệu, tối thượng không? Lợi ích vô cùng vô tận, vô lượng, vô biên không? Tại sao chúng ta lạy Đức Phật? Tại sao chúng ta đem hoa cúng Phật? Tại sao chúng ta đốt đèn dâng hương thắp nhang, đảnh lễ cúng dường, tôn trọng, lễ bái vì: “Ngài đem lại cho chúng ta lợi ích cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời, lợi ích vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người”. Đó là ý nghĩa của sự xuất hiện của Đức Như Lai trong ngày Phật đản tất cả năm châu bốn biển chúng sanh đều hướng về.
Chia Sẻ và Hỏi Đáp
Phật Tử Mỹ Dung chia sẻ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con thành kính tri ân lời giảng dạy của Thượng Tọa, chúng con cũng rất biết ơn nhờ có Đức Phật đản sanh mà ngày nay chúng con mới có Phật pháp và nhờ quý Thầy dạy Phật pháp cho chúng con hiểu được Phật pháp, chúng con xin tri ân quý Thầy. Chúng con cũng cố gắng noi gương của Đức Phật để giảm bớt tham, sân, si để đời sống của mình được an lạc.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Phật Tử chia sẻ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con xin tri ân công đức của quý Tăng Ni đã tổ chức Diễn đàn Học Phật Online cho chúng con được tiếp cận, học hỏi, mưa dầm thấm lâu chúng con thấm nhuần Phật pháp. Chúng con rất biết ơn Thượng tọa Thích Minh Thành đã giảng giải kinh Nikaya cho chúng con được hiểu sâu nhất. Qua bài Phật Đản đem lại sự vi diệu cho cuộc đời chúng con mới hiểu vì sao mình phải lễ Phật? Bấy lâu nay chúng con lễ lạy Đức Phật là chúng con chỉ có ý nghĩ là tôn kính và học theo hạnh của Ngài. Nhưng qua bài này Thượng Tọa đã giảng dạy chúng con hiểu sâu hơn nữa về sự xuất hiện của Ngài trên thế gian này. Nhân ngày Lễ Phật Đản con xin gửi lời thành kính tri ân Đức Thế Tôn, chúng con cũng đã kính mừng ngày lễ của Đức Phật đản sanh để tri ân công đức của Ngài xuất hiện trên cuộc đời này. Qua đây con cũng kính tri ân trên Thượng tọa cho chúng con nhiều bài pháp thấm nhuần Phật pháp. Con kính chúc quý Tăng Ni, Phật tử mùa An Cư Kiết Hạ thân tâm thường an lạc, là cây cao bóng cả che mát và dìu dắt chúng con trên con đường học Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
PHẬT ĐẢN ĐEM VI DIỆU CHO CUỘC ĐỜI
Vi Diệu 2 – Kinh Tăng Chi Bộ II
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quay Về Nương Tựa Đức Phật PAGEREF _Toc156980831 \h 1
II.Sự Xuất Hiện Của Đức Phật Là Vi Diệu PAGEREF _Toc156980832 \h 1
III.Ba đạo lộ tu tập – Nhân đạo, Thiên đạo, Thánh đạo PAGEREF _Toc156980833 \h 2
IV.Có Bốn Pháp Vi Diệu PAGEREF _Toc156980834 \h 5
1.Quần chúng ưa thích chấp giữ PAGEREF _Toc156980835 \h 5
2.Quần chúng ưa thích kiêu mạn PAGEREF _Toc156980836 \h 5
3.Quần chúng ưa thích không an tịnh PAGEREF _Toc156980837 \h 6
V.Ý Nghĩa Của Ngày Phật Đản PAGEREF _Toc156980838 \h 8
VI.Chia Sẻ và Hỏi Đáp PAGEREF _Toc156980839 \h 13
Quay Về Nương Tựa Đức Phật
Nhân ngày Phật Đản sanh chúng ta nói lên niềm tôn kính Đức Phật và luôn nhớ niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Câu niệm danh hiệu Phật này mang rất nhiều ý nghĩa, có thể hiểu là: Con đem hết tấm lòng, đem hết tất cả trái tim quay về nương tựa nơi Phật, thân tâm của Ngài hoàn toàn thanh tịnh, thấu suốt được bản chất của thế giới, là bậc Giác ngộ tận cùng đối sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi chúng ta niệm Phật mà hiểu được ý nghĩa của danh hiểu ấy thì mình có sự tác ý: Con đem hết tất cả tấm lòng chân thành cung kính nương tựa bậc Đại Giác Ngộ, bậc đã thấu suốt hoàn toàn thân tâm và thế giới, bậc đã đoạn tận hết tất cả tham, sân, si và đạt được tâm bất động giải thoát.
Sự Xuất Hiện Của Đức Phật Là Vi Diệu
Ở trong chùa trung tâm Chánh điện phải thờ Đức Bổn Sư Phật Thích Ca Mâu Ni và tất cả các gia đình Phật tử muốn thờ Phật phải thờ Phật Thích Ca Mâu Ni. Bởi lẽ, không có Ngài thì trên thế giới này không có đạo Phật, nếu không có Ngài thì không có giáo pháp trên hành tinh này, không những hành tinh này mà mười hành tinh, một trăm hành tinh, một ngàn hành tinh, cho đến ba ngàn đại thiên thế giới.
Nếu không có sự xuất hiện của Đức Phật thì mười ngàn thế giới sẽ chìm trong bóng đêm, trong hắc ám, ở trong màn vô minh, trong tăm tối, trong u mê, trong hôn mê, trong si ám. Trong Tương Ương Bộ Kinh nói rằng sự xuất hiện của Thế Tôn như sự xuất hiện của mặt trời, đem lại ánh sáng, đem lại quang minh nhãn mục cho nhân Thiên, đem lại con mắt lớn. Trong bài kinh Như Lai - Tăng Chi Bộ Kinh, Thế Tôn nói rằng: “Sự xuất hiện của Ngài là đem lại sự hạnh phúc cho đa số, đem lại an lạc cho đa số vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người, sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là khó gặp ở đời”.
Sự xuất hiện của Đức Phật là sự xuất hiện của một con người vi diệu, thần diệu, thù diệu, thượng diệu và sự mệnh chung của Ngài là sự thương tiếc cho vô lượng nhân Thiên. Sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện độc nhất vô nhị có một không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân, sự xuất hiện của Đức Phật cũng là sự xuất hiện của mắt lớn, sự xuất hiện của đại quang, sự xuất hiện của đại minh, sự xuất hiện của sáu vô thượng.
Sự xuất hiện của Ngài là bốn Vô Ngại Giải, sự thông đạt của nhiều giới, sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát. Sự xuất hiện của Đức Phật là sự chứng ngộ của Dự Lưu và sự chứng ngộ của quả Nhất Lai, sự chứng ngộ của quả Bất Lai, sự chứng ngộ của bậc A-la-hán. Sự chứng ngộ của Ngài là mang lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số. Bởi vì nếu không có sự xuất hiện của Ngài trong đời chúng ta sẽ không biết đạo lộ của nhân Thiên, Đức Phật chỉ cho mình thấy muốn làm người thì phải tu cái gì? Muốn lên trời thì phải làm cái gì?
Ba đạo lộ tu tập – Nhân đạo, Thiên đạo, Thánh đạo
Muốn làm người thì chúng ta phải giữ gìn năm giới tức là từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu và những chất say sưa nghiện ngập đó là Nhân đạo. Muốn lên trời được gọi là Thiên đạo thì mình phải thực hành Thập thiện. Nhưng sanh vào cõi người hay trời thì cũng nằm trong lục đạo luân hồi sanh tử, cũng chìm đắm, cũng quay cuồng, cũng sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Dù cho người giàu cỡ nào, địa vị cỡ nào, học thức cỡ nào, đẹp đẽ cỡ nào rồi cuối cùng cũng tai nạn, cũng bệnh hoạn, cũng già nua, cũng chết chóc, cũng kết thúc bằng nước mắt.
Hoặc có sanh lên cõi chư Thiên, lên tới Phạm Thiên giới sống lâu tuổi như trái đất, nhưng khi đã hết phước, dù cho đạt được Tứ Thiền, Bát Định thì vẫn rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên những chúng sanh này có một cái nhìn thâm sâu có sự quán sát tận cùng về lục đạo và sáu cảnh giới, các vị này không mong cầu ở trong nhân Thiên phước báu nữa mà muốn mong cầu chấm dứt sanh tử, khổ đau thì Đức Phật mở ra Thánh Đạo. Như vậy, có Nhân Đạo, Thiên Đạo và Thánh Đạo. Thánh đạo này chính là Phật Đạo, trong Tạng Kinh Nikāya gọi là Thánh Đạo.
Giáo pháp của Đức Phật đã hướng dẫn cho mình đóng bốn cánh cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và Atula; mở ra cánh cửa Nhân Thiên. Để được sanh vào Nhân đạo thì ta phải thực hành năm giới, làm các việc công đức, tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, nắm được những điều căn bản rất quan trọng trong sự tu học. Nếu giữ được năm giới tương đối khá, đồng thời có phước đức thì chúng ta được sanh trở lại người khá giả. Nếu giữ được năm giới rất ít thì chúng ta sanh trở lại làm người khiếm khuyết, khuyết tật, tàn tật, bệnh hoạn, đui, điếc, câm, ngọng. Nếu phạm giới nhiều, phạm những giới nặng thì chúng ta có thể rơi thẳng xuống địa ngục, hoặc ngạ quỷ, súc sinh, mà chúng ta giữ được cộng với sự tu tập phước báu, phước đức, tâm hiền thiện chúng ta sanh vào Nhân đạo, Nhân giới, Nhân loại, sanh lại cõi đời này.
Thứ hai, Đức Phật mở ra con đường đưa đến cõi trời là Thiên Đạo. Cõi này thuần vui trong sự phúc lạc do tu tập Thập Thiện và Tứ Vô Lượng Tâm – từ bi hỷ xả.
Thứ ba, Đức Phật mở ra con đường đưa đến các bậc Thánh đó là Thánh Đạo. Đạo lộ này tu tập 37 Phẩm Trợ Đạo, căn bản tất cả trong 37 Phẩm Trợ Đạo đó lấy sự nhận diện Ngũ Uẩn làm nền tảng, làm gốc rễ, làm căn bản, làm cội gốc. Khi nhận diện được Ngũ Uẩn thân tâm của mình rồi mới bắt đầu công trình tẩy rửa những cấu nhiễm trong tâm. Khi nhận diện Ngũ Uẩn mình mới thấy rác ở bên trong của căn nhà Ngũ Uẩn rồi sau đó mới làm vệ sinh sạch sẽ. Từ mức độ vệ sinh, sự tinh cần, tinh tấn quét dọn lau chùi, tẩy rửa, mình có được Thánh vị, Thánh đạo, Thánh trí, Thánh quả sai biệt gồm có Bốn đôi Tám vị tức là từ Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, và Sơ Đạo, Nhị Đạo, Tam Đạo, Tứ Đạo. Đạo và Quả. Đạo tức là đang đi, Quả tức là đã đến đó gọi là Thánh Đạo.
Thánh Đạo là bước đầu tiên nhận diện được Ngũ Uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì sẽ không thấy cái ngã, không có cái tôi. Với một cái tâm muốn mình nhìn thấm thía khổ đau trong cuộc đời này, các vị này sẽ hướng tâm đi ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi tâm hướng mạnh mẽ như vậy là bắt đầu đi vào Thánh vị thấp nhất gọi là hướng Dự lưu tức là hướng đến Sơ quả.
Ngược lại, dù tu nhiều bao nhiêu, dù say sưa miệt mài làm tất cả các thiện pháp, công đức nhưng mình không hướng đi ra khỏi sanh tử; không chán lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không yểm ly, không ly tham, không từ bỏ, không đoạn diệt, không muốn xuất ly khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì mình vẫn ở trong phàm vị, địa vị của phàm phu, đó là Nhân thiên đạo chứ không phải Thánh đạo.
Chúng ta phải nắm vững ba đạo lộ Đức Thế Tôn xuất hiện đem lại an lạc cho đa số, đem lại hạnh phúc cho đa số. Vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và loài người. Thế Tôn tuyên thuyết, hiển thị, thiết lập, hiển bày, minh thị, phân tích chỉ rõ cho chúng ta ba đạo lộ, Đức Phật nói luôn nhân quả của các cõi ở trong sáu đường, sáu thế giới từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, người, trời cho đến Thánh vị, mỗi Thánh vị như vậy là có nhân có quả, tuần tự.
Thế Tôn có dạy: “Này các Tỷ-Kheo ở trong giáo pháp của ta không có việc bất thình lình chứng ngộ”. Cho nên một số người không hiểu nghĩ rằng mình cứ ngồi im bữa nào bất thình lình may mắn hoát nhiên đại ngộ. Không bao giờ hoát nhiên đại ngộ. Tu từ từ, học từ từ đoạn lậu hoặc, dần dần. Đó là ý nghĩa nói rằng: “Một người xuất hiện ở đời này, sự xuất hiện của vị ấy đem lại hạnh phúc cho đa số, đem lại an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và loài người”, người ấy là ai chính là Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, chính một người này. Rất nhiều tỷ kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện. Cho nên mới nói rằng: “Sự xuất hiện của một người khó gặp được ở đời, hi hữu hiếm có khó gặp”, chưa từng có, một người ấy là ai? Chính là Đức Như Lai đó là ý của câu thứ hai, vô cùng hi hữu, hiếm có khó gặp ở trên đời, không phải chỉ có Đức Phật mà các bậc Thánh đệ tử của Đức Phật cũng rất khó gặp và người có thể giảng thuyết đúng theo Chánh Pháp của Đức Phật, người có thể hiểu đúng theo Chánh Pháp của Đức Phật và người có thể hành theo đúng Chánh Pháp của Đức Phật thì Đức Phật gọi đó là năm châu báu khó tìm, khó gặp ở đời và cuối cùng là người biết ơn, nhớ ơn.
Điều thứ ba mà Đức Phật muốn nói là: Sự xuất hiện của một người là vi diệu, nhiệm màu, thần diệu, kỳ diệu thù thắng, tối thượng, không thể dùng từ để mà diễn tả được, vi diệu cùng cực. Điều vi diệu này nói rất nhiều ở các bài kinh trong Tạng kinh Nikāya. Ở đây lấy một bài điển hình trong bài (Vi Diệu 2 – Tăng Chi Bộ T2):
Có Bốn Pháp Vi Diệu
Quần chúng ưa thích chấp giữ
“Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.
Chúng sanh rất là ưa thích nắm giữ, rất thích thú trong việc nắm giữ, họ vui sướng trong sự nắm giữ, nhưng Đức Thế Tôn ra đời nói về pháp không nắm giữ, tức là nói ngược lại với tâm thức của chúng sanh.
Quần chúng ưa thích kiêu mạn
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện”.
Nhưng điều đặc biệt là khi Ngài thuyết pháp này họ lại khéo nghe, lắng tai chánh trí, an trú tâm, họ chịu nghe, họ lóng tai, họ lại nghe một cách khéo léo và an trú tâm ở nơi Chánh trí tuệ của Đức Phật, thì điều này hết sức là kỳ diệu, hết sức nhiệm màu, hết sức vi diệu.
Đây là điều vi diệu chưa từng có thứ hai khi mà Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời quần chúng họ rất ưa thích kiêu mạn, ngã mạn, ngạo mạn, ta đây nhưng Đức Thế Tôn thuyết pháp không kiêu mạn, thuyết pháp khiêm hạ, thuyết pháp phá ngã, thuyết pháp diệt tận chấp ngã, mà các vị này khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm, chịu nghe pháp khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, chịu nghe pháp phá ngã, diệt ngã, vô ngã. Đây là điều vi diệu chưa từng có thứ hai khi mà Đức Thế Tôn bậc A-la-hán xuất hiện ở trên đời.
Quần chúng ưa thích không an tịnh
Điều thứ ba là quần chúng không có ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh, tức là số đông chúng sanh ưa thích sự náo nhiệt, thích thú sự náo nhiệt và hoan hỉ vui sướng trong sự náo nhiệt. Chỗ nào đông là thích, đi ngoài đường thấy có tai nạn giao thông cũng phải đứng túm tụm lại để xem mặc dù không giúp được gì có khi bị thêm tai nạn thứ hai. Quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh nhưng khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng thì họ lại khéo nghe, lắng tai nghe, chánh trí an trú tâm đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
Pháp thứ ba này là pháp an tịnh mà Đức Phật truyền trao từ buổi học đầu tiên cho đến bây giờ. Minh Thành rất chú trọng pháp an tịnh, pháp này thấy vậy nhưng mình mới bắt đầu tu cho đến khi thành tựu Thánh quả tối cao cũng không đi ra khỏi ba chữ Pháp An Tịnh.
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện
Trong tạng kinh Nikāya nói: Như Lai là bậc an tịnh thuyết pháp để đưa chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh. Phải hết sức để ý pháp an tịnh này vì phần đông chúng sanh ưa thích náo nhiệt, ưa thích ồn ào, ưa thích đông đúc. Chúng ta để ý trong tự thân của mình cũng vậy thấy chỗ nào đông vui là ồn ào, là lăng xăng, là náo nhiệt mà những chỗ như vậy làm cho tâm mình không an tịnh, không lắng dịu, không định tĩnh, không định tĩnh thì nó động loạn, động loạn thì trí mình sẽ không sáng, trí mình không sáng thì lúc đó lời nói, hành động của mình có thể dẫn đến tác động ở trong tham, sân, si, ở trong sự vận hành của dục, ái, tham sân si, vô minh, bản ngã. Cho nên Pháp an tịnh này hết sức quan trọng, nó phải được tu tập từ những bước đầu, tập tễnh mới vào tu, chính vì vậy mà Minh Thành thích lên trên núi ở là vậy. Trong chúng hội đạo tràng Nikāya thực tập, thực hành nói theo ngôn ngữ bình dân là món ruột, nói theo kinh sách là gia phong, nề nếp, theo ngoài đời là đặc sản, trong đạo tràng không có điều này là không tu được. Chúng ta luôn nhớ niệm an tịnh, lắng dịu đây là bài tập đầu tiên của buổi tu học cho đến sau này vẫn phải thực hành, vẫn nhắc lại, vẫn phải ôn tập, vẫn thực tập, vẫn phải tu tập, vẫn phải luyện tập sự an tịnh, lắng dịu. Đức Thế Tôn nói pháp an tịnh cho những người ưa thích ồn ào, thích thú ồn ào, hoan hỉ trong náo nhiệt, ồn ào, nhưng đặc biệt họ lại khéo nghe, lắng nghe, lắng tai chánh trí, an tịnh trú tâm.
Quần chúng đi đến vô minh
Pháp thứ tư: Này các Tỷ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la- hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.
Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.
Phần lớn tất cả chúng sanh là đi đến vô minh trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy. Chủ đề này rất lớn, Đức Thế Tôn nói rằng nếu Ngài không xuất hiện giống như không có mặt trời, không có mặt trăng, không có ánh sáng, không có ai thấy được khổ, không ai thấy được nguyên nhân của khổ, không ai có thể diệt tận được khổ đau và biết được thật sự con đường, đạo lộ đưa đến sự diệt tận khổ một cách triệt để hoàn toàn, đầy đủ viên mãn đồng đều tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ để mà chấm dứt hoàn toàn khổ đau này, đại khổ uẩn này được diệt tận. Nếu Như Lai không xuất hiện ở thế giới này, thì thế giới này sẽ đi đến vô minh trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy. Cho nên sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là sự xuất hiện của mắt lớn, của đại quang, đại minh. Khai nhân thiên nhãn mục là mở mắt cho tất cả các bậc Thánh Hiền và cho tất cả những chúng sanh mù lòa, sống trong bóng đêm, trong bóng tối, trong si ám, trong vô minh, trong màn đêm quờ quạng, tăm tối, si mê, hôn ám, cả một màn đêm bao phủ vô lượng vô biên kiếp. Cho nên sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện của một người không có hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng là bậc tối thượng giữa loài hai chân.
Ý Nghĩa Của Ngày Phật Đản
Hiện nay nhiều người không hiểu, nghe về Đức Phật thấy bình thường, chữ Phật trong kinh Nikāya không đơn giản mà rất là thâm sâu tối tôn tối thượng. Nhưng bây giờ người ta dùng chữ Phật với ý nghĩa khích lệ, hướng thiện, hướng thượng. Chữ Phật đúng nghĩa trong kinh Nikāya không phải dễ hiểu, rất thâm sâu rộng lớn, rất cao tột, tối thượng cho nên Ngài đem ánh sáng cho cuộc đời này. Vì có Ngài xuất hiện trên cuộc đời nên mình mới biết được sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới. Có Ngài xuất hiện cho nên chúng sanh mới biết được Tứ đại, Năm uẩn, Thập nhị xứ, Thập bát giới, Uẩn xứ giới, vì có Ngài xuất hiện trên cuộc đời này cho nên mới có những pháp thù diệu tối thượng, có sự chứng ngộ của minh và giải thoát. Minh là phá vô minh chứng đạt được minh, giải thoát là khi diệt tận hết tham ái thì lúc đó tâm giải thoát, tuệ giải thoát, diệt tận hết tham ái thì tâm giải thoát, phá sạch hết vô minh, thì tuệ giải thoát đạt được tâm bất động. Tất cả các kết quả thù diệu, thù thắng, lợi ích to lớn, thành tựu cứu cánh như vậy là do sự xuất hiện của Đức Như Lai. Cho nên tại sao ngày Phật Đản lại quan trọng đến như vậy? Tại sao sự đản sanh của Đức Thế Tôn, của Bồ tát, của Đức Như Lai lại quan trọng như vậy? Tại vì sự xuất hiện của Ngài là tất cả đều được thiết lập, thành tựu các quả vị tu chứng Thánh Hiền ở trên hành tinh này. Chính vì vậy sự xuất hiện của Ngài là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ của quả Dự Lưu, sự chứng ngộ của quả Nhất Lai, sự chứng ngộ của quả Bất Lai, sự chứng ngộ của A-la-hán. Sự xuất hiện của Ngài là đem đến bốn Đạo lộ, bốn Thánh quả, là sự xuất hiện của Thánh Pháp, của Thánh đạo, của Thánh trí, của Thánh quả. Như chúng ta cũng đã đề cập về Nhân đạo, Thiên đạo, Thánh đạo. Nếu Ngài không xuất hiện ở cuộc đời này thì những điều này sẽ không có. Nhưng chúng ta không hiểu, nhiều khi quý Phật tử, ngay cả những vị xuất gia mà không nghiên cứu kỹ, học kỹ. Trong Chánh điện không thờ Phật Thích Ca Mâu Ni nên chúng ta phải xem xét cho thật kỹ. Không có Ngài không có đạo Phật, mình thờ mà không có thờ Ngài tức là mình mất gốc, phải để ý thật kỹ vấn đề này và tất cả các Phật tử phải hiểu được điều này, mình đã học Phật bao nhiêu năm mình phải hiểu sâu sắc. Ngài phải để ở vị trí tối tôn tối thượng, tối cao, trung tâm nhất trên bàn Phật, cách thờ như vậy để nói lên sự hiểu biết của mình về Phật Pháp và khi mình niệm Phật thì mình phải nhớ danh hiệu của Đức Bổn Sư, chữ Bổn Sư ở đầu khi chúng ta niệm là phải ưu tiên nhất, nhắc nhở vì mỗi một câu niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là mình đã nhớ ân đức của Phật chứ không phải đợi tới ngày Phật Đản mình mới nhớ. Minh Thành cũng đã giải thích ý nghĩa câu niệm Phật là con đem tất cả tấm lòng con quay về con nương tựa nơi bậc Đại giác ngộ, bậc tôn kính nhất đời, tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si, bậc Giác Ngộ tột cùng thân tâm và Thế giới Phật Thích Ca Mâu Ni. Niệm Phật bằng cả trái tim, bằng cả tấm lòng, bằng cả sự biết ơn chân thành tha thiết cung kính cùng cực, tột độ, đem cả sinh mạng quay về nương tựa bậc Đại giác ngộ, niệm như vậy mới sinh ra cảm thọ, niệm như vậy mới sinh ra cảm xúc, sinh ra cảm giác, mỗi lần niệm như vậy mới tăng trưởng niềm tin, tăng trưởng sự cung kính, tăng trưởng sự biết ơn, tăng trưởng sự tịnh tín bất động đối với Tam Bảo, nhất là đối với Phật. Cho nên trong tạng kinh Nikāya nói rằng: “Này các vị người nào chỉ cần tin tưởng Như Lai trọn vẹn người đó Nhập lưu Thánh quả thứ nhất”. Chỉ cần tin tưởng Như Lai một cách trọn vẹn thì người đó đã dự lưu Thánh quả. Thế nào là tin tưởng trọn vẹn? Học pháp về cuộc đời Đức Phật, ân đức của Phật, tâm từ bi của Phật, lòng tin tưởng của mình đối với Phật trong tinh thần của tạng kinh Nikaya. Chỉ cần mình tin Đức Phật một cách trọn vẹn là đã Nhập lưu. Muốn tin Đức Phật trọn vẹn thì phải hiểu, muốn hiểu thì phải nghe, phải học, phải tu chứ không phải trên chữ nghĩa. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong trường Phật học giảng Năng nhân; năng là năng lực, nhân là từ bi không phải là đơn giản chữ nghĩa sơ đẳng Phật Học Giáo Hoa Thư. Cho nên nếu không có Đức Phật xuất hiện thì không có bốn Thánh Quả, không có Tứ Niệm Xứ, không có Tứ Chánh Cần, không có Tứ Như Ý Túc, không có Năm Căn, Năm Lực, không có Bảy Bồ Đề Phần, không có Bát Chánh Đạo, càng không có Tứ Thánh Đế. Chính vì vậy tại sao chúng ta phải lạy Ngài? Tại sao chúng ta phải quỳ mọp đem cái chỗ cao nhất của đỉnh đầu chạm vào chỗ chân thấp nhất của Ngài? Mình phải hiểu tại sao mình đem hương hoa để cúng Ngài. Mình phải hiểu được ý nghĩa của việc mình cung kính Đức Phật một cách đầy đủ trọn vẹn.
Sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện của bốn sự vi diệu, đầu tiên sự xuất hiện của Ngài là phá sự chấp thủ cho chúng sanh. Tại sao vậy? Sự chấp thủ là nguyên nhân của tất cả khổ đau. Chấp thủ cái gì? Nói từ thô đến tế. Thô là mình chấp thủ vào những tiền bạc, tài sản, bao nhiêu đó là đầu rơi máu đổ. Bao nhiêu đó là vợ chồng thưa kiện ra tòa, bao nhiêu đó là cha con không còn phụ tử tình thâm con cái trở thành nghịch tử, một chút đó thôi mà chấp thủ, nắm giữ; nhà cửa, xe cộ, sổ đỏ, sổ hồng, sổ tiết kiệm, một tấc đất đâm nhau, chém nhau, giết nhau, anh em ruột thịt mất tình mất nghĩa, giết năm bảy mạng người…đó là sự chấp thủ, nắm giữ tài sản là phiền não và khổ đau, là tai họa, tan nát, hận thù, là chém giết. Vì sự nắm giữ này là nguyên nhân của đau khổ mà chúng sanh mãi không muốn khổ nhưng cứ muốn nắm giữ. Đức Thế Tôn ra đời nói lên sự thật và nói rằng đừng có nắm giữ nữa, càng nắm giữ, nắm chặt chừng nào thì khổ chừng ấy, mọi thứ đều là vô thường, đã là vô thường sẽ là khổ, khổ là vô ngã, vô ngã thì cần phải như thật với Chánh trí tuệ quán sát rõ cái này, cái này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tranh giành rồi đi đến bề ngang một thước bề dài hai thước. Thời buổi dịch bệnh mang đi thiêu được một hũ tro cốt mà không biết đó có phải của mình hay là của một ai đó. Không có lò thiêu để mà thiêu nữa như vậy chấp giữ làm gì. Đức Phật mới nói một chút sắc uẩn bên ngoài khi đi sâu vào bên trong thì luôn chấp thân này là của mình, tự ngã của mình: “Đừng có ai đụng tới tôi, đụng tới là có chuyện”. Ai kính mình thì mình thương, mình kính, ai quý mình là mình yêu lắm, ai mà khinh cái thân này là mình sân hận, thù hằn đó là sự chấp thủ vào trong cái thân xác này là phiền não và khổ đau, là tai họa là bất an, là lửa đốt, là hận thù. Sự nắm giữ trong các cảm giác, trong suy nghĩ, hình bóng trong tâm các tưởng, nắm giữ trong nhận thức, đấu tranh tư tưởng hệ với nhau, hai chục năm, ba chục năm, bốn chục năm, năm chục năm tư tưởng cũng không thay đổi. Tư tưởng hệ, chấp với nhau, giữ với nhau, giận với nhau, rồi chia phe chia phái với nhau, lập bè lập nhóm, băng đảng, chỉ làm đau khổ cho mình, đau khổ cho người. Đức Thế Tôn nói: “Các con ơi! Tội nghiệp quá các con ơi, buông xuống đi cho nó nhẹ”
Xe ơi tội xe quá
Xả bớt hàng đi xe
Tâm ơi tội tâm quá
Xả bớt phiền đi tâm
Chúng sanh nghe Như Lai thuyết pháp buông xả, buông bỏ, thì chúng sanh đặc biệt họ khéo nghe, lắng tai nghe chánh trí, an trú tâm, chỗ này là chỗ vi diệu chưa từng có khi mà bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở trên cuộc đời này, chúng sanh là ưa thích nắm giữ, thích thú nắm giữ, vui sướng hoan hỉ trong sự nắm giữ nhưng mà Thế Tôn đã khuyên: “Buông đi con” nếu mình lắng nghe, nghe lời thì mình sẽ thành Thánh nhân, thành Hiền nhân, thành Thánh Tăng, thành những bậc Hiền trí, hiền thiện, hiền đức chỗ đó là chỗ vi diệu. Chúng sanh thì ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỉ kiêu mạn, khoan khoái thích thú thể hiện cái tôi, biểu hiện cái ta, ta đây. Thế Tôn nói chúng sanh hạ cái ngã xuống, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hòa, khiêm nhã và hạ thấp xuống, giảm cái ngã, chặt bớt cái ngã, phá cái ngã, diệt cái ngã. Đó là sự tối thượng của Đức Phật.
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
Chúng sanh ưa lăng xăng, dao động từ thân cho đến tâm là sự trạo cử, lau trau, lóc tróc, tất bật, vội vội, vàng vàng lúc nào cũng như có người đuổi phía sau, lúc nào cũng thấy bận rộn. Khi Đức Thế Tôn xuất hiện Ngài nói pháp an tịnh, còn chúng sanh thì thích náo động, thích dao động, thích động loạn. Thế Tôn xuất hiện dạy cho chúng sanh pháp an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, các vị này khéo nghe, lắng tai nghe, chánh trí an trú tâm thực hành theo và các vị này thành tựu được tâm an tịnh, lắng dịu bất động giải thoát. Đó là sự kỳ diệu, sự vi diệu khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở trên cuộc đời này
Này các Tỷ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.
Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.
Tất cả chúng sanh đi đến vô minh, trở thành mù quáng trong vô minh, bị vô minh trói buộc, che đậy, Như Lai thuyết Pháp để nhiếp phục vô minh cho họ, họ phá được vô minh, họ vén được bức màn vô minh, họ xóa được vô minh, họ diệt được vô minh, họ đánh vô minh để họ thành tựu được minh, thành tựu được trí, thành tựu được tuệ, thành tựu được đại quang, đại minh, thành tựu được ánh sáng Thánh trí để diệt tận bóng đêm vô minh tham ái, chấp thủ này. Qua đây chúng ta thấy được sự vi diệu chưa từng có sự xuất hiện trên cuộc đời này.
Chính Thế Tôn xuất hiện trên cuộc đời này, Phật đản sanh là đưa phương pháp diệt khổ cho chúng sanh chúng ta phải nhớ những điều này:
Là sự chấp thủ, nắm giữ
Kiêu mạn
Dao động
Vô minh
Bốn điều này làm cho chúng sanh khổ đau. Đức Phật ra đời khuyên mọi người là buông bỏ, vô ngã. Phật nói pháp cho an tịnh, Phật nói pháp cho phá vô minh thành tựu trí tuệ. Đây là bốn điều vi diệu chưa từng có chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện mới có thể tuyên thuyết, chỉ bày, hiển thị, phân tích, phô diễn, giảng giải rộng rãi để làm cho chúng sanh phá mê khai ngộ siêu phàm nhập Thánh. Đó là giá trị ý nghĩa, tầm vóc, lợi ích quan trọng của sự xuất hiện của Như Lai trên cuộc đời này.
Chúng ta thấy sự xuất hiện của Đức Phật tuyệt vời, vi diệu, tối thượng không? Lợi ích vô cùng vô tận, vô lượng, vô biên không? Tại sao chúng ta lạy Đức Phật? Tại sao chúng ta đem hoa cúng Phật? Tại sao chúng ta đốt đèn dâng hương thắp nhang, đảnh lễ cúng dường, tôn trọng, lễ bái vì: “Ngài đem lại cho chúng ta lợi ích cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời, lợi ích vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người”. Đó là ý nghĩa của sự xuất hiện của Đức Như Lai trong ngày Phật đản tất cả năm châu bốn biển chúng sanh đều hướng về.
Chia Sẻ và Hỏi Đáp
Phật Tử Mỹ Dung chia sẻ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con thành kính tri ân lời giảng dạy của Thượng Tọa, chúng con cũng rất biết ơn nhờ có Đức Phật đản sanh mà ngày nay chúng con mới có Phật pháp và nhờ quý Thầy dạy Phật pháp cho chúng con hiểu được Phật pháp, chúng con xin tri ân quý Thầy. Chúng con cũng cố gắng noi gương của Đức Phật để giảm bớt tham, sân, si để đời sống của mình được an lạc.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Phật Tử chia sẻ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con xin tri ân công đức của quý Tăng Ni đã tổ chức Diễn đàn Học Phật Online cho chúng con được tiếp cận, học hỏi, mưa dầm thấm lâu chúng con thấm nhuần Phật pháp. Chúng con rất biết ơn Thượng tọa Thích Minh Thành đã giảng giải kinh Nikaya cho chúng con được hiểu sâu nhất. Qua bài Phật Đản đem lại sự vi diệu cho cuộc đời chúng con mới hiểu vì sao mình phải lễ Phật? Bấy lâu nay chúng con lễ lạy Đức Phật là chúng con chỉ có ý nghĩ là tôn kính và học theo hạnh của Ngài. Nhưng qua bài này Thượng Tọa đã giảng dạy chúng con hiểu sâu hơn nữa về sự xuất hiện của Ngài trên thế gian này. Nhân ngày Lễ Phật Đản con xin gửi lời thành kính tri ân Đức Thế Tôn, chúng con cũng đã kính mừng ngày lễ của Đức Phật đản sanh để tri ân công đức của Ngài xuất hiện trên cuộc đời này. Qua đây con cũng kính tri ân trên Thượng tọa cho chúng con nhiều bài pháp thấm nhuần Phật pháp. Con kính chúc quý Tăng Ni, Phật tử mùa An Cư Kiết Hạ thân tâm thường an lạc, là cây cao bóng cả che mát và dìu dắt chúng con trên con đường học Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!